1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam nhằm phục hồi và phát triển kinh tế năm 2021

12 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 566,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài nghiên cứu của tác giả về đề tài “Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam nhằm phục hồi và phát triển kinh tế năm 2021” bao gồm 3 phần chính: Cơ sở lý thuyết; Nội dung và kết quả nghiên cứu; Đề xuất một số giải pháp. Bài nghiên cứu tập trung nghiên cứu về Năng lực cạnh tranh, chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 (GCI 4.0).

Trang 1

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH QUỐC GIA CỦA VIỆT NAM NHẰM PHỤC HỒI VÀ PHÁT TRIỂN

KINH TẾ NĂM 2021

ThS Nguyễn Kiều Nga* Tóm tắt

Bài nghiên cứu của tác giả về đề tài “Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam nhằm phục hồi và phát triển kinh tế năm 2021” bao gồm 3 phần chính:

Cơ sở lý thuyết; Nội dung và kết quả nghiên cứu; Đề xuất một số giải pháp Bài nghiên cứu tập trung nghiên cứu về Năng lực cạnh tranh, chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 (GCI 4.0), thực trạng năng lực cạnh tranh toàn cầu trên thế giới, thực trạng kinh tế Việt Nam năm 2020 trong bối cảnh đại dịch COVID-19, phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam, từ

đó đề ra một số nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường quốc tế

Từ khóa: Năng lực cạnh tranh quốc gia, GCI 4.0, Kinh tế Việt Nam, COVID-19

NỘI DUNG BÀI VIẾT

1 Giới thiệu

Tác giả nghiên cứu về đề tài: “Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam nhằm phục hồi và phát triển kinh tế năm 2021”

Lý do và mục đích nghiên cứu: Trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh như hiện nay, nâng cao năng lực cạnh tranh là vấn đề được hầu hết các quốc gia quan tâm Điều này chỉ có thể được thực hiện thông qua nhiều giải pháp mang tính tổng thể và toàn diện nhằm cải thiện từng chỉ số của GCI 4.0 “Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu” (Global Competitiveness Index – viết tắt là GCI) được Diễn đàn Kinh tế Thế giới sử dụng như một công cụ để đo lường các yếu tố kinh tế vi mô và vĩ mô

26.

* Bộ môn Kinh tế đô thị và Quản lý dự án

Trang 2

ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh quốc gia, những điểm mạnh, điểm yếu của các nền kinh tế của mỗi quốc gia Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu được chính thức công bố vào năm 2005, được nâng cấp sửa đổi thành chỉ số GCI 4.0 vào năm 2018 cho phù hợp với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, và hiện nay được Diễn đàn Kinh tế Thế giới sử dụng chính thức làm chỉ số đo lường, đánh giá năng lực cạnh tranh của các nền kinh tế quốc gia trong nền kinh tế thế giới Đặc biệt, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, kinh tế thế giới đã có một năm suy thoái nặng nề với sự tăng trưởng của các nền kinh tế giảm sâu vào năm 2020 Kinh tế Việt Nam cũng không ngoài guồng quay đó, Việt Nam cũng chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề về kinh tế và xã hội do COVID-19 gây ra Hàng loạt những hậu quả như tỷ lệ thất nghiệp tăng nhanh, tỷ lệ đói nghèo cũng đang tăng trở lại sau hàng loạt các nỗ lực giảm nghèo của vài thập kỷ vừa qua, hàng loạt các doanh nghiệp phá sản cũng là những khó khăn của Việt Nam trong con đường phục hồi và phát triển nền kinh tế Trong tương lai, muốn phục hồi và phát triển kinh tế, một yếu tố đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế mỗi quốc gia

đó là năng lực cạnh tranh toàn cầu Vì vậy, bài nghiên cứu của tác giả bàn về một số các giải pháp cải thiện nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam, cụ thể là nâng cao chỉ số GCI 4.0 trên thị trường quốc tế, nhằm phục hồi và phát triển kinh tế vào năm 2021

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của bài nghiên cứu là nền kinh tế Việt Nam, chỉ số GCI, GCI 4.0 của Việt Nam, thực trạng kinh tế Việt Nam trong 10 năm gần đây

Bài nghiên cứu có đóng góp mới: cập nhật chỉ số GCI 4.0 mới nhất, kèm theo gợi ý khuyến nghị từ bản báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2020, kèm theo thực trạng kinh tế của Việt Nam năm 2020, để đưa ra các giải pháp, khuyến nghị chính sách phù hợp nhất cho nền kinh tế trong thời kỳ COVID-19, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam hướng tới phục hồi

và phát triển kinh tế vào năm 2021

Cấu trúc bài nghiên cứu của tác giả chia thành 3 phần chính như sau:

- Cơ sở lý thuyết

+ Năng lực cạnh tranh

+ Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 (GCI 4.0)

- Nội dung và kết quả nghiên cứu

+ Thực trạng Năng lực cạnh tranh toàn cầu trên thế giới

+ Thực trạng Kinh tế Việt Nam năm 2020 trong bối cảnh COVID-19

+ Phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp

2 Nội dung chính

2.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Năng lực cạnh tranh

a Cạnh tranh

Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi nghành, phạm

vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia

Trang 3

Cạnh tranh là quy luật của kinh tế thị trường Dưới góc độ kinh tế học, thuật ngữ “cạnh tranh”

là tập hợp các hành vi của các chủ thể kinh tế nhằm thích ứng với môi trường kinh doanh để tồn tại và phát triển

b Năng lực cạnh tranh

Về cơ bản, năng lực cạnh tranh được phân thành 4 cấp độ, bao gồm:

- Năng lực cạnh tranh quốc gia: Có thể hiểu, năng lực cạnh tranh quốc gia là toàn bộ các chính sách, thể chế và các nhân tố quyết định đến năng suất, sự phát triển và tính bền vững của một nền kinh tế

- Năng lực cạnh tranh ngành: cạnh tranh giữa các ngành là cuộc cạnh tranh giữa doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn

- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là tổng hợp năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần trong sản xuất hàng hóa, dịch vụ và đáp ứng được các yêu cầu của thị trường

- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ: thể hiện năng lực của sản phẩm, dịch vụ đó thay thế một sản phẩm, dịch vụ khác dựa trên các yếu tố như: giá cả, đặc tính, chất lượng… Trong bài nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu về năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam

c Năng lực cạnh tranh quốc gia

Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là năng lực có thể sản xuất hàng hóa, dịch vụ đáp ứng các đòi hỏi của thị trường quốc tế, từ đó có thể duy trì và làm tăng thu nhập thực tế của người dân Cụ thể, năng lực cạnh tranh quốc gia bao gồm tổng hợp các thể chế, chính sách và tổng hợp các nhân tố quyết định mức độ hiệu quả, tính năng suất của một quốc gia Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh tốt là một nền kinh tế có khả năng sử dụng, khai thác tốt nguồn lực có hạn Hiện nay trên thế giới, “Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0” (GCI 4.0) của Diễn đàn Kinh tế thế giới được công nhận rộng rãi là chỉ số phổ biến dùng để đánh giá năng lực cạnh tranh của các nền kinh tế trong tương quan so sánh toàn cầu

2.1.2 Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 (GCI 4.0)

“Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu” (Global Competitiveness Index – viết tắt là GCI) được Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum - WEF) sử dụng như một công cụ để đo lường các yếu tố kinh tế vi mô và vĩ mô ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh quốc gia, những điểm mạnh, điểm yếu của các nền kinh tế của mỗi quốc gia Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu được chính thức công bố vào năm 2005, trong bản “Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2004 - 2005”

và được Diễn đàn Kinh tế Thế giới sử dụng chính thức làm chỉ số đo lường, đánh giá năng lực cạnh tranh của các nền kinh tế quốc gia trong nền kinh tế thế giới Từ năm 2018, Diễn đàn Kinh

tế Thế giới áp dụng Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 (GCI 4.0) thay cho chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) nhằm phù hợp với nền kinh tế hiện đại trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Trang 4

Bảng 2.1 Các trụ cột chính trong chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh toàn cầu GCI 4.0

12 trụ cột của chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh toàn cầu GCI 4.0

Nhóm 1: Tạo môi trường kinh doanh

Trụ cột 1 Thể chế Trụ cột 7 Thị trường hàng hoá

Trụ cột 2 Cơ sở hạ tầng Trụ cột 8 Thị trường lao động

Trụ cột 3 Ứng dụng CNTT Trụ cột 9 Thị trường tài chính

Trụ cột 4 Ổn định kinh tế vĩ mô Trụ cột 10 Quy mô thị trường

Nhóm 2: Nguồn nhân lực Nhóm 4: Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Trụ cột 5 Y tế Trụ cột 11 Năng động trong kinh doanh Trụ cột 6 Kỹ năng Trụ cột 12 Năng lực đổi mới sáng tạo

Chỉ số GCI 4.0 đánh giá năng lực cạnh tranh của từng quốc gia thông qua 12 chỉ số trụ cột, với 98 chỉ sốvào năm 2018 và tăng lên 103 chỉ số vào năm 2019 (năm 2020 chỉ số được tạm dừng đánh giá do đại dịch COVID-19, Diễn đàn Kinh tế Thế giới thông báo chỉ số này sẽ tiếp tục được trở lại vào năm 2021), được phân vào 4 nhóm chính như sau:

Nhóm 1 - Các chỉ số phản ánh cho việc tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, gồm: (1) thể chế, (2) cơ sở hạ tầng, (3) ứng dụng công nghệ thông tin, (4) ổn định kinh tế vĩ mô

Nhóm 2 - Các chỉ số phản ánh chất lượng nguồn nhân lực gồm: (5) y tế, (6) kỹ năng

Nhóm 3 - Các chỉ số phản ánh thị trường gồm: (7) thị trường hàng hoá, (8) thị trường lao động, (9) thị trường tài chính, (10) quy mô thị trường

Nhóm 4 - Các chỉ số phản ánh hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gồm: (11) năng động trong kinh doanh, (12) năng lực đổi mới sáng tạo

2.2 Nội dung và kết quả nghiên cứu

2.2.1 Thực trạng Năng lực cạnh tranh toàn cầu trên thế giới

Biểu đồ 2.1 Top 10 quốc gia đứng đầu về xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu

85.4

83.7 83.1 82.4 82.3 82.3

81.8 81.2 81.2 81.2

79 80 81 82 83 84 85 86

Singapore Mỹ Hong

Kong Hà Lan Thuỵ Sỹ Nhật Bản Đức Thuỵ Điển Anh Đan Mạch

Top 10 xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu 2019

Điểm số

Nguồn: Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2019, Diễn đàn Kinh tế Thế giới

Trang 5

Do tình hình đại dịch COVID-19 diễn ra bất thường, đột ngột vào cuối năm 2019, vì vậy, vào năm 2020, bảng xếp hạng chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu đã tạm dừng đánh giá vào năm 2020, chỉ số này sẽ được tiếp tục đánh giá vào năm 2021 Báo cáo Cạnh tranh Toàn cầu năm 2019 là văn bản mới nhất của loạt báo cáo được công bố hàng năm kể từ năm 1979, cung cấp đánh giá thường niên về các yếu tố thúc đẩy năng suất và tăng trưởng kinh tế dài hạn Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2020 tập trung trình bày các giải pháp ưu tiên cho phục hồi dành cho các quốc gia trên thế giới, đồng thời xem xét các nền tảng của sự chuyển đổi hướng tới các hệ thống kinh tế mới kết hợp các mục tiêu “năng suất”, “con người” và “hành tinh” Chỉ số GCI 4.0 sẽ được tiếp tục đánh giá vào năm 2021, nhằm đánh giá khả năng phục hồi về năng lực cạnh tranh toàn cầu của các quốc gia trên thế giới Vì vậy, các số liệu trong bài nghiên cứu của tác giả sẽ được sử dụng số liệu mới nhất của bảng xếp hạng chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu, tức là bảng xếp hạng năm 2019

Trong bản báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu mới nhất, đứng đầu trong bảng xếp hạng Chỉ

số năng lực cạnh tranh toàn cầu là Singapore, với điểm số 85,4 trên tổng điểm 100 Singapore là quốc gia tiến gần đích nhất về năng lực cạnh tranh tính theo chỉ số GCI 4.0 Mỹ rơi xuống vị trí thứ hai, với số điểm 83,7/100 (năm 2018 Mỹ đứng vị trí thứ nhất) Mặc dù về tổng thể Mỹ đứng

ở vị trí thứ hai, nhưng về chỉ số năng động trong kinh doanh và về tìm kiếm lao động có chuyên môn cao, Mỹ đứng ở vị trí thứ nhất Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông đứng ở vị trí số ba với

số điểm 83,1/100 Vị trí thứ tư thuộc về Hà Lan với số điểm 82,4/100 Vị trí thứ năm và sáu thuộc

về Thuỵ Sỹ và Nhật Bản, với cùng số điểm 82,3/100 Tiếp theo là Đức với số điểm 81,8/100 đứng

vị trí số bảy Thuỵ Điển, Anh và Đan Mạch cùng đạt được số điểm 81,2/100 lần lượt xếp ở vị trí

số tám, chín, mười Nhóm 20 nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới G20 lọt vào Top

10 theo bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu là: Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh Trong nhóm G20, Argentina đứng thứ hạng thấp nhất, giảm 2 bậc so với năm 2018, đứng ở vị trí thứ 83

Biểu đồ 2.2 Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2019 của ASEAN

Nguồn: Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2019, Diễn đàn Kinh tế Thế giới

Bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu mới nhất cho thấy, trên thang điểm 100, điểm trung bình của 141 nền kinh tế được nghiên cứu là 60,7/100

Về khu vực, cạnh tranh nhất trên thế giới thuộc về khu vực châu Á – Thái Bình Dương, xếp thứ hạng tiếp theo sau đó là châu Âu và Bắc Mỹ Trong khi đó, các quốc gia Bắc Âu nằm trong

số những quốc gia có công nghệ tiên tiến nhất, sáng tạo và năng động nhất

Trang 6

2.2.2 Thực trạng Kinh tế Việt Nam năm 2020 trong bối cảnh đại dịch COVID-19

Do ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch COVID-19, kinh tế thế giới đã có một năm suy thoái với

sự tăng trưởng của các nền kinh tế giảm sâu, nền kinh tế Việt Nam vẫn đạt được mức tăng trưởng với tốc độ tăng GDP đạt 2,91% vào năm 2020.Với các giải pháp quyết liệt và hiệu quả trong việc thực hiện mục tiêu kép: “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế - xã hội”, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được kết quả tích cực với việc duy trì tăng trưởng Mặc dù với mức tăng trưởng 2,91% là mức thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây, nhưng trong đại dịch COVID-19, thì đây

là là một thành công của Việt Nam trong năm 2020 Biểu đồ 2.3 dưới đây thể hiện tốc độ tăng GDP giai đoạn 2010 - 2020

Biểu đồ 2.3 Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2010 - 2020

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Mặc dù đạt được những thành tựu trên, nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần được giải quyết.Với mức độ hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, mọi biến động và diễn biến đối với nền kinh tế trên thế giới đều có tác động tới nền kinh tế Việt Nam

Do đại dịch COVID-19 vẫn còn tiếp tục tồn tại trên thế giới, do đó các hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch, lao động, việc làm bị ảnh hưởng không ít Nhất là đối với ngành du lịch, số lượt khách quốc tế cũng như nội địa bị suy giảm mạnh Bên cạnh đó, khi nền kinh tế có lượng xuất siêu cao thì sẽ chịu ảnh hưởng nhiều từ các cú sốc đến từ bên ngoài, thực tế này đòi hỏi Việt Nam cần đa dạng hóa hơn nữa các đối tác thương mại

2.2.3 Phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam

Theo bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 mới nhất cho tới thời điểm hiện tại, thứ hạng của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể, tuy nhiên bên cạnh có còn nhiều thách thức Cụ thể, năm 2019 Việt Nam tăng 3,5 điểm từ 58 lên 61,5 trên thang điểm 100, với điểm số này, Việt Nam đã tăng 10 bậc từ vị trí 77/141 lên vị trí 67/141 trong bảng xếp hạng, và Việt Nam cũng đã đạt được mức điểm số cao hơn điểm trung bình toàn cầu (60,7)

Thông qua các chỉ số về năng lực cạnh tranh toàn cầu trên, có thể thấy Việt Nam đã và đang thực sự nỗ lực để cải thiện năng lực cạnh tranh của mình Đặc biệt về cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Chính phủ Việt Nam

đã tập trung cải thiện môi trường kinh doanh với việc ban hành và triển khai thực hiện nhiều nghị quyết, chính sách có liên quan, trong đó nổi bật nhất là cải cách về điều kiện kinh doanh Ngoài

Trang 7

ra, có thể kể tới những nỗ lực nổi bật như: chú trọng đẩy mạnh chính phủ điện tử, giao dịch không dùng tiền mặt, giảm chi phí doanh nghiệp, đơn giản hóa ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh; thay đổi phương thức quản lý nhà nước trong hoạt động quản lý, chú trọng cải thiện các quy định, thủ tục nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, từng bước tạo lập thể chế chính sách vượt trội nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo…

Hình 2.1 Kết quả năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2019

Nguồn: Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2019, Diễn đàn Kinh tế Thế giới

Trong 12 trụ cột của chỉ số GCI 4.0, Việt Nam có tới 8 trụ cột tăng điểm và tăng bậc, trong đó trụ cột ứng dụng CNTT tăng điểm và tăng hạng nhiều nhất, sau đó là trụ cột thị trường sản phẩm, tiếp theo là các trụ cột mức độ năng động trong kinh doanh, trụ cột thị trường lao động, trụ cột năng lực đổi mới sáng tạo, trụ cột thể chế, trụ cột kỹ năng, trụ cột quy mô thị trường Trụ cột ổn định kinh tế vĩ mô không thay đổi điểm số và thứ hạng Ba trụ cột giảm thứ hạng là: trụ cột hệ thống tài chính, trụ cột y tế và trụ cột cơ sở hạ tầng Cụ thể về điểm số và thứ hạng của các trụ cột được thể hiện rõ trong Bảng 2.2

Bảng 2.2 Sự thay đổi điểm và thứ hạng của 12 trụ cột GCI 4.0 Việt Nam

1 Trụ cột 1: Thể chế

TĂNG 0,3 điểm và 5 bậc (từ vị trí 94 lên vị trí 89)

Cụ thể:

- Nhóm chỉ số thể hiện Mức độ định hướng tương lai của Chính phủ tăng 35 bậc (từ xếp hạng 75 lên vị trí 40),

- Chỉ số về Quy định pháp lý thích ứng linh hoạt với mô hình kinh doanh đạt 43,1 điểm và ở vị trí 71,

- Chỉ số Ổn định chính sách đạt 50,3 điểm và thứ hạng 67.

2 Trụ cột 2: Cơ sở hạ tầng TĂNG 0,5 điểm, nhưng GIẢM 2 bậc

Trang 8

STT Tên trụ cột Thay đổi điểm và thứ hạng

3 Trụ cột 3: Ứng dụng CNTT

TĂNG 25,7 điểm và 54 bậc (từ 43,3 điểm lên 69,0 điểm và từ vị trí 95 lên vị trí 41)

Tất cả các chỉ số thành phần trong trụ cột này đều tăng điểm, tăng hạng (như Thuê bao internet cáp quang, Thuê bao di động, Thuê bao di động băng thông rộng, Số người sử dụng internet, Thuê bao Internet băng thông rộng cố định).

4 Trụ cột 4: Ổn định kinh tế vĩ mô KHÔNG thay đổi điểm số và thứ hạng (giữ ở mức 75 điểm và thứ hạng 64).

5 Trụ cột 5: Y tế GIẢM 0,5 điểm và 3 bậc (từ 81 điểm xuống 80,5 điểm và từ vị trí 68 xuống vị trí 71).

6 Trụ cột 6: Kỹ năng

TĂNG 2,7 điểm và 4 bậc (từ vị trí 97 lên vị trí 93)

Cụ thể:

- Chất lượng đào tạo nghề tăng 13 bậc,

- Kỹ năng của học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp tăng 12 bậc,

- Mức độ đào tạo nhân viên và Mức độ dễ dàng tìm kiếm lao động lành nghề cùng tăng 8 bậc,

- Tư duy phản biện trong giảng dạy tăng 7 bậc.

7 Trụ cột 7: Thị trường hàng hoá

TĂNG 23 bậc (từ vị trí 102 lên thứ 79)

Cụ thể:

- Các tiêu chí về thuế và trợ cấp, mức độ thống trị thị trường ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh, cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ và mức độ rào cản phi thuế quan được cải thiện.

8 Trụ cột 8: Thị trường lao động

TĂNG 2,6 điểm và 7 bậc (từ thứ 90 lên thứ hạng 83)

Cụ thể:

- Di cư lao động trong nước tăng 27 bậc,

- Mức độ dễ dàng trong tuyển dụng lao động nước ngoài tăng 22 bậc,

- Mức độ linh hoạt của tiền lương tăng 15 bậc,

- Quan hệ giữa người lao động - người sử dụng lao động và Thực tiễn tuyển dụng và sa thải lao động đều tăng 10 bậc,

- Quyền của người lao động chưa được đảm bảo, giảm 4 điểm và giảm

11 bậc từ vị trí 82 xuống vị trí 93.

9 Trụ cột 9: Thị trường tài chính TĂNG 1,6 điểm, nhưng GIẢM 1 bậc.

10 Trụ cột 10: Quy mô thị trường

TĂNG 0,9 điểm và 3 bậc (từ vị trí 29 lên vị trí 26)

Cụ thể:

- Tỷ lệ nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ so với GDP tăng nhẹ (xếp thứ 6 năm 2019 so với thứ 7 năm 2018).

- Thị trường tiêu thụ nội địa lớn với tổng dân số hơn 96 triệu người và thu nhập bình quân đầu người liên tục tăng.

Trang 9

STT Tên trụ cột Thay đổi điểm và thứ hạng

11 Trụ cột 11: Năng động trong kinh doanh

TĂNG 12 bậc (từ vị trí 101 lên vị trí 89).

Cụ thể:

-Tất cả các chỉ số thành phần trừ chỉ số “phá sản doanh nghiệp” đều tăng

12 Trụ cột 12: Năng lực đổi mới sáng tạo

TĂNG 6 bậc (từ thứ hạng 82 lên thứ hạng 76)

Cụ thể:

- Mức độ phát triển các cụm ngành tăng 33 bậc,

- Tính đa dạng của lực lượng lao động tăng 16 bậc,

- Hợp tác đa bên tăng 17 bậc,

- Mức độ tinh thông của người mua tăng 46 bậc,

- Chi phí R&D tăng 6 bậc.

Nguồn: Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2019, Diễn đàn Kinh tế Thế giới

Các trụ cột có xếp hạng dưới xếp hạng chung về năng lực cạnh tranh toàn cầu (đánh giá 141 nền kinh tế) gồm: thể chế (xếp thứ hạng 89), cơ sở hạ tầng (xếp hạng 77), y tế (xếp hạng 71), kỹ năng (xếp hạng 93), thị trường hàng hóa (xếp hạng 79), thị trường lao động (xếp hạng 83), mức

độ năng động trong kinh doanh (xếp hạng 89), năng lực đổi mới sáng tạo (xếp hạng 76)

Bảng 2.3 Một số chỉ số thành phần suy giảm mạnh

1 Mức độ minh bạch về ngân sách GIẢM 42 bậc (từ vị trí 42 xuống vị trí 84).

2 Mức độ tiếp xúc với nước uống không an toàn GIẢM 13 bậc (từ vị trí 95 xuống vị trí 82)

3 Hiệu quả dịch vụ cảng biển GIẢM 5 bậc (từ vị trí 88 xuống vị trí 83)

4 Nguồn vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa GIẢM 12 bậc (từ vị trí 85 xuống vị trí 97)

5 Mức độ phục hồi sản xuất kinh doanh GIẢM 3 bậc (từ vị trí 109 xuống vị trí 112)

6 Khuôn khổ pháp lý về giải quyết phá sản GIẢM 5 bậc (từ vị trí 93 xuống vị trí 98)

7 Mức độ sẵn có về vốn đầu tư mạo hiểm GIẢM 10 bậc (từ vị trí 51 xuống vị trí 61)

Nguồn: Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2019, Diễn đàn Kinh tế Thế giới

Kết quả này cho thấy, tiếp cận tín dụng vẫn là trở ngại lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa Bên cạnh đó, mức độ sẵn có về vốn đầu tư mạo hiểm tuy có sự cải thiện, nhưng chậm hơn

so với nhiều nền kinh tế Như vậy, có thể nhận thấy, cho đến nay, năng lực cạnh tranh của Việt Nam có thay đổi và được cải thiện rất nhiều so với những năm trước đây Tuy nhiên, bên cạnh

đó, khách quan nhìn nhận cũng phải thấy rằng, so với thế giới và kể cả khu vực, ASEAN vẫn còn

ở mức thấp và còn những hạn chế về các chỉ tiêu cần tiếp tục được cải thiện

Trang 10

Trong bản báo cáo đặc biệt về năng lực cạnh tranh toàn cầu 2020, Diễn đàn Kinh tế Thế giới

đề xuất các nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy năng lực cạnh tranh toàn cầu cho các quốc gia trên thế giới, bao gồm: 1 Phục hồi và chuyển đổi môi trường thuận lợi; 2 Phục hồi và chuyển đổi vốn nhân lực; 3 Phục hồi và chuyển đổi thị trường; 4 Phục hồi và chuyển đổi hệ sinh thái đổi mới Đối với Việt Nam, việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia là yêu cầu cần thiết trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay Tác giả dựa vào thực trạng kinh tế Việt Nam năm 2020, cùng với thực trạng năng lực cạnh tranh quốc gia Việt Nam do Diễn đàn Kinh tế Thế giới đánh giá, kèm theo khuyến nghị của Diễn đàn Kinh tế Thế giới trong bản báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu

2020, để đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia cho Việt Nam Tác giả

đề xuất một số nhóm giải pháp chủ yếu sau nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong thời kỳ đại dịch COVID-19:

- Nhóm giải pháp phục hồi và thay đổi tạo môi trường kinh doanh thuận lợi

Để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam, nhóm giải pháp phục hồi và thay đổi tạo môi trường kinh doanh thuận lợi nên có những giải pháp liên quan tới thể chế, cơ sở hạ tầng, ứng dụng công nghệ thông tin và ổn định kinh tế vĩ mô Cụ thể: Thứ nhất, Chính phủ cần thực sự

ưu tiên nâng cao năng lực tư duy dài hạn trong Chính phủ, tức là mức độ định hướng tương lai của Chính phủ cần được quan tâm nhiều hơn nữa, ngoài ra, Chính phủ nên linh hoạt đối với các quy định liên quan tới các mô hình kinh doanh, doanh nghiệp Trong giai đoạn này, để có thể vừa thay đổi, vừa ổn định được chính sách, Chính phủ cần có những nguyên tắc quản trị rõ ràng

để lấy được lòng tin của người dân nhiều hơn nữa Thứ hai, sự nỗ lực cải thiện cơ sở hạ tầng cũng

là một giải pháp có thể nâng cao được năng lực cạnh tranh đô thị một cách hoàn hảo Thứ ba, về công nghệ thông tin, cần đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, phủ rộng internet, thuê bao

di động nhiều hơn nữa tới người dân, đặc biệt những khu vực miền núi, nghèo khó Thứ tư, tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất các yếu tố tổng hợp trong mô hình tăng trưởng theo hướng thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và tăng cường đổi mới sáng tạo, cần đưa ra mục tiêu về việc tăng điểm và thứ hạng đối với trụ cột này (hiện tại điểm số và thứ hạng 2 năm gần đây không có sự thay đổi)

- Nhóm giải pháp phục hồi và phát triển nguồn nhân lực

Đại dịch COVID-19 đã dẫn tới những thách thức đối với thị trường lao động, nhiều lao động mất việc làm, giảm thu nhập thậm chí sự không phù hợp về kỹ năng, thiếu hụt nhân tài cũng

là những vấn đề cần được giải quyết Vì vậy, để giải quyết, thay vì tập trung vào các kế hoạch phức tạp, chung chung, chúng ta cần phải chú ý hơn việc tạo lập các cơ hội thị trường lao động mới, mở rộng quy mô các chương trình đào tạo và nâng cao kỹ năng, cũng như các chính sách thị trường lao động đang hoạt động cần được xem xét kỹ lại Đặc biệt, việc tạo lập và đầu tư vào chương trình giáo dục các kỹ năng cần thiết cho công việc ở “thị trường tương lai”

Đồng thời, cuộc khủng hoảng COVID-19 thực sự đã nêu bật lên vấn đề về hệ thống chăm sóc sức khoẻ, mặc dù Việt Nam là một điểm sáng trong chiến dịch chống COVID-19 trên toàn thế giới, nhưng không thể phủ nhận sự tụt hậu, thiếu hụt về hệ thống chăm sóc sức khoẻ so với mức

độ gia tăng dân số, điều này được thể hiện trong chỉ số GCI 4.0 được đánh giá năm 2019, về trụ

Ngày đăng: 23/06/2021, 10:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w