NGUYỄN ĐẮC MẠNHNGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC THÚ TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ LÀM CƠ SỞ KHOA HỌC CHO CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ BẢO TỒN Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ T
Trang 1NGUYỄN ĐẮC MẠNH
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC THÚ
TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ LÀM CƠ SỞ KHOA HỌC CHO CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ BẢO TỒN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI – 2008
Trang 2NGUYỄN ĐẮC MẠNH
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC THÚ
TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ LÀM CƠ SỞ KHOA HỌC CHO CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ BẢO TỒN
Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ Tài nguyên rừng
Mã số: 60 62 68
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Cán bộ hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Xuân Đặng
Hà Nội - 2008
Trang 3Viện khoa học và công nghệ Việt Nam.
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Phó giáo sư - Tiến sĩ NguyễnXuân Đặng - Phòng Động vật học Có xương sống- Viện sinh thái và tàinguyên sinh vật đã hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn
Tiếp theo, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Th.s Đỗ Quang Huy,
TS Đồng Thanh Hải- Trường Đại học Lâm nghiệp đã đóng góp những ý kiếnquí báu giúp tôi hoàn thiện công trình
Xin bày tỏ lòng cảm ơn Bộ môn Động vật rừng, khoa Đào tạo sau đại học
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Khu bảo tồn thiên nhiên ĐaKrông, phòng Kỹ thuật, Hạt kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên ĐaKrông, Ủyban nhân dân xã Ba Lòng, xã Húc Nghì, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị đãgiúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu phục vụ xây dựng luận văn
Cảm ơn sự tài trợ về thiết bị nghiên cứu của tổ chức IDEA WILD chonghiên cứu này
Xin được cảm ơn các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ và khuyến khích độngviên tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn Tôi xin được gửi lờicảm ơn những người thân trong gia đình đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ tôi cả
về tinh thần và vật chất để tôi yên tâm hoàn thành luận văn
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn tới tất cả những sự giúp đỡ quý báuđó!
Hà Nội, tháng10 năm 2008
NGUYỄN ĐẮC MẠNH
Trang 4ĐDSH : Đa dạng sinh học
GIS : Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information
System)GPS Hệ thống định vị toàn cầu (Global Information System)
RRA Đánh giá nhanh nông thôn (Rapid Rural Appraisal)
WWF : Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (World Wide Fund for
Nature)WRI Viện tài nguyên thế giới (World Resources Institute)UBKHKT Uỷ ban khoa học kỹ thuật
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học 31.2 Lịch sử nghiên cứu đa dạng sinh học thú ở Việt Nam 61.3 Lịch sử nghiên cứu đa dạng sinh học thú ở Quảng Trị
CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ- XÃ HỘI CỦA
CHƯƠNG 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
4.1 Thành phần phân loại của khu hệ thú ở KBTTN
4.5 Khu vực ưu tiên bảo tồn thú trong KBTTN ĐaKrông 654.6 Vấn đề khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên sinh
4.7 Đánh giá hiện trạng công tác quản lý bảo tồn đa dạng
sinh học ở khu bảo tồn thiên nhiên ĐaKrông 81
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam được xem là điểm nóng về đa dạng sinh học, theo thống kê cókhoảng 10% trong tổng số các loài sinh vật đã biết trên thế giới Tuy nhiên, đadạng sinh học ở Việt Nam đã và đang bị suy thoái một cách nhanh chóng Sựsuy thoái của các hệ sinh thái tự nhiên đặc biệt suy thoái rừng nhiệt đới lànguyên nhân cơ bản gây suy thoái đa dạng sinh học Việt Nam trong nhữngnăm qua (Richard B.P, 1999) Ngoài ra, nguyên nhân sâu xa gây tổn thất đadạng sinh học ở Việt Nam cũng như hầu hết các nước khác trên thế giới đó làmâu thuẫn giữa cung và cầu mà thể hiện rõ nhất chính là việc khai thác quámức các nguồn tài nguyên thiên nhiên Những điều đó cộng với sự yếu kémtrong công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng đã làm cho nhiều nhóm loàiđộng- thực vật ở Việt Nam đứng trước nguy cơ tuyệt chủng
Khu bảo tồn thiên nhiên ĐaKrông được thành lập ngày 04 tháng 9 năm
2001, theo Quyết định số 768/QĐ-UB của ủy ban nhân nhân tỉnh Quảng Trịnhằm bảo tồn mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng nhiệt đới núi thấp có giá trị đadạng sinh học cao và đặc trưng cho vùng Trung Trường Sơn Việt Nam Đượcđánh giá là một trong 200 vùng sinh thái trọng yếu của thế giới, khu bảo tồnthiên nhiên ĐaKrông cũng là khu vực nhạy cảm và rất dễ bị tác động Phầnđông người dân sống ở vùng đệm của khu bảo tồn là đồng bào dân tộc thiểu
số Vân Kiều và Pa Kô, có trình độ dân trí thấp, canh tác nông nghiệp lạc hậu,đời sống chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó việc săn bắtđộng vật rừng và phá rừng làm nương rẫy là truyền thống của người Vân Kiều
và PaKô tại đây
Ban quản lý khu bảo tồn đã được thành lập từ năm 2002 (theo quyết định
số 4343/QĐ-UB ngày 5/7/2002 của uỷ ban nhân nhân tỉnh Quảng Trị) nhưng
tài nguyên rừng của khu bảo tồn vẫn tiếp tục bị suy giảm; các đàn thú quýhiếm như Bò tót, Sao la, Vượn ngày một ít đi, rừng ở vùng thấp đã chuyển
Trang 7thành nương rẫy và các cánh rừng nguyên sinh ở vùng cao nay đang chuyểndần sang kiểu rừng thứ sinh nhân tác (Ban quản lý KBTTN ĐaKrông, 2006).
Do vậy, nếu không thực hiện ngay các giải pháp quản lý bảo tồn hợp lý thìtrong tương lai không xa tài nguyên rừng khu bảo tồn thiên nhiên ĐaKrông sẽ
bị suy thoái
Thú (Mammalia) là lớp động vật có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì
sự cân bằng của hệ sinh thái rừng, có giá trị kinh tế cao và là đối tượng rấtnhạy cảm với các tác động của con người cũng như những biến đổi của môitrường nên chúng thường được ưu tiên quản lý bảo tồn hơn so với các nhómđộng vật khác Những nghiên cứu về khu hệ thú khu bảo tồn thiên nhiênĐaKrông còn hạn chế Ngoài một số đợt điều tra thống kê thành phần loài màchủ yếu tập trung vào các loài thú lớn, chưa có những nghiên cứu đánh giá vềtính đa dạng sinh học thú và các đặc điểm sinh thái nhân văn của khu hệ làm
cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp quản lý, bảo tồn hữu hiệu khu hệ thúnày
Vì vậy, chúng tôi đã chọn thực hiện đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng sinh
h ọc thú tại Khu bảo tồn thiên nhiên ĐaKrông, tỉnh Quảng Trị làm cơ sở
khoa h ọc cho các giải pháp quản lý, bảo tồn” Với mong muốn cung cấp các
thông tin đầy đủ hơn về tình trạng khu hệ thú nhằm phục vụ công tác quihoạch, quản lý bảo tồn thú nói riêng và tài nguyên rừng nói chung tại khu bảotồn
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
Thuật ngữ “đa dạng sinh học” được sử dụng lần đầu tiên từ năm 1988
(Wilson,1988) và đã trở thành vấn đề được nhiều người quan tâm khi Chươngtrình Nghị sự 21 công bố tại Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu ở Rio de Janeiro,Brasil năm 1992 Từ đó đến nay, có rất nhiều khái niệm được đưa ra về
ĐDSH, trong số đó WWF (1989) đề xuất như sau: “Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và
vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái
vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” [28].
Như vậy khi nói đến đa dạng sinh học chúng ta phải đề cập đến 3 cấp độ;
đa dạng về gen, đa dạng về loài và đa dạng về hệ sinh thái
Đa dạng về gen là sự khác biệt về vật chất di truyền trong nội bộ của mộtloài Tính đa dạng gen biểu hiện ra ngoài tự nhiên chính là những quần thểcùng loài nhưng sống ở các sinh cảnh (vùng) khác biệt nhau và những biến dịcủa các cá thể trong cùng một quần thể
Đa dạng về loài chỉ mức độ phong phú về loài trong một sinh cảnh hay khuvực nhất định Tính đa dạng loài được biểu hiện trên hai khía cạnh; thứ nhất
là số lượng loài và mối quan hệ họ hàng giữa các loài, thứ hai là cấu trúc tổthành giữa các loài
Đa dạng về hệ sinh thái được phản ánh bởi sự đa dạng về sinh cảnh quamối quan hệ tương hỗ giữa sinh vật và môi trường Việc phân chia các hệ sinhthái là rất khó khăn vì ranh giới giữa chúng không rõ ràng Tuỳ thuộc vàonhóm sinh vật nghiên cứu (đối tượng nghiên cứu), đúng hơn là mối quan hệ
Trang 9của nhóm sinh vật đó với môi trường mà có cách phân chia sinh cảnh (hay hệsinh thái) hợp lý.
Trong đề tài này tính đa dạng sinh học thú được mô tả chính là số loài thú
và mối quan hệ họ hàng giữa chúng, cấu trúc tổ thành các loài thú trong khuvực, các đàn thú sống ở các sinh cảnh khác biệt nhau, một số cá thể thú có đặcđiểm khác biệt so với các cá thể trong loài và số sinh cảnh có thể phân chiađược khi nghiên cứu mối quan hệ của thú với môi trường sống
Sau khi Công ước Đa dạng sinh học được ký kết (1993), thuật ngữ “đa dạng sinh học” đã được đưa vào văn bản pháp luật của các quốc gia (các bên)
tham gia công ước Việt Nam cũng là một thành viên của Công ước Đa dạng
sinh học, nên thường sử dụng khái niệm: “Thuật ngữ dùng để mô tả sự phong
phú và đa dạng của giới tự nhiên Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi
cơ thể sống từ mọi nguồn, trong các hệ sinh thái trên đất liền, dưới biển và
các hệ sinh thái dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên.
Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay đa
dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái) Đa dạng sinh học bao gồm cả các nguồn tài nguyên di truyền, các cơ thể hay các phần của cơ thể, các quần thể hay các hợp phần sinh học khác của hệ sinh thái, hiện đang có giá trị sử dụng hay có tiềm năng sử dụng cho
loài người” [3].
Vào những năm cuối của thế kỷ XX, khái niệm ĐDSH đã đề cập đến mốiquan hệ tương hỗ giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội, gắn yếu tố con
người (human) với ĐDSH Trong một khái niệm về ĐDSH của WRI (2005)
có đề cập “…loài người phụ thuộc hoàn toàn vào quần xã sinh vật – sinh quyển,…đa dạng sinh học là một giới hạn bao trùm sự giàu có về sinh vật tự
nhiên, điều đó củng cố cho sức khỏe và sự sống của con người…” [44]
Trang 10Blaikie và Jeanemaud (1995) đã minh họa điều đó bằng sơ đồ về ĐDSHnhư sau:
Sơ đồ 1-1: Quan niệm về ĐDSH theo Blaikie and Jeanemaud (1995)
Nguồn: Hoàng Văn Thắng, Phạm Bình Quyền, Trương Quang Học, 1998 [33]
Như vậy, có thể thấy rằng: ĐDSH bao gồm sự phong phú của thế giới sinhvật; thể hiện bằng tất cả các dạng, các mức độ và sự tổ hợp của chúng trongmối tương hỗ giữa chúng với môi trường tự nhiên và xã hội Đó không chỉ làtổng số của các HST, các loài, các vật chất di truyền mà còn bao gồm tất cảcác mối quan hệ phức tạp bên trong và giữa chúng với nhau, với thế giới vôsinh và với con người
Biến động của ĐDSH phụ thuộc vào mối tương tác nói trên Mặt khác, sựphát triển của các hệ thống xã hội là không đồng đều và có những đặc thùriêng do đó mức độ tác động đến ĐDSH ở mỗi nơi là khác nhau Ở Việt Nam,trình độ phát triển xã hội còn hạn chế về khoa học công nghệ, công tác quihoạch và quản lý tài nguyên thiên nhiên đã ảnh hưởng đến sự suy giảmĐDSH Tuy nhiên, Việt Nam lại có một hệ thống kiến thức bản địa và văn
ĐA DẠNG SINH HỌC LÀ KẾT QUẢ CỦA SỰ TƯƠNG TÁC GIỮA
HAI HỆ THỐNG TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
Trang 11hóa truyền thống đa dạng đã góp phần làm phong phú hơn và hình thành cáckhu vực có tính đặc thù về ĐDSH – nhân văn khác nhau.
Quan điểm ĐDSH là sự tương tác giữa hai hệ thống tự nhiên và xã hội đãkhắc phục sự hạn chế và tính cô lập trong bảo tồn nặng về kỹ thuật, mà đã chỉ
ra rằng cần có cách tiếp cận tích hợp, cần đặt nghiên cứu bảo tồn ĐDSH trongmột mối quan hệ hữu cơ giữa hai hệ thống tự nhiên và xã hội Nghiên cứunày, ngoài việc mô tả tính đa dạng sinh học thú về mặt tự nhiên còn mô tả cácđặc điểm sinh thái nhân văn của khu hệ, để làm cơ sở khoa học cho các giảipháp quản lý bảo tồn thú tại KBTTN ĐaKrông
1.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC THÚ Ở VIỆT NAM
Lịch sử nghiên cứu đa dạng sinh học thú ở Việt Nam gắn liền với lịch sửnghiên cứu động vật giới Việt Nam và có thể chia thành 3 giai đoạn chínhnhư sau:
1) Trước năm 1954: Bước đầu nghiên cứu lập danh lục thú của cả nước;2) Từ 1955 đến 1975: Nghiên cứu khu hệ thú các địa phương ở Miền Bắc;3) Từ 1975 đến nay: Nghiên cứu khu hệ thú các địa phương trên toàn quốcphục vụ qui hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo tồn đa dạng sinh học
• Thời kỳ trước năm 1954
Cuối thế kỷ 19, với sự xâm chiếm của thực dân Pháp các nhà khoa họcnước ngoài bắt đầu xâm nhập nước ta và tiến hành các cuộc điều tra thăm dòđộng vật giới Việt Nam như: Milne-Edwards, 1867-1874; Morice, 1875;Billet, 1896-1898; Butan, 1900-1906; De Pousargue, 1904; Menegaur, 1905-1906; Bonhote, 1907; Kloss, 1920-1926, Tới đầu thế kỷ 20, việc xây dựngdanh lục vẫn được tiếp tục bởi Osgood, 1932; Delacour, 1940, 1951; Bourret,1942-1944; Một số nghiên cứu tiêu biểu trong thời kỳ này như:
Nghiên cứu của đoàn Pavie (Đoàn nghiên cứu về lịch sử tự nhiên của ĐôngDương) từ năm 1879 đến năm 1898 tại Đông Dương (gồm Việt Nam, Lào,
Trang 12Camphuchia, Thái Lan và phần biên giới Thái Lan- Miến Điện) Tại ViệtNam, đoàn Pavie hoạt động chủ yếu ở miền Nam Những tài liệu về thú dođoàn Pavie thu thập đã giao cho De Pousargue nghiên cứu và kết quả đượccông bố trong bộ sách của Pavie xuất bản năm 1904 Có thể coi đó là côngtrình nghiên cứu thú đầu tiên, tương đối hoàn chỉnh ở Đông Dương về mặtkhu hệ Trong đó, De Pousargue đã thống kê được 200 loài và loài phụ thú(kể cả thú nuôi) phân bố ở Đông Dương Riêng ở Việt Nam đã phát hiện được
117 loài và loài phụ
Năm 1932, H Osgood đã tập hợp rất nhiều những tài liệu nghiên cứu trước
đó (của H Stevens, F.R Wulsin, Delacour, Delacour et Lowe, đoàn Roosevelt) và đưa ra thông báo chung về thú (Osgood, 1932) Trong tài liệunày Osgood đã ghi nhận được 251 loài và loài phụ, trong đó có 19 dạng mới.Trong phạm vi Việt Nam đã gặp tới 172 loài và loài phụ, kèm theo những địađiểm sưu tầm Đây là một công trình có giá trị về mặt nghiên cứu phân loại vàkhu hệ
Kelley-Từ năm 1945 đến 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra ácliệt trên toàn quốc đã làm gián đoạn các hoạt động khảo sát động vật hoang dã
ở Việt Nam
• Thời kỳ từ 1955 đến 1975
Sau khi miền Bắc được giải phóng (1954), các hoạt động nghiên cứu về thúhoàn toàn do những cán bộ khoa học Việt Nam đảm nhiệm Lực lượng điềutra nghiên cứu thời kỳ này chủ yếu là Phòng Động vật học của UBKHKT Nhànước; Khoa Sinh vật học- Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội; Viện Điều traQuy hoạch rừng- Tổng Cục Lâm nghiệp và Khoa Sinh vật học- Trường Đạihọc Sư Phạm Hà Nội Ngoài ra, còn một số cơ quan khác trong lĩnh vực côngtác cũng có liên quan nhiều đến việc sưu tầm thú, mà chủ yếu là thú gặmnhấm dạng chuột như; Viện vệ sinh dịch tễ học, Viện sốt rét- ký sinh trùng,
Trang 13Viện quân y Kết quả nghiên cứu về thú trong thời kỳ đầu miền Bắc giảiphóng còn nhiều hạn chế, do lực lượng cán bộ mỏng, địa bàn điều tra hẹp, chỉtập trung vào thu thập mẫu vật và thống kê thành phần loài.
Từ sau năm 1959, đã có một số đợt điều tra tổng hợp về động vật với lựclượng cán bộ và số cơ quan tham gia ngày càng lớn Phạm vi điều tra được
mở rộng trên toàn miền Bắc Nội dung điều tra cũng phong phú hơn, bao gồm
cả điều tra thành phần loài, nghiên cứu sinh học, sinh thái, phát hiện trữ lượng
và khả năng khai thác sử dụng các loài có giá trị kinh tế Đặc biệt, UBKHKT
Nhà nước đã tổ chức và chủ trì “Đoàn điều tra liên hợp động vật-ký sinh trùng” với sự tham gia của 5 cơ sở nghiên cứu lớn, trong đó Bộ môn Động
vật học của Trường Đại học Tổng hợp và Phòng Động vật học của UBKHKTNhà nước đảm nhận phần điều tra động vật có xương sống Trong thời giancác năm 1962-1966, Đoàn đã thực hiện được 5 đợt điều tra tại 12 tỉnh miềnBắc: Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu,Yên Bái, Sơn La, Thanh Hoá, Quảng Bình, Hà Tĩnh và Nghệ An
Kết quả của các đợt điều tra trong thời kỳ 1955-1975, đã được các nhàkhoa học trong nước phân tích và công bố (Đào Văn Tiến, 1960-1985; ĐặngHuy Huỳnh, 1968-1981; Lê Hiền Hào, 1962-1973; Cao Văn Sung, 1976-1980; Phạm Trọng Ảnh, 1974; ) Mỗi tác giả công bố kết quả nghiên cứu vềmột nhóm thú riêng, đặc biệt Đào Văn Tiến (1985) đã tập hợp các công trìnhđiều tra cơ bản động vật học và công bố toàn miền Bắc có 129 loài [31]
Ở miền Nam, do bị đế quốc Mỹ chiếm đóng nên công tác điều tra nghiêncứu thú hầu như không được tiến hành Đáng chú ý Van Peenen và cộng sự(1965-1969) đã khảo sát ở một số tỉnh và ghi nhận được 151 loài thú [43]
• Thời kỳ từ 1975 đến nay
Sau khi miền Nam giải phóng (1975), đất nước được thống nhất thì côngtác nghiên cứu đa dạng sinh học thú đã có những bước phát triển lớn Địa bàn
Trang 14nghiên cứu được mở rộng ra toàn quốc và các nghiên cứu hướng đến mục tiêuứng dụng để phục vụ công tác qui hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo tồn
đa dạng sinh học Tuy nhiên các công trình được công bố ở thời kỳ đầu chủyếu dựa trên kết quả khảo sát thú ở miền Bắc trước đó, đáng chú ý là các côngtrình nghiên cứu của các tác giả: Đào Văn Tiến (1985), Đặng Huy Huỳnh(1986), Cao Văn Sung (1980), Phạm Trọng Ảnh (1982),
Trong những năm tiếp theo, để đáp ứng nhu cầu của dân số ngày càng tăng,
để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng nền kinh tế còn yếu của mìnhnhân dân Việt Nam vẫn phải tiếp tục khai thác một cách mạnh mẽ tài nguyênthiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên rừng Vì thế rừng đã bị tàn phá nặng nềtrong chiến tranh nay lại càng thu hẹp hơn, tài nguyên động vật hoang dã bịgiảm sút nhanh chóng đặc biệt là nhóm thú Nhận thức được việc mất rừng làtổn thất nghiêm trọng đang đe doạ sức sinh sản lâu dài của các nguồn tàinguyên có khả năng tái tạo, năm 1986 Chính phủ Việt Nam đã thành lập một
hệ thống 87 khu rừng đặc dụng với diện tích 1.169.000ha Nhưng hầu hết cáckhu rừng này hoạt động kém hiệu quả do thiếu kinh phí và thiếu cán bộ kỹthuật, người quản lý không biết cụ thể hiện trạng tài nguyên trong khu vựcmình quản lý
Trong giai đoạn này, công trình “Sách Đỏ Việt Nam-Phần Động vật” của
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (1992) và công trình “Danh lục các loài thú (Mammalia) Việt Nam” của Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự (1994)
ra đời đã góp phần giải quyết những khó khăn trên Bản danh lục gồm 12 bộ,
37 họ và 223 loài thú đã tìm thấy ở Việt Nam tính đến năm 1994, trong đó có
77 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam, 1992 [18] Đây là công trình đầu tiênthống kê thành phần phân loại thú trên toàn lãnh thổ Việt Nam và chỉ ra một
số loài thú cần ưu tiên bảo vệ
Trang 15Đặc biệt, trong giai đoạn này đã phát hiện thêm nhiều loài thú mới choViệt Nam và một số loài mới cho khoa học Việc phát hiện và mô tả một số
loài và phân loài thú lớn mới cho khoa học như: Sao la (Pseudoryx nghetinhensis Vu Dung et al., 1993), Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis Do Tuoc et al.,1994), Mang trường sơn (Muntiacus truongsonensis Giao et al., 1998), Chà vá chân xám (Pygathrix cinereus Nadler, 1997), Cầy tây nguyên (Viverra tainguensis Sokolov, Roznov & Pham, 1997), Thỏ vằn (Nesolagus timminsii Averianov et al., 2000), đã thu
hút được sự quan tâm đặc biệt của thế giới đối với khu hệ thú Việt Nam
Năm 2000, Lê Vũ Khôi đã cập nhật những phát hiện mới của khu hệ thú
Việt Nam để cho ra công trình: “Danh lục các loài thú ở Việt Nam” Bản danh
lục gồm 252 loài (289 loài và phân loài) thú thuộc 40 họ và 14 bộ Với mỗitaxon tác giả trình bày; tên khoa học đầy đủ theo danh pháp quốc tế, tên tiếngViệt và các dân tộc Việt Nam, tên tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Nga Đâynhư là “Cuốn từ điển” tên các loài thú Việt Nam [20]
Trong những năm gần đây, quan điểm về đa dạng sinh học và bảo tồnnguồn tài nguyên thú hoang dã tại Việt Nam có nhiều thay đổi theo xu thếchung của thế giới Để đạt được mục tiêu sử dụng hợp lý tài nguyên và bảotồn đa dạng sinh học, thì ngoài các nghiên cứu cơ bản về tài nguyên thú hoang
dã cần có những nghiên cứu về kinh tế- xã hội, đặc biệt các nghiên cứu xácđịnh nguyên nhân gây suy giảm tính đa dạng sinh học Trung tâm nghiên cứutài nguyên và môi trường- Đại học Quốc gia Hà Nội là một trong những cơquan của Việt Nam đi đầu trong hướng tiếp cận này Phạm Bình Quyền và
Trương Quang Học (1998) đã nhận định: “Nguyên nhân của sự thất thoát đa dạng sinh học là một phức hệ đặc trưng cho từng địa phương hay từng khu vực, ”
Trang 16“Tại Việt Nam, nguyên nhân trực tiếp bao gồm: các hoạt động nông
nghiệp mà quan trọng nhất là mở rộng đất canh tác vào đất rừng, đất ngập
nước, gây ô nhiễm do hoá chất nông nghiệp, thay thế các giống cây con địa phương bằng các giống mới cao sản; khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên như khai thác gỗ, các sản phẩm ngoài gỗ, săn bắn; sự tàn phá trực tiếp
của chiến tranh, ô nhiễm môi trường; xây dựng cơ sở hạ tầng, đường giao thông, Nhưng đằng sau các nguyên nhân này là những nguyên nhân sâu xa
về kinh tế xã hội và chính sách như sự đói nghèo, tăng dân số, Hơn thế nữa, các nguyên nhân này có mối quan hệ chặt chẽ và có sự tác động qua lại với nhau qua các hệ thống thang bậc phức tạp nhất định (địa lý, thời gian, chế độ chính trị, ”[27].
Tuy nhiên, đây là các nguyên nhân chung gây suy thoái đa dạng sinh họctrên toàn lãnh thổ Việt Nam chứ không cụ thể cho nhóm thú Và cũng như cáctác giả đã nhận định thì nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học sẽ thayđổi theo từng địa phương hay khu vực
Bảng 1.1 Tổng hợp kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh học thú tại Việt Nam Thời kỳ Số liệu cơ bản Phương pháp nghiên cứu Nguồn thông tin
Trước1954 117 loài& loài phụ Khảo sát thực địa Pousargue (1904)
172 loài& loài phụ Tổng hợp tài liệu H Osgood (1932) 1955- 1975
129 loài ở miền Bắc Tổng hợp tài liệu& Khảo sát
Khảo sát thực địa & Tổng hợp tài liệu
Phạm Bình Quyền
và cs (1998)
Trang 171.3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC THÚ Ở TỈNH QUẢNG TRỊ VÀ KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐAKRÔNG
Trước năm 1994, công tác nghiên cứu khảo sát thú ở tỉnh Quảng Trị đãđược tiến hành Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ dừng lại ở khảo sát thực địa đểcùng với những cuộc khảo sát thực địa ở các địa phương khác hình thành nêncác công trình về thú ở miền Bắc hay toàn Việt Nam
Năm 1994, tổng kết các kết quả điều tra khảo sát thú ở Việt Nam, ĐặngHuy Huỳnh và cộng sự đã công bố 62 loài thú được ghi nhận có ở Quảng Trị.Sau 1995, công tác nghiên cứu thú tại Quảng Trị tiếp tục được phát triểnvới sự tham gia của các nhà khoa học trong nước và sự hỗ trợ của các tổ chứcquốc tế (Birdlife Quốc tế tại Việt Nam, Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiênnhiên,…) Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ tập trung vào 2 khu vực chính
là huyện ĐaKrông và huyện Hướng Hoá với mục tiêu xây dựng các khu bảotồn thiên nhiên và quản lý bảo tồn đa dạng sinh học trong vùng nghiên cứu.Tiêu biểu là các nghiên cứu của: Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (2002), LeTrong Trai et al (1999), Đặng Huy Phương (2005), Đặng Huy Huỳnh vàNguyễn Mạnh Hà (2005), Nguyễn Mạnh Hà (2004, 2005, 2007), NguyễnXuân Đặng và cộng sự (2007), Lê Mạnh Hùng và cộng sự (2002, 2004)
Bảng 1.2 Tổng hợp kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh học thú tại ĐaKrông Năm Số liệu cơ bản Phương pháp nghiên cứu Nguồn thông tin
1999 43 loài thú Khảo sát thực địa Le Trong Trai et al.
Khảo sát thực địa Đặng Huy Huỳnh
Trang 18Như vậy, hầu hết các nghiên cứu về đa dạng sinh học thú ở KBTTNĐaKrông mới dừng lại ở việc thống kê thành phần loài Đặng Huy Huỳnh vàNguyễn Mạnh Hà (2005) có đề cập đến các nguyên nhân gây suy thoái đadạng sinh học thú, tuy nhiên các nguyên nhân này là những vấn đề chung gâysuy thoái đa dạng sinh học do đó ít có ý nghĩa trong việc đề xuất các giải phápquản lý bảo tồn nhóm thú Lê Trọng Trải và cộng sự (1999) ngoài thống kêthành phần loài thú còn thống kê các hợp phần khác của đa dạng sinh họcnhư; thực vật bậc cao, chim, bò sát, ếch nhái, bướm của cả hai khu ĐaKrông
và Phong Điền Ngoài ra công trình còn đánh giá giá trị của đa dạng sinh học
và các đặc điểm kinh tế- xã hội tại khu vực để làm cơ sở quy hoạch thành lậpkhu bảo tồn Tuy nhiên các đánh giá này mang tính tổng thể và chú trọng vàomục tiêu quản lý bảo tồn nhóm chim hoang dã
Vì vậy nghiên cứu về tính đa dạng sinh học thú tại khu vực sẽ xác định lại
sự có mặt và vắng mặt của các loài thú nơi đây Hơn nữa, nghiên cứu sẽ đánhgiá giá trị bảo tồn của khu hệ thú, xác định các khu vực ưu tiên bảo tồn thú và
mô tả các đặc điểm sinh thái nhân văn của khu hệ thú
Trang 19Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ- XÃ HỘI
CỦA KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐAKRÔNG2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
2.1.1 Vị trí địa lý
KBTTN ĐaKrông nằm về phía Nam huyện ĐaKrông tỉnh Quảng Trị, cótoạ độ địa lí: 16023' - 16009’ vĩ độ Bắc và 106052' - 107009’ kinh độ Đông.Phía Bắc giáp huyện Cam Lộ và Triệu Phong Phía Nam giáp huyện ALưới (Thừa Thiên Huế) Phía Tây giáp sông ĐaKrông và đường Hồ ChíMinh Phía Đông giáp KBTTN Phong Điền (huyện Phong Điền- Thừa ThiênHuế) Như vậy, KBTTN ĐaKrông nằm ở khu vực giáp ranh giữa 4 huyện, 2tỉnh và cách biên giới Việt – Lào gần nhất là 8 km (cửa khẩu La Lay)
Diện tích KBTTN ĐaKrông là 37.640 ha, bao gồm một phần hoặc toàn bộdiện tích của 7 xã; Hải Phúc, Ba Lòng, Triệu Nguyên, Tà Long, Húc Nghì, ABung (thuộc huyện Đa Krông, tỉnh Quảng Trị) và xã Hồng Thuỷ (thuộchuyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế)
Trang 20Hình 2- 1: SƠ ĐỒ QUY HOẠCH KBTTN ĐAKRÔNG
Trang 212.1.2 Địa hình
Địa hình khu bảo tồn thuộc phần phía Nam của dãy Trường Sơn Bắc, chủyếu là đồi núi thấp và trung bình chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam dọcranh giới 2 tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế Trong đó các đỉnh cao điểnhình từ Bắc vào Nam: Tà Lao (813m), Đá Bàn (678m), Ba Sai (848m), Ba Lê(1069m), Ton Bhai (1143m), Ca cút (1315), A Phong (1021m),Valadut(1208m), ADoa (1155m), Cay Đrụt (871m) rồi thấp dần xuống đếnđèo Peke là yên ngựa của dãy núi Dốc Con Mèo Đây cũng là nơi xuất phátcủa các dòng suối vùng thượng nguồn sông Đa Krông, với độ cao, độ dốcgiảm dần dọc theo thung lũng sông ĐaKrông đến đồng bằng Ba Lòng
Nhìn chung, địa hình KBTTN ĐaKrông bị chia cắt khá mạnh do lịch sửkiến tạo địa chất và tạo sơn hình thành, chúng có đặc điểm chung là: núi thấp,dốc ngắn, độ chia cắt sâu và độ dốc khá lớn
2.1.3 Thuỷ văn
Sông ĐaKrông là một nhánh lớn nhất của sông Thạch Hãn bao kín gần như
cả 3 mặt của khu bảo tồn (phía Nam, phía Tây và phía Bắc) Sông ĐaKrông
có ảnh hưởng rất lớn đến việc vận chuyển hàng hoá theo đường thuỷ, thuỷ lợi,thuỷ điện, tưới tiêu cho các cánh đồng vùng hạ lưu Tổng diện tích lưu vực là1.300km2 Lưu lượng mùa hè 7.000m3/s, lưu lượng mùa kiệt 10m3/s Dòngsông dài hơn 145km, chiều rộng biến động 50 - 200m Ngoài ra, trong vùngcòn có hệ thống suối có nước quanh năm và khe cạn chỉ có nước trong mùamưa
Nhìn chung, hệ thống sông suối trong KBTTN ĐaKrông khá dầy đặcnhưng các sông suối thường ngắn, dốc, lắm ghềnh thác, cửa sông hẹp nênmùa mưa lượng nước sông thường dâng cao Mùa khô lưu lượng nước củacác con sông giảm xuống, nước triều thường chảy ngược lên nguồn xa cửasông đến 15 – 20 km gây ảnh hưởng mặn đối với ruộng đồng hai bên bờ sông
Trang 22(Hình 2-2: Bản đồ địa hình - thuỷ văn của KBTTN ĐaKrông)
Trang 232.1.4 Khí hậu
Khu bảo tồn thiên nhiên ĐaKrông nằm trong miền khí hậu Đông TrườngSơn Về cơ bản vùng này có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông còn tươngđối lạnh Tuy nhiên, địa hình khu vực bị chia cắt mạnh đã ảnh hưởng đến hoànlưu khí quyển và tạo nên sự khác biệt/phân hoá lớn khí hậu trong khu vực
+ Mùa hè; do có sự hoạt động của gió Tây nên thời tiết rất nóng và khô, kéodài 3 - 4 tháng (tháng 5- tháng 7), nhiệt độ trung bình lên trên 250C Thángnóng nhất là tháng 6, tháng 7 nhiệt độ trung bình lên tới 290C Nhiệt độ caonhất tuyệt đối lên tới 39 - 400C Độ ẩm trong các tháng này có thể xuống dưới30%
Chế độ mưa ẩm:
+ Vùng này có lượng mưa rất lớn, trung bình hàng năm tổng lượng mưa đạttới 2500 - 3000mm, 90% tập trung trong mùa mưa Hai tháng có lượng mưalớn nhất là tháng 10, tháng 11 và thường kèm theo lũ lụt Mùa khô từ tháng 2đến tháng 7, tuy nhiên từ tháng 2 – tháng 3 còn có mưa phùn vì ảnh hưởngcủa gió mùa Đông Bắc, tháng 4, 5, 6 và tháng 7 là những tháng khô nhất vàlượng mưa bốc hơi cũng cao nhất
+ Độ ẩm không khí trung bình đạt 85 - 87% Trong mùa mưa độ ẩm lên tới90% Tuy vậy, những giá trị cực đoan thấp về độ ẩm vẫn thường đo đượctrong thời kì khô nóng kéo dài
Trang 242.1.5 Thổ nhưỡng
Được hình thành trên một nền địa chất phức tạp (có nhiều đứt gãy và nhiềuloại đá mẹ tạo đất khác nhau) cộng với sự phân chia khí hậu, thuỷ văn đadạng và phong phú nên có nhiều loại đất được tạo thành trong khu vực:
- Đất Felarit có mùn trên núi trung bình (FH): được hình thành trong điều
kiện; nóng ẩm và không có nước đọng, không kết vón, phát triển trên đáMacma bazơ và trung tính Đất có tỷ lệ đá lẫn cao, thành phần cơ giới mịn vànặng, tầng đất trung bình, màu đỏ, có nhiều mùn do còn nhiều rừng che phủ.Loại đất này phân bố ở độ cao từ 800m đến 1500m, tập trung trên dãy núithuộc ranh giới giữa Quảng Trị và Thừa Thiên Huế
- Nhóm đất Feralit đỏ phát triển ở vùng đồi núi thấp (F): là loại đất có quá
trình Feralit điển hình, màu sắc phụ thuộc vào từng loại đá mẹ Loại đất nàyphân bố ở độ cao dưới 800m Trong đó điển hình là:
+ Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét (Fs): thành phần cơgiới nặng, tầng đất dày, đất tốt, không có đá lẫn Phân bố ở Triệu Nguyên, BaLòng, Hải Phúc
+ Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá Macma bazơ và trung tính (Fk):thành phần cơ giới nặng, tầng đất dày, màu nâu, kết cấu tốt, không có đá lẫntrong tầng đất Phân bố chủ yếu ở các xã Tà Long, Húc Nghì và A Bung
- Đất dốc tụ và đất phù sa sông suối trong các thung lũng (DL): là loại đất
phì nhiêu, tầng dày, màu nâu, thành phần cơ giới chủ yếu là cát pha với thịtnhẹ, giàu dinh dưỡng Phân bố dọc các sông suối trong vùng, tập trung nhiều
ở vùng hạ lưu sông ĐaKrông (địa phận xã Ba Lòng)
2.1.6 Thảm thực vật
Thảm thực vật KBTTN Đa Krông thuộc 2 kiểu rừng chính là; rừng kínthường xanh nhiệt đới ở độ cao dưới 800m so với mặt biển và rừng kín
Trang 25thường xanh á nhiệt đới ở độ cao trên 800m Tuy nhiên, các kiểu rừng này đã
bị tác động và chuyển thành các dạng khác nhau của quá trình diễn thế:
a)Rừng kín thường xanh cây lá rộng á nhiệt đới núi thấp
Kiểu rừng này phân bố từ độ cao 800m đến 1500m, tập trung dọc theoranh giới giữa Quảng Trị và Thừa Thiên Huế từ đỉnh Ba Lê đến đỉnh A Doa
có diện tích; 5.000 ha, chiếm 13,3% tổng diện tích khu bảo tồn
Kiểu rừng này ít bị tác động, về cơ bản còn giữ được nguyên sinh Rừng cócấu trúc 4 tầng, độ tàn che 0,7 - 0,8 Thực vật chiếm ưu thế là các loài cây lá
rộng thuộc các họ Dẻ (Fagaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Thầu dầu (Euphoribiaceae), họ Đậu (Leguminoisae), họ Ngọc Lan (Magnoliaceae), họ Sến (Sapotaceae) Trong đó phải nói đến các loài cây đóng vai trò lập quần như Cà ổi (Castanopsis indicac), Sồi (Lithocarpus dussaudi), Dẻ đá (Lithocarpus coatilus), Dẻ cau (Quercus fleuhy) thuộc họ Dẻ, hay loài Cứt ngựa (Archidendron tonkinense) thuộc họ Thầu dầu, một số loài trong chi Re (Cinnamomum) thuộc họ Long não và các loài gỗ tốt thuộc họ Ngọc Lan như:
Vàng Tâm (Manglietia dandy, Manglietia fordiana), Giổi thơm (Tsoongiodendron) Ở các đỉnh núi cao trên 1.200m vai trò lập quần thuộc về loài Dẻ lá tre (Quercus bambusae folia), Cứt ngựa, Re, Côm tầng (Elaeo carpus dubius), Giổi, Cũng ở độ cao này, đáng lưu ý là Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus), Hoàng đàn giả (Dacrydium eletum) và Thông tre (Podocarpus neryifoliu) là các loài cây gỗ quý hiếm có giá trị kinh tế cao và
kích thước cao lớn, chiếm tầng vượt tán của lâm phần
Các loài cây gỗ của kiểu rừng này có đường kính tương đối lớn, trung bình
25 30 cm, chiều cao bình quân 20 25m, trữ lượng bình quân 200 250m3/ha Những nơi đất bằng, dễ dàng gặp các cây có đường kính lớn trên50cm, thậm chí trên 100cm đó là các loài Sến mật, Dẻ, Giổi, thông Nàng
-(Podocarpus imbricatus), Gội (Aglaia)
Trang 26b Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới đất thấp
Kiểu rừng này còn lại một diện tích 4.300ha, chiếm 11,4% tổng diện tíchkhu bảo tồn, phân bố ở độ cao dưới 800m phía Nam khu bảo tồn Kiểu quầnthụ này mới bị tác động nhẹ, về căn bản còn giữ được tính nguyên sinh, rừng
có cấu trúc 4 tầng Thành phần thực vật có mặt hầu hết các họ thực vật nhiệtđới ở Việt Nam, tuy nhiên sự ưu thế của các loài và các ưu hợp thực vật rất
khó xác định Các họ thường gặp là: họ Đậu (Leguminoisae), họ Thầu dầu (Euphoribiaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Cam (Rutaceae), họ Hoa hồng (Rosaceae), họ Xoan (Meliaceae) Ở đây có mặt đồng thời đại diện của luồng thực vật phía Nam, phía Tây Nam đến như: Chò Xanh (Terminalia myriocarpa), và một số loài rụng lá như Săng lẻ (Lagerstroemia tomentosa), Thung (Tetrameles nudiflora),…
c Rừng kín thường xanh nhiệt đới phục hồi sau khai thác chọn
Diện tích 13.714 ha, chiếm 36,4 % tổng diện tích khu vực, phân bố tậptrung ở phía Bắc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
Kiểu rừng này có nguồn gốc từ rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới,nhưng do các hoạt động khai thác gỗ xây dựng và thương mại đã làm suygiảm chất lượng rừng Các loài cây gỗ lớn có giá trị kinh tế cao bị khai thác
chọn đến cạn kiệt như Lim Xanh (Erythrophleum fordii), Giổi (Manglietia Michelia), Re (Cinnamomum), Sưa (Albizia tonkinesis) Trong lâm phần chỉ
còn lại một ít các cây gỗ tốt nhưng cong queo hoặc rỗng ruột, các cây gỗ chất
lượng xấu giá trị kinh tế thấp như: Ngát (Gironniera subequalis), Quyếch (Chisocheton), Chẹo (Ergelhardtia), Chay, Trôm
Tán rừng bị phá vỡ nhiều, nên đã tạo điều kiện cho các loài cây ưa sáng
thâm nhập như: Vạng (Endospermum chinense), Lõi thọ (Gmelina arborea),
Ba soi (Macarenga balansae) Ven suối có các loài cây chất lượng gỗ xấu như: Sổ (Dillenia), Lộc mại (Claoxylon hainanensis),
Trang 27d Rừng kín thường xanh nhiệt đới phục hồi sau nương rẫy và khai thác kiệt
Diện tích 4.791 ha, chiếm 12,8% tổng diện tích KBT, phân bố tập trung ởphân khu phục hồi sinh thái 1(thuộc các xã; Ba Lòng, Triệu Nguyên, HảiPhúc) và rải rác ven sông suối, gần thôn bản các xã Tà Long, Húc Nghì, ABung
Kiểu rừng này có nguồn gốc từ rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới,nhưng do các hoạt động nương rẫy và khai thác trắng đã làm mất đi lớp thảmrừng nguyên sinh, sau đó được bỏ hoá nhiều năm và rừng non đã xuất hiện.Thảm thực vật rừng chủ yếu là các loài cây ưa sáng, mọc nhanh như: Vạng
(Endospermum chinense), Màng tang (Litsea cubeba), Bời lời (Litsea mollis).
Hu đay (Treman orientalis), Ba soi (Macarenga spp), Sòi (Sapium spp), Dẻ (Qercus spp) Những nơi ven suối chủ yếu là các loài Vả, Sung, Ngoãn, Cọ nọt (Ficus), Phay vi (Duabanga grandiflora),
e Rừng hỗn giao Tre nứa-Gỗ phục hồi sau nương rẫy và khai thác kiệt
Kiểu rừng này có 8.025 ha, chiếm 21,3% tổng diện tích khu vực, phân bốtập trung ở phân khu phục hồi sinh thái 2 Kiểu rừng này cũng có nguồn gốc
từ kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và là hậu quả trực tiếp củaquá trình rải chất độc hóa học trong chiến tranh, làm nương rẫy và khai tháckiệt Rừng cây gỗ chưa phục hồi lại thì đã có các loài họ Tre nứa
(Bambusaceae) xâm lấn.
f Trảng cỏ cây bụi thứ sinh nhân tác
Trạng thái này có diện tích tương đối lớn 1.660 ha, chiếm 4,4% tổng diệntích khu vực, phân bố gần các làng bản, ven đường và tập trung nhiều ở các
xã Hải Phúc, Triệu Nguyên, Tà Long và A Bung Đây cũng là hậu quả trựctiếp của qúa trình canh tác nương rẫy lâu dài và của chiến tranh Đầu tiên làlớp thảm cây gỗ bị chặt trắng và đốt lấy đất canh tác Sau nhiều lần như thếđất bị rửa trôi mạnh, tầng đất nông và xương xẩu, chỉ thích hợp đối với các
Trang 28loại cây bụi và cỏ như: Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Chè vè (Miscanthus sinensis), Sầm (Memeccylon fruticosum), Mua (melastoma normale), Cỏ tranh (Imperata cylindrica), Lau (Erianthus), Cỏ gà (Cynodon dactylon), Ngoài ra còn xuất hiện cả Tế guột (Dicranopteris linearic) là loài dương xỉ lá
cứng mọc được ở những điều kiện khắc nghiệt, khô hạn Hiện tượng tái sinhcủa các loài cây gỗ hoàn toàn không thấy có
g Núi đá không cây
Kiểu sinh cảnh này có diện tích 150 ha, chiếm 0,4% tổng diện tích khu vực,chỉ có ở phân khu hành chính- dịch vụ dọc theo đường 14 từ cầu Đa Krôngvào trụ sở ban quản lý KBT
Tuy không có cây gỗ lớn, nhưng cũng có những loài cây bụi ưa ẩm pháttriển trong các thung lũng và các loài cây chịu hạn phát triển trên dông núi.Các loài thích nghi ở vùng núi đá này chủ yếu vẫn là các loài thuộc họ Dâu
tằm (Moraceac), Họ ôrô (Acanthaceae), Ngoài ra còn có các họ Tử vi, Sim,
Thiên lý, đặc biệt có nhiều loài dây leo chằng chịt rất phong phú làm cho cảnhsắc không đơn điệu
Trang 29(Hình 2-3: Bản đồ hiện trạng thảm thực vật của KBTTN ĐaKrông)
Trang 30ĐaKrông khá giàu về thành phần loài, đây là nguồn thức ăn phong phú chocác loài động vật tiêu thụ cấp 1 trong đó có nhóm thú.
- Trong số 193 loài chim, có 20 loài được ghi trong Sách Đỏ Thế Giới(IUCN, 2008) và 19 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), 4 loài đặc
hữu cho Việt Nam (Gà Lôi Lam Mào Trắng, Gà Lôi Lam Mào Đen, Gà so Trung Bộ và Khiếu mỏ dài) và 4 loài đặc hữu cho Việt Nam và Lào.
- Trong số 17 loài ếch nhái, có 8 loài được ghi trong Sách Đỏ Thế Giới(IUCN, 2008) và 12 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007)
2.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ- XÃ HỘI
2.2.1 Dân số, phân bố dân cư và lao động
Vùng đệm của KBTTN ĐaKrông có 4.144 hộ, 23.172 nhân khẩu, phân bốtrong 11 xã (Cục thống kê Quảng Trị, 2007) Nhân khẩu trong một hộ khácao, bình quân 6 người/hộ, nhiều hộ gia đình đông hơn 10 người và có từ 3-4
Trang 31thế hệ cùng chung sống Trong những năm gần đây, dân số trong khu vựctăng khá nhanh, song sự phân bố dân cư không đồng đều theo địa bàn từng
xã Tại các xã gần thị trấn, ven đường quốc lộ hay các đường dân sinh lớn tậptrung đông đúc, ngược lại các xã vùng cao, xa, dân cư rất thưa thớt Mật độdân số trung bình: 27,6 người/km2
Trong KBTTN ĐaKrông có 3 dân tộc cùng chung sống, trong đó dân tộcVân Kiều chiếm đại đa số (42,9%), dân tộc Kinh- 28,6% và dân tộc Pa Kô-28,5% (Cục thống kê Quảng Trị, 2007)
Toàn khu vực có 15.220 lao động, chiếm 66% dân số Trong đó có 7.552lao động Nam- chiếm 49,6% và 7.668 lao động Nữ- chiếm 50,4% (Cục thống
kê Quảng Trị, 2007)
Lao động tập trung chủ yếu ở khối sản xuất nông nghiệp Nếu đem cân đối
đủ số lao động cho sản xuất nông nghiệp thì còn dôi ra từ 25-35% số lao độnghiện có (Ban quản lý KBTTN ĐaKrông, 2006) Đây là nguồn lao động dồidào có thể huy động vào việc sản xuất lâm nghiệp, xây dựng KBT và pháttriển lâm nghiệp xã hội
2.2.2 Các hoạt động sản xuất
Trồng trọt: Đất nông nghiệp có 5.624 ha chiếm 4,6% tổng diện tích đất tự
nhiên (Cục thống kê Quảng Trị, 2007) Sản lượng cây trồng ngày một tăng,nhưng tăng qua các năm không đồng đều Lúa nước là nguồn thu nhập chínhcủa người dân, nhưng năng suất lúa còn thấp Nguyên nhân năng suất thấp làdo; thiếu nước tưới, đồng ruộng không được thâm canh cải tạo nên đất bị bạcmàu dần trong quá trình canh tác, và chưa áp dụng các biện pháp canh tác tiêntiến như bón phân, làm đất hay nông lâm kết hợp
Bình quân lương thực đầu người; 18,5kg/tháng Số hộ đói nghèo (thu nhậpbình quân nhỏ thua 200.000đồng/người/tháng) của 11 xã vùng đệm lên tới2.488 hộ chiếm 60% tổng số hộ (Cục thống kê Quảng Trị, 2007) Người dân
Trang 32đói nghèo phải tìm nguồn sống từ khai thác tài nguyên rừng đã làm cho banquản lý KBTTN ĐaKrông và các cấp chính quyền địa phương rất khó kiểmsoát.
Chăn nuôi: Chăn nuôi có điều kiện phát triển trong khu vực do diện tích
đất tự nhiên lớn có thể chăn thả đại gia súc Tuy nhiên nếu không quy hoạchbãi chăn thả hợp lý sẽ mâu thuẫn với hoạt động trồng trọt và bảo vệ rừng.Tổng đàn gia cầm, gia súc của huyện là: Trâu 5.282con; Bò 4.011con; Lợn10.893con; Ngựa 59 con; Dê 3.465con; Gia cầm 53.140con (Cục thống kêQuảng Trị, 2007)
2.2.3 Cơ sở hạ tầng
Giao thông vận tải: Có 2 đường quốc lộ đi qua địa bàn là: Quốc lộ số 9 từ
km 31 đến km 56 và đường Hồ Chí Minh từ cầu Đa Krông đến km 50 theohướng đi Tây Nguyên Các tuyến đường nội huyện đã được thi công, bảo vệchống sạt lở trên các tuyến giao thông sẵn có
Hệ thống giáo dục: Hệ thống giáo dục cũng gặp nhiều khó khăn do thiếu
giáo viên, trường, lớp Cấp học mầm non có 72 lớp, 84 giáo viên và 1.414cháu; cấp học phổ thông có 23 trường, 377 lớp, 485 giáo viên và 8.148 họcsinh (Cục thống kê Quảng Trị, 2007)
Công tác văn hoá thông tin: Đài phát thanh và truyền hình huyện thực hiện
cấp tivi, radio cho trụ sở uỷ ban xã, và cho các đối tượng chính sách Hiện nay
6 xã đã có điểm bưu điện văn hoá, 14 xã được phủ sóng phát thanh truyềnhình, 926 điện thoại, báo chí được phát hành đến tất cả các xã (Cục thống kêQuảng Trị, 2007) Như vậy là rất thuận lợi cho công tác tuyên truyền, nângcao nhận thức bảo tồn cho người dân
Trang 33Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu chung của đề tài là tạo lập cơ sở khoa học cho công tác bảo tồntính đa dạng sinh học thú ở khu bảo tồn thiên nhiên ĐaKrông Các mục tiêu
cụ thể là:
- Xác định tầm quan trọng của KBTTN ĐaKrông về mặt bảo tồn tính đadạng sinh học thú;
- Phân cấp mức độ đe doạ đến một số nhóm loài thú;
- Xác định các khu vực ưu tiên bảo tồn thú trong khu bảo tồn;
- Xác định các nguyên nhân sâu xa (kinh tế- xã hội) gây suy thoái đa dạngsinh học thú;
- Phát hiện kiến thức bản địa về săn bắt, sử dụng, bảo vệ tài nguyên thú vàtiềm năng ứng dụng các kiến thức bản địa đó vào công tác bảo tồn đa dạngsinh học;
- Đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn đa dạng sinh học thú
3.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Lớp thú (Mammalia) tại khu bảo tồn thiên nhiên ĐaKrông;
- Cộng đồng dân cư 2 xã (Ba Lòng, Húc Nghì) và những hoạt động củacộng đồng liên quan đến tài nguyên thú
Trang 34(Hình 3-1: Vị trí xã Húc Nghì và xã Ba Lòng trong KBTTN ĐaKrông)
Trang 353.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để đạt được các mục tiêu đã đề ra, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các nộidung sau:
- Nghiên cứu thành phần phân loại thú ở KBTTN ĐaKrông;
- Tìm hiểu giá trị bảo tồn của khu hệ thú ở KBTTN ĐaKrông;
- Nghiên cứu yêu cầu sinh thái và hiện trạng quần thể của các loài thú có giátrị bảo tồn cao tại KBTTN ĐaKrông;
- Nghiên cứu các đe doạ đối với khu hệ thú và đa dạng sinh học ở KBTTNĐaKrông;
- Tìm hiểu vấn đề; khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên sinh vật củacộng đồng địa phương;
- Đánh giá hiện trạng công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học tại KBTTNĐaKrông
3.4 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Luận văn được thực hiện từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 đến ngày 15 tháng 9năm 2008 Chia làm 5 giai đoạn như sau:
- Thu thập, phân tích tài liệu và hoàn thiện đề cương nghiên cứu: từ ngày01/7/2007 đến 14/9/2007;
- Khảo sát thực địa tại KBTTN ĐaKrông đợt 1: từ ngày 02/11/2007 đến15/11/2007;
- Xử lý số liệu đợt 1 và xác định những thiếu hụt cần điều tra bổ xung: từngày 26/11/2007 đến 15/12/2007;
- Phân tích các mẫu vật thú gậm nhấm và Dơi tại phòng bảo tàng- Việnsinh thái và tài nguyên sinh vật: từ ngày 17/12/2007 đến 21/12/2007;
- Khảo sát thực địa tại KBTTN ĐaKrông đợt 2: từ ngày 25/02/2008 đến25/03/2008;
Trang 36- Xử lý số liệu tổng thể và hoàn thiện luận văn: từ ngày 26/03/2008 đến15/09/2008.
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Kế thừa có chọn lọc từ các nguồn tài liệu sẵn có
Tiêu chí chúng tôi lựa chọn nguồn tài liệu sẵn có là:
- Các bài báo đã đăng trên tạp chí chuyên ngành hoặc trên mạng internet;
- Các báo cáo trong hội nghị khoa học hoặc các dữ liệu khác (bản đồ, ảnh,báo cáo,…) là sản phẩm của các dự án;
- Các sách chuyên khảo có ghi rõ tên nhà xuất bản, cơ quan xuất bản
Kế thừa cơ sở dữ liệu GIS đã được số hóa trên môi trường MapInfo 7.5 củaChi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị gồm: ranh giới khu bảo tồn, ranh giới phânkhu chức năng và ranh giới tiểu khu, hiện trạng thảm thực vật, ranh giới 7 xã
có diện tích nằm trong khu bảo tồn, đường đồng mức, điểm độ cao, sông suối,khu dân cư,… Các dữ liệu này được chọn lọc và kết hợp với số liệu của cácđợt khảo sát thực địa để biên tập các bản đồ chuyên đề như; địa hình- thuỷvăn, hiện trạng thảm thực vật, tuyến điều tra, phân bố của một số loài thútrong KBT, phân cấp mối đe doạ, khu vực ưu tiên bảo tồn thú,…
Thu thập dữ liệu từ các bài báo, sách chuyên khảo, báo cáo chuyên đề vềkhu hệ thú tại KBTTN ĐaKrông và các khu bảo tồn khác như; VQG Pù Mát,VQG Phong Nha, Các dữ liệu này cùng với các thông tin từ phỏng vấnngười dân, phân tích mẫu vật và điều tra thực địa sẽ xây dựng danh lục thúKBTTN ĐaKrông, đánh giá tính đa dạng loài và xác định hiện trạng quần thểcủa một số loài
3.5.2 Phỏng vấn cán bộ của khu bảo tồn ĐaKrông và dân cư địa phương
Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) được áp dụng khi lần đầuđến khảo sát tại KBTTN ĐaKrông để có số liệu hỗ trợ cho các thông tin thuđược qua khảo sát thực địa
Trang 37Phỏng vấn các cán bộ kiểm lâm của khu bảo tồn và dân cư địa phương, đặcbiệt những người là thợ săn trước đây để có các thông tin sơ bộ về thành phầnloài thú và tình trạng của các loài thú trong khu bảo tồn.
Các thông tin về hiện trạng công tác quản lý bảo vệ rừng; những hoạt độngcủa KBT và các chương trình bảo tồn mà KBT đã thực hiện được thu thậpqua phỏng vấn giám đốc và trưởng phòng kỹ thuật của KBTTN ĐaKrông,trạm trưởng trạm kiểm lâm Hải Phúc, trưởng ban lâm nghiệp xã Húc Nghì.Phỏng vấn 180 hộ gia đình thuộc 6 thôn của 2 xã Húc Nghì và Ba Lòng để
có được những thông tin về kinh tế- văn hoá của các hộ cũng như nhữngthông tin về các loài thú hoang dã, mức độ phụ thuộc vào tài nguyên thúhoang của các hộ gia đình và thông tin về các thợ săn giàu kinh nghiệm Tất
cả các thông tin thu được qua phỏng vấn hộ gia đình được ghi vào mẫu biểuchuẩn bị sẵn
3.5.3 Phân tích các mẫu vật lưu trữ và săn bắt
Nguồn thông tin về các loài Dơi và thú gậm nhấm chủ yếu dựa vào phântích mẫu vật tại trụ sở ban quản lý KBTTN ĐaKrông và phòng bảo tàng- Việnsinh thái& tài nguyên sinh vật Ngoài ra Chà vá chân nâu và Bò tót cũng đượcghi nhận qua phân tích mẫu vật khô tại trụ sở ban quản lý khu bảo tồn
Nguồn thông tin về các loài; Sơn dương, Mang lớn, Nai được ghi nhận quaphân tích mẫu vật sừng và thịt tại nhà người dân Ngoài ra, Thỏ vằn, Khỉvàng, Khỉ đuôi lợn, Khỉ mặt đỏ, Hoẵng, Cầy vòi mốc, Cầy móc cua, Dúi mốc,Đon và Nhím được ghi nhận qua phân tích mẫu vật sống tại nhà người dân
3.5.4 Điều tra khảo sát theo tuyến
Điều tra theo các đường mòn từ khu dân cư vào sâu trong rừng để quan sátphát hiện các loài thú, đánh giá tình trạng sinh cảnh và các tác động của conngười Các ghi nhận về thú được thu thập thông qua quan sát thú trưc tiếpbằng mắt thường hoặc ống nhòm, tiếng kêu và các dấu vết hoạt động khác của
Trang 38thú (dấu chân, phân, hang, tổ,…) Từ mỗi thôn chúng tôi lập một tuyến điềutra và nhờ người dân dẫn đường Mỗi tuyến điều tra 2 lần Sơ đồ 6 tuyến điềutra được thể hiện ở hình 05, hình 06 và mô tả chi tiết như sau:
+ Tuyến 1: Từ thôn La Tó tới khe A Cho và đồi Miếu; Tuyến có chiều dài7,8 km, đi qua 5 dạng sinh cảnh; nương rẫy, rừng kín thường xanh nhiệt đớiphục hồi sau khai thác chọn, rừng hỗn giao tre nứa- gỗ phục hồi sau khai tháckiệt& nương rẫy, rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, và rừng kín thườngxanh á nhiệt đới
+ Tuyến 2: Từ thôn Cựp tới khe BaLê; Tuyến có chiều dài 2.5km, đi qua 3dạng sinh cảnh; ruộng nước, nương rẫy, và rừng hỗn giao tre nứa-gỗ phục hồisau khai thác kiệt& nương rẫy
+ Tuyến 3: Từ thôn 37 tới khe Lasan; Tuyến có chiều dài 2,6km, đi qua 4dạng sinh cảnh; trảng cỏ- cây bụi, nương rẫy, rừng kín thường xanh mưa ẩmnhiệt đới, và rừng hỗn giao tre nứa- gỗ phục hồi sau khai thác kiệt& nươngrẫy
+ Tuyến 4: Từ thôn Vạn đá nổi qua sông Thạch Hãn tới đồi Không tên vàchòi canh lửa; Tuyến có chiều dài 5,1 km, đi qua 3 dạng sinh cảnh; rừngtrồng, rừng hỗn giao tre nứa- gỗ phục hồi sau khai thác kiệt& nương rẫy, vàrừng kín thường xanh nhiệt đới phục hồi sau khai thác kiệt& nương rẫy
+ Tuyến 5: Từ thôn Hà Vụng tới đỉnh khe Nhánh; Tuyến có chiều dài 3,8
km, đi qua 3 dạng sinh cảnh; ruộng nước, nương rẫy, và rừng kín thường xanhnhiệt đới phục hồi sau khai thác kiệt& nương rẫy
+ Tuyến 6: Từ thôn Khe Cau tới đỉnh khe Ba Tranh và khe Thù Lụ; Tuyến
có chiều dài 3,8 km, đi qua 3 dạng sinh cảnh; trảng cỏ-cây bụi, nương rẫy, vàrừng kín thường xanh nhiệt đới phục hồi sau khai thác kiệt& nương rẫy
Trang 39(Hình 3-2: Bản đồ các tuyến điều tra tại xã Húc Nghì)
Trang 40(Hình 3-3: Bản đồ các tuyến điều tra tại xã Ba Lòng)