1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển các định chế tài chính phi ngân hàng ở Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ứng phó đại dịch COVID-19

12 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 450,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định chế tài chính phi ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính được thực hiện một hoặc một số hoạt động dịch vụ tài chính theo quy định của pháp luật, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Bài viết tập trung phân tích, làm rõ thực trạng nói trên, đề xuất một số khuyến nghị.

Trang 1

PHÁT TRIỂN CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH PHI NGÂN HÀNG

Ở VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

ỨNG PHÓ ĐẠI DỊCH COVID-19

ThS Phan Ngọc Tấn * Tóm tắt

Định chế tài chính phi ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính được thực hiện một hoặc một

số hoạt động dịch vụ tài chính theo quy định của pháp luật, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của

cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng Định chế tài chính phi ngân hàng bao gồm: công ty chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty bảo hiểm, quỹ bảo hiểm, công ty mua bán nợ, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty tín dụng tiêu dùng, công ty dịch vụ thẻ, ví điện tử và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác Bài viết tập trung phân tích, làm rõ thực trạng nói trên, đề xuất một số khuyến nghị

Từ khóa: Định chế tài chính, phi ngân hàng, hội nhập quốc tế

GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng ở Việt Nam hình thành và phát triển rất đa dạng, phù hợp với thông lệ quốc tế và góp phần cạnh tranh với các Ngân hàng thương mại (NHTM), góp phần thúc đẩy phát triển thị trường tài chính Các tổ chức này do nhiều bộ ngành và các cơ quan chức năng khác nhau quản lý về mặt nhà nước Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các loại hình

tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng rất khác nhau Vì vậy việc đánh giá thực trạng hoạt động, những ưu điểm và bất cập của các cơ quan quản lý, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức này có tính cấp thiết

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bài viết nghiên cứu về thực tiễn theo khuôn khổ và giới hạn của một tham luận hội thảo khoa học Do đó, bài tham luận không có điều kiện xây dựng cơ sở lý thuyết của nghiên cứu, làm rõ tổng quan và khoảng trống nghiên cứu, xây dựng mô hình nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

22.

* Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

Bài viết cũng không sử dụng phương pháp định lượng Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính truyền thống, sử dụng số liệu và tư liệu thứ cấp của các cơ quan chức năng đã công bố, như: Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Hiệp hội Ngân hàng (HHNH), Ủy ban chứng khoán Nhà

nước (SSC), Sở Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội (HNX), Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố

Hồ Chí Minh (HOSE), công ty chứng khoán (CTCK), tiến hành tổng hợp so sánh, phân tích, đánh giá tập trung làm rõ các nội dung này và khuyến nghị giải pháp

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Thực trạng quản lý và phát triển hoạt động của các định chế tài chính phi ngân hàng ở Việt Nam hiện nay

1 Bộ Tài chính - Ủy ban chứng khoán Nhà nước

1.1 Các công ty chứng khoán

Tính đến nay trong cả nước có 76 CTCK được cấp giấy phép, đang hoạt động Khi một doanh nghiệp muốn huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán, không phải họ tự đi bán

số chứng khoán mà họ định phát hành Họ không làm tốt được việc đó bởi họ không có bộ máy chuyên môn Cần có những nhà chuyên nghiệp mua bán chứng khoán cho họ Đó là các CTCK, với nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, bộ máy tổ chức thích hợp, thực hiện được vai trò trung gian môi giới mua bán, phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một số dịch vụ khác cho cả người đầu tư và người phát hành

Các CTCK là các tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng Nhờ các CTCK mà cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu chính phủ phát hành lần đầu và giao dịch thứ cấp trên thị trường chứng khoán, qua đó, một lượng vốn khổng lồ được đưa vào đầu tư trong nền kinh tế từ việc tập hợp những nguồn vốn nhỏ

lẻ, phân tán trong công chúng

Tổng số vốn điều lệ của 76 CTCK trên thị trường tài chính Việt Nam tại thời điểm cuối tháng 9/2018 đạt 54.278 tỷ đồng, tăng 25,2% so với cuối năm 2017 và tăng 17% so với thời điểm cuối tháng 6/2018 Đến hết năm 2020, vốn điều lệ của các CTCK tiếp tục tăng lên, ước tính đạt 66.000 tỷ đồng Tham khảo biến động vốn điều lệ của 11 CTCK lớn nhất Việt Nam tính đến hết năm 2019 ở hình vẽ dưới đây

Trang 3

Hình 1 Vốn điều lệ của 11 công ty chứng khoán lớn nhất Việt Nam tính đến hết năm 2019

Đơn vị: Tỷ đồng

Nguồn: Ủy ban chứng khoán nhà nước - SSC (2018 - 2020)

Tính đến cuối năm 2019, toàn thị trường chứng khoán Việt Nam có tổng cộng 2.359.682 tài khoản giao dịch chứng khoán, tăng 8% so với năm 2018 Trong đó, các nhà đầu tư trong nước có 2.331.150 tài khoản, tăng 8,2% và chiếm 98,8% tổng số tài khoản trên toàn thị trường; các nhà đầu tư nước ngoài có 28.532 tài khoản, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm 2018 Xét về tốc độ tăng tài khoản mở mới thì nếu như trong năm 2018 con số này đứng ở mức 13,6% thì trong năm 2019

tốc độ tăng giảm hơn 40%, đứng ở mức 8% Theo SSC (2018 - 2020).

Tuy nhiên đến hết năm 2020, tổng số tài khoản giao dịch chứng khoán tiếp tục tăng đột biến

Có thể tham khảo số liệu do Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD) công bố số lượng tài

khoản giao dịch chứng khoán tính đến cuối năm 2020 ở hình vẽ dưới đây Theo SSC (2018 - 2020).

Hình 2 Số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán tính đến cuối năm 2020

Nguồn: SSC (2018 - 2020) và VSD

Trang 4

Tại thời điểm ngày 31/12/2020, tổng số tài khoản giao dịch chứng khoán tại Việt Nam là hơn 2,77 triệu, tăng 396.515 tài khoản so với cuối năm 2019

Dư nợ cho vay của các CTCK đối với khách hàng, chủ yếu là cho vay margin, trên toàn thị trường tính tới cuối quý IV/2020 vào khoảng 90.000 tỷ đồng (~3,9 tỷ USD) Đây là con số kỷ lục trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ khi thành lập đến cuối năm 2020 Trong số dư nợ 90.000 tỷ đồng kể trên có khoảng 81.000 tỷ đồng là dư nợ margin, còn lại là các khoản ứng trước

tiền bán Vốn chủ sở hữu của các CTCK đến hết năm 2020 đạt khoảng 87.000 tỷ đồng Theo HOSE (2015 - 2020).

Tính riêng 20 CTCK lớn nhất thị trường có dư nợ cho vay cuối năm 2020 lên tới 81.265 tỷ đồng, tăng khoảng 23.600 tỷ đồng (+41%) so với quý III và tăng 88% so với thời điểm thị trường

tạo đáy tại vùng 660 điểm vào cuối quý I/2020 Theo HOSE (2015 - 2020).

Như vậy, dư nợ cho vay của các NHTM đối với nền kinh tế tăng trưởng chậm thì dư nợ cho vay tại các CTCK đối với khách hàng thì lại tăng đột biến trong quý IV/2020

Hình 3 Dư nợ cho vay 20 CTCK lớn nhất thị trường

Đơn vị tính: tỷ đồng

Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo tài chính năm 2019 và quý IV/2020

của các Công ty chứng khoán - CTCK (2018 - 2020)

Dòng tiền margin từ các nhà đầu tư trong nước đã góp phần quan trọng giúp thị trường đứng vững trước áp lực bán ròng mạnh mẽ của khối ngoại trong thời gian qua Tiền margin từ các CTCK được xem là một luồng tiền quan trọng nâng đỡ thị trường trong mọi hoàn cảnh Tổng hợp số liệu từ Báo cáo tài chính quý IV/2020 của 25 CTCK có dư nợ cho vay khách hàng (trong

đó, cho vay margin chiếm 95% tổng dư nợ), cho thấy, dư nợ cho vay khách hàng đến cuối quý IV/2020 đạt 85.762 tỷ đồng, tăng bình quân 57,4% so với đầu năm, tăng thêm 39,8% so với cuối

quý III/2020 Theo CTCK (2018 – 2020).

Trang 5

Hình 4 Tổng vay nợ của 25 công ty chứng khoán

Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo tài chính năm 2019 và quý IV/2020

của các Công ty chứng khoán - CTCK (2018 - 2020)

Tổng vay nợ của 25 công ty chứng khoán có số dư cho vay margin lớn trên thị trường đến cuối quý IV/2020 đã lên đến 84.977 tỷ đồng, tăng bình quân 48,9% so với hồi đầu năm Nhưng

số vay nợ ngân hàng phát sinh trong năm 2020 của 21 CTCK (không có VPS, VCSC, TVSI,

VIX) lên đến 461.467 tỷ đồng (tương đương khoảng 20 tỷ USD) Theo CTCK (2018 - 2020)

1.2 Về Quỹ đầu tư chứng khoán

Nếu như năm 2003, chỉ có 1 đơn vị, đến nay số lượng công ty quản lý quỹ đang hoạt động đã lên tới 48 Cùng với đó, số lượng các quỹ đầu tư cũng tăng lên nhanh chóng qua từng năm Nếu tính trong năm 2012 chỉ có 17 quỹ đầu tư với 2 loại hình quỹ đóng và quỹ thành viên, đến năm

2017 có 36 quỹ đầu tư, trong số này có 10 quỹ thành viên, 1 quỹ đóng, 22 quỹ mở, 2 quỹ hoán đổi danh mục (ETF) và 01 quỹ bất động sản Thì đến hết tháng 12/2020, có tổng số 48 Quỹ đầu

tư chứng khoán, trong đó có 32 Quỹ mở, 10 Quỹ thành viên, 2 Quỹ đóng, 2 Quỹ ETF và 1 Quỹ bất động sản, tổng giá trị tài sản ròng trên 40.000 tỷ đồng Quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn, đặc biệt là huy động vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, đồng thời đa dạng hóa hoạt động của NHTM và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

Theo SSC (2018 - 2020).

1.3 Về Công ty bảo hiểm

Tính đến hết năm 220, thị trường bảo hiểm Việt Nam có 66 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, gồm 30 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 18 doanh nghiệp bảo hiểm, 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm, 16 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và 1 chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài Đến hết năm 2018, tổng tài sản của các doanh nghiệp bảo hiểm đạt 390.717 tỷ đồng, tăng 24% so với năm 2017 Tổng số tiền đầu tư đạt 324.644 tỷ đồng, tăng 31% so với năm

2017 Tổng dự phòng nghiệp vụ đạt 247.500 tỷ đồng, tăng 31% so với năm 2017 Tổng nguồn vốn chủ sở hữu đạt 82.584 tỷ đồng, tăng 26% so với năm 2017 Tổng doanh thu phí bảo hiểm

Trang 6

đạt 151.001 tỷ đồng Toàn ngành đã chi trả quyền lợi bảo hiểm đạt 36.415 tỷ đồng; trong đó, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đạt 17.765 tỷ đồng, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đạt 18.650 tỷ đồng Tổng phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới năm 2018 đạt 9.654 tỷ đồng, tăng

11,4% so với năm trước Theo SSI (2015 - 2021).

Đến hết năm 2019, tổng tài sản các doanh nghiệp bảo hiểm đạt 454.379 tỷ đồng, tăng 15,03%

so với năm trước Trong đó, tổng tài sản các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đạt 89.447

tỷ đồng, bảo hiểm nhân thọ đạt 364.932 tỷ đồng Trong năm 2019, các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế đạt 376.555 tỷ đồng, tăng 16,36% so với năm 2019 Tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm đạt 285.965 tỷ đồng, tăng 18,58%; tổng nguồn vốn chủ sở hữu đạt 89.345 tỷ đồng, tăng 9,34% so với năm 2018 Đặc biệt, tổng doanh thu phí bảo hiểm đạt 160.180 tỷ đồng, tăng 20,54%, trong đó, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đạt 52.387 tỷ đồng và nhân thọ đạt 107.793 tỷ đồng Các doanh nghiệp bảo hiểm đã chi trả quyền lợi bảo hiểm đạt 44.006 tỷ đồng Đối với các doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tổng doanh thu hoạt động kinh doanh năm 2019

đạt 794 tỷ đồng, tăng 3,7% so với năm 2018 Theo SSI (2015 - 2021).

Về thị trường bảo hiểm năm 2020, tổng tài sản ước đạt 514.795 tỷ đồng, tăng 13,30%; Đầu tư trở lại nền kinh tế ước đạt 433.063 tỷ đồng, tăng 15,01% Cùng với đó, tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm ước đạt 334.939 tỷ đồng, tăng 17,13% Tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 188.730

tỷ đồng, tăng 18,42% Theo SSI (2015 - 2021).

1.4 Về Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ Việt Nam (DATC)

Từ khi chính thức hoạt động năm 2004 đến nay, DATC đã tham gia mua, xử lý nợ xấu trên 90.000 tỷ đồng DATC đã hỗ trợ xử lý nợ của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đặc biệt khó khăn, như: Vinashin (nay là SBIC), Vinalines, Tổng công ty Dâu tằm tơ, Tổng công ty Thực phẩm Miền Bắc, Haprosimex Đối với Vinalines, DATC đã mua và xử lý 4.915 tỷ đồng nợ phải trả tại các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước Bên cạnh đó, DATC đã tiếp nhận nợ và tài sản loại trừ trong quá trình sắp xếp, chuyển đổi sở hữu của 2.628 DNNN Lũy kế, DATC đã xử lý và thu hồi về cho Nhà nước khoảng 673,4 tỷ đồng từ những khoản nợ và tài sản tưởng như không

còn giá trị được loại ra khi sắp xếp, cổ phần hóa Theo SSI (2015 - 2021).

Đối với hoạt động tái cơ cấu doanh nghiệp thông qua xử lý nợ mà trọng tâm là chuyển đổi

sở hữu DNNN không đủ điều kiện cổ phần hóa, từ năm 2004 đến nay DATC đã thực hiện tái cơ cấu cho 173 doanh nghiệp Sau 16 năm hoạt động với vai trò là công cụ quan trọng của Chính phủ để hỗ trợ quá trình sắp xếp, tái cơ cấu DNNN và tổ chức kinh doanh theo cơ chế thị trường

Theo SSI (2015 - 2021).

2 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

2.1 Về Công ty Cho thuê tài chính

Sau khi Công ty Cho thuê tài chính II (ALCII) của Agribank được tuyên bố phá sản, đến nay

số lượng các công ty tài chính đã giảm từ 11 xuống 10 công ty Trong đó có ba công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài gồm: Công ty CTTC TNHH MTV Kexim Việt Nam; Công ty TNHH CTTC Quốc tế Việt Nam; Công ty TNHH CTTC Quốc tế Chailease Tuy nhiên, đến nay nhiều công ty không phát triển được, do môi trường pháp lý và môi trường kinh tế của Việt Nam

chưa phù hợp cho hoạt động của định chế tài chính này Theo Ngân hàng Nhà nước (2020).

Trang 7

Đến hết năm 2020, thị trường tài chính Việt Nam chứng kiến sự hiện diện hoạt động của

16 công ty tài chính tiêu dùng, với quy mô dư nợ tín dụng tiêu dùng tăng trung bình tới 66,3%/ năm trong giai đoạn 2015 - 2017, cao hơn nhiều so với mức 20% của 2013 - 2014 Tăng trưởng của năm 2018 đạt 30,4%, thấp hơn với mức 59% trung bình 5 năm trước và năm 2019 tăng trên 20%, năm 2020 tăng 14% Tuy nhiên, hiện nay hoạt động của các công ty tín dụng tiêu dùng đang đặt ra một số vấn đề rất đáng quan tâm: cần phải được quản lý chặt chẽ, như: cho vay lỏng

lẻo tiềm ẩn nhiều rủi ro với lãi suất rất cao, cách thức đòi nợ gây bức xúc cho xã hội Theo Ngân hàng Nhà nước (2020).

2.3 Về các công ty dịch vụ thanh toán

Đến hết năm 2020, trong cả nước có 78 tổ chức triển khai dịch vụ thanh toán qua internet, 49

tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán qua điện thoại di động và 34 tổ chức không phải ngân hàng được NHNN cấp giấy phép cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán Số tài khoản cá nhân đạt 95,6 triệu tài khoản, tăng 45,5% so với cùng kỳ năm 2016 Thanh toán qua POS đạt hơn 218 triệu món với 382.860 tỷ đồng, tăng tương ứng 176,5% và 139,5% so với cùng kỳ năm 2016; thanh toán qua ATM đạt 660 triệu món với hơn 1,818 triệu tỷ đồng, tăng tương ứng 38,7% và 53,8%

so với cùng kỳ năm 2016 Số lượng và giá trị thanh toán qua kênh internet đạt 282,4 triệu giao dịch với 17,4 triệu tỷ đồng, tăng tương ứng 262,5% và 353,1% so với cùng kỳ năm 2016 Đặc biệt, số lượng và giá trị thanh toán qua kênh điện thoại di động đạt 682,3 triệu giao dịch với gần 7,2 triệu tỷ đồng, tăng trưởng vượt bậc 981% và 794% so với cùng kỳ năm 2016 Bên cạnh đó còn có Công ty cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam (Napas); Các công ty dịch vụ thanh toán, đang đóng vai trò thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, thúc đẩy thương

mại điện tử, ngân hàng số, dịch vụ ngân hàng điện tử, Theo Ngân hàng Nhà nước (2020) 2.4 Về VAMC

Công ty TNHH một thành viên quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) do NHNN quản lý Tính riêng năm 2020, VAMC đã triển khai mua 281 khoản nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt (TPĐB) với 15.218 tỷ đồng dư nợ gốc nội bảng, đạt gần 100% kế hoạch được Ngân hàng Nhà nước giao Đồng thời, VAMC cũng xử lý và phối hợp với các tổ chức tín dụng

xử lý thu hồi nợ xấu được 47.515 tỷ đồng dư nợ gốc (tạm tính), đạt 95% kế hoạch năm 2020 Lũy

kế từ khi thành lập đến hết ngày 31/12/2020, VAMC đã thực hiện mua nợ xấu bằng TPĐB đạt 374.622 tỷ đồng dư nợ gốc nội bảng, xử lý thu hồi nợ đạt 167.019 tỷ đồng Từ khi Nghị quyết số

42/2017 có hiệu lực, kết quả thu hồi nợ của VAMC chiếm 63% tổng số thu hồi nợ lũy kế Theo Ngân hàng Nhà nước (2020).

3 Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEDF) Đây là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, do Thủ tướng Chính phủ thành lập, thực hiện các chức năng: a) Cho vay, tài trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị; b) Tiếp nhận và quản lý nguồn vốn vay, tài trợ, viện trợ, đóng góp, ủy thác của các tổ chức, cá nhân để

hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trang 8

Quỹ này được Thủ tướng thành lập theo Quyết định số 601/QĐ-TTg ngày 17/4/2013, SMEDF

là tổ chức tài chính nhà nước trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, được Thủ tướng quyết định thành lập Tính đến hết tháng 12/2018, đã có trên 1.600 doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận thông tin về hoạt động của Quỹ SMEDF đã chấp thuận ủy thác cho ngân hàng để giải ngân cho doanh nghiệp nhỏ và vừa số tiền 149,8 tỷ đồng Tuy nhiên đến hết năm 2019 và hết năm 2020, không

có số liệu về hoạt động của định chế tài chính này, nhưng chắc chắn không tăng nhiều so với năm

2018 và quy mô rất nhỏ so với một chi nhánh NHTM Theo SSI (2015 - 2021)

4 Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Ủy ban được thành lập trên cơ sở Nghị quyết số 09/NQ-CP, ngày 3/2/2018 của Chính phủ,

được Chính phủ giao thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần vốn nhà nước đầu tư tại Công ty

cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo quy định của pháp luật Đến nay, Ủy ban này đã hoàn thành tiếp nhận và thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại 19 tập đoàn, tổng công ty, trong đó có SCIC trực thuộc Bộ Tài chính trước đây Năm

2019, tổng doanh thu hợp nhất của 19 tập đoàn, tổng công ty do Ủy ban làm đại diện chủ sở hữu nhà nước đạt 1.478.949 tỷ đồng, tăng 6,4% so với năm 2018 Năm 2020, Ủy ban tiếp tục thực hiện tốt mục tiêu bảo toàn, phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp, với điểm nổi bật là thu ngân

sách công ty mẹ của 17/19 tập đoàn vượt 12% so với kế hoạch đề ra Theo SSI (2015 - 2021).

Dự kiến sẽ có 30 doanh nghiệp và vốn nhà nước tại doanh nghiệp sẽ chuyển giao cho Ủy ban này quản lý, trong đó có 9/10 tập đoàn kinh tế (ngoại trừ Tập đoàn Viettel là doanh nghiệp quốc phòng) và 21 tổng công ty đang thuộc sự quản lý của 7 bộ, gồm Bộ Công thương, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Nông nghiệp, Bộ Tài chính, Bộ Thông tin truyền thông, Bộ Xây dựng và Bộ Y tế

Theo SSI (2015 - 2021).

5 Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố

5.1 Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa

Đây là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, do

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập Tính đến nay, cả nước mới chỉ có gần 30 Quỹ bảo lãnh tín dụng (QBLTD) được thành lập và đi vào hoạt động, với tổng vốn điều lệ thực có khoảng trên 1.400 tỷ đồng, trong đó có đến hơn 1.300 tỷ đồng là vốn ngân sách Tính đến cuối năm 2017, các quỹ mới chỉ bảo lãnh được trên 4.100 tỷ đồng vốn vay trong tổng số 1,3 triệu tỷ đồng dư nợ tín dụng của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa Tỷ lệ bảo lãnh chỉ tương đương 3,2% tổng dư nợ tín dụng, nhưng đến nay, các QBLTD đã phải trả nợ thay cho doanh nghiệp với tỷ lệ lên đến 8,6%

trong số nợ được bảo lãnh Theo SSI (2015 - 2021).

Theo quy định tại Nghị định số 34/2018/ NĐ-CP của Chính phủ, vốn điều lệ tối thiểu của Quỹ là 100 tỷ đồng do Nhà nước cấp Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động, hầu hết vốn điều lệ của các quỹ chưa đảm bảo được mức quy định, thậm chí có quỹ chỉ có 15 tỷ đồng do ngân sách tỉnh cấp, trong khi theo quy định thì giới hạn tối đa bảo lãnh vay vốn cho một doanh nghiệp là 15% vốn điều lệ thực có của quỹ, nhưng phần lớn nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp cao hơn mức

quỹ bảo lãnh Theo SSI (2015 - 2021).

Trang 9

Quy mô vốn điều lệ thấp, nhiều tỉnh khó khăn về cân đối ngân sách nên không thể đưa vốn sang, khả năng bảo lãnh thấp, kết quả bảo lãnh quá nhỏ, số nợ quá hạn của doanh nghiệp mà Quỹ phải trả thay quá cao, hiệu quả của Quỹ rõ ràng có vấn đề cần được xắp xếp lại theo hướng tinh gọn và thực chất

5.2 Quỹ đầu tư phát triển địa phương

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 138/2007/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu

tư phát triển địa phương và Nghị định này đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 37/2013/

NĐ-CP ngày 22/4/2013 Theo SSI (2015-2021).

Triển khai các quy định nói trên, đã có 44 địa phương thành lập Quỹ đầu tư phát triển địa phương (ĐTPTĐP) với mục tiêu huy động các nguồn vốn trung và dài hạn để thực hiện cho vay, đầu tư trực tiếp các dự án trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tại địa phương Đến 31/12/2018, số dư nguồn vốn hoạt động của hệ thống Quỹ là 34.980 tỷ đồng, gấp 5 lần so với năm 2007 Về cơ cấu, vốn chủ sở hữu chiếm 79% và vốn huy động chiếm 21% Vốn huy động của các Quỹ ĐTPTĐP tương đương 26% vốn chủ sở hữu Về sử dụng vốn, tính đến 31/12/2018, tổng vốn sử dụng cho các hoạt động cho vay, đầu tư trực tiếp và góp vốn thành lập doanh nghiệp của hệ thống Quỹ ĐTPTĐP là 18.111 tỷ đồng, gấp 5 lần so với năm 2007, trong đó hoạt động cho vay đầu tư cơ sở hạ tầng là 14.084 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu sử dụng vốn

của Quỹ (chiếm 77,7%) Theo SSI (2015 - 2021).

Nguồn vốn cho vay và đầu tư của Quỹ ĐTPTĐP đã phát huy hiệu quả, từ đó huy động các nguồn vốn khác tham gia vào việc đầu tư cơ sở hạ tầng tại địa phương Theo đó, tổng lợi nhuận của toàn hệ thống Quỹ ĐTPTĐP đến 31/12/2018 là 1.268 tỷ đồng, tăng 4 lần so với năm 2007 Hoạt động của hệ thống Quỹ ĐTPTĐP có tăng trưởng về quy mô, nguồn vốn hoạt động, góp phần vào việc huy động các nguồn lực tài chính cho đầu tư cơ sở hạ tầng tại địa phương Đến nay chưa có số liệu chính thức về kết quả hoạt động của các Quỹ ĐTPTĐP đến hết năm 2019, nhưng chắc chắn là quy mô vốn không tăng quá 10% so với năm 2018 và 1/3 số tỉnh, thành phố

vẫn chưa thành lập được Theo SSI (2015 - 2021).

6 Ủy ban giám sát tài chính quốc gia

Có chức năng tham mưu, tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ Việt Nam trong điều phối hoạt động giám sát thị trường tài chính quốc gia (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm); giúp Thủ tướng Chính phủ giám sát chung thị trường tài chính quốc gia Các chức năng cụ thể là:

+ Điều phối hoạt động giám sát chuyên ngành; giám sát chung thị trường tài chính và việc chấp hành các thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động giám sát của các cơ quan thanh tra - giám sát chuyên ngành trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm Giám sát điều kiện được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm

+ Phân tích, dự báo, cảnh báo mức độ an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng và nguy cơ rủi

ro đối với thị trường tài chính quốc gia; thiết lập cơ sở dữ liệu, tổng hợp, xử lý và cung cấp các thông tin về thị trường tài chính quốc gia báo cáo Thủ tướng Chính phủ Kiến nghị với các cơ quan thanh tra - giám sát chuyên ngành và cấp có thẩm quyền xử lý vi phạm đối với các tổ chức,

cá nhân không chấp hành hoặc không thực hiện đầy đủ các điều kiện trong hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán

Trang 10

7 Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Tổ chức này trực tiếp quản lý và sử dụng các quỹ: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế Mặc dù trực thuộc Chính phủ, nhưng Bảo hiểm xã hội Việt Nam lại do 3 Bộ quản lý các mảng cụ thể khác nhau: Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế

8 Một số bộ ngành khác

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý Quỹ hỗ trợ đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề nông nghiệp – nông thôn Ủy ban dân tộc và Hội nông dân Việt Nam cũng được giao một

số Quỹ hỗ trợ nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, vốn viện trợ nước ngoài,

9 Kết luận và khuyến nghị giải pháp

Các định chế tài chính phi ngân hàng hoạt động có hiệu quả trên thị trường tài chính góp phần cho Chính phủ thực hiện được kế hoạch huy động vốn hàng năm trong nước cho đầu tư phát triển Tiếp tục phát triển và hoàn thiện các thể chế kinh tế thị trường, tiếp tục phát triển các

tổ chức định chế tài chính phi ngân hàng nói chung và thị trường tài chính Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam là chủ trương lớn của Đảng và Chính phủ Bên cạnh đó, tinh giản bộ máy, tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả nguồn lực ngân sách nhà nước, chống thất thoát và lãng phí chi tiêu công, được nêu trong các Nghị quyết của Đảng và Chính phủ tiếp tục là những vấn đề lớn cần được nghiêm túc triển khai đồng bộ Với thực trạng quản lý, hoạt động của các định chế tài chính phi ngân hàng, trong bối cảnh diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tài chính quốc tế và trong nước bởi sự tác động lớn của dịch bệnh toàn cầu COVID-19 và giảm sâu của giá dầu thô, mặc dù đến đầu tháng 3/2021 đã tăng lên mức cao nhất trong 10 tháng qua, bài viết xin đưa ra một số kiến nghị sau:

Một là, Ủy ban giám sát tài chính quốc gia chỉ là cơ quan tư vấn, không trực tiếp quản lý nhà

nước bất kỳ định chế tài chính nào hay quản lý thị trường tài chính Trong khi đó, Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp đi vào hoạt động từ năm 2018, đang gặp nhiều khó khăn, đội ngũ cán bộ và những quy định pháp lý để đảm bảo cho Ủy ban thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ của mình Khối lượng công việc ngày càng nhiều, công việc mới, nhiều người chưa quen việc, các quy định chưa rõ ràng, cùng với đó lại đang nhận bàn giao 12 dự án thua lỗ

từ Bộ Công thương, đặt ra nhiều thách thức cho Ủy ban này Bởi vậy cần được nghiên cứu sát thực tiễn hơn đảm bảo tính hợp lý và tổ chức và hoạt động của 2 cơ quan này

Hai là, theo quy định hiện tại thì phạm vi xử lý nợ, tái cơ cấu doanh nghiệp của DATC chỉ

tập trung ưu tiên cho khối DNNN thực hiện sắp xếp, chuyển đổi sở hữu Tuy nhiên, số lượng DNNN cần thực hiện sắp xếp không còn nhiều (240 doanh nghiệp), trong khi đó quy mô nợ xấu

và số lượng các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác, bao gồm cả khối doanh nghiệp FDI (có vốn đầu tư nước ngoài) cần sự hỗ trợ xử lý nợ, tái cơ cấu của DATC trong thời gian tới ngày càng tăng, kể cả về quy mô và số lượng Như vậy, đối tượng phục vụ của DATC không chỉ

có các DNNN mà sẽ bao gồm khu vực tư nhân với tính chất sở hữu và hoạt động khác hẳn so với DNNN, nên đòi hỏi phải có những quy định pháp lý mới cho DATC hoạt động phù hợp hơn

Do sự thay đổi dần về phạm vi hỗ trợ của DATC cùng với nhu cầu xử lý nợ xấu vẫn cấp bách, đòi hỏi phải có những thay đổi theo hướng nâng cao năng lực pháp lý cho DATC và những thay đổi này cần được thể chế bằng văn bản quy phạm đủ mạnh dưới hình thức văn bản pháp lý cao hơn ở

Ngày đăng: 23/06/2021, 10:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w