Trong những năm vừa qua, đầu tư từ ngân sách nhà nước luôn là một chủ đề dành được nhiều sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách và nhà nghiên cứu. Đầu tư từ ngân sách nhà nước được cho là có hiệu quả thấp và không ổn định do những đặc điểm cố hữu gắn liền với khu vực nhà nước.
Trang 1MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
NHẰM ĐẢM BẢO TÍNH BỀN VỮNG CỦA ĐẦU TƯ
TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG BỐI CẢNH MỚI CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
TS Hoàng Xuân Hòa*
TS Trịnh Mai Vân**, ThS Nguyễn Văn Đại**
Đèo Thị Thủy***
Tóm tắt
Trong những năm vừa qua, đầu tư từ ngân sách nhà nước luôn là một chủ đề dành được nhiều
sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách và nhà nghiên cứu Đầu tư từ ngân sách nhà nước được cho là có hiệu quả thấp và không ổn định do những đặc điểm cố hữu gắn liền với khu vực nhà nước Trong bối cảnh hiện nay của nền kinh tế thị trường, tính bền vững của đầu tư từ ngân sách càng được chú ý hơn Khoản đầu tư này vừa phải đáp ứng được những mục tiêu mà nhà nước đề ra, vừa phải đảm bảo tính hiệu quả, vừa phải linh hoạt trước những thách thức mới Kết quả phân tích cho thấy hiệu quả của đầu tư từ ngân sách còn thấp, tính bền vững và lan toả còn yếu Các giải pháp cần tập trung vào cải thiện hiệu lực quản lý nhà nước của cơ quan chủ quản, công tác thanh tra và lập kế hoạch về vốn
Từ khóa: Vốn đầu tư, ngân sách, kinh tế thị trường, Việt Nam
1 BỐI CẢNH CHUNG
Sau hơn 35 năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đã phát triển đáng kể về quy mô và sức cạnh tranh của nền kinh tế; niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và xã hội ngày càng tăng lên; tính độc lập tự chủ được cải thiện đáng kể; uy tín, vị thế đất nước ngày càng được củng cố trên trường quốc tế Hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam đã tham gia ngày càng nhiều vào các hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là Hiệp định FTA thế hệ mới quan trọng như Hiệp định
28.
* Thành ủy Hà Nội
** Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
*** Trường Đại học Tây Bắc
Trang 2đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)
Tuy nhiên, trong giai đoạn mới hiện nay, nền kinh tế cũng phải đối mặt nhiều thách thức, tiềm
ẩn nhiều rủi ro như: nguy cơ mắc bẫy thu nhập trung bình với trần thu nhập của các nước thuộc nhóm thu nhập trung bình và khả năng tụt hậu kinh tế xa hơn so với mức chung của thế giới vẫn
là thách thức lớn nhất; độ mở của nền kinh tế trong nước ngày càng lớn cũng dễ bị tổn thương và chịu nhiều tác động tiêu cực từ kinh tế thế giới; thiên tai, biến đổi khí hậu, nước biển dâng ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường; những thách thức về khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên, đất đai, nguồn nước và xử lý ô nhiễm môi trường sẽ tác động nặng nề đến phát triển kinh tế - xã hội
Trong khi đó, ngân sách nhà nước ở Việt Nam có cơ cấu chưa thực sự hiệu quả, thiếu tính bền vững Cụ thể là, chi ngân sách cho những dự án đầu tư, kể cả các dự án trọng điểm cũng mang nặng ‘trọng điểm dàn trải’ với hiệu quả đầu tư thấp, vẫn còn tình trạng thất thoát và lãng phí khiến gánh nặng ngân sách luôn ở nguy cơ tăng cao Trong khi bội chi ngân sách còn ở mức cao thì những yếu kém trong cơ cấu chi ngân sách cho đầu tư sẽ tạo ra những hệ quả tiêu cực cho nền kinh tế
2 ĐÁNH GIÁ ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức độ khá cao Giai đoạn 2011 - 2015, tốc độ
tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt bình quân 5,9%/năm, giai đoạn 2016 - 2019 tăng trưởng đạt 6,8%/năm, năm 2020 do dịch bệnh COVID-19, thiên tai, bão lut nặng nề ở miền Trung, tốc độ tăng trưởng đạt 2,91%, bình quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt khoảng 6,0%/năm Tính chung cả thời kỳ 2011 - 2020, tăng trưởng GDP đạt khoảng 5,95%/năm, thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới1 Quy mô GDP tăng gấp gần 2,4 lần, từ 116
tỷ USD năm 2010 lên 271,2 tỷ USD vào năm 2020 GDP bình quân đầu người tăng từ 1.331 USD năm 2010 lên 2.779 USD năm 2020
Bảng 1 Tốc độ tăng GDP giai đoạn 2010 - 2020
Nguồn: Tổng cục Thống kê
1 Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới và Cơ quan Thống kê Liên Hiệp Quốc, tăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2017 cao hơn mức bình quân của nhóm nước có thu nhập trung bình thấp (5,4%) và các nước Đông
Trang 3Có thể nói, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong 2 thập kỷ vừa qua vẫn giữ ở mức tương đối cao Nếu phân tách theo đóng góp của từng thành phần xét theo đầu vào thì vốn luôn chiếm
tỷ trọng lớn nhất Trước năm 2016, yếu tố vốn đóng góp phần lớn và chủ đạo vào tăng trưởng GDP Trong khi đó, đóng góp của yếu tố TFP ngày càng lên trong những năm gần đây còn nhân
tố lao động đóng góp ngày càng thấp vào tăng trưởng Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng tăng từ 33,6% bình quân giai đoạn 2011 - 2015 lên 45,7% giai đoạn
2016 - 2020, tính chung 10 năm 2011 - 2020 đạt 39,4%, vượt mục tiêu Chiến lược đề ra (35%) Kết quả này cho thấy, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào yếu tố vốn
và tăng trưởng theo chiều rộng Điều này vẫn tạo ra nhu cầu và hệ quả đối với chi ngân sách cho đầu tư
Đánh giá về hiệu quả đầu tư
Huy động vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt khoảng1/3 so với quy mô GDP, đạt mục tiêu bình quân 5 năm 2016 - 2020 bằng khoảng 32% - 34,5% GDP Cơ cấu đầu tư chuyển dịch tích cực, tỷ trọng đầu tư của khu vực nhà nước trong tổng vốn năm 2019 giảm còn 31,7%, so với mức
33,3% năm 2018, đạt mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 24/2016/QH14 về Kế hoạch cơ cấu lại
nền kinh tế giai đoạn 2016 - 2020 (đến năm 2020, chiếm khoảng 31% - 34% tổng đầu tư toàn xã hội), phù hợp với định hướng cơ cấu lại đầu tư công và giảm dần sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, tạo động lực thu hút các nguồn lực ngoài nhà nước và sự phát triển của kinh tế tư nhân Tỷ trọng đầu tư từ khu vực kinh tế ngoài nhà nước năm 2019 tăng lên mức 45,3% (trong khi năm 2018 ở mức 43,3%)
Hình 1 cho thấy, mặc dù cơ cấu đầu tư được cải thiện theo hướng tích cực hơn nhưng hiệu quả đầu tư chưa có dấu hiệu được cải thiện, thể hiện qua chỉ số ICOR của nền kinh tế Chỉ số hiệu quả
sử dụng vốn đầu tư (hệ số ICOR) giai đoạn 2005 - 2010 khoảng 5,58 Mức bình quân giai đoạn
2011 - 2019, hệ số ICOR ở mức 5,79 cao hơn so với giai đoạn 2005 - 2010 Năm 2020, với diễn biến của COVID-19, đầu tư xã hội của Việt Nam tăng mạnh dẫn đến tỷ lệ ICOR tăng đột biến ở mức 14,28 (mức cao nhất kể từ năm 2000)
Hình 1 Tỷ lệ ICOR của Việt Nam
0
2
4
6
8
10
12
14
16
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Đánh giá về tài chính - ngân sách
Giai đoạn 2016 - 2018, tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước đạt 24,9% GDP, cao hơn mức bình quân giai đoạn 2011 - 2015 (23,4% GDP); trong đó, tỷ lệ huy động từ thuế, phí đạt 21% GDP (giai đoạn 2011 - 2015 đạt 21,6%) Mục tiêu nêu tại Nghị quyết số 07-NQ/TW của Bộ Chính trị
Trang 4(thu ngân sách giai đoạn 2016 - 2020 là 21% GDP) và Nghị quyết số 25/2016/QH14 của Quốc hội (thu ngân sách giai đoạn 2016 - 2020 là 23,5% GDP - từ thuế, phí khoảng 21% GDP)
Kỷ luật, kỷ cương tài chính - ngân sách nhà nước được tăng cường Cơ cấu thu, chi ngân sách nhà nước chuyển biến tích cực theo hướng tăng tỷ trọng thu nội địa, tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển và giảm tỷ trọng chi thường xuyên Bội chi ngân sách nhà nước so với GDP giảm từ mức bình quân 5,4% giai đoạn 2011 - 2015 xuống còn 3,5% giai đoạn 2016 - 2019; riêng năm 2020
tỷ lệ bội chi 5,1% Tỷ lệ nợ công so với GDP tăng từ 51,7% cuối năm 2010 lên 63,7% năm 2016,
do huy động thêm nguồn lực để thực hiện đột phá chiến lược về kết cấu hạ tầng Từ năm 2017, nhờ giảm bội chi ngân sách nhà nước, siết chặt quản lý vay và bảo lãnh chính phủ, nợ công bắt đầu giảm; tỷ lệ nợ công đến năm 2019 giảm còn 55% GDP, năm 2020 nợ công là 57,8%, vẫn giữ được ổn định kinh tế vĩ mô và cải thiện hệ số tín nhiệm quốc gia
Hình 3 Thu - chi ngân sách nhà nước
Nguồn: Báo cáo quyết toán NSNN và Báo cáo của Bộ Tài chính
Đánh giá về đầu tư công
Cùng với hiệu quả đầu tư được cải thiện, cơ cấu đầu tư cũng có những chuyển biến theo hướng tích cực Những chuyển biến này được thể hiện trước hết ở việc giảm tỷ trọng vốn đầu tư Nhà nước trong tổng đầu tư toàn xã hội, tăng đầu tư của khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2016 - 2020 ước đạt khoảng 10,7 triệu tỷ đồng, bằng 33,7% GDP, đạt mục tiêu bình quân 5 năm (32 - 34%)
Tỷ trọng đầu tư khu vực nhà nước trong tổng đầu tư xã hội từ năm 2012 có xu hướng giảm xuống, từ 40,3% năm 2016 xuống còn 38% vào năm 2020
Vấn đề nợ công
Tốc độ tăng nợ công cũng như trần nợ công mặc dù được kiểm soát trong ngưỡng an toàn nhưng vẫn ở mức cao Cụ thể, trong giai đoạn 2011 - 2015, tốc độ tăng nợ công của Việt Nam ở mức bình quân là 18,1%/năm thì giai đoạn 2016 - 2018 đã giảm xuống bình quân còn 8,6%/năm, riêng năm 2018 chỉ còn ở mức 6% Về trần nợ công, tỷ lệ nợ công giảm từ mức cuối năm 2016 là 63,7% GDP xuống còn 61,4% GDP cuối năm 2017, 58,4% GDP năm 2018 và ở mức 57% GDP
Trang 5năm 2019 Bên cạnh đó, công tác tái cơ cấu nợ công trong năm 2018, năm 2019 cũng được triển khai tăng cường
Hệ thống pháp luật về đầu tư công được hoàn thiện theo hướng phân cấp triệt để, tăng cường trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý hoạt động đầu tư công Luật Đầu
tư công số 49/2014/QH13 đã được thông qua tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 Việc Quốc hội thông qua Luật Đầu tư công đã tạo
ra hệ thống pháp luật đồng bộ để quản lý toàn bộ quá trình đầu tư công, từ chủ trương đầu tư, thẩm định nguồn vốn đối với các chương trình, dự án sử dụng vốn đầu tư công; lập, thẩm định, phê duyệt kế hoạch đầu tư, triển khai thực hiện kế hoạch; theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra
kế hoạch đầu tư công Để triển khai thực hiện Luật Đầu tư công, Chính phủ đã ban hành 08 Nghị định và 07 thông tư, bên cạnh đó Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các quy định về nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016 - 2020
Các Nghị định, Thông tư hướng dẫn cơ bản đã đáp ứng yêu cầu triển khai Luật Đầu tư công, đặc biệt là những nội dung đổi mới của Luật như: quy trình quyết định chủ trương đầu tư; lập kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm; thẩm định nguồn vốn và cân đối vốn; công tác theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công (bao gồm cả việc xây dựng hệ thống thông tin về đầu tư công) Việc ban hành nguyên tắc, tiêu chí phân bổ vốn đầu tư công cho giai đoạn 2016 - 2020 đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ và hoàn chỉnh để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phân bổ và sử dụng vốn đầu tư công; khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư theo đúng mục tiêu, định hướng của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; thúc đẩy tái cơ cấu đầu tư và tái cơ cấu các ngành, vùng lãnh thổ; cơ bản bảo đảm tương quan hợp lý giữa phát triển kinh tế xã hội và an sinh xã hội, giữa các ngành, lĩnh vực, các địa phương, vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn khác, chống thất thoát, lãng phí; bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quản lý đầu tư công
Tuy đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng trong quá trình triển khai thực hiện Luật Đầu tư công số 49/2019/QH14 và các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn còn tồn tại một số hạn chế Nhằm phục vụ quá trình cơ cấu lại đầu tư công giai đoạn 2016 -2020, định hướng 2025, đáp ứng yêu cầu quản lý hiệu quả vốn đầu tư công và tạo thuận lợi trong quá trình triển khai thực hiện, cần tăng cường phân cấp, phân nhiệm, khắc phục những tồn tại, hạn chế, đặc biệt, Chính phủ đã báo cáo Quốc hội ban hành Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng
01 năm 2020 Đây là một bước đột phá trong quá trình hoàn thiện thể chế về đầu tư công, tạo sự đồng bộ, thống nhất trong quản lý ngân sách, đầu tư, xây dựng, tháo gỡ khó khăn vướng mắc bất cập liên quan đến quy định về pháp luật đầu tư công trong thời gian qua Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14 thực hiện phân cấp triệt để quy trình thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn; phân cấp mạnh mẽ thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, vừa bảo đảm thẩm quyền của các cơ quan, vừa tăng tính chủ động, phù hợp điều kiện thực tế của mỗi địa phương, tăng cường trách nhiệm của người quyết định đầu tư, chủ đầu tư trong việc quyết định, tổ chức thực hiện và phát huy hiệu quả đầu tư, xử lý được những tình huống phức tạp như dự án sử dụng nhiều nguồn vốn thuộc các cấp ngân sách khác nhau
Trang 6Đổi mới phương thức kế hoạch hóa, đáp ứng tốt hơn thực tiễn vận hành của nền kinh tế, hạn chế tối đa tình trạng kéo dài thời gian thực hiện, chuyển nguồn… Đồng thời, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 01/2020/NĐ-CP ngày 01 tháng 01 năm 2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 84/2015/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2015 về giám sát và đánh giá đầu tư Trong đó, đã bổ sung thêm quy định về phương pháp, tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư chương trình đầu tư công Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, dịch vụ vẫn đóng góp cao nhất cho nền kinh tế, tiếp
đó là công nghiệp và sau cùng là nông nghiệp Lượng vốn đầu tư từ ngân sách vào nhóm ngành nông nghiệp lớn nhưng năng suất lao động thấp và mức đóng góp cho tăng trưởng nhỏ Điều này đặt ra yêu cầu của tái cơ cấu vốn đầu tư và chọn điểm đầu tư phù hợp từ ngân sách nhà nước
Hình 2 Đóng góp của các ngành vào tăng trưởng giai đoạn 2011 - 2020
0
0.51
1.52
2.53
3.54
2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020
Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Các ngành có đóng góp thay đổi về xu thế trong giai đoạn 10 năm trở lại đây Nông nghiệp
có xu hướng giảm đóng góp vào tăng trưởng GDP khi giảm từ khoảng 0,8 điểm phần trăm năm
2011 xuống còn 0,5 điểm phần trăm năm 2020 Nhóm ngành dịch vụ đóng góp trong khoảng từ 2,7 điểm phần trăm tới 3,5 điểm phần trăm giai đoạn 2011 - 2019 Riêng 2020, do diễn biến dịch bệnh COVID-19, nhà hàng, dịch vụ lưu trú và du lịch là những ngành bị ảnh hưởng nặng nề Đóng góp của dịch vụ giảm sâu xuống 1 điểm phần trăm Trong khi đó, xu thế tương tự chứng kiến ở nhóm công nghiệp với đóng góp trong khoảng 2,73 điểm phần trăm (2011) lên 3,1 điểm phần trăm năm 2019 và giảm xuống 1,22 điểm phần trăm năm 2020
Cơ cấu kinh tế ngành và nội ngành chuyển biến tích cực; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo và ứng dụng công nghệ cao tăng lên Tỷ trọng khu Vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trong GDP giảm từ 18,9% năm 2010 xuống 15,2% năm 2020; các khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ (bao gồm cả thuế sản phẩm trừ trợ cấp) tăng tương ứng từ 81,1% lên 84,8%
Cơ cấu nội ngành chuyển dịch tích cực; trong khu vực công nghiệp, xây dựng, tỷ trọng ngành chế biến, chế tạo tăng từ 13% GDP năm 2010 lên 16,7% năm 2020; tỷ trọng ngành khai khoáng giảm từ 9,5% GDP xuống còn 5,5% Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao và ứng dụng công nghệ cao trong các khu vực nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng, dịch vụ có xu hướng tăng lên
Về cơ cấu lại nông nghiệp: Cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển biến tích cực hướng vào phát huy tiềm năng, lợi thế của vùng, miền, nhu cầu thị trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh lương thực Sản xuất nông nghiệp được tập trung phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, hiện đại, giá trị gia tăng cao và bền vững, là trụ đỡ cho nền kinh tế trong những lúc khó khăn Nông nghiệp vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, đạt bình quân khoảng 3%/năm
Trang 7Hình thành nhiều mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao; đầu tư của doanh nghiệp vào nông nghiệp tăng; phát triển liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị và xây dựng được thương hiệu của một số nông sản chủ lực Phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái được chú trọng, từng bước chuyển đổi sang cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao Khoa học, công nghệ đóng góp trên 30% tổng giá trị gia tăng trong nông nghiệp Chất lượng nhiều loại sản phẩm đáp ứng yêu cầu an toàn theo tiêu chuẩn quốc tế Số lượng hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp tăng nhanh; đến năm 2020 có khoảng 15 nghìn hợp tác xã nông nghiệp hoạt động hiệu quả và trên 13 nghìn doanh nghiệp trực tiếp sản xuất nông nghiệp; qua đó khẳng định vai trò trung tâm thúc đẩy phát triển nông nghiệp Quá trình cơ cấu lại nông nghiệp đã gắn kết chặt chẽ với xây dựng nông thôn mới, nhất là trong phát triển hạ tầng, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân khu vực nông thôn
Chất lượng tăng trưởng ngày càng được cải thiện, tỷ lệ giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đã tăng từ 55,7% năm 2010 lên 61,1% năm 2019; năng suất lao động giai đoạn 2011 - 2020 tăng bình quân 6,1%/năm Xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản tăng mạnh, thị trường tiêu thụ được mở rộng; kim ngạch xuất khẩu tăng từ 21,8 tỷ USD năm
2011 lên khoảng 41 tỷ USD năm 2020, tăng bình quân khoảng 7,3%/năm
Về cơ cấu lại khu vực công nghiệp - xây dựng: Cơ cấu các ngành công nghiệp chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành khai khoáng, tăng nhanh tỷ trọng ngành chế biến, chế tạo Một số sản phẩm công nghiệp xuất khẩu có quy mô lớn, chiếm vị trí vững chắc trên thị trường thế giới Tỷ trọng hàng hóa xuất khẩu qua chế biến trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa tăng từ 65% năm 2011 lên 85% năm 2020; tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị sản phẩm công nghệ cao tăng từ 38% năm 2010 lên 77,7% năm 2019
Năng lực cạnh tranh toàn cầu của ngành công nghiệp tăng từ vị trí 58 vào năm 2009 lên thứ
42 vào năm 2019, đã hình thành được một số tập đoàn kinh tế trong nước có tiềm lực trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, nhất là công nghiệp ô tô Năm 2019, doanh nghiệp công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao chiếm trên 13% trong tổng số doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo Giá trị sản phẩm công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao tăng từ 26% năm 2010 lên trên 40% năm 2019 Đã hình thành một số ngành công nghiệp hỗ trợ và gia tăng tỷ lệ nội địa hóa Phát triển các ngành công nghiệp từng bước đi vào chiều sâu; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng bình quân khoảng 8% giai đoạn 2011 - 2020, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có mức tăng trưởng khoảng 10%, trở thành động lực chính cho khu vực công nghiệp và đóng góp lớn vào tăng trường của nền kinh tế
Cơ cấu lại ngành xây dựng được tập trung thực hiện, phát huy hiệu quả; năng lực xây lắp được cải thiện; chất lượng công trình xây dựng từng bước được nâng cao và được kiểm soát chặt chẽ hơn Giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng bình quân khoảng 8,3%/năm; năng suất lao động tăng bình quân 7,9%/năm Làm chủ được nhiều công nghệ xây dựng tiên tiến, đưa vào ứng dụng,
số lượng công trình có quy mô lớn, công trình ứng dụng công nghệ mới, kỹ thuật cao ngày càng tăng; áp dụng phương thức quản lý hiện đại, chuyên nghiệp Sản xuất vật liệu xây dựng phát triển mạnh, đáp ứng nhu cầu trong nước, một phần xuất khẩu Chất lượng và sức cạnh tranh của nhiều sản phẩm vật liệu được cải thiện đáp ứng nhu cầư tiêu dùng, trong đó một số sản phẩm có thế cạnh tranh với khu vực và thế giới
Trang 8Về cơ cấu lại khu vực dịch vụ: Cơ cấu lại khu vực dịch vụ được triển khai tích cực theo hướng nâng cao chất lượng, tập trung đầu tư cơ sở vật chất và phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ Một số ngành, lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao được đẩy mạnh và từng bước hiện đại hóa, như công nghệ thông tin, truyền thông, thương mại điện tử, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, y tế, hàng không số lao động làm việc trong khu vực dịch vụ tăng từ 14,5 triệu năm
2010 lên khoảng 19,4 triệu vào năm 2020 Giai đoạn 2011 - 2020, tăng trưởng của ngành dịch vụ đat trên 6,4%/năm, cao hơn tăng trưởng chung của nền kinh tế (5,95%/năm)
Ngành du lịch đã có bước phát triển rõ rệt và đạt được những kết quả quan trọng, cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; số lượng khách quốc tế tăng nhanh, từ 5 triệu lượt năm 2010 lên
18 triệu lượt năm 2019, bình quân tăng khoảng 15%/năm, đóng góp trực tiếp khoảng 10% GDP Năm 2020, dịch bệnh COVID-19 đã tác động rất nghiêm trọng đến ngành du lịch và nhiều ngành dịch vụ như giao thông vận tải, hàng không, khách sạn, ăn uống, giải trí , số khách du lịch quốc
tế đến Việt Nam giảm mạnh
Sự chuyển dịch cơ cấu về loại hình doanh nghiệp
Giai đoạn vừa qua chứng kiến một xu hướng tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện đúng chủ trương phát triển kinh tế của Nhà nước, khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm dần
cả về quy mô và tỷ lệ đóng góp Quy mô và tỷ lệ đóng góp của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và khu vực doanh nghiệp FDI đều tăng và tiếp tục tăng trong thời gian tới Trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn chế, với nhiều hạng mục chi như hiện nay, trong khi thu ngân sách khó khăn trong giai đoạn hiện nay do tình hình dịch bệnh COVID-19 thì càng phải đẩy nhanh
sự chuyển hướng đầu tư sang lĩnh vực có hiệu quả cao Cùng với chủ trương, chính sách khuyến khích mọi loại hình doanh nghiệp cùng phát triển bình đẳng, đã tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ, khu vực doanh nghiệp FDI phát triển nhanh và hiệu quả, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của đất nước, thu hút nhiều lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo và phát triển bền vững Nhờ đó, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước liên tục phát triển, từ chỗ chỉ chiếm tỷ lệ thấp, đến nay đã có quy mô và
tỷ lệ cao nhất trong toàn bộ khu vực doanh nghiệp ở hầu hết các chỉ tiêu, cụ thể:
Đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước
Thực hiện chủ trương cổ phần hóa và đổi mới, sắp xếp lại của Nhà nước nên khu vực doanh nghiệp Nhà nước tiếp tục xu hướng giảm dần quy mô và tỷ lệ đóng góp ở tất cả các chỉ tiêu trong giai đoạn từ năm 2010 tới nay Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh, thực chất hơn; tập trung vào cổ phần hóa, thoái vốn và nâng cao hiệu quả hoạt động, số lượng doanh nghiệp nhà nước được thu gọn, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt Một số doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò dẫn dắt ngành, lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Giai đoạn 2011 - 2019 cổ phần hóa được 679 doanh nghiệp nhà nước; tổng thu từ cổ phần hóa, thoái vốn đạt 303 nghìn tỷ đồng Quản trị doanh nghiệp được cải thiện; cạnh tranh bình đẳng, công khai, minh bạch hơn Từng bước tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước Khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng; xuất hiện nhiều mô hình mới, hiệu quả, góp phần tăng thu nhập các hộ thành viên, từng bước khẳng định vai trò, vị trí trong nền kinh tế
Trang 9Hiện nay, tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam đang đặt ra những nhu cầu về vốn rất lớn cho đầu tư các hạng mục về hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội.
Hệ thống đô thị phát triển nhanh về số lượng, mở rộng về quy mô với mục tiêu phát huy tốt vai trò gắn kết với công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nông thôn với tỷ lệ đô thị hóa năm 2019 khoảng 39,2% Hạ tầng kỹ thuật đô thị, nhất là tại các đô thị lớn, tiếp tục được đầu tư,
mở rộng và hoàn thiện theo hướng hiện đại hóa, đồng bộ hóa với các hình thức đầu tư đa dạng, các nguồn vốn đầu tư được mở rộng hơn Các hệ thống kết cấu hạ tầng khác, như: hạ tầng năng lượng; hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp; hạ tầng nông nghiệp, nông thôn;
hạ tầng thông tin và truyền thông; hạ tầng giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao, du lịch, tiếp tục được quan tâm phát triển, hoàn thiện Các công trình cấp nước, thoát nước, thu gom và xử lý chất thải rắn được cải tạo, nâng cấp, cải thiện đáng kể, một số dự
án đã và đang được triển khai bằng nguồn vốn vay ODA tại các thành phố như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Vinh, Các chương trình, dự án cấp quốc gia và cấp vùng về phát triển đô thị (dự án phát triển tăng trưởng xanh, dự án phát triển đô thị loại vừa, dự án đô thị động lực ), hạ tầng kỹ thuật đang tiếp tục được triển khai mạnh mẽ
Liên kết vùng, kết nối kinh tế, hạ tầng dựa trên vào các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên để phát triển bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu được quan tâm và ưu tiên nguồn lực phù hợp
Môi trường thể chế và kinh doanh của Việt Nam đang được cải thiện
Việt Nam được WIPO xếp vị trí thứ 42/126 nền kinh tế năm 2020, tăng 29 bậc so với năm
2014 Trong 5 năm gần đây, thứ hạng các trụ cột Đổi mới sáng tạo của Việt Nam có xu hướng cải
thiện liên tục Trong nhóm các nước thu nhập trung bình thấp (30 nước), Việt Nam xếp thứ hai
Xếp hạng chung về Đổi mới sáng tạo của nước ta năm 2020 so với năm 2014 tăng 29 bậc với 6/7 chỉ số thành phần tăng hạng, trong đó, thể chế tăng 43 bậc; nguồn nhân lực và nghiên cứu tăng
23 bậc; cơ sở hạ tầng cải thiện 21 bậc; trình độ phát triển của thị trường tăng 59; sản phẩm kiến thức và công nghệ tăng 14 bậc; sản phẩm sáng tạo cải thiện 12 bậc
Trong 5 chỉ số đầu vào thì thể chế và trình độ phát triển của thị trường đạt được những kết quả tốt nhất Từ vị trí thấp nhất năm 2014, kết quả về thể chế ở Việt Nam đã cải thiện được 57 bậc chỉ sau 06 năm Trong khi đó, trình độ phát triển thị trường cải thiện đáng kể (Bảng 2)
Bảng 2 Kết quả chỉ số Đổi mới sáng tạo của Việt Nam giai đoạn 2014 - 2020
Nguồn: WIPO, 2014 - 2020
Trang 103 MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Một là, về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN để đáp ứng yêu cầu thực tiễn và thực hiện cam kết hội nhập quốc tế.
Nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở một số nội dung còn chưa thực sự sâu sắc, thống nhất Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa đầy
đủ, hiện đại, hội nhập, chưa theo kịp yêu cầu phát triển Do vậy, trong thời gian tới, Chính phủ cần tập trung hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải quyết tốt hơn nữa mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng thể chế, pháp luật đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập, ổn định,
cụ thể, minh bạch Tăng cường hiệu lực, hiệu quả các thiết chế thi hành pháp luật, bảo đảm chấp hành pháp luật nghiêm minh
Hệ thống pháp luật cần ngày càng được hoàn thiện, đáp ứng tốt hơn quá trình phát triển và hội nhập quốc tế Bối cảnh mới đặt ra những yêu cầu mới cho quá trình hoàn thiện bộ máy lãnh
đạo và năng lực lãnh đạo Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN cần được xác định cụ thể hơn, từng bước thực thi có hiệu quả và tạo được sự đồng thuận trong xã hội Trong giai đoạn 2011
- 2018, Quốc hội và Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một số lượng lớn các văn bản pháp luật và điều hành Đáng chú ý là tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành 03 Nghị quyết quan trọng có tính đột phá mạnh mẽ cả về nhận thức và hành động, nhất là Nghị quyết số 11-NQ/TW về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tại Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII), các vấn đề quan trọng tiếp tục được bàn thảo, đó
là “đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập” và “đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) sau đó tiếp tục thông qua các vấn đề về công tác cán bộ, nhất là cán bộ chiến lược và cải cách tiền lương, bảo hiểm xã hội Ngoài ra, Nghị quyết
số 19 hàng năm (kể từ 2016) đã được ban hành nhằm đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh quốc gia hướng đến năm 2020 và đã đạt được những kết quả tích cực Việc tinh chỉnh bộ máy cũng cần tiếp tục đẩy mạnh để giảm các khoản chi thường xuyên và dành nguồn lực cho những nhu cầu khác thiết yếu và hiệu quả hơn
Các yếu tố thị trường và các loại thị trường hàng hóa, dịch vụ cần phải từng bước được hình thành đồng bộ hơn, vận hành cơ bản thông suốt và bước đầu có sự gắn kết với thị trường khu vực và quốc tế Thị trường vốnphát triển ngày càng mạnh mẽ, tạo thành một kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế Cùng với đó, thị trường bất động sản cũng cầnphát triển đa dạng về loại hình, chất lượng sản phẩm từng bước được nâng cao; Thị trường khoa học, công nghệ bước đầu phát huy hiệu quả; Các thiết chế của thị trường lao động cần được tiếp tục hoàn thiện thúc đẩy dịch chuyển lao động giữa các ngành, khu vực của nền kinh tế
Hai là, quản trị Nhà nước cần từng bước được đổi mới phù hợp hơn với yêu cầu cơ cấu lại đầu tư từ ngân sách trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.
Vai trò, phương thức quản trị Nhà nước cần có những đổi mới phù hợp hơn với cơ chế thị trường Nhà nước cần tập trung hơn vào bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; hoàn thiện hệ thống luật