1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của đại dịch COVID-19 đến ngành dịch vụ logistics Việt Nam

9 82 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 330,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đại dịch COVID-19 là một cuộc khủng hoảng toàn cầu, tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế thế giới nói chung và ngành dịch vụ Logistics nói riêng. Bài viết này nhằm làm rõ tác động của đại dịch COVID-19 đến ngành dịch vụ Logistics tại Việt Nam và đề xuất một số giải pháp góp phần thúc đẩy phát triển ngành dịch vụ Logistics tại Việt Nam trong bối cảnh ảnh hưởng từ đại dịch COVID-19.

Trang 1

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19

ĐẾN NGÀNH DỊCH VỤ LOGISTICS VIỆT NAM

TS Đỗ Anh Đức* Tóm tắt

Đại dịch COVID-19 là một cuộc khủng hoảng toàn cầu, tác động mạnh mẽ đến nền kinh

tế thế giới nói chung và ngành dịch vụ Logistics nói riêng Bài viết này nhằm làm rõ tác động của đại dịch COVID-19 đến ngành dịch vụ Logistics tại Việt Nam và đề xuất một số giải pháp góp phần thúc đẩy phát triển ngành dịch vụ Logistics tại Việt Nam trong bối cảnh ảnh hưởng từ đại dịch COVID-19

Từ khóa: COVID-19, dịch vụ Logistics, Việt Nam

1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẠI DỊCH COVID-19

Đại dịch COVID-19 đã lây lan với tốc độ đáng báo động, lây nhiễm cho hàng triệu người và khiến hoạt động kinh tế gần như bế tắc khi các quốc gia áp đặt các hạn chế chặt chẽ trong việc

di chuyển để ngăn chặn sự lây lan của virus Tính đến ngày 07/3/2021, thế giới có 115.653.459 trường hợp được xác nhận nhiễm COVID-19, trong đó có 2.571.823 trường hợp tử vong (World Health Organisation, 2021)

Đại dịch COVID-19 là một cuộc khủng hoảng sức khỏe nhưng lại là cuộc khủng hoảng kinh

tế và xã hội do những tác động của nó đã ảnh hưởng đến cuộc sống và nền kinh tế nói chung Sarkodie và Owusu (2020) cho rằng, mối liên hệ giữa tác động môi trường, sức khỏe và kinh tế đối với cuộc sống con người và các quốc gia nói chung đã trở nên cần thiết do sự xuất hiện của đại dịch COVID-19 Đại dịch COVID-19 đã đặt ra sự cần thiết phải quan tâm về hậu quả xung quanh môi trường, sức khỏe và kinh tế (Wang và các cộng sự, 2020)

Đại dịch COVID-19 đã tác động đáng kể và gây ra thiệt hại lâu dài đối với triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu, bất chấp những nỗ lực phi thường của các Chính phủ nhằm chống lại suy thoái với sự hỗ trợ của chính sách tài khóa và tiền tệ Ngân hàng Thế giới (World Bank - WB) đã

dự báo GDP toàn cầu năm 2020 giảm 5,2% do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 Các cuộc suy

31.

Trang 2

thoái sâu do đại dịch gây ra trong thời gian tới dự kiến sẽ để lại những ảnh hưởng lớn hơn tới các hoạt động đầu tư, nguồn nhân lực và đặc biệt là sự phân tán của các mối liên kết thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu (WB, 2020)

2 NGÀNH DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI VIỆT NAM

Logistics được hiểu là hoạt động dịch vụ gắn liền quá trình phân phối lưu thông hàng hóa và Logistics là hoạt động thương mại gắn liền với các dịch vụ cụ thể Khái niệm “dịch vụ logictics” được quy định tại Điều 233, mục 4, Luật Thương mại năm 2005: “Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm: nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao” Theo khái niệm này, dịch vụ Logistics mang yếu tố mở khi quan niệm dịch vụ Logistics bao gồm cả “các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”

Tại Việt Nam, Logistics là một ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như từng địa phương, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Phát triển dịch vụ Logistics thành một ngành dịch vụ đem lại giá trị giá tăng cao, gắn dịch vụ Logistics với phát triển sản xuất hàng hóa, xuất nhập khẩu và thương mại trong nước, phát triển hạ tầng giao thông vận tải và công nghệ thông tin

Ngày 14/02/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 200/QĐ-TTg về việc phê duyệt

Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ Logistics Việt Nam đến năm 2025 nêu rõ các mục tiêu như sau:

(1) Đến năm 2025, tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ Logistics vào GDP đạt 8% - 10%, tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt 15% - 20%, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ Logistics đạt 50% - 60%, chi phí Logistics giảm xuống tương đương 16% - 20% GDP, xếp hạng theo chỉ số năng lực quốc gia

về Logistics (LPI) trên thế giới đạt thứ 50 trở lên

(2) Tập trung thu hút đầu tư vào phát triển hạ tầng Logistics, xây dựng các trung tâm Logistics cấp khu vực và quốc tế, nâng cao hiệu quả kết nối giữa Việt Nam với các nước, đưa Việt Nam trở thành một đầu mối Logistics của khu vực

(3) Hình thành các doanh nghiệp dịch vụ Logistics đầu tàu, có đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, đồng thời, hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp dịch vụ Logistics theo phương châm hiện đại, chuyên nghiệp

(4) Doanh nghiệp sản xuất, thương mại quản lý tốt chuỗi cung ứng, tiết kiệm nguyên vật liệu

và chi phí sản xuất, rút ngắn thời gian lưu chuyển hàng hóa

(5) Ứng dụng các công nghệ mới trong Logistics, đào tạo nhân lực chuyên nghiệp, trình độ cao về Logistics, góp phần thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại, tái cấu trúc hoạt động sản xuất, thương mại của doanh nghiệp

Trang 3

(6) Hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước, bao gồm: các chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ Logistics, pháp luật điều chỉnh ngành, bộ máy quản lý tương xứng với trình độ phát triển của dịch vụ Logistics của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Hiện nay, thị trường Logistics Việt Nam có sự tham gia của khoảng 3.000 doanh nghiệp trong nước và khoảng 30 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Logistics xuyên quốc gia với các tên tuổi lớn như: DHL, FedEx, CJ Logistics… Các doanh nghiệp Logistics có quy mô vừa và nhỏ, trong

đó 89% là doanh nghiệp Việt Nam, 10% doanh nghiệp liên doanh và 1% là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (Vietnam Logistics Business Association - VLA), tốc độ phát triển của ngành dịch vụ Logistics tại Việt Nam những năm gần đây đạt khoảng 14% - 16%, với quy mô khoảng 40 - 42 tỷ USD/năm Trong thời gian qua, tác động của đại dịch COVID-19 đã gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế toàn cầu nói chung

và ngành dịch vụ Logistics nói riêng Ngày 22/02/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 221/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 về việc phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ Logistics Việt Nam đến năm 2025 Quyết định mới này đặt mục tiêu đến 2025, tỷ trọng đóng góp của dịch

vụ Logistics vào GDP đạt 5 - 6%, giảm so với mục tiêu đặt ra tại Quyết định số 200/QĐ-TTg (đặt mục tiêu đạt 8% - 10%)

3 TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN NGÀNH DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI VIỆT NAM

Đại dịch COVID-19 đã có ảnh hưởng lớn lên thương mại thế giới, cùng với ảnh hưởng của thiên tai (lũ lụt tại châu Á) và căng thẳng thương mại giữa các nền kinh tế lớn đã mang lại nhiều thách thức cho ngành dịch vụ Logistics tại Việt Nam Cụ thể như sau:

Quá trình tự động hóa trong lĩnh vực Logistics (từ vận chuyển, dịch vụ cảng, kho bãi, vận tải…) chịu sự ảnh hưởng lớn từ đại dịch COVID-19 đang được đẩy nhanh và mạnh, sẽ trở thành

xu hướng chính trong thời gian tới Trong đó, toàn bộ các tác nhân trong chuỗi giá trị sẽ ưu tiên nâng cao hiệu quả hoạt động bằng cách đầu tư vào công nghệ

Thị trường phục vụ thương mại điện tử phát triển mạnh do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, qua đó đã thúc đẩy thương mại điện tử nở rộ trong bối cảnh người dân tăng cường mua hàng trực tuyến Hành vi mua hàng và kỳ vọng của người tiêu dùng thay đổi với những yêu cầu cao hơn về hàng nhanh, miễn phí giao hàng với cước ngắn, giá cả cạnh tranh và “Logistics thu hồi” thuận tiện Lịch trình giao hàng khắt khe thách thức các mô hình chuỗi cung ứng và Logisitcs truyền thống, buộc các công ty hiện phải điều chỉnh chiến lược của mình để cung cấp dịch vụ giao hàng theo yêu cầu với chi phí thấp Thị phần của thương mại điện tử trong trong thị trường bán lẻ ngày càng tăng, thậm chí là theo cấp số nhân Các giải pháp trực tuyến sáng tạo, tùy chỉnh, đáp ứng yêu cầu đặc thù của khách hàng, sẽ hình thành phân khúc dịch vụ Logistics cao cấp

Các nhà cung cấp dịch vụ Logistics bên thứ ba (3PL) thường nằm trong nhóm tiên phong đổi mới dịch vụ, bởi để trụ vững, họ buộc phải điều chỉnh liên tục để theo kịp, thậm chí đón bắt trước nhu cầu của các doanh nghiệp chủ hàng trong bối cảnh chịu sự ảnh hưởng từ đại dịch COVID-19 Ngoài ra, thế giới vẫn còn phải đối mặt với những thách thức lớn từ các yếu tố ngoại cảnh bất ngờ như thiên tai, dịch bệnh, một dịch vụ đặc biệt phát triển là quản lý rủi ro và lập kế hoạch dự phòng ứng phó với khủng hoảng, cụ thể:

Trang 4

- Theo khảo sát của Inbound Logistics, tỷ lệ cung cấp dịch vụ quản lý rủi ro của 3PL năm

2020 đã đạt 46%, tăng mạnh so với tỷ lệ 33% của năm 2019 Với những rủi ro mà đại dịch COVID-19 đã gây ra cho các chủ hàng trên khắp thế giới, từ việc đóng cửa nhà máy ở Trung Quốc đến tê liệt nhiều cảng biển, các chuyến tàu biển và chuyến bay chở hàng bị ngưng trệ, nhu cầu về các dịch vụ quản trị rủi ro và ứng phó với khủng hoảng đã tăng mạnh ở nhiều thị trường

- Cùng với các dịch vụ điển hình để lập kế hoạch và thực hiện các quy trình Logistics và các giải pháp công nghệ, nhiều 3PL cũng cung cấp các dịch vụ đặc biệt liên quan đến chuỗi cung ứng Theo kết quả khảo sát của Inbound Logistics, hầu hết các 3PL trong cuộc khảo sát trong năm 2020 có thể đóng vai trò là nhà tư vấn, giúp chủ hàng thiết kế và/hoặc thực hiện các chiến lược Logistics 3/4 số người được hỏi giúp khách hàng giao sản phẩm trực tiếp đến các cửa hàng bán lẻ, thay vì đến các trung tâm phân phối của nhà bán lẻ Một bộ phận lớn người được hỏi (68%) cung cấp dịch vụ hậu cần ngược hoặc quản lý vòng đời sản phẩm và 62% giúp các chủ hàng nhập khẩu, xuất khẩu và thông quan

- Một dịch vụ phi truyền thống mà số lượng các 3PL cung ứng ngày càng tăng là các dịch vụ liên quan đến công nghệ thông tin Vào năm 2020, 72% chủ hàng cho biết, họ sử dụng các dịch

vụ công nghệ Logistics do các 3PL cung cấp (tỷ lệ này chỉ là 56% vào năm 2019) Riêng đối với phân khúc vận tải, trong khi đa phần các 3PL đa dạng hóa các loại hình dịch vụ vận tải mà họ cung cấp cho khách hàng, một số nhỏ lại chuyên tâm vào các dịch vụ vận tải chuyên biệt Các chủ hàng có xu hướng tìm một đối tác 3PL có thể quán xuyến toàn bộ lịch trình cho họ, bao gồm

cả việc nhập hàng và chuyển tải ở các địa điểm, hoàn cảnh khác nhau Một 3PL năng động và không muốn mất khách hàng buộc phải đa dạng hóa mạng lưới các đối tác vận tải để chu toàn cho chủ hàng của mình Về việc đánh giá dịch vụ của các 3PL, 75% số chủ hàng cho rằng, chất lượng dịch vụ còn quan trọng hơn cả giá cả và là tiêu chí để họ lựa chọn đối tác 3PL trong bối cảnh đầy rủi ro như hiện nay Khi được yêu cầu nêu tên 3 doanh nghiệp 3PL hàng đầu và giải thích vì sao họ lựa chọn 3 doanh nghiệp đó, nhiều chủ hàng cho rằng, có 3 tiêu chí quan trọng ở khía cạnh chất lượng dịch vụ gồm: đáp ứng yêu cầu của chủ hàng; sẵn sàng cung cấp các dịch vụ gia tăng khi được yêu cầu; đổi mới trong giao tiếp với khách hàng

- Ngành kho bãi dự kiến sẽ chuyển đổi đáng kể với quá trình tự động hóa để đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử xuyên biên giới và nhu cầu ngày càng tăng về các giải pháp chuỗi cung ứng tích hợp Để hỗ trợ các doanh nghiệp trong ngành đổi mới bắt kịp xu hướng chung, thị trường phát triển và ứng dụng các phần mềm Logistics sẽ là một trong những điểm sáng của lĩnh vực Logistics toàn cầu trong thời gian tới Đặc biệt, xu hướng Logistics “xanh” tiếp tục là điểm nhấn quan trọng Thiên tai và dịch bệnh trong những năm gần đây, đặc biệt là năm

2020, không chỉ còn là hồi chuông cảnh báo mà như sự khẳng định cho việc thế giới phải quyết tâm hơn nữa trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững (Duc và các cộng sự, 2021) Là một trong những lĩnh vực gây ô nhiễm lớn (bên cạnh sản xuất công nghiệp), ngành dịch vụ Logistics nói chung và vận tải nói riêng sẽ bị siết chặt hơn các quy định về bảo vệ môi trường và an toàn lao động trong thời gian tới

Dịch vụ chuỗi lạnh toàn cầu đang trở thành xu hướng phát triển của Logistics Thị trường chuỗi lạnh toàn cầu được định giá 4,7 tỷ USD vào năm 2019 và dự kiến sẽ đạt mức 10 tỷ USD vào năm 2030; tăng trưởng với tốc độ trung bình năm là 14,5% trong giai đoạn 2020 - 2030 Các

Trang 5

yếu tố chính thúc đẩy sự tăng trưởng của thị trường chuỗi lạnh là nhu cầu về các sản phẩm nhạy cảm với nhiệt độ (dược phẩm, vắc-xin, hóa mỹ phẩm, thực phẩm) Từ đầu năm 2020 đến nay, các nhà cung cấp dịch vụ Logistics chuỗi lạnh đã liên tục phải cải tiến quy trình, công nghệ để đáp ứng các yêu cầu của Nhà nước và người tiêu dùng trong sự ảnh hưởng của đại dịch COVID-19,

cụ thể:

- Dược phẩm và sản phẩm chăm sóc sức khỏe dự kiến sẽ là những phân khúc nổi bật trong thị trường này giai đoạn 2020 - 2030

- Yêu cầu về nhiệt độ thay đổi theo các sản phẩm cụ thể buộc các công ty Logistics luôn phải sẵn sàng với các tùy chọn mới cho khách hàng hoặc để đáp ứng các tiêu chuẩn mới theo quy định pháp luật Trước mắt, trong năm 2021, nếu vắc-xin phòng ngừa COVID-19 được đưa vào các chương trình tiêm chủng rộng rãi, việc vận chuyển, bảo quản vắc-xin sẽ trở thành nhu cầu cấp bách ở tất cả các quốc gia Đảm bảo chất lượng của thuốc hoặc vắc-xin trong suốt chuỗi cung ứng

là yếu tố chính thúc đẩy nhu cầu về các giải pháp chuỗi lạnh trong năm 2021

- Hơn nữa, dịch bệnh COVID-19 sẽ tiếp tục thúc đẩy Chính phủ các nước đưa ra các quy định mới, tác động đến ngành dược phẩm và chăm sóc sức khỏe, một mặt tạo điều kiện tăng trưởng mạnh, mặt khác lại đặt ra những yêu cầu cao hơn với dịch vụ chuỗi lạnh

- Ngoài ra, nhu cầu gia tăng đối với các sản phẩm sữa, rau và trái cây, cùng với việc tăng xuất nhập khẩu rau và trái cây cũng đang thúc đẩy nhu cầu về các giải pháp chuỗi lạnh trong thời gian tới Với các thách thức nêu trên, để tận dụng tối đa các cơ hội, các nhà cung cấp dịch vụ Logistics nên tập trung nhiều hơn vào các phân khúc tăng trưởng nhanh như: vận tải đa phương thức, Logistics trong thương mại điện tử, Logistics chuỗi lạnh , đồng thời hợp tác chặt chẽ hơn để đảm bảo các mục tiêu về “xanh hóa” theo các quy định, cam kết quốc tế cũng như vì sự phát triển bền vững của chính mình

4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN NGÀNH DỊCH VỤ LOGISTICS TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID-19

4.1 Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp dịch vụ Logistics

Để phát triển hiệu quả nguồn nhân lực ngành Logistics đang thiếu trầm trọng hiện nay, đến năm 2030, dự kiến cần khoảng 2 triệu lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực Logistics và quản lý chuỗi cung ứng, do vậy, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp dịch

vụ Logistics cần tập trung vào các nội dung như sau:

- Xây dựng chính sách đào tạo phát triển nguồn nhân lực Logistics phù hợp với nền kinh tế hội nhập trong bối cảnh Việt Nam chưa có một đội ngũ cán bộ giảng dạy về Logistics có kiến thức chuyên môn sâu và giàu kinh nghiệm thực tế, cũng như chưa có hệ thống chuẩn kỹ năng làm cơ sở cho việc thiết kế các chương trình đào tạo và giáo trình cho các vị trí công việc trong ngành Logistics

- Coi việc phát triển nguồn nhân lực Logistics Việt Nam là một chiến lược liên tục và lâu dài, cần phát triển nguồn nhân lực này theo hướng chính quy, chuyên nghiệp Trong chiến lược dài hạn, Chính phủ và các cơ quan chức năng có thể hỗ trợ và tài trợ xây dựng và hoạch định chính

Trang 6

khác, cần thiết lập hệ thống chứng nhận năng lực cấp quốc gia về Logistics, đáp ứng các yêu cầu chuẩn mực cho người lao động hoạt động trong ngành

- Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có chính sách khuyến khích mở các bộ môn và khoa Logistics trong các trường đại học, cao đẳng kinh tế, ngoại thương, hỗ trợ những nơi này xây dựng các chương trình, giáo trình đào tạo được chuẩn hóa và hệ thống đào tạo liên thông giữa các cơ sở với nhau

- Những địa phương có tiềm năng phát triển dịch vụ cảng biển và Logistics như nên chú trọng huấn luyện đội ngũ cán bộ quản lý có năng lực xây dựng chính sách và biện pháp, tổ chức và quản lý các Trung tâm Logistics hiện đại Bên cạnh đó, các địa phương này cần có biện pháp hỗ trợ thực hiện ngay các chương trình huấn luyện nhận thức về quản trị Logistics và chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp trên địa bàn, hỗ trợ quá trình đào tạo chuyên sâu và xây dựng một chiến lược dài hạn phát triển nguồn nhân lực trẻ trong tương lai

- Tìm kiếm các nguồn tài trợ trong nước và quốc tế cho các chương trình đào tạo ngắn hạn trong và ngoài nước; phối hợp và tranh thủ hợp tác với các tổ chức như Liên đoàn các Hiệp hội Giao nhận Vận tải Quốc tế (International Federation of Freight Forwarders Association - FIATA), Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (International Air Transport Association - IATA), và các

tổ chức phi chính phủ khác để có nguồn kinh phí đào tạo thường xuyên hơn Mặt khác, các doanh nghiệp Logistics cũng cần phải kết hợp chặt chẽ với các hiệp hội có điều kiện mở các khóa đào tạo nhân lực cho mình

4.2 Nhân lực ngành dịch vụ Logistics cần tận dụng thành tựu của Cách mạng công nghiệp 4.0 để đối phó với những thách thức từ đại dịch COVID-19

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) với đặc trưng của nền kinh tế số dựa trên dữ liệu lớn, internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo đã tạo nên một mô hình kinh doanh sáng tạo hết sức

đa dạng của doanh nghiệp Hơn nữa, thế giới phẳng cũng đã mang lại cơ hội cho doanh nghiệp

có tầm hạn kinh doanh không biên giới, và kinh tế chia sẻ đã khiến cho các khái niệm về nguồn lực của doanh nghiệp hoàn toàn thay đổi Một doanh nghiệp du lịch lữ hành và nghỉ dưỡng như Agoda có thể không sở hữu bất cứ khách sạn và phương tiện chuyên chở nào, một tập đoàn bán

lẻ như Alibaba, Amazon có thể không sở hữu hàng hóa họ bán, và công ty vận tải quy mô lớn như Uber, Lift, Grab cũng không cần sở hữu bất cứ chiếc ô tô và thuê người lái nào Với mô hình này, nguồn nhân lực của doanh nghiệp đã trở thành đối tác thay vì người làm thuê Cả hai bên đều có

sự cạnh tranh trong lựa chọn đối tác, và chính vì thế, quản trị nguồn nhân lực đã điều chỉnh theo hướng mới, đòi hỏi người làm chính sách nhân sự phải truyền thông tốt, xử lý vấn đề tốt và luôn

ở quy mô lớn Những nghiên cứu đa chiều về nhân sự đòi hỏi được thực hiện thường xuyên, có chiều sâu đòi hỏi kiến thức về quản trị, về chiến lược và về con người hết sức sâu sắc Hệ thống công cụ sử dụng trong nghiên cứu cũng đã trở nên vô cùng đa dạng và thông minh Mạng xã hội Linkedin và Facebook được sử dụng để tuyển dụng, tìm nhà cung cấp dịch vụ, tìm kiếm đối tác hợp tác Các ứng dụng Mobile và tiện ích truy cập như Smart wifi, Member login được thiết kế hết sức đa dạng và phong phú để thu thập dữ liệu lớn, phân tích hành vi, đặc tính, nhu cầu hoặc

ý kiến phản hồi của người lao động

Trang 7

Nếu như trước đây, người ta thường đưa về phòng nhân sự những người không có khả năng thích ứng với kinh doanh, kỹ thuật hay con số nhưng là người biết đối nhân xử thế, tuân thủ pháp luật và không cần phải có nền tảng kiến thức quản trị nguồn nhân lực nào, thì ngày nay, việc đó

đã quá lỗi thời Nhiều người làm quản trị nguồn nhân lực chuyên nghiệp giờ đây đã là những người được đào tạo bài bản về quản trị kinh doanh và quản trị nguồn nhân lực trong môi trường hàn lâm và sau đó liên tục cập nhật kiến thức, công cụ, và xu hướng quản trị mới trong quá trình làm việc Các hoạt động quản trị nguồn nhân lực đòi hỏi bộ phận nhân sự trong doanh nghiệp phải có khả năng thực hiện các khảo sát, nghiên cứu và phân tích bài bản dựa trên các mô hình thống kê và mô hình khái niệm của từng vấn đề chặt chẽ Nhà quản trị nguồn nhân lực phải đặt

ra được các yêu cầu thiết kế và khai thác sử dụng được các phần mềm quản trị nguồn nhân lực chuyên biệt của doanh nghiệp đồng thời với các ứng dụng khác để phục vụ cho việc xử lý các vấn

đề nhân sự, xây dựng chính sách và ra quyết định nhanh, chính xác của lãnh đạo doanh nghiệp Khả năng thực hiện các hoạt động quản trị nguồn nhân lực có hiệu quả cùng với việc số hóa quản trị nguồn nhân lực theo hướng tận dụng các thành quả của CMCN 4.0 là một xu hướng được gọi

là “Quản trị nguồn nhân lực 4.0”, viết tắt là HR4.0, đã mở ra một cơ hội mới cho nhà quản trị nguồn nhân lực được đóng vai trò chiến lược trong doanh nghiệp, xứng đáng là một trong ba trụ cột chính của quản trị doanh nghiệp: kinh doanh, tài chính và nhân sự

Nhân lực ngành dịch vụ Logistics có thể tận dụng thành tựu của CMCN 4.0 để đối phó với những thách thức từ đại dịch COVID-19 theo những định hướng sau:

Theo kịp xu hướng: Sự tiến bộ trong công nghệ có thể mang lại năng suất cao hơn nhưng

cần đến con người ít hơn Không khó để nhận thấy sự xuất hiện các kho hàng tự động của các

“ông trùm” về thương mại điện tử như: Amazon, Alibaba Các phương tiện tự động, robot giao hàng, cũng đang được phát triển và thử nghiệm rộng rãi Tuy nhiên, công nghệ luôn luôn thay đổi Trong một vài năm, tự động hóa có thể trở nên phổ biến rộng rãi, dần nhường chỗ cho các xu hướng mới phát triển Do đó, lực lượng lao động cần trở nên năng động, linh hoạt Trong khi lực lượng lao động cần dõi theo xu hướng để đảm bảo công việc của họ không có nguy cơ bị thay thế bởi công nghệ, thì các nhà quản lý nên chủ động tiếp cận và quản lý chuỗi cung ứng bằng cách luôn tìm ra công nghệ mới để tối đa hóa năng suất

Học hỏi và thích nghi: Sự thay đổi lớn trong lực lượng lao động cũng đã từng diễn ra trước

đây Vào năm 1870, gần 50% dân số Hoa Kỳ làm nông nghiệp; tính đến năm 2008, chưa tới 2% dân số Hoa Kỳ làm việc trong ngành này Nguyên nhân là do nền kinh tế chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp khiến nhiều việc làm mới xuất hiện; các kỹ năng và cơ hội mới cũng trở nên cần thiết cho sự đổi mới và phát triển Trong CMCN 4.0, các công việc liên quan đến công nghệ được ưu tiên hàng đầu Vì vậy, lực lượng lao động của thời đại mới phải luôn theo kịp xu hướng, tập trung học hỏi và thích nghi với công nghệ và ứng dụng mới

Tận dụng phần mềm nâng cao để hỗ trợ các công việc vận hành hàng ngày: Hệ thống quản lý

vận tải, hệ thống quản lý kho, phần mềm tối ưu hóa lộ trình, hệ thống quản lý đơn hàng, phần mềm phân tích dữ liệu lớn (Big Data) là những cách dễ dàng nhất để cải thiện doanh nghiệp Mỗi loại phần mềm được tạo ra để giải quyết các vấn đề về Logistics khác nhau Chúng có thể quản lý và phân tích

dữ liệu, từ đó hỗ trợ người dùng đưa ra quyết định theo định hướng dữ liệu (Data-driven) Nhiệm vụ của con người là xác định chính xác vấn đề cần cải tiến bằng công nghệ Ví dụ, trong trường hợp kế

Trang 8

hàng, giao hàng chặng cuối (last-mile Logistics) có thể chiếm tới 28% tổng chi phí Logistics Nhằm giải quyết vấn đề này, các công ty có thể tìm tới các giải pháp như TMS - phần mềm tối ưu hoá lộ trình Abivin vRoute là một giải pháp như vậy, tích hợp các công nghệ của CMCN 4.0 bao gồm: IoT, học máy (Machine learning), thuật toán cao cấp (Advanced algorithm) để giải quyết vấn đề hoạch định tuyến đường (Vehicle routing problem) và số hóa quá trình giao hàng

4.3 Cải tiến công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Dịch vụ Logistics là ngành mang tính quốc tế cao và ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học công nghệ vào các hoạt động Hiện nay, các nước phát triển đang từng bước thực hiện E-Logistics, green Logisitics, E-Documents và ứng dụng công nghệ điện toán đám mây, công nghệ Blockchain Trong điều kiện CMCN 4.0, các nước đã bắt đầu ứng dụng trí tuệ nhân tạo hay robot vào thực hiện một số dịch vụ, như dịch vụ đóng hàng vào container hay dỡ hàng khỏi container, xếp dỡ hàng hóa trong kho, bãi Trong khi đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công việc hàng này của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Logistics của Việt Nam hiện nay còn ở trình độ thấp, chủ yếu là sử dụng phần mềm khai hải quan điện tử, công nghệ định vị xe, email và internet cơ bản,

Trong bối cảnh các công ty Logistics trên thế giới đang nhanh chóng cải tiến công nghệ để bắt kịp xu hướng này và cải thiện tỷ suất lợi nhuận, các doanh nghiệp Logistics tại Việt Nam cần phải không ngừng cải tiến công nghệ để đáp ứng nhu cầu phát triển trong bối cảnh mới Các công

cụ tự động, hiện đại trong ngành dịch vụ Loigistics có thể kể đến như sau:

- Robot giúp tiết kiệm năng lượng, chi phí lao động phổ thông;

- Xe chuyển hàng tự động (Automation Guided Vehicle - AGV) có thể thực hiện đơn hàng,

tự bổ sung hàng trong kho bãi;

- Thiết bị theo dõi, định vị, dẫn đường và quan sát bằng các thiết bị sử dụng WiFi, Bluetooth;

- Ứng dụng Co-pilot trên Android của điện thoại di động được sử dụng trong hoạt động Logistics quốc tế;

- Ứng dụng cung cấp định tuyến (mapping) và định hướng (direction routing), tạo điều kiện cho chuyển hướng thông qua việc theo dõi trực tuyến phương tiện vận tải;

- Ứng dụng quét mã vạch trực tuyến trong quản lý kho; tối ưu hóa hàng tồn kho dựa trên điện toán đám mây;

- Ứng dụng kiểm soát lao động hàng ngày trong Logistics (ứng dụng Web fleet của Android);

- Tích hợp hợp đồng dịch vụ, quản lý đơn hàng, quan hệ khách hàng trong Logistics trực tuyến

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Duc, D A., Van, L H., Yu, V F., Chou, S Y., Hien, N V., Chi, N T., & Dat, L Q (2021), A

dynamic generalized fuzzy multi-criteria group decision making approach for green supplier segmentation Plos One, 16(1): e0245187 https://doi.org/10.1371/journal.pone.0245187

2 Inbound Logistics https://www.inboundLogistics.com/cms/index.php

3 Sarkodie, S A., & Owusu, P A (2020), Global assessment of environment, health and

economic impact of the novel coronavirus (COVID-19) Environment, Development and

Sustainability, Jun 5, 1 - 11.Available at: 10.1007/s10668-020-00801-2

Trang 9

4 Thủ tướng Chính phủ (2017), Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 phê duyệt Kế

hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ Logistics Việt Nam đến năm 2025.

5 Thủ tướng Chính phủ 2021), Quyết định số 221/QĐ-TTg ngày 22/2/2021 về việc sửa đổi, bổ

sung Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/2/2017 về việc phê duyệt kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ Logistics Việt Nam đến năm 2025.

6 Wang, C., Horby, P W., Hayden, F G., & Gao, G F (2020), A novel coronavirus outbreak

of global health concern The Lancet, 395, 470 - 473 Available at: https://doi.org/10.1016/

s0140-6736(20)30185-9

7 World Bank (2020), The global economic outlook during the COVID-19 Pandemic:

A changed world Washington, D.C: World Bank

8 World Health Organisation (2021), WHO coronavirus disease (COVID-19) dashboard.

Ngày đăng: 23/06/2021, 10:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm