1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhìn lại kinh tế Việt Nam năm 2020 và triển vọng phát triển năm 2021

9 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 410,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2020 được xem là một năm của những khó khăn và thách thức. Kinh tế thế giới được dự báo suy thoái nghiêm trọng nhất trong lịch sử, tăng trưởng của các nền kinh tế lớn đều giảm sâu do ảnh hưởng tiêu cực của dịch COVID-19. Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng với tốc độ tăng GDP ước tính đạt 2,91%.

Trang 1

NHÌN LẠI KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2020

VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN NĂM 2021

ThS Vũ Bá Anh Tùng*

Tóm tắt

Năm 2020 được xem là một năm của những khó khăn và thách thức Kinh tế thế giới được dự báo suy thoái nghiêm trọng nhất trong lịch sử, tăng trưởng của các nền kinh tế lớn đều giảm sâu

do ảnh hưởng tiêu cực của dịch COVID-19 Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng với tốc độ tăng GDP ước tính đạt 2,91% Vậy triển vọng tăng trưởng năm 2021 sẽ như thế nào, những thuận lợi và khó khăn nào đang chờ đón nền kinh tế Việt Nam trong năm nay? Bài viết của tác giả sẽ nhìn lại nền kinh tế Việt Nam năm 2020 và đánh giá triển vọng phát triển năm 2021

Từ khóa: Lạc quan, mục tiêu kép, tăng trưởng, triển vọng kinh tế Việt Nam

1 NHÌN LẠI KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2020: VƯƠN LÊN GIỮA BÃO SUY THOÁI TOÀN CẦU

“Suy thoái”, “khó khăn” là những cụm từ chung để nói về tình hình kinh tế thế giới năm

2020, đây là năm mà kinh tế thế giới được dự báo suy thoái nghiêm trọng nhất trong lịch sử, tăng trưởng của các nền kinh tế lớn đều giảm sâu do sự ảnh hưởng tiêu cực từ dịch COVID-19 Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng với tốc độ tăng GDP ước tính đạt 2,91% Đây là mức tăng thấp nhất trong thập kỷ gần đây, nhưng trong bối cảnh dịch COVID-19 vẫn đang diễn biến phức tạp thì đây lại là thành tích “đáng nể”

Cùng với Trung Quốc và Myanmar, Việt Nam là một trong ba quốc gia ở châu Á có mức tăng trưởng tích cực trong năm nay; đồng thời quy mô nền kinh tế nước ta đạt hơn 343 tỷ USD, vượt Singapore (337,5 tỷ USD) và Malaysia (336,3 tỷ USD), đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền kinh tế lớn thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia 1.088,8 tỷ USD; Thái Lan 509,2 tỷ USD và Philippines 367,4 tỷ USD)

14.

* Chuyên viên Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 2

Tăng trưởng GDP tại một số nước châu Á năm 2020

(Nguồn: CNBC)

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê về tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế năm 2020 thì khu vực công nghiệp và xây dựng đạt tốc độ tăng cao nhất với 3,98%, đóng góp 1,62 điểm phần trăm vào mức tăng chung Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ chốt dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế với mức tăng 5,82%, đóng góp 1,25 điểm phần trăm Chỉ số sản xuất công nghiệp của một số ngành như sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu; sản xuất kim loại; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học… tăng khá với tốc độ tăng tương ứng là 27,1%; 14,4%; 11,4% và 11,3%, góp phần đưa ngành chế biến, chế tạo tăng trưởng khả quan trong bối cảnh dịch COVID-19 làm đứt gãy chuỗi cung ứng nguyên liệu sản xuất đầu vào

Đối với khu vực dịch vụ, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 1,2% trong 6 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ năm trước, nhưng sau đó đã phục hồi rõ rệt với tốc

độ tăng 6 tháng cuối năm đạt 6,2%, đưa lĩnh vực thương mại trong nước cả năm tăng 2,6% Tốc

độ tăng trưởng của một số ngành dịch vụ thị trường như sau: bán buôn và bán lẻ tăng 5,53% so với năm trước, đóng góp 0,61 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,87%, đóng góp 0,46 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi giảm 1,88%, làm giảm 0,06 điểm phần trăm; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 14,68%, làm giảm 0,62 điểm phần trăm Một điểm sáng trong bức tranh kinh tế năm 2020 không thể không nhắc đến đó là xuất khẩu vượt khó trong tình hình dịch bệnh, duy trì tăng trưởng dương; xuất siêu hàng hóa đạt mức cao kỷ lục (19,1 tỷ USD) và cán cân thương mại duy trì xuất siêu 5 năm liên tiếp (kim ngạch xuất siêu hàng hóa các năm trong giai đoạn 2016 - 2020 lần lượt là: 1,6 tỷ USD; 1,9 tỷ USD; 6,5 tỷ USD; 10,9 tỷ USD; 19,1 tỷ USD) Đặc biệt, Việt Nam đã xúc tiến gia nhập các Hiệp định Thương mại

tự do thế hệ mới, trong đó nổi bật là Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) có hiệu lực từ ngày 1/8/2020 Năm 2020, xuất khẩu sang EU đạt 34,8 tỷ USD; đáng

Trang 3

chú ý, sau 5 tháng được thực thi (từ 01/8/2020), tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang

EU đạt 15,4 tỷ USD, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước Điều này phản ánh năng lực sản xuất trong nước tăng trưởng cao, môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh được tạo thuận lợi và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành tựu Đây là kết quả đáng khích lệ trong bối cảnh kinh tế khu vực EU suy giảm nghiêm trọng và tiếp tục đối mặt với dịch COVID-19 diễn biến phức tạp

Nhưng cùng với đó, do ảnh hưởng của dịch Covid 19, theo thống kê, có tới 96% số doanh nghiệp Việt Nam bị tác động ở các mức độ khác nhau Đến hết tháng 11, có 93.490 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, bao gồm: 44.440 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 59,7% so với cùng kỳ năm 2019 Đối với ngành du lịch, dự báo lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giảm trên 80%, khách du lịch nội địa giảm 45%, ước tính tổng thiệt hại lên tới 23 tỷ USD Đây còn là năm mà thiên tai diễn biến phức tạp, khốc liệt, dị thường ở các vùng miền cả nước Theo Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai, tính đến ngày 4/12/2020, thiên tai đã gây thiệt hại cho nền kinh tế hơn 35.181 tỷ đồng

Dù còn nhiều những khó khăn, nhưng năm 2020 được đánh giá là thành công đối với phát triển kinh tế tại Việt Nam, đây là thành quả nỗ lực của cả hệ thống chính trị, các thành phần kinh

tế trong việc thực hiện mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân, vừa

phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội” trong trạng thái bình thường mới trên cơ sở giữ vững ổn

định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; thúc đẩy mạnh mẽ cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tính

tự chủ và sức cạnh tranh; phát triển mạnh thị trường trong nước Bên cạnh đó, Chính phủ cũng

đã hỗ trợ hợp lý cho cộng đồng doanh nghiệp, để cộng đồng này “đứng vững” qua những thời điểm khó khăn như giãn nộp thuế, chỉ đạo các ngân hàng thương mại cơ cấu lại nợ cho doanh nghiệp Những vướng mắc về điều kiện tiếp cận hỗ trợ cũng được Chính phủ, các bộ, ngành lưu tâm, theo dõi để điều chỉnh, trên cơ sở tham vấn chặt chẽ từ cộng đồng doanh nghiệp

Đánh giá về tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2020, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng Việt Nam là điểm sáng trong khu vực nhờ khả năng chống chịu của cả khu vực kinh tế trong nước

và kinh tế đối ngoại trong bối cảnh đại dịch Không những kiềm chế được đại dịch bằng những biện pháp sớm, quyết liệt và sáng tạo, Chính phủ còn sử dụng các chính sách tài khóa và tiền tệ

để tháo gỡ khó khăn cho khu vực tư nhân và thúc đẩy phục hồi Chẳng hạn, chi tiêu công bắt đầu tăng trở lại sau ba năm thắt chặt tài khóa WB cũng ghi nhận khu vực kinh tế đối ngoại là động lực tăng trưởng kinh tế chính của Việt Nam trong thập kỷ qua Khu vực này đã phát huy hiệu quả

và đạt kết quả rất tốt kể từ khi khủng hoảng COVID-19 bắt đầu

2 TRIỂN VỌNG KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2021: LẠC QUAN NHƯNG ĐỪNG CHỦ QUAN

Năm 2021 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm tổ chức Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, bầu cử Quốc hội khóa XV, bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp và là năm đầu tiên thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 và các kế hoạch 5 năm trên các lĩnh vực theo các nghị quyết của Đảng, Quốc hội Năm 2021 cũng được kỳ vọng với những quyết sách, định hướng lớn về kinh tế tạo những bứt phá về tăng trưởng cho giai đoạn tiếp theo trong tương lai

Trang 4

Quốc hội đặt mục tiêu năm 2021 tăng trưởng GDP 6%, quy mô GDP bình quân đầu người khoảng 3.700 USD/người, chỉ số giá tiêu dùng bình quân đạt 4% Tại Nghị quyết 01/NĐ-CP và Nghị quyết 02/NQ-CP năm 2021, Chính phủ xác định phương châm hành động của năm 2021 là

“Đoàn kết, kỷ cương, đổi mới, sáng tạo, khát vọng phát triển”, phấn đấu tăng trưởng GDP 6,5%, cao hơn mức 6% Quốc hội giao Chính phủ cũng xác định rõ về ba động lực tăng trưởng chính trong năm 2021 là: tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư

“Lạc quan” là cụm từ được Ngân hàng UOB đặc biệt nhấn mạnh trong ấn bản Báo cáo

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam phát hành đầu tháng 1/2021 Sự phục hồi ngoài dự báo trong quý IV/2020 đã nâng mức dự báo của UOB đối với tăng trưởng GDP của năm 2021 lên 7,1%, cao hơn đáng kể so với chỉ tiêu tăng trưởng chính thức hiện tại là 6%

Cũng giống UOB, trong báo cáo mới nhất về triển vọng tăng trưởng toàn cầu, tổ chức tài chính Fitch Solutions đã nâng dự báo tăng trưởng của Việt Nam lên 8,6%, cao hơn so với mức

8,2% trong báo cáo trước đây Theo đó, kinh tế Việt Nam sẽ “bật mạnh” sau dịch trong bối cảnh

nền kinh tế toàn cầu bước vào giai đoạn phục hồi với giả định vắc-xin đang được chuẩn bị triển khai trên toàn thế giới Mức tăng trưởng kinh tế 2,6% vượt dự báo của Fitch Solutions cũng là nguyên nhân khiến tổ chức tài chính này buộc phải điều chỉnh dự báo tăng trưởng kinh tế trong năm 2021 của Việt Nam

Trong báo cáo Điểm lại - cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam công bố tháng 12/2020, Ngân hàng Thế giới (WB) dự kiến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có thể đạt khoảng 6,8% trong năm

2021 và sẽ ổn định quanh mức 6,5% trong các năm tiếp theo Đặc biệt, Khối Nghiên cứu kinh

tế của HSBC, trong báo cáo của mình, bày tỏ tin tưởng kinh tế Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng 7,6% trong năm 2021 nhờ sự phục hồi của ngành du lịch Trong khi đó, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho rằng tăng trưởng của Việt Nam sẽ đạt khoảng 6,1%

Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương thì đưa ra 2 kịch bản tăng trưởng Ở kịch bản thứ nhất, tăng trưởng kinh tế năm 2021 có thể đạt mức 5,98% Kịch bản thứ hai là tăng trưởng 6,46% Xuất khẩu cả năm dự báo tăng 4,23% trong kịch bản thứ nhất và tăng 5,06% trong kịch bản thứ hai Thặng dư thương mại dự báo tương ứng ở các mức 5,49 tỷ USD và 7,24 tỷ USD Lạm phát bình quân năm 2021 lần lượt đạt 3,51% và 3,78%

Trong kịch bản thứ nhất, GDP của thế giới tăng 4,0% trong năm 2021 Mức giá của Mỹ tăng 1,924% Giá hàng nông sản xuất khẩu tăng 12,6% Giá dầu thô thế giới tăng 11,4% Về phía Việt Nam, tỷ giá VND/USD của ngân hàng thương mại giảm 0,5% Tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 13,0% Tín dụng tăng 12,0% Giá nhập khẩu hàng hóa giảm 0,5% Dân số tăng 1,08%/ năm và việc làm tăng 0,86% Lượng dầu thô xuất khẩu giả thiết giữ nguyên so với năm 2020 Tỷ giá hữu hiệu thực giả thiết giảm 1% Trên cán cân thanh toán, chuyển giao của Chính phủ và khu vực tư nhân (ròng) đều giảm 5% Vốn thực hiện của khu vực FDI (bao gồm cả phía nước ngoài

và phía Việt Nam) tăng 2% so với năm 2020 Giải ngân đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước ở mức 420.000 tỷ đồng

Kịch bản thứ hai giữ nguyên hầu hết giả thiết như trong kịch bản thứ nhất, chỉ điều chỉnh giá hàng nông sản xuất khẩu tăng 15%; giá dầu thô thế giới tăng 20%; tổng phương tiện thanh toán tăng 14%; tín dụng tăng 13%; vốn thực hiện của khu vực FDI (bao gồm cả phía nước ngoài và phía

Trang 5

Kết thúc đợt tham vấn trực tuyến từ 15/10 đến 13/11 với Việt Nam, bà Era Dabla Norris, Trưởng phái đoàn Điều IV Vụ Châu Á - Thái Bình Dương của IMF cũng dự đoán kinh tế Việt Nam sẽ hồi phục trong năm 2021 với GDP đạt 6,5% và lạm phát ở mức 4%

Dù đưa ra những con số dự báo tăng trưởng khác nhau nhưng các tổ chức này cùng chung nhận định về những yếu tố đóng góp vào mức tăng trưởng của Việt Nam trong năm tới, đó là

sự dịch chuyển của dòng thương mại và đầu tư thế giới, sự phục hồi của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và các chính sách tài khóa, tiền tệ được ban hành nhằm ứng phó với khủng hoảng Theo quan điểm của tác giả, nếu tiếp tục phát huy được hiệu quả ứng phó với dịch bệnh như trong năm vừa qua, nền kinh tế Việt Nam có thể tiếp tục duy trì đà hồi phục tích cực từ cuối năm

2020 sang tới năm 2021 Tuy vậy, sự hồi phục này chỉ mang tính tạm thời, khi mà đại dịch trên toàn cầu vẫn diễn biến phức tạp chưa thấy hồi kết Hoạt động du lịch và dịch vụ quốc tế chưa thể hồi phục khi biên giới quốc tế chưa được mở lại; các hoạt động nhạy cảm với dịch bệnh như vận tải, du lịch nội địa, giải trí vẫn có nguy cơ cao bị tạm dừng nếu dịch bùng phát Nếu ví tăng trưởng kinh tế Việt Nam với những động lực cơ bản tích cực giống như một cây cung được căng sẵn, thì đại dịch giống như một lực nén mạnh, và nền kinh tế chỉ có thể bật lại mạnh mẽ khi nguy

cơ dịch bệnh không còn Đại dịch càng chậm được khống chế thì sức ép đối với nền kinh tế sẽ càng lớn, những ảnh hưởng tiêu cực sẽ càng trầm trọng và quá trình hồi phục nền kinh tế sẽ càng khó khăn hơn Do vậy, triển vọng tăng trưởng kinh tế năm 2021 của Việt Nam sẽ phụ thuộc khá

lớn vào “ẩn số” mang tên COVID-19.

Trái với những kỳ vọng lạc quan ban đầu của thế giới rằng dịch bệnh sẽ sớm tạo đỉnh ngay trong năm 2020, cho đến nay tình hình vẫn khá phức tạp khi số ca nhiễm mới hàng ngày vẫn đang tăng cao hơn trước, buộc nhiều quốc gia phải siết chặt phong tỏa trở lại Niềm hy vọng chính của thế giới trong việc khống chế dịch bệnh được đặt vào việc tìm ra vắc-xin COVID-19 Cho đến nay, đã có những tín hiệu tích cực khi đang có nhiều loại vắc-xin được phát triển, một số đã hoàn thành thử nghiệm và bắt đầu đưa vào sử dụng Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều ẩn số về mức độ công hiệu của nó cũng như khả năng phổ biến rộng rãi vắc-xin khi mà năng lực sản xuất vắc-xin khó nhanh chóng đáp ứng toàn bộ nhu cầu của toàn thế giới Như vậy, nhiều khả năng đại dịch sẽ còn kéo dài trong phần lớn năm 2021

Cú sốc COVID-19 còn gây ra những tác động mang tính cấu trúc đối với nền kinh tế Đó là những thay đổi trong lối sống, thói quen tiêu dùng và tiết kiệm ảnh hưởng đến xu hướng tiêu dùng và đầu tư trong tương lai; những thách thức mới từ môi trường quốc tế hậu đại dịch do sự gia tăng căng thẳng địa chính trị, sự mạnh lên của chủ nghĩa bảo hộ và sự suy giảm hợp tác trong lĩnh vực chính sách toàn cầu Không gian chính sách tiền tệ thu hẹp, thâm hụt tài khóa và nợ công gia tăng khiến quá trình hồi phục của nền kinh tế sẽ phải mất nhiều thời gian

Tuy nhiên, đánh giá một cách tổng thể những động lực tăng trưởng cơ bản, tác giả cho rằng nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa rời khỏi xu hướng tăng trưởng trung - dài hạn:

Thứ nhất, đầu tư công tiếp tục được đẩy mạnh giải ngân và có điều kiện tăng mạnh giải ngân

trong năm tới khi Chính phủ cho khởi công các dự án đầu tư công lớn; lãi suất ở mức thấp tiếp tục được duy trì; chính sách giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đã bắt đầu có hiệu lực (từ 30/8/2020)

Trang 6

Thứ hai, là sự phục hồi tăng trưởng của các thị trường đối tác lớn Sự phục hồi này có thể hỗ

trợ gia tăng xuất khẩu của Việt Nam năm 2021 Dự báo của hầu hết các tổ chức quốc tế cho thấy, kinh tế thế giới và các nước có thể đạt tăng trưởng cao trong năm 2021, đặc biệt là các quốc gia đối tác thương mại, đầu tư lớn của Việt Nam, như Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các đối tác khác Trong bối cảnh đó, EVFTA cùng với CPTPP và RCEP được cho là nhân tố tích cực, hỗ trợ kinh tế Việt Nam phục hồi tốt hơn trong năm 2021 và 2021 - 2025 Xuất khẩu sang

Mỹ và Trung Quốc có thể tiếp tục duy trì trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ - Trung chưa

có dấu hiệu cải thiện (ngay cả khi tăng trưởng kinh tế Trung Quốc ở mức thấp, kinh tế Mỹ giảm sâu, xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường này vẫn tăng trưởng mạnh) Với triển vọng tốt hơn trong năm 2021 ở cả hai thị trường lớn, xuất khẩu của Việt Nam càng có cơ sở kỳ vọng tăng tốc Dù vậy, xuất khẩu sang Mỹ đang đối mặt với rủi ro lớn khi Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách

“quốc gia thao túng tiền tệ”.

Thứ ba, là “thương hiệu quốc gia” của Việt Nam đang cho thấy “sức hấp dẫn” đáng kể đối

với các nhà đầu tư quốc tế dựa trên khả năng chống chịu của nền kinh tế trong đại dịch, triển vọng phục hồi sau đại dịch và các cơ hội từ các FTA Việt Nam cũng có khả năng được hưởng lợi

từ sự dịch chuyển các chuỗi cung ứng sang những quốc gia có chi phí thấp hơn Thực tế cho thấy, mặc dù vốn FDI đăng ký năm 2020 giảm khoảng 15% nhưng vốn thực hiện giảm rất nhẹ (2%)

Do đó, có thể kỳ vọng khi đại dịch được kiểm soát, trạng thái bình thường mới được nhiều quốc gia áp dụng, FDI vào Việt Nam sẽ tiếp tục tăng, tạo cơ sở vững chắc hơn cho khả năng phục hồi tăng trưởng năm 2021 và những năm tiếp theo

Thứ tư, môi trường kinh doanh đang ngày càng được cải thiện tạo điều kiện cho khối kinh tế

tư nhân phát triển thuận lợi Định hướng chính sách trong những năm gần đây dành sự ưu tiên lớn cho phát triển kinh tế tư nhân, trong đó tập trung vào các chiến lược phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phát triển hạ tầng giao thông, năng lượng và ứng phó với biến đổi khí hậu Trong năm 2020, nhiều luật mới được ban hành gồm Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác công tư (PPP) có hiệu lực từ năm 2021, kỳ vọng sẽ tiếp tục góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư tư nhân Chất lượng tăng trưởng cũng được nâng cao nhờ đóng góp của các yếu tố khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng lớn trong cơ cấu tăng trưởng kinh tế Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin có sự cải thiện vượt bậc (từ hạng 95 lên hạng 41 thế giới, theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới), là động lực chính nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và năng suất của nền kinh tế

Thứ năm, trong nội tại nền kinh tế, tiêu dùng nội địa và đầu tư công vẫn sẽ đóng vai trò quan

trọng trong phục hồi tăng trưởng kinh tế năm 2021 Tiêu dùng nội địa, đóng góp khoảng 68-70% trong GDP, có khả năng phục hồi nhờ yếu tố tâm lý thị trường và thu nhập được cải thiện Đầu

tư công nhiều khả năng tiếp tục được thúc đẩy bởi các dự án lớn bắt đầu triển khai từ năm 2020, cùng với nỗ lực của Chính phủ, bộ, ngành và địa phương hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả đầu tư, tạo sự lan tỏa đối với các thành phần, lĩnh vực khác trong xã hội

Thứ sáu, khu vực công nghiệp - dịch vụ có thể đạt mức tăng trưởng cao hơn trong năm tới (từ

mức thấp của năm 2020) nhờ sự phục hồi của thị trường tiêu thụ và các nguồn cung ứng Trong

đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, bán buôn, bán lẻ và vận tải, kho bãi được kỳ vọng phục hồi mạnh, trở lại vai trò dẫn dắt, động lực cho tăng trưởng kinh tế năm 2021 Khu vực nông

Trang 7

nghiệp được dự báo tiếp tục tăng trưởng ổn định Dài hạn hơn, lĩnh vực kinh doanh dựa trên nền tảng số có điều kiện để phát triển nhanh Các nhóm hàng hóa, dịch vụ được giao dịch qua mạng

và các nền tảng số có sự tăng trưởng mạnh trong bối cảnh đại dịch COVID-19 Riêng dịch vụ tài chính số, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng, Việt Nam hiện có mức tăng trưởng ấn tượng nhất trong khu vực

Đi cùng với những tín hiệu tích cực, đầy “lạc quan” về triển vọng kinh tế Việt Nam năm

2020, theo tác giả, vẫn còn những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng xấu đến triển vọng kinh tế của đất nước năm 2021:

Đại dịch COVID-19 kéo dài trên toàn cầu sẽ là nguy cơ lớn nhất; căng thẳng thương mại toàn cầu, dẫn tới gia tăng bảo hộ thương mại và các rủi ro tài chính có thể trầm trọng thêm bởi đại dịch kéo dài Tiêu dùng nội địa tiếp tục ở mức thấp bởi thu nhập hộ gia đình và doanh nghiệp giảm, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng và thêm nhiều doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động Triển vọng đầu tư không đồng đều, đầu tư tư nhân còn yếu và đầu tư nước ngoài liên quan đến thương mại tiếp tục giảm

Bên cạnh đó, tác động của các chính sách kích thích kinh tế khá hạn chế do dư địa của các chính sách tài khóa và tiền tệ hiện nay ở các quốc gia phát triển đều đang hạn hẹp dần Hệ quả của các gói kích thích khối lượng tiền lớn tung vào thị trường trong khi cơ hội kinh doanh chưa phục hồi có thể làm tăng nguy cơ bất ổn tài chính, vĩ mô toàn cầu

Nhiều quốc gia trên thế giới đang trong xu hướng “khủng hoảng chu kỳ”, “khủng hoảng cấu

trúc” (như EU) trước khi đại dịch COVID-19 diễn ra Kinh tế thế giới và các nước đối tác lớn dự

báo khả năng phục hồi trở lại trạng thái trước khi đại dịch COVID-19 sẽ cần thời gian khoảng

2 - 4 năm tùy thuộc mức độ tác động Các rủi ro địa chính trị có xu hướng tăng lên thời kỳ hậu dịch COVID-19 Trật tự chính trị có xu hướng dịch chuyển quyền lực từ Tây sang Đông, do hậu quả dịch COVID-19 để lại cho các nước phương Tây khá nặng nề, thậm chí là nguy cơ khủng hoảng nợ công Căng thẳng thương mại giữa các quốc gia vẫn tiếp diễn và chuyển sang cuộc chiến về công nghệ Bản đồ thương mại hai chiều giữa các quốc gia cũng có xu hướng thay đổi trong trung hạn

Hiện tại, Việt Nam đang kiểm soát khá tốt tình hình dịch bệnh, song sự bất định của bối cảnh chung dẫn đến nhiều thách thức cho quá trình khắc phục hậu quả của khủng hoảng COVID-19 Kinh tế thế giới và các nước đối tác quan trọng chưa thực sự thoát khỏi khó khăn, quá trình phục hồi không vững chắc và chứa đựng nhiều rủi ro khiến triển vọng gia tăng xuất khẩu, thu hút đầu

tư và quá trình phục hồi các chuỗi cung ứng đối với Việt Nam gặp nhiều khó khăn

Các chuỗi giá trị toàn cầu đang trong giai đoạn “tái định hình” dưới tác động của COVID-19,

Việt Nam có cơ hội tham gia vào quá trình tái phân bổ các cơ sở sản xuất kinh doanh của các tập đoàn đa quốc gia Tuy nhiên, cơ hội tham gia của Việt Nam không dễ dàng bởi tác động của số hóa, chủ nghĩa bảo hộ và năng lực hấp thụ FDI cũng như khả năng liên kết của FDI với SMEs (doanh nghiệp nhỏ và vừa) trong nước

Trong nội tại nền kinh tế, quá trình phục hồi tăng trưởng kinh tế năm 2021 đối mặt với một

số thách thức: tác động, hiệu quả của các chính sách kích thích kinh tế khá hạn chế, nhiều đối tượng khó khăn trong việc tiếp cận các gói hỗ trợ; triển vọng đầu tư không đồng đều, đầu tư tư

Trang 8

nhân vẫn yếu; sức khỏe của doanh nghiệp không dễ dàng hồi phục ngay sau thời gian dài khó khăn Xu hướng phục hồi tăng trưởng của xuất khẩu, của các ngành kinh tế (các ngành dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ du lịch, lữ hành) có thể chưa chắc chắn trong năm 2021 nếu tình hình dịch bệnh còn diễn biến phức tạp

Ngoài ra, còn có sức ép lạm phát và bất ổn vĩ mô do rủi ro chính sách siêu nới lỏng tiền tệ, tài khóa từ bên ngoài và chính sách tiền tệ mở rộng trong nước Độ bền vững ngân sách Nhà nước

bị đe dọa nếu mức chi ở mức cao

Chính vì vậy, việc đánh giá triển vọng phát triển kinh tế năm 2021 của Việt Nam dù lạc quan nhưng cũng không thể chủ quan

3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

Trong năm 2021 và những năm đầu của giai đoạn 2021 - 2025, Chính phủ Việt Nam cần tiếp

tục tập trung thực hiện mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch bệnh hiệu quả, vừa nỗ lực phục hồi

và phát triển kinh tế - xã hội trong trạng thái bình thường mới” Chính phủ cần có những bước

đi nhất quán và có sự điều phối rõ ràng để ứng phó với đại dịch, các chính sách cần ưu tiên bảo

vệ tính mạng và điều kiện sống cho người dân, đặc biệt là những nhóm dễ chịu tác động, và đảm bảo người lao động trở lại làm việc, các doanh nghiệp nối lại hoạt động trong môi trường an toàn Đây là những điều kiện thiết yếu để bảo đảm kinh tế khu vực sẽ dần hồi phục một cách toàn diện

và bền vững

Cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, vốn ODA; tận dụng tốt cơ hội của các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết; tiếp tục miễn, giảm lệ phí, kéo dài thời hạn visa du lịch; kiểm soát mặt bằng giá cả Các cơ quan chức năng cần xem xét hỗ trợ doanh nghiệp được hoãn, miễn giảm nghĩa vụ và chi phí về tài chính với NSNN Các tổ chức tín dụng cần có phương án tổ chức kinh doanh phù hợp, không ảnh hưởng đến khách hàng, xem xét giảm lãi suất, giãn nợ cho các doanh nghiệp, hộ gia đình chịu nhiều ảnh hưởng, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, tăng cường các gói hỗ trợ tín dụng, hoạt động tư vấn, thông tin đến khách hàng về điều kiện tiếp cận vốn vay và trả nợ tín dụng ngân hàng Cùng với đó, các gói hỗ trợ mới cho doanh nghiệp và người dân cần mở rộng hơn về đối tượng, đơn giản hơn về thủ tục

và bao quát các lĩnh vực dân sinh; kiên quyết phòng tránh các rủi ro, thất thoát, lạm dụng, trục lợi cá nhân hoặc lợi ích nhóm

Đặc biệt, thời gian trước mắt cần tập trung giải quyết nút thắt thiếu đồng bộ trong chuỗi cung ứng giá trị của nhiều ngành hàng theo hướng: tăng tổ chức lại sản xuất, tái cơ cấu thị trường, mở rộng thị trường quốc tế, coi trọng thị trường nội địa; đa dạng hóa nguồn nguyên liệu đầu vào, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao hàm lượng chế biến và giá trị tăng sản phẩm; đẩy mạnh

tổ chức xúc tiến thương mại, đưa hàng hóa nông sản Việt vào tiêu thụ trong các hệ thống, chuỗi siêu thị lớn; khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao chất lượng bảo quản, chế biến nông sản; điều chỉnh cơ cấu một số đối tượng cây trồng, vật nuôi cho phù hợp với nhu cầu của thị trường tiêu thụ và lợi thế so sánh của từng địa phương

Ngoài ra, việc phụ thuộc quá nhiều vào xuất nhập khẩu làm cho nền kinh tế trở nên mong manh trước các cú sốc đến từ bên ngoài Thực tế này đòi hỏi Việt Nam cần phải đa dạng hóa hơn nữa các đối tác thương mại, từ đó giảm thiểu những cú sốc đến từ một đối tác thương mại cụ thể

Trang 9

Đẩy mạnh phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, đổi mới sáng tạo và ứng dụng khoa học công nghệ Tập trung nguồn lực để phát triển một số nền tảng công nghệ dùng chung, các

hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia cốt lõi; bảo đảm hạ tầng kỹ thuật an toàn, an ninh thông tin Xây dựng và phát triển hệ thống trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia, vùng và địa phương; hỗ trợ, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo

Bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với xu thế mới Thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ an sinh xã hội, giải quyết việc làm, tạo điều kiện cho người lao động sớm quay trở lại thị trường, bảo đảm đủ lực lượng lao động khi bước vào giai đoạn tăng cường sản xuất, kinh doanh sau dịch Tập trung hỗ trợ người sử dụng lao động đào tạo, đào tạo lại người lao động đáp ứng yêu cầu mới; đẩy mạnh kết nối cung, cầu lao động trong nước, gắn với thị trường lao động quốc tế

Mặc dù còn đối mặt với nhiều khó khăn cả bên trong lẫn bên ngoài nhưng kinh tế Việt Nam vẫn chứng tỏ sức hút từ hội nhập và tiềm năng của một nền kinh tế năng động Những kết quả tích cực mà kinh tế Việt Nam đạt được trong năm 2020 sẽ góp phần tạo đà cho triển vọng kinh

tế Việt Nam trong năm 2021

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chính phủ (2021), Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/20201 Về nhiệm vụ, giải pháp chủ

yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách Nhà nước năm 2021.

2 Nguyễn Thị Phương Dung (2020), Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2020 và triển vọng

năm 2021, Tạp chí Tài chính kỳ 1 tháng 12/2020.

3 Hoàng Nữ Ngọc Thủy - Lương Minh Hiển (2021), Triển vọng tăng trưởng 2021: Động lực

và thách thức, Tạp chí Điện tử VnEconomy.

4 Công ty Kiểm toán PWC Việt Nam (2020), Đánh giá tác động của đại dịch COVID-19: Phân

tích các tác động tiềm ẩn của COVID-19 đối với kinh tế Việt Nam.

5 Nguyễn Minh Phong (2020), Dự báo của thế giới về triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2020

- 2021, Tạp chí Ngân hàng số 21/2020.

Ngày đăng: 23/06/2021, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w