Tóm lại : Muốn viết đúng chính tả, học sinh phải học để biết phân biệt các cách viết khác nhau đối với những từ được phát âm giống nhau do có sự sai khác giữa cách phát âm địa phương và [r]
Trang 1Phòng Giáo Dục - Đào Tạo Thăng Bình
Trường Tiểu học:Lê Độ
Trang 2Như chúng ta đã biết, hiện nay chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạoyêu cầu phát triển giáo dục cả về số lượng và chất lượng, chống bệnh thành tích
trong dạy học Bởi vì “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” làm thế nào để học
sinh học tốt đạt kết quả cao ở các môn học Nhất là môn Tiếng Việt
Môn Tiếng Việt trong chương trình bậc tiểu học nhằm hình thành và pháttriển giúp học sinh kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập
và giao tiếp các môi trường hoạt động của lứa tuổi, giúp học sinh có cơ sở tiếpthu kiến thức ở các lớp trên Trong môn Tiếng Việt phân môn Chính tả cũngkhông kém phần quan trọng, nó trang bị một số kiến thức về quy tắc Chính tả,Tiếng Việt rèn luyện được kỹ năng nghe, kỹ năng viết đúng chính tả đoạn văn,bài văn, phát triển ý thức viết đúng chính tả, thái độ cẩn thận và yêu cái đẹptrong giao tiếp bằng chữ Tiếng Việt
Làm thế nào để các em đọc được, viết được và viết đúng chuẩn Chính tảTiếng Việt về căn bản là một chính tả thống nhất Song do Tiếng Việt có cácphương ngữ, thổ ngữ khác nhau nên cách phát âm của các vùng trong khá nhiềutrường hợp có sự sai khác so với cách phát âm chuẩn Tiếng Việt Điều này tôithấy có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập chính tả của học sinh
Vì vậy, việc dạy đúng chính tả được coi trọng từ ngay buổi đầu đối vớihọc sinh tiểu học Phân môn chính tả tiểu học có nhiệm vụ chủ yếu rèn luyện chohọc sinh nắm vững các qui tắc và thói quen viết đúng với chuẩn chính tả TiếngViệt Cùng với các môn khác, chính tả giúp cho học sinh chiếm lĩnh kiến thức và
là công cụ để giao tiếp, tư duy Ngay từ bậc tiểu học các em phải được họcmôn chính tả một cách khoa học Có như vậy thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữviết không bị cản trở giữa các địa phương trong cả nước
Nhưng trong thực tế hiện nay, học sinh viết sai chính tả khá phổ biến, cụ thể là trên địa bàn trường Tiểu học Lê Độ nơi tôi đang công tác, hiện tượng học sinh sai chính tả chiếm tỷ lệ khá cao Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác
Nhận thức rõ tầm quan trọng của phân môn này, bản thân tôi đã nghiên cứu
đề tài “ Một số biện pháp khoa học giúp học sinh học tốt phân môn Chính
tả lớp 5 ” Chính vì lẽ đó tôi đã chọn đề tài này để tìm ra những ưu điểm cũng
như những tồn tại về viết sai chính tả của học sinh Để từ đó cô và trò có cáchdạy, cách học hợp lý đạt kết quả, giúp các em tự tin khi giao tiếp nhằm mục tiêuđào tạo những chủ nhân tương lai năng động, sáng tạo phù hợp với xu thế pháttriển hiện nay
3 CƠ SỞ LÝ LUẬN :
a/ Cơ sở ngôn ngữ học đại cương :
Trang 3Các lĩnh vực ngôn ngữ như ngữ nghĩa học, ngữ pháp học, phong cách họcđều có những đóng góp về mặt lý luận để các nhà khoa học giáo dục biên soạntheo chương trình học Tiếng Việt cho từng cấp học Nói riêng về phân mônChính tả ở bậc Tiểu học, có thể nói các lĩnh vực của ngôn ngữ học đều có sựđóng góp hình thành cơ sở khoa học của phân môn chính tả Chẳng hạn như Ngữpháp văn bản giúp cho việc xác định rõ nghĩa của từ trong văn bản, giúp cho họcsinh xác định rõ âm tiết của từ đó mà viết đúng chính tả Riêng lĩnh vực ngữ âmhọc cơ sở lý luận gắn bó mật thiết với vấn đề chính tả.
b Cơ sở dạy ngữ âm học :
Chữ viết là hệ thống kí hiệu bằng đường nét đặt ra để ghi tiếng nói và cónhững quy tắc, quy định riêng đó là nguyên tắc ngữ âm học Nghĩa là mỗi âm vịđược thể hiện bằng một chữ cái hoặc một hợp chữ cái, mỗi âm tiết, mỗi từ cómột cách viết nhất định
Âm vị /b/ được biểu thị bằng chữ “b”
Ngữ âm học thực hành chủ yếu tập trung vào rèn luyện phát âm đúng Phát
âm đúng gắn liền với viết đúng (chính âm gắn liền với chính tả) Do đó cơ chếcủa việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở viết đúng Để pháthuy một cách có ý thức, đặc biệt là phương ngữ việc dạy chính tả cần phải theosát nguyên tắc này Nghĩa là phải tôn trọng việc phát âm, lấy phát âm để điềuchỉnh chữ viết
c Chữ quốc ngữ có những bất hợp lý :
Ở Tiếng Việt nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc ngữ âm học Ngoài ra Chính
tả còn xây dựng trên một số nguyên tắc truyền thống lịch sử, nguyên tắc khu biệt Những nguyên tắc này không đồng nhất với nguyên tắc ngữ âm học, do vậyChính tả Tiếng Việt còn có những bất hợp lý Cụ thể trong Tiếng Việt có hiệntượng phát âm ở những vùng miền khác nhau (phương ngữ) Bên cạnh đó lại cótrừơng hợp mang hai cách phát âm
Ví dụ : Chòng chành - tròng trành
Hoặc có khi có một cách phát âm nhưng lại có hai cách viết :
y: Trong Lý Thường Kiệt (y tế, chú ý, )Trước những bất hợp lý trên, việc xác định trọng điểm chính tả cần choviệc dạy học sinh từng vùng, một mặt phải coi trọng hệ thống âm chuẩn toàndân, đồng thời phải dùng nghĩa để sử dụng vào các văn cảnh
Trang 4d Vấn đề chuẩn chính tả :
Ngôn ngữ văn hoá không thể không có chính tả thống nhất, mà muốnthống nhất được chính tả thì phải có chuẩn chính tả Chính tả Tiếng Việt là quátrình chuẩn hoá cách viết của ngôn ngữ Tiếng Việt và phải được mọi người tuântheo Chuẩn Chính tả là dựa vào ba căn cứ cơ bản như sau :
+ Chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối
+ Chuẩn chính tả có tính bền vững tương đối
+ Chuẩn chính tả có tính lựa chọn, tính phát triển
4 Cơ sở thực tiễn :
a/ Thực trạng trình độ chính tả của học sinh lớp 5B 2 :
Qua nhiều năm giảng dạy ở khối 5, tôi thấy đa số học sinh thường viết sainhiều lỗi chính tả, nhất là:
Phụ âm đầu như: d-gi-v; s-x;c-k; g-gh;ng-ngh
Phụ âm cuối như: n-ng; c-t
Lỗi về vần như:ai-ay-ây;ao-au âu;ăp-âp
Qua khảo sát chất lượng đầu năm 2010-2011, chất lượng phân môn chính tả chỉđạt 20% như vậylà quá thấp Cụ thể như sau :
+ Lỗi phát âm không chuẩn có nghĩa là lỗi chính tả do viết theo lối phát
âm địa phương
+ Lỗi chính tả do không nắm vững chính tự : Có nghĩa là viết chính tảkhông phân biệt được các phụ âm đầu : d- gi ; ch – tr ; x – s
Ví dụ : Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây :
+ c/k : céo cờ; cái ka ;
+ g/ gh : con gẹ, gê, sợ
Trang 5+ ng/ ngh : ngỉ ngơi, nghõ phố
+ ch/ tr : cây che, chiến chanh
+ s/x : cây xả, xa mạc
+ v/d/gi : giao động, giải lụa, dui dẻ
Trong các lỗi này, lỗi về s/x, v/d/gi, c/k là phổ biến hơn cả
+ Lỗi không do nắm vững trình tự âm tiết
Ví dụ : Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vấn
đề sau:
+ ai/ ay/ ây : Bàn tai, đi cầy, dậy học, ban may
+ ao/ au/ âu : Hôm sao, mầu đỏ
+ iu/ êu/ iêu : Chìu chuộng, lim khiết, cây niu,
+ oi/ ôi ơi : noi gương, xoi nếp
+ ăm/ âm : Con tầm, sưu tằm, bụi bậm
+ im/ iêm/êm/em : Tim thuốc, lúa chim, cái kềm,
+ ắp/ ấp : Gập gỡ, trùng lặp
+ ip/ iếp/ êp/ ep : Số kíp, liên típ, thệp cưới
+ ui/ uôi : Chín mùi, đầu đui, tủi tác
+ um/ uôm : Nhụm áo, ao chum
+ ưi/ ươi : Trái bửi, khung cưởi,
+ ưu/ ươu : ốc bưu, con khứu,
- Lỗi về âm cuối:
Ví dụ: Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau
đây :
+ an/ ang : Cây bàn, bàng bạc
+ át/ ác : lang bạc, lường gạc, rẻ mạc,
+ ăn/ ăng : lẳn lặn, căng tin
+ ắt/ ắc : giặc giũ, co thắc, mặt quần áo
+ ân/ âng : hụt hẫn, nhà tần
+ ât/ ấc : Nổi bậc, nhất lên
+ ên/ ênh : bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển
+ êt/ êch : trắng bật
+ iêt/ iêc : mải miết, tiêu diệc
+ ut/ uc : Chim cúc, bảo lục,
+ uôn/ uông : Khuôn nhạc, buồn tắm
Trang 6+ uôt/ uôc : rét buốc, chải chuốc,
+ ươn/ ương : lươn bổng, sung sướn
- Lỗi về thanh điệu : Học sinh ở phương ngữ Trung và Nam hay viết sai
chính tả, về lỗi này có nghĩa là không phân biệt được 2 thanh hỏi và ngã
* Nguyên nhân 2 : Về giảng dạy chính tả của giáo viên tiểu học
- Trong quá trinh giảng dạy một số giáo viên đôi lúc còn phát âm hơi năng
về tiếng địa phương
- Giáo viên chưa chú ý nhiều đến các dạng bài tập luyện chính tả
- Chưa sử dụng tốt các trò chơi để luyện chính tả
- Những tồn tại trên dẫn đến chất lượng học chính tả của học sinh cònnhiều hạn chế Để khắc phục trình trạng này, việc đổi mới phương pháp dạy họcphân môn chính tả là hết sức cần thiết, phải giúp học sinh nắm được các quy tắcchính tả, các mẹo luật chính tả phù hợp với trình độ tiếp thu của các em, hìnhthành kỹ năng, kỹ xảo chính tả Vì vậy bản thân tôi đã nghiên cứu và tìm ra mộtvài biện pháp khoa học kết hợp với phương tiện dạy học nhằm nâng cao chấtlượng học tập của học sinh
5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU :
a/ Nội dung dạy học chính tả :
- Mạch kiến thức về quy tắc chính tả :
- Hệ thống hoá những hiểu biết về cách viết đúng các âm đầu, vần, thanhđiệu của các từ thuộc vốn từ đã học theo chủ điểm Hệ thống hoá về quy tắc viếttên người, tên địa lý Việt Nam và nước ngoài
- Mạch kỹ năng viết Chính tả : Nghe – viết, nhớ – viết một đoạn văn hoặcđoạn thơ, trình bày bài viết theo quy định
+ Viết đúng các từ ngữ dễ sai lẫn trong các bài chính tả nghe – viết, nhớ –viết, cụ thể là :
- Các từ có âm đầu hoặc âm chính có nhiều cách viết
- Các từ có vần khó xuất hiện trong các bài chính tả
- Các từ mà phát âm của tiếng địa phương lệch so với chuẩn
+ Các tên người, tên địa lý Việt Nam và nước ngoài
Trong những nội dung trên có phần nội dung bắt buộc dạy cho tất cả họcsinh ở các vùng miền, trong cả nước, có những nội dung cho phép các trường,lớp ở từng địa phương được lựa chọn để dạy cho phù hợp với đặc điểm của họcsinh địa phương
Trang 7b/ Các biện pháp khoa học dạy tốt phân môn chính tả :
b1/Vận dụng nguyên tắc dạy “ chính tả theo khu vực” :
Nghĩa là nội dung chính tả phải phù hợp từng vùng, từng địa phương Nói cáchkhác dạy chính tả phù hợp với học sinh đang ở Vì chính tả Tiếng Việt về cănbản là một chính tả thống nhất Song do Tiếng Việt có các phương ngữ, thổ ngữkhác nhau, nên cách phát âm của các vùng, trong khá nhiều trường hợp có sự saikhác so với cách phát âm được coi là chuẩn của Tiếng Việt Điều này đã ảnhhưởng nhất định đến quá trình học viết chính tả của học sinh Chẳng hạn, họcsinh ở tỉnh Bắc Bộ thường phân vân không biết viết tr hay ch, s hay x, khi viếtcác từ có chữ tr và chữ s ở đầu, vì các từ này được phát âm không phân biệt vớicác từ có chữ ch và x ở đầu (bức chanh/ quả chanh, nước xôi/ nắm xôi, ) hoặckhông phân biệt được l hay n ( đội lón, đi nằm ) Học sinh ở Bắc Trung Bộ thìcảm thấy khó khăn khi viết các từ có thanh ngã và thanh hỏi vì ở vùng này thanhngã được phát âm giống như thanh nặng (dễ – dệ) và thanh hỏi (lõm bõm – lỏmnhỏm)
- Trong khi đó học sinh ở tỉnh Nam Trung Bộ lại phải đắn đo khi viết các
từ có chữ đầu là v hoặc các từ có vần cuối là n, t Vì ở vùng này (nơi học sinhtôi đang học) v được phát âm giống gi (d) (vô - giô (dô), các vần có n ở cuốiđược phát âm không phân biệt với các phần có ng ở cuối (bàn – bàng); các vần
có t ở cuối phát âm không phân biệt với các phần có c ở cuối (đắt - đắc, mắt –mắc, )
- Sự khác biệt trong cách phát âm của các địa phương so với cách phát âm(được coi là) chuẩn là một trong những nguyên nhân dẫn đến lỗi chính tả của họcsinh Muốn khắc phục các lỗi chính tả loại này thầy trò chúng ta phải có cáchdạy, cách học thông minh (ví dụ đối sách, liên tưởng ghi nhớ từng trường hợp,dựa vào ý nghĩa ) Vì vậy việc rèn luyện phát âm của học sinh, chúng ta thựchiện trong một thời gian dài, thường xuyên và liên tục trong tất cả các phân mônChính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn Trước hết đòi hỏi giáo viênphải phát âm thật chuẩn nhất là những tiếng học sinh dễ mắc lỗi, yêu cầu họcsinh nghe và phát âm lại cho đúng những tiếng đó Tôi luôn chú ý luyện phát âmcho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối và phân tíchcác tiếng dễ mắc lỗi thành các phần âm đầu, vần, thanh
Từ đó học sinh nhớ cách ghi các bộ phận của tiếng để viết đúng
Tôi luôn nhấn mạnh cách đọc : Đọc thế nào là viết dấu hỏi hay viết dấu ngã
Ví dụ : Vui vẻ – tập vẽ (tiếng vẽ trong tập vẽ nhấn mạnh hơn)
Trang 8Ngoài ra tôi cũng tổ chức cho học sinh các nhóm lập sổ tay chính tả của nhóm Tôi hướng dẫn các nhóm ghi các lỗi chính tả trong nhóm mắc phải trong bài chính tả và viết lại cho đúng các từ đó
b2/ Phân tích so sánh :
Với những tiếng khó, tôi áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh ghi nhớ
Ví dụ : Khi viết tiếng “trường” học sinh dễ lẫn lộn với trườn
Tôi yêu cầu phân tích cấu tạo 2 tiếng này
+ Trường = tr + ương + thanh ngang (trường học)
+ Trườn = tr + ươn + thanh ngang (trườn tới)
Cho học sinh so sánh để thấy sự khác nhau : tiếng trường (trường học) có
âm cuối là ng Tiếng trườn (trườn tới) có âm cuối là n để học sinh ghi nhớ điềunày khi viết học sinh không viết sai
Ví dụ : Phân biệt tiếng trường (trường học) với trườn (trườn tới)
+ Giải nghĩa từ trường : Tôi có thể cho học sinh quan sát tranh ảnh ngôi
trường hoặc miêu tả đặc điểm (cũng có thể đặt câu với trường học : Trường họccủa em có năm phòng )
+ Giải nghĩa từ trườn : Tôi có thể cho học sinh đặt câu với từ trườn hoặc
giải thích bằng định nghĩa (trườn có nghĩa là bò tới )
b4/ Ghi nhớ mẹo luật chính tả :
Mẹo lụât chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phốihàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách hữuhiệu Từ các lớp dưới các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như :Các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê, iê, ia
Ngoài ra tôi còn cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác nhau :
Để phân biệt âm đầu : tr/ ch : Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên convật đều bắt đầu bằng ch
Trang 9Ví dụ : Chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn, chĩnh,
chuông, chiêng
- Con vật : Chuột, chó, chồn, chí, chuồn chuồn, châu chấu, chào mào,
chiền chiện, chẫu chàng, chìa vôi, chèo bẻo
- Để phân biệt âm đầu s/ x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều
bắt đầu bằng s : Cây sứ, cây sả, cây si, cây sồi, cây sung, cây sắn, cây sum, cây
- Luật bổng – trầm : Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh (hay dấu) của 2
yếu tố ở cùng một hệ bổng (ngang/ sắc/ hỏi) hoặc trầm (huyền/ ngã/ nặng) Đểnhớ được 2 nhóm này, tôi chỉ cần dạy cho học sinh thuộc 2 câu thơ sau :
Em huyền mang nặng, ngã đau Anh mang sắc thuốc, hỏi đau chỗ nào.
Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanhhuyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại)
Ví dụ : Bổng
+ Ngang + hỏi : nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo, vui vẻ
+ Sắc + hỏi : nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vắng vẻ
+ Hỏi + hỏi : lỏng lẻo, thỏ thẻ, hổn hển, thủ thỉ, rủ rỉ
Trang 10Một số từ vần ênh: chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc : Gập ghềnh,
khấp khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh choạng,lênh khênh, bấp bênh, công kênh
Hầu hết các từ tượng thanh có tận cùng là ng hoặc nh : Oang oang, đùng
đoàng, loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang quác,ăng ẳng, ằng ặc, oăng oẳng, răng rắc, sằng sặc, pằng pằng, eng éc, bong bong,chập cheng, reng kenh, reng reng, phènh phèng, lẻng kẻng, lẻng xẻng, ùng ùng,đùng đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, thình thình, rập rình, xập xình,huỳnh huỵch
Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ : khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu,
khuỵu chân
Vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ : ngoằn ngoèo, khoèo chân
Mẹo luật láy âm, điệp âm : “l” láy âm rất rộng rãi, trái lại “n” không láy
âm với một âm nào khác mà chỉ điệp âm đầu với cả hai chữ phải cùng có âm đầu
là “l” hoặc “n”
Vậy ta chỉ cần biết âm đầu của một chữ là đủ
Ví dụ : Lấp loáng, long lanh, lanh lảnh,
No nê, ninh ních, nuồn nuột,
Tóm lại : Muốn viết đúng chính tả, học sinh phải học để biết phân biệt các
cách viết khác nhau đối với những từ được phát âm giống nhau do có sự sai khácgiữa cách phát âm địa phương và cách phát âm được coi là chuẩn, phải hiểunghĩa các từ, đồng thời phải nắm chắc, nhớ thuộc lòng các quy tắc, các mẹo luậtchính tả quốc ngữ
b 5 /Ngoài các biện pháp trên tôi còn chú ý đến cách đọc bài cho học sinh viết chính tả :