1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu hiện trạng tài nguyên cây thuốc tại xã cát thịnh, huyện văn chấn, tỉnh yên bái

137 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 4,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, có nền y học dân tộc phát triển nên trong số cây thuốc đã biết hiện nay có tới 80% số loài khoảng trên 4.000 loài là được sử dụng theo kinh ngh

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

TS.VƯƠNG DUY HƯNG

Hà Nội, 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

Ngày 25 tháng 10 năm 2019

Học viên

Vũ Đình Trường

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Được sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các thầy, cô trong Khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường, Phòng Sau đại học, Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam bản luận văn thạc sỹ này đã được hoàn thành Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ quí báu đó Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn tới giáo viên hướng dẫn, UBND xã Cát Thịnh, Hạt Kiểm lâm huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái và nhóm sinh viên K61 QLTNR của Trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Ngày 25 tháng 10 năm 2019

Học viên

Vũ Đình Trường

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

CHương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 17

2.1.1 Mục tiêu chung 17

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 17

2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 17

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 17

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 17

2.3 Nội dung nghiên cứu 17

2.4 Phương pháp nghiên cứu 18

2.4.1 Phương pháp điều tra thành phần loài 18

2.4.2 Phương pháp xác định hiện trạng phân bố cây thuốc tại khu vực nghiên cứu24 2.4.3 Phương pháp xác định tình hình khai thác sử dụng tài nguyên cây thuốc 25

2.4.4 Phương pháp xây dựng giải pháp quản lý và phát triển tài nguyên cây thuốc cho khu vực nghiên cứu. 25

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 27

3.1 Điều kiện tự nhiên 27

3.1.1 Vị trí địa lý 27

3.1.2 Địa hình, địa mạo 27

3.1.3 Khí hậu 28

3.1.4 Địa chất, thổ nhưỡng 29

3.1.5 Tài nguyên rừng 30

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 32

Trang 5

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Thành phần loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu 34

4.1.1 Danh lục thực vật làm thuốc tại khu vực nghiên cứu 34

4.1.2 Đa dạng về các taxon thực vật làm thuốc tại khu vực nghiên cứu 35

4.1.3 Những loài cây thuốc có giá trị bảo tồn tại khu vực nghiên cứu 36

4.1.4 Dạng sống của cây thuốc tại khu vực nghiên cứu 39

4.2 Hiện trạng phân bố cây thuốc tại khu vực nghiên cứu 40

4.3 Hiện trạng sử dụng cây thuốc tại khu vực nghiên cứu 41

4.3.1 Đa dạng về bộ phận sử dụng 41

4.3.2 Mùa vụ thu hái cây thuốc tại khu vực nghiên cứu 45

4.3.3 Giá trị sử dụng của tài nguyên cây thuốc tại khu vực nghiên cứu 46

4.3.4 Tình hình gây trồng cây thuốc 54

4.3.5 Tình hình buôn bán 54

4.4 Đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển tài nguyên cây thuốc cho khu vực nghiên cứu 55

4.4.1 Những tác động bất lợi đến tài nguyên cây thuốc tại địa phương 55

4.4.2 Đề xuất các giải pháp bảo tồn cây thuốc tại khu vực nghiên cứu 57

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Đa dạng về các taxon thực vật làm thuốc xã Cát Thịnh 34

Bảng 4.2.Danh sách các họ cây thuốc nhiều loài tại khu vực nghiên cứu 35

Bảng 4.3 Danh sách các chi cây thuốc nhiều loài tại khu vực nghiên cứu 36

Bảng 4.4 Danh sách các họ cây thuốc đơn loài tại khu vực nghiên cứu 37

Bảng 4.5: Thành phần cây thuốc quý hiếm tại khu vực nghiên cứu 38

Bảng 4.6 Tỷ lệ dạng sống của cây thuốc tại khu vực nghiên cứu 39

Bảng 4.7 Các dạng sinh cảnh sống của cây thuốc tại khu vực nghiên cứu 41

Bảng 4.8 Đa dạng về bộ phận sử dụng của cây thuốc 42

Bảng 4.9 Mùa vụ thu hái cây thuốc 45

Bảng 4.10 Danh sách các loài cây thuốc theo nhóm công dụng 46

Bảng 4.11: Tỷ lệ các công dụng khác của cây thuốc tại khu vực 53

nghiên cứu 53

Bảng 4.12 Tình hình mua bán cây thuốc tại khu vực nghiên cứu 54

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay không chỉ Việt Nam mà trên thế giới, với xu hướng "Trở vềthiên nhiên" thì việc sử dụng các thuốc từ dược liệu của người dân ngày càng gia tăng, ít có những tác động có hại và phù hợp với qui luật sinh lý của cơ thể hơn Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), khoảng 80% dân số hiện nay trên thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm sóc sức khoẻcộng đồng (Akérelé) Sự quan tâm về các hệ thống y học cổ truyền và đặc biệt

là các loại thuốc thảo dược ngày càng gia tăng tại các nước phát triển và đang phát triển, thị trường thảo dược trong nước, quốc tế đã và đang tăng trưởngnhanh chóng, mang lại rất nhiều lợi nhuận kinh tế Theo Ban Thư ký Công

ước về đa dạng sinh học, doanh số toàn cầu của các sản phẩm thảo dược ướctính tổng cộng 80 tỷ USD vào năm 2002 và chủ yếu ở thị trường Châu Mỹ,Châu Âu và Châu Á Vì vậy quốc gia nào cũng có chương trình điều tra và tái điều tra nguồn tài nguyên dược liệu trong kế hoạch bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học của đất nước mình

Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra cơ bản của Viện Dược liệu (Bộ Y tế)đến năm 2004, đã phát hiện được 3.948 loài, thuộc 1.572 chi và 307 họ thựcvật có công dụng làm thuốc Trong số đó, trên 90% tổng số loài là cây thuốcmọc tự nhiên, chủ yếu trong các quần hệ rừng và rừng cũng là nơi tập trung hầu hết cây thuốc quý có giá trị sử dụng và kinh tế cao Tuy nhiên, cùng vớihậu quả do suy giảm về diện tích và chất lượng rừng, tình trạng khai thác bừabãi, thiếu tổ chức, không có kế hoạch, không có hướng dẫn khai thác gắn vớibảo tồn, phát triển bền vững, dẫn đến một số loài cây thuốc mọc tự nhiên có nguy cơ cạn kiệt hoặc tiệt chủng Nhằm "Quản lý, khai thác và sử dụng bềnvững nguồn tài nguyên dược liệu phục vụ cho mục tiêu phát triển y tế và kinh tế; chú trọng bảo hộ, bảo tồn và phát triển nguồn gen dược liệu quý, có giá trị;giữ gìn, phát huy và tăng cường bảo hộ vốn tri thức truyền thống về sử dụng

Trang 9

cây thuốc của cộng đồng các dân tộc", Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệtQuy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đếnnăm 2030 tại Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013

Tại Yên Bái, theo khảo sát ban đầu của Hội Đông y tỉnh, hiện có hàng nghìn loài cây thuốc và hàng trăm bài thuốc gia truyền, cùng với các tỉnh Lào Cai, Sơn La và Lai Châu, Yên Bái được mệnh danh là núi thuốc của Tây Bắc Tuy nhiên, do thiếu các thông tin về các loài cây thuốc hiện có trên địa bàn nên định hướng phát triển mới xác định được 29 loài (Ba kích, Đinh lăng, Địa liền, Giảo cổ lam, Ích mẫu, Kim tiền thảo, Quế, Sả, Sa nhân tím, Ý dĩ, Bạch chỉ, Bạch truật, Địa hoàng, Hoài sơn (củ mài), Bình vôi, Hà thủ ô đỏ, Atiso,

Cà gai leo, Sơn tra, Thả o quả, Nhân trần, Lá khôi, Đảng sâm, Sâm cau, Cây dây gắm, Bách bộ, Đương quy, Gấc) theo Kế hoạch số 206/KH-UBND ngày

08/12/2017 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Yên Bái về phát triển cây dược liệu tỉnh Yên Bái đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025 Trong đó giao cho huyện Văn Chấn phát triển 9 loài (Quế, Thảo quả, Đinh lăng, Sả, Giảo cổ lam,

Ý dĩ, Hà thủ ô đỏ, Đương quy), một số loài cây thuốc quý hiếm khác đã đượcngười dân trên địa bàn thu hái như: Lan Kim Tuyến, Hoàng Thảo, Thạch Hộc, Cốt Toái Bổ, Thất Diệp Nhất Chi Hoa, Hoàng Tinh, Kê Huyết Đằng, Hà Thủ

Ô, Thổ Phục Linh, Trà Hoa Vàng, Khôi Tía, Hoàng Bá, Sa Nhân chưa đượcđịnh hướng phát triển

Cát Thịnh là xã có đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội và hiện trạng tài nguyên rừng mang tính đại diện tiêu biểu của huyện Văn Chấn: có vị trí chiếnlược quan trọng, án ngữ hai con đường huyết mạch là quốc lộ 37A và quốc lộ

32 chạy qua, cách trung tâm huyện 20 km và cách Thủ đô Hà Nội 170km Diện tích tự nhiên toàn xã 16.912,02 ha (chiếm 14% diện tích huyện), diệntích có rừng 10.942,8 ha (chiếm 16,23% diện tích có rừng của huyện) Đặcbiệt, hệ thống núi Bánh có độ cao trung bình hơn 1.200m như một lá chắnhình cánh cung, thuộc dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ, nơi tập trung hơn 9.000

Trang 10

ha rừng tự nhiên khởi nguồn của hệ thống suối Ngòi Lao (1 trong 3 hệ thốngsuối chính trên địa bàn huyện) Toàn xã có 2.355 hộ, chia làm 17 thôn vớinhiều thành phần dân tộc, trình độ dân trí không đồng đều và cuộc sống còn nhiều khó khăn, nhất là 6 thôn người dân tộc H'Mông và 2 thôn người dân tộcDao sống gần rừng

Xuất phát từ các lý do trên, nhằm cung cấp thêm thông tin liên quan

đến thực trạng tài nguyên cây thuốc trên địa bàn, đề xuất các giải pháp quản

lý, bảo tồn và phát triển, phục vụ cho các mục tiêu kinh tế – xã hội hiện nay

và tương lai tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng tài nguyên cây thuốc tại xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái”.

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên Thế giới

Trải qua nhiều thế kỷ, cây thuốc giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe và hạnh phúc của các cộng đồng người trên khắp thế giới Các kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây thuốc chữa bệnh được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia Nhiều công trình khoa học nghiên cứu cây thuốc của các nước được sử dụng rộng rãi và

có giá trị thực tiễn lớn

Nói đến chữa bệnh bằng cây cỏ, người ta thường nghĩ ngay tới Trung Quốc, đất nước có nền Đông Y lâu đời Theo truyền thuyết của vua ThầnNông tức Viêm Đế (3320-3080 trước công nguyên - TCN) thì ông đã nếmhàng trăm loại cây cỏ, phân loại dược tính của thảo mộc và soạn ra cuốn sách

Thần Nông bản thảo” Cuốn sách đã thống kê được 365 vị thuốc có giá trị

Vào thời Tam Quốc, danh y Hoa Đà, sử dụng Đàn hương, Tử đinh hương để chế hương nang để phòng chống và chữa trị bệnh lao phổi và bệnh

lỵ Ông còn dùng hoa Cúc, Kim ngân phơi khô cho vào chiếc gối (hương chẩm) để điều trị chứng đau đầu, mất ngủ, cao huyết áp Từ thời nhà Hán (năm 168 trước Công nguyên TCN) trong cuốn sách “Thủ hậu bị cấp phương” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loại cây cỏ Giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đã thống kê 12.000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục”,… Cho đến nay, Trung Quốc đã cho ra đời khá nhiều công trình về sử dụng các loài cây cỏ để chữa bệnh

Sử dụng thực vật gắn liền với lịch sử phát triển của loài người Trải qua hàng nghìn năm, một số lượng lớn các loài thực vật bậc cao đã và đang được con người sử dụng làm thuốc chữa bệnh Người ta ước tính có khoảng 35.000

- 70.000 loài thực vật đã và đang được con người sử dụng vào mục đích chữa bệnh Tại Trung Quốc, có tới 5.000 loài thực vật dùng làm dược liệu trong y

Trang 12

học cổ truyền Trong hệ thống Y học của người Trung Quốc, có 80% bài thuốc cổ truyền có sử dụng các loài thực vật bậc cao Việc sử dụng thực vật làm thuốc khá phổ biến ở các nước châu Á như Ấn Độ, Hàn Quốc, Inđônêxia, Malaixia, Pakistan, Banglades, Sri Lanka, Nêpal,…

Ở Ấn Độ, nền y học cổ truyền được hình thành cách đây hơn 3000 năm Chủ trương của người Ấn là ngừa bệnh là chính, nếu phải điều trị bệnh thì các liệu pháp tự nhiên chủ yếu thông qua thực phẩm và thảo mộc sẽ giúp loại bỏ gốc rễ căn bệnh Bộ sử thi Vedas được viết vào năm 1.500 TCN và cuốn Charaka samhita được các thầy thuốc Charaka bổ sung tiếp vào bộ sử thi Vedas, trình bày cụ thể 350 loài thảo dược Ấn Độ là quốc gia rất phát triển về nghiên cứu thảo dược như tổng hợp chất hữu cơ, tách chiết chứng minh cấu trúc, sàng lọc sinh học, thử nghiệm độc tính, và nghiên cứu tác dụng hóa học của các chất tới cơ thể con người Hiện nay, Chính phủ khuyến khích sử dụng công nghệ cao trong trồng cây thuốc Hầu hết các Viện nghiên cứu dược của

Ấn Độ đã tham gia vào nghiên cứu chuyển hóa các loại thuốc và hợp chất có hoạt tính từ thực vật

Ở Philippin, người ta sử dụng cây Bồ cu vẽ (Breynia fructicosa) lấy vỏ

sắc làm thuốc cầm máu hoặc tán bột rắc lên mụn nhọt, vết lở loét làm chúng

chóng khỏi; Ở Malaixia, cây Húng chanh (Coleus amboinicus) dùng lá sắc

cho phụ nữ sau khi sinh đẻ uống hoặc giã nhỏ, vắt nước cốt cho trẻ em uống trị sổ mũi, đau họng, ho gà; Ở Cămpuchia, Malaixia người ta dùng Hương

nhu tía (Ocimum sanctum), trong đó rễ trị đau bụng, sốt rét; nước lá tươi có

tác dụng long đờm hoặc giã nát đắp trị bệnh ngoài da, khớp

Trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông Nam Á, Perry đã ghi nhận những cây thuốc trong Y học cổ truyền

và các loài cây này đã được các nhà khoa học kiểm chứng, trong đó có 146 loài có tính kháng khuẩn Hay gần đây, tập thể các nhà khoa học đã cho ra đời

Trang 13

cuốn sách Tài nguyên các loài cây thuốc ở Đông Nam Á “Plant Resources of South-East Asia, Medicinal and poisonous Plant, 2001” với 1000 loài cây

Từ thời cổ xưa, các chiến binh La Mã đã biết dùng dịch cây Lô hội (Aloe barbadensis) để rửa vết thương, vết loét làm cho chúng chóng lành bệnh mà

ngày nay khoa học đã chứng minh là dịch cây có khả năng làm liền sẹo thông qua sự kích thích tổ chức hạt và tăng nhanh quá trình biểu mô hóa Người cổ

Hy Lạp đã sử dụng rau Mùi tây (Coriandrum officinale) để đắp vết thương

cho mau lành Bên cạnh đó Hippocrat (460 – 377 TCN) là thầy thuốc nổi tiếng người Hy Lạp được mệnh danh là cha đẻ của y học hiện đại khi ông là người đưa ra quan niệm “Hãy để thức ăn của bạn là thuốc và thuốc chính là thức ăn của bạn”

Ở Châu Âu, vào thời Trung cổ, các kiến thức về cây thuốc chủ yếu được các thầy tu sưu tầm và nghiên cứu Họ trồng cây thuốc và dịch các tài liệu về thảo mộc bằng tiếng Ả rập Vào năm 1649, Nicolas Culpeper đã viết cuốn sách “A Physical Directory”, sau đó vài năm, ông lại xuất bản cuốn “The English Physician” Đây là cuốn dược điển có giá trị và là một trong những

cuốn sách hướng dẫn đầu tiên dành cho nhiều đối tượng sử dụng, người không phải chuyên hiểu biết về thuốc cũng có thể sử dụng để làm cẩm nang chăm sóc sức khỏe Cho đến nay, cuốn sách này vẫn được tham khảo và trích dẫn rộng rãi

Trong Y học dân gian Liên Xô đã sử dụng nước sắc vỏ cây Bạch dương

(Betula alba), vỏ cây Sồi (Quercus robus) để rửa vết thương và tắm ghẻ Ở

nước Nga, Đức đã dùng cây Mã đề (Plantago major) sắc nước hoặc giã nát lá

tươi đắp, chữa trị vết thương, viêm tiết niệu, sỏi thận Tại Bungaria, “đất nước của hoa hồng” từ lâu đã sử dụng hoa hồng để chữa nhiều bệnh khác nhau Người ta dùng cả hoa, lá, rễ để làm thuốc tan huyết ứ và phù thũng Ngày nay, người ta đã chứng minh được trong cánh hoa hồng có một lượng tanin, glusit,

Trang 14

tinh dầu đáng kể, tinh dầu này không chỉ để chế nước hoa mà còn được dùng

để chữa nhiều bệnh

Cùng với phương thức chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học trên thế giới tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu cơ chế và các hợp chất hóa học trong cây có tác dụng chữa bệnh, đúc rút thành những cuốn sách có giá trị Các nhà khoa học công nhận rằng hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh, đó là khả năng miễn dịch tự nhiên của thực vật Tác dụng kháng khuẩn

do các hợp chất tự nhiên có mặt phổ biến trong thực vật như phenolic, antoxy, các dẫn xuất quino, ancaloid, flavonoid, saponin, … Cho đến nay, nhiều hợp chất tự nhiên đã được giải mã về cấu trúc, những hợp chất này được chiết xuất

từ cây cỏ để làm thuốc Dựa vào cấu trúc được giải mã, người ta có thể tổng hợp nên các chất nhân tạo để chữa bệnh Gotthall (1950) đã phân lập được chất Glucosid barbaloid từ cây Lô hội (Aloe vera), chất này có tác dụng với vi

khuẩn lao ở người và vi khuẩn Baccilus subtilis Lucas và Lewis (1994) đã chiết xuất một hoạt chất có tác dụng với các loài vi khuẩn gây bệnh tả, lị, mụn nhọt từ Kim ngân (Lonicera sp) Từ cây Berberis teeta, người ta đã chiết xuất

được berberin Trong lá và rễ cây Hẹ (Allium odorum) có các hợp chất sulfua,

sapoin và chất đắng Năm 1948, Shen-Chi-Shen phân lập được một hoạt chất Odorin ít độc đối với động vật bậc cao nhưng lại có tác dụng kháng khuẩn Hạt của cây Hẹ cũng có chứa chất Alcaloid có tác dụng kháng khuẩn gram+

và gram-, nấm Reserpin và Serpentin là chất hạ huyết áp được chiết xuất từ cây Ba gạc (Rauvolfa spp.) Đặc biệt, Vinblastin và Vincristin vừa có tác dụng

hạ huyết áp vừa có tác dụng làm thuốc chống ung thư, được chiết xuất từ cây Dừa cạn Digitalin được chiết xuất từ cây Dương địa hoàng (Digitalis spp.),

strophatin được chiết xuất từ cây Sừng dê (Strophanthus spp.) để làm thuốc

trợ tim Từ những thành tựu nghiên cứu cấu trúc, hoạt tính của các hợp chất tự nhiên, nhiều loại thuốc có tác dụng chữa bệnh cao đã ra đời bằng tổng hợp hoặc bán tổng hợp

Trang 15

Về vấn đề sử dụng Y học cổ truyền, khoảng 80% dân số ở các quốc gia đang phát triển sử dụng các phương pháp y học cổ truyền để chăm sóc sức khỏe, trong đó chủ yếu là cây cỏ Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới,

có nền y học dân tộc phát triển nên trong số cây thuốc đã biết hiện nay có tới 80% số loài (khoảng trên 4.000 loài) là được sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc ở đât nước này Ở Ghana, Mali, Nigeria và Zambia, 60% trẻ em có triệu chứng sốt rét ban đầu được điều trị tại chỗ bằng thảo dược Tỷ lệ dân số tin tưởng vào hiệu quả sử dụng thảo dược và các biện pháp chữa bệnh bằng y học cổ truyền cũng đang tăng nhanh ở các quốc gia phát triển Ở Châu Âu, Bắc Mỹ, và một số nước khác, ít nhất 50% dân số sử dụng thực phẩm bổ sung hay thuốc thay thế từ thảo mộc Ở Đức, 90% dân số sử dụng các phương thuốc có nguồn gốc thiên nhiên để chăm sóc sức khỏe Ở Anh, chi phí hàng năm cho các loại thuốc thay thế từ thảo mộc là 230 triệu đôla

Tuy nhu cầu sử dụng cây thuốc của con người trong việc chăm sóc sức khỏe ngày một tăng, nhưng nguồn tài nguyên thực vật đang bị suy giảm Nhiều loài thực vật đã bị tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng do các hoạt động trực tiếp và gián tiếp của con người Theo tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên (IUCN) cho biết, trong tổng số 43.000 loài thực vật mà cơ quan này lưu giữ thông tin có tới 30.000 loài được coi là đang

bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau Trong đó có nhiều loài là cây thuốc quý hiếm, có giá trị kinh tế cao Chẳng hạn như ở Bangladesh, một số cây thuốc quý như Tylophora indicia để chữa hen, Zannia indicia (thuốc tẩy

xổ),…trước đây mọc rất phổ biến, nay đã trở nên hiếm hoi Loài Ba gạc

(Rauvolfila serpentina) vốn mọc rất tự nhiên ở Ấn Độ, Bangladesh, Thái

Lan…mỗi năm có thể khai thác hàng ngàn tấn nguyên liệu xuất khẩu sang thị trường Âu, Mỹ làm thuốc chữa cao huyết áp Tuy nhiên, do bị khai thác liên tục nhiều năm nên nguồn gốc cây thuốc này đã bị cạn kiệt Vì vậy một số

Trang 16

bang ở Ấn Độ đã đình chỉ khai thác loài Ba gạc này Ở Trung Quốc, loài Từ

(Dioscorea sp) đã từng có trữ lượng lớn và từng được khai thác tới 30.000

tấn, nhưng hiện nay số lượng bị giảm đi rất nhiều, có loài đã phải trồng lại Một vài loài cây thuốc dân tộc quý như Fritillaria cirrhosa làm thuốc ho,

phân bổ nhiều ở vùng Tây bắc tỉnh Tứ Xuyên nay chỉ còn có ở 1 đến 2 điểm với số lượng ít ỏi

Nguyên nhân gây nên sự suy giảm nghiêm trọng về mặt số lượng của các loài cây thuốc trước hết là do sự khai thác quá mức nguồn tài nguyên dược liệu và do môi trường sống của chúng bị hủy diệt bởi các hoạt động của con người Đặc biệt, ở các vùng rừng nhiệt đới và Á nhiệt đới là nơi có mức độ đa dạng sinh học cao của thế giới nhưng lại bị tàn phá nhiều nhất Theo số liệu của tổ chức Nông Lương (FAO) của Liên hợp quốc, trong vòng 40 năm (1940 – 1980), diện tích của các loại rừng kể trên đã bị thu hẹp tới 44%, ước tính khoảng 75.000 hecta rừng bị phá hủy

Trong thế kỷ 21, với mục đích phục vụ sức khỏe con người, sự phát triển của xã hội, chống lại các bệnh nan y thì sự cần thiết là phải kết hợp giữa Đông Y với Tây Y, giữa Y học hiện đại và Y học cổ truyền của các dân tộc Chính những kinh nghiệm của các dân tộc chính là chìa khóa giúp chúng ta khám phá ra nhiều loại thuốc mới cho tương lai Chính vì điều đó mà việc bảo tồn, khai thác và phát triển các loài cây thuốc cần được chú ý quan tâm

1.2 Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, phần lớn cây thuốc Việt Nam mọc hoang dại ở vùng rừng núi - một vùng chiếm 3/4 diện tích toàn lãnh thổ, là nơi cư trú của 54 dân tộc

mà phần lớn là dân tộc thiểu số với khoảng 24 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân

số quốc gia Chính sự đa dạng về tộc người cùng với sự khác biệt về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, phong tục tập quán, văn hóa trong từng cộng đồng dân tộc đã dẫn đến sự đa dạng những kinh nghiệm gia truyền trong việc chữa bệnh

và cách sử dụng cây cỏ xung quanh mình làm thuốc chữa bệnh Thực vật là

Trang 17

đối tượng đặc biệt được nhiều nhà khoa học quan tâm và cố gắng đánh giá đúng vị trí, vai trò chức năng sử dụng của nó trong nhiều lĩnh vực như thức

ăn, thuốc chữa bệnh, trang phục, dụng cụ, các nghi lễ tôn giáo, môi trường…

ở từng vùng địa phương khác nhau Trong đó, cây thuốc được các nhà khoa học nghiên cứu nhiều

Cũng như các dân tộc khác, nền y học cổ truyền của Việt Nam đã có từ rất lâu đời, nhiều phương thuốc bào chế từ cây thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian Những kinh nghiệm này đã được ghi chép thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi trong nhân dân Nền y học cổ truyền qua hàng nghìn năm Bắc thuộc nên chịu ảnh hưởng rất lớn của y học cổ truyền Trung Quốc

Với lợi thế về khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật phong phú Ước tính, nước ta có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch, 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn 2.000 loài tảo Trong

đó có khoảng gần 4.000 loài thực vật bậc cao và bậc thấp dùng làm thuốc.Một trong những tài liệu sớm nhất về cây thuốc Việt nam phải kể đến cuốn sách “Nam Dược Thần Hiệu” và “Hông Nghĩa Giác Tư Y Thư” của Tuệ Tĩnh Trong tài liệu này đã mô tả hơn 630 vị thuốc, 50 đơn thuốc chữa các loại bệnh trong đó 37 đơn thuốc chữa bệnh thương hàn Hai cuốn sách này được xem là những cuốn sách xuất hiện sớm nhất về cây thuốc Việt Nam Đời nhà Trần có Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, thu thập trông nom một vườn thuốc lớn để chữa bệnh cho quân sĩ, gọi là “Sơn dược”, nay vẫn còn di tích tại xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương Đến thế kỷ 18, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã xuất bản bộ sách lớn “Y Tông Tâm Tĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển đã mô tả khá chi tiết về các loài thực vật, các đặc tính chữa bệnh

Thời kỳ Pháp thuộc (1884 - 1945), nền y học cổ truyền của Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của dược học phương Tây Các phương thức chữa bệnh

Trang 18

mới được mang đến qua quá trình khai thác thuộc địa, họ đã gián tiếp thúc đẩy quá trình nghiên cứu thực vật của Việt Nam nói chung và nghiên cứu cây

thuốc nói riêng Đặc biệt bộ sách “Thực vật chí đại cương Đông Dương” của

Lecomte (chủ biên) xuất bản cuối thể kỷ 18 đầu thể kỷ 19 đã mô tả và phân

loại hơn 7.000 loài thực vật Bộ sách “Danh mục các sản phẩm ở Đông Dương” của C Crévost và A Pétélot năm 1935 đã thống kê được 1.340 vị

thuốc có nguồn gốc thảo mộc được dùng trong y học của Đông Dương Đến

năm 1993, Nguyen Van Duong xuất bản cuốn “Những cây thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam” với 524 trang và thống kê khoảng 1.480 loài

thực vật Tuy nhiên cuốn sách này chưa hoàn thiện về mô tả, phân bố, thành phần hóa học và dược lý của các loại thảo mộc

Năm 1957, Hội Đông Y Việt Nam (nay là hội Y học Cổ truyền Việt Nam) được thành lập, lãnh đạo các lương y làm nghề chữa bệnh trong nhân dân Cũng trong năm này, Viện nghiên cứu Đông Y (nay là Viện Y học Cổ truyền Việt Nam) với mục tiêu chỉ đạo các bệnh viện Y học dân tộc và các tỉnh, kết hợp giữa Y học cổ truyền với Y học hiện đại từ trung ương đến cơ

sở Năm 1961, Viện Dược liệu được thành lập chuyên trách việc nghiên cứu nuôi trồng dược liệu, đã tiếp thu các viện nghiên cứu Đông Y chuyển sang, các vườn thuốc ở Văn Điển (Hà Nội), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Sa Pa (Lào Cai) cũng được xây dựng từ đây Đây là các mốc thời gian quan trọng trong lịch sử nghiên cứu cây thuốc của đất nước

Trong thời gian chiến tranh (1954-1975), vùng căn cứ ở hậu phương vẫn dùng thuốc nam và “toa thuốc căn bản” gia giảm, thời kháng chiến chống Pháp trước đây và phát hiện nhiều vị thuốc mới như cây Dền chữa sốt rét bổ máu, Bèo tây giải độc hoá chất Từ sau khi miền Nam được giải phóng, y dược học dân tộc đã phát triển ở khắp cả nước Nhiều công trình biên soạn giảng dạy, nghiên cứu khoa học y dược, phòng bệnh dưỡng sinh, xoa bóp, châm cứu, trị bệnh bằng thuốc theo y học cổ truyền, và kết hợp y học cổ

Trang 19

truyền và y học hiện đại đã được tổng kết và có tác dụng tăng cường khả năng bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

Gần đây, Phạm Hoàng Hộ (1991-1993) đã xuất bản bộ sách “Cây cỏ Việt Nam” đã giới thiệu được công dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật Đỗ Tất Lợi (1995) đã xuất bản bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” và

tái bản vào năm 2000 Công trình này thống kê gần 800 loài cây, con và vị thuốc, trong đó nhiều loài thực vật đã được mô tả về mặt cấu tạo, phân bố, cách thu hái và chế biến, thành phần hóa học, công dụng và liều dùng

Võ Văn Chi (1997) trong cuốn sách “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, đã

mô tả được 3.200 loài cây thuốc và nấm, trong đó thực vật có hoa là 2.500 loài thuộc 1.050 chi, được xếp và 230 họ thực vật Tác giả đã trình bày vềcách nhận biết, các bộ phận được sử dụng, nơi sống và thu hái, thành phần hóa học, tính vị và tác dụng, công dụng của các loài thực vật Cũng tác giả

này vào năm 2012 đã tái bản công trình “Từ điển cây thuốc Việt Nam” đã đưa

số lượng loài cây thuốc hiện ghi nhận của Việt Nam lên tới gần 4.700 loài.Đến năm 2000, Võ Văn Chi và Trần Hợp tiếp tục giới thiệu cuốn sách

“Cây cỏ có ích ở Việt Nam” mô tả khoảng 6.000 loài thực vật bậc cao có

mạch với các đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố và công dụng, đặc biệt là nhchur yếu nhóm thực vật có công dụng làm thuốc

Trong nghiên cứu cây thuốc, không thể không kể đến nhiều bộ công trình có giá trị của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) là:

+ Viện Dược liệu (Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Chương, 1990) với “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” đã giới thiệu 159 loài cây thuốc

+ Tập thể các tác giả Viện Dược Liệu (1993) cho ra đời cuốn “Tài nguyên Cây thuốc Việt Nam” với khoảng 300 loài cây thuốc đang được khai

thác và sử dụng ở các mức độ khác nhau trong toàn quốc; đến năm 1994 xuất

bản cuốn “Dược điển Việt Nam, 2 tập”; năm 2001 với “ Selected medicinal

Trang 20

plants in Vietnam”; năm 2004 với “Cây thuốc và động vật là thuốc ở Việt

Nam, 2 tập”

Trần Đình Lý (1993) và cộng sự đã xuất bản cuốn sách “1900 loài cây

có ích” Trong số các loài thực vật bậc cao có mạch đã biết ở Việt Nam có 76

loài cho nhựa thơm, 160 loài có tinh dầu, 260 loài cho dầu béo, 600 chứa tanin, 500 loài cây gỗ có giá trị cao, 400 loài tre nứa, 40 loài song mây Trong

số các nhóm thực vật này, rất nhiều loài có công dụng làm thuốc

Bên cạnh đó, nhiều cuốn sách có giá trị trong nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam như Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2003, 2005) đã công

bố bộ sách “Danh lục các loài thưc vật Việt Nam” Cuốn sách đã trình bày

đầy đủ các thông tin về tên khoa học, tên thường gọi, nhận dạng, phân bố, dạng sống, sinh thái và công dụng nói chung và công dụng làm thuốc nói riêng Bộ sách này rất có ý nghĩa cho việc tra cứu hệ thực vật nói chung và tra cứu thành phần loài cây thuốc nói riêng

Về vấn đề sử dụng cây thuốc của các dân tộc thiểu số nói chung, do đời sống gắn liền với khai thác sử dụng thực vật nên có nhiều kinh nghiệm và tri thức quý trong quá trình chế biến, sử dụng thực vật, đặc biệt là các kinh nghiệm sử dụng cây thuốc Tuy nhiên, các tri thức và kinh nghiệm dân tộc thường được sử dụng và lưu truyền trong một phạm vi hẹp (dân tộc, dòng họ, gia đình), vì vậy không được phát huy để phục vụ cho xã hội và có nguy cơ thất truyền rất cao Nhận thức được tầm quan trọng này, trong khoảng 10 năm trở lại đây, nghiên cứu cây thuốc dân tộc được đặc biệt quan tâm tại một số cơ

sở của nước ta và đã thu được nhiều kết quả khả quan Kết quả điều tra được ghi nhận là các kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc ở các địa phương trong cả nước

Các nhà khoa học thuộc Viện Dược liệu (Bộ Y tế), Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Trường Đại học Dược Hà Nội trong những năm qua đã

Trang 21

có nhiều công trình nghiên cứu về trí thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Đặc biệt là các nghiên cứu về y học cổ truyền của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong những năm gần đây Nhiều nghiên cứu về cây thuốc

đã được thực hiện với các công đồng dân tộc thiểu số như: H’ Mông, Dao, Mường, Thái, như:

+ Năm 2005, Nguyễn Thị Phương Thảo và cộng sự thực hiện đề tài

“Nghiên cứu tác động kinh tế - dân sinh của các cộng đồng dân tộc vào tài nguyên thực vật và ảnh hưởng của nó tới đa dạng sinh học tại Chiềng Yên – Mộc Châu – Sơn La” Kết quả đã thống kê được 209 loài cây thuốc do người

Mường sử dụng và 176 cây thuốc được người Dao sử dụng [38]

+ Năm 2001, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự về “Cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái ở Con Cuông, tỉnh Nghệ An”.

+ Năm 2009, Ninh Thị Phíp, Nguyễn Tất Cảnh, Trần Văn Ơn đã công bố

công trình “Đánh giá đa dạng nguồn gen cây thuốc tắm của người Dao Đỏ tại Sapa, Lào Cai”

+ Năm 2013, Nguyễn Phương Hạnh, Lưu Đàm Cư đã công bố “Kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của dân tộc M’ Nông tỉnh Đắk Lắc”

+ Lê Thị Thanh Hương (2015) đã nghiên cứu tính đa dạng nguồn cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số tỉnh Thái Nguyên nhằm bảo tồn và phát triển bền vững, trong công trình này, tác giả đã công bố trong cộng đồng các dân tộc Tày, Nùng, Sán dìu, Sán chay, Dao tại 23 xã của

7 huyện trên địa bản tỉnh Thái Nguyên đã xác định được 745 loài cây thuốc thuộc 445 chi, 145 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch Kết quả điều tra

sử dụng của các dân tộc cho thấy dân tộc Tày sử dụng 323 loài, dân tộc Nùng

sử dụng 111 loài, dân tộc Sán dìu sử dụng 128 loài, dân tộc Sán chay sử dụng

312 loài, dân tộc Dao sử dụng 297 loài cây để chữa bệnh

Trang 22

Kết quả của các nghiên cứu trên cho thấy các dân tộc nước ta có nhiều tri thức quý giá và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc độc đáo để phòng và chữa bệnh.

Cùng với việc điều tra thành phần loài, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các cộng đồng thiểu số; nghiên cứu sàng lọc các bài thuốc dân tộc sử dụng rộng rãi góp phần chăm sóc sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội được chú trọng nghiên cứu trong những năm gần đây Từ kinh nghiệm truyền thống của các dân tộc đã có những nghiên cứu và sản xuất thành công các loại thuốc chữa bệnh cho người dân Có thể nhận thấy, nghiên cứu cây thuốc dân tộc không chỉ góp phần sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc của đất nước, mà còn là cơ sở để sản xuất các loại dược phẩm mới để điều trị các bệnh hiểm nghèo Đây thực sự là hướng nghiên cứu có triển vọng lớn trong tương lai

1.3 Tại xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

Mặc dù có nhiều cơ sở chữa bệnh theo phương pháp Đông y, nhiều cơ

sở thu mua gom cây thuốc nhưng chưa có công trình nghiên cứu về sự đa dạng về thành phần loài, số lượng, giá trị sử dụng cây thuốc tại xã Cát Thịnh và cả trên địa bàn huyện Văn Chấn Các nghiên cứu khác chỉ dừng lại ởkhảo sát về thành phần loài, giá trị kinh tế và một số mô hình nông lâm kếthợp, biện pháp phục hồi rừng Do vậy, việc thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu nhằm làm rõ các thông tin về thành phần loài, hiện trạng khai thác sửdụng tài nguyên cây thuốc tại xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn là rất cần thiết

Ý nghĩa khoa họ c của nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu sẽ là bộ số liệu rất có giá trị nhằm làm rõ các thông tin về sự đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc cũng như hiện trạng sử dụng chúng tại xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn

Ý nghĩa thự c tiễn của nghiên cứu

Trang 23

Các kết quả nghiên cứu sẽ giúp các nhà quản lý đề xuất và xây dựng chiến lược bảo tồn tổng thể nguồn tài nguyên cây thuốc, đặc biệt là các loài nguy cấp, quý hiếm, có giá trị tại xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn.

Danh lục các loài cây thuốc của đề tài sẽ hỗ trợ tốt cho việc định hướng quản lý, khai thác hợp lý và phát triển bền vững trong tương lai, góp phần cải thiện về đời sống cho người dân xã Cát Thịnh nói riêng và cả trên địa bàn huyện

Trang 24

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài cây thuốc, thuộc nhóm thựcvật bậc cao có mạch, phân bố tại xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung gồm: Thành phần loài và phân bố cây thuốc; Tình hình khai thác, sử dụng cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc

- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được tiến hành trên các tuyếnđiều tra tại xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

- Phạm vi về thời gian: Từ tháng 6/2019 đến 11/2019

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra thành phần loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu;

- Nghiên cứu hiện trạng phân bố cây thuốc tại khu vực nghiên cứu;

- Điều tra tình hình khai thác sử dụng tài nguyên cây thuốc;

Trang 25

- Đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển tài nguyên cây thuốc tại xã Cát Thịnh và trên địa bàn huyện Văn Chấn.

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp điều tra thành phần loài

2.4.1.1 Kế thừa

- Kế thừa có chọn lọc các kết quả các công trình nghiên cứu, bài báo, các thông tin có liên quan đến cây thuốc tại xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn;

- Kế thừa các tài liệu về khí tượng, thủy văn, địa hình, thổ nhưỡng, bản

đồ và các nội dung khác có liên quan tới vấn đề nghiên cứu của đề tài tại khu vực nghiên cứu

2.4.1.2 Phỏng vấn

Nghiên cứu lựa chọn các nhóm đối tượng sau để phỏng vấn:

Khoảng 10-20 người am hiểu về thành phần loài cây thuốc tại khu vựcnghiên cứu (dự kiến mỗi thôn khoảng 2 người)

Khoảng 10-20 người có kinh nghiệm trong khai thác cây thuốc tại khu vực nghiên cứu (dự kiến mỗi thôn khoảng 2 người)

Khoảng 10-20 người có kinh nghiệm trong chế biến sử dụng, gây trồngcây thuốc tại khu vực nghiên cứu (dự kiến mỗi thôn khoảng 2 người)

Khoảng 10 người tham gia các hoạt động mua bán, kinh doanh cây thuốc và các sản phẩm từ cây thuốc

Khoảng 5 người là cán bộ chính quyền xã, cán bộ Kiểm lâm địa bàn, Khuyến nông viên cơ sở

Một người có thể thuộc nhiều nhóm đối tượng phỏng vấn, cân đối tỷ lệnam và nữ trong mỗi nhóm

Nội dung phỏng vấn các đối tượng theo mẫu biểu 01

Trang 26

Mẫu biểu 01: ĐIỀU TRA KIẾN THỨC BẢN ĐỊA VỀ SỬ DỤNG CÂY THUỐC

Thời gian điều tra: ngày tháng năm Người điều tra:

I Sơ lược về người cung cấp thông tin

II Những thông tin về kiến thức bản địa của một cây thuốc

Tên địa phương: ; Tên khoa học:………

Số hiệu mẫu: ; Số hiệu ảnh chụp:……… Mùa vụ thu hái: ; Đối tượng thu hái: Nơi thu hái:

Bộ phận sử dụng: Cách thu hái: Khối lượng thu hái: Tình trạng khai thác, thu hái cây thuốc ngoài tự nhiên: Khả năng bắt gặp ngoài tự nhiên:………Tình hình gây trồng: Cách bảo quản: Công dụng: Cách dùng: Liều lượng dùng trong một lần: ; Dành cho người lớn: ; Trẻem: ; Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ: ; Người

có bệnh mãn tính hoặc bệnh khác: Thời gian điều trị: ; Kiêng kị trong thời gian dùng thuốc (nếu có):

Trang 27

Hiệu quả chữa trị: Giá bán cho riêng sản phẩm:………; giá bán theo thang:……….Thu nhập từ cây thuốc: Thị trường tiêu thụ cây thuốc: Mong muốn, đề xuất của người được phỏng vấn:

Bộ phận sử dụng: Nghiên cứu tạm thời chia các bộ phận sử dụng để

làm thuốc của cây như sau: Bộ phận thân cây (T): Thân, cành, thân củ, thân

rễ, thân hành; Bộ phận rễ cây (R): Rễ, rễ củ, củ; Bộ phận lá cây (L): Lá (non, già, bánh tẻ); Bộ phân ngọn cây (Ng): Ngọn, chồi búp; Bộ phận vỏ cây (V):

Vỏ thân, vỏ cành, vỏ rễ; Bộ phận hoa (H): Hoa và nụ hoa; Bộ phận quả (Q):

Vỏ quả, quả xanh, quả chín; Bộ phận hạt (Ha): Hạt và vỏ hạt; Bộ phận nhựacây (Nh): Nhựa cây, tinh dầu…; Cả cây (CC): Toàn cây

Khu vực thu hái, gồm: Rừng già, Rừng đang phục hồi, Trảng cây bụi,

Trảng cỏ, Vườn nhà, Nương rẫy, Bờ ruộng, Ven đường, Bãi hoang, Ven các

bờ nước…

Dạng sống của cây thuốc: Theo thang phân hạng của Raunkiaer, gồm:

Cây chồi trên to (Mg); Cây chồi trên nhỡ (Me); Cây chồi trên nhỏ (Mi); Cây chồi trên lùn (Na); Cây bì sinh (Ep); Cây mọng nước (Suc); Dây leo gỗ (Lp); Cây chồi sát đất (Ch); Cây chồi nửa ẩn (Hm); Cây chồi ẩn (Cr); Cây thủy sinh (Hy); Cây một năm (T)

2.4.1.3 Điều tra thực địa

a) Chuẩn bị: Các tài liệu có liên quan đã và đang nghiên cứu về nhóm

tài nguyên cây thuốc; Các loại bảng biểu, sổ ghi chép để ghi lại những kết quảđiều tra được; Các dụng cụ cần thiết như: Thước dây, máy GPS, Máy ảnh, địabàn ; Các tư trang cá nhân phục vụ cho quá trình điều tra ngoài thực địa Chuẩn bị nhân sự hỗ trợ điều tra: Số người tham gia trực tiếp đi điều tra thựcđịa là 3 người (tác giả, 01 cán bộ Kiểm lâm và 01 cán bộ Khuyến nông viên

cơ sơ)

Trang 28

b) Điều tra sơ thám: Trước khi quyết định các tuyến điều tra, dựa vào bản đồ, chúng tôi tiến hành khảo sát sơ bộ khu vực nghiên cứu, đánh giá nhanh hiện trạng rừng, xác định các tuyến điều tra trên bản đồ và lập kế hoạch điều tra cụ thể

c) Điề u tra theo tuyến điển hình: Dựa vào đặc điểm địa hình cụ thể để

xác định các tuyến điều tra và số lượng tuyến điều tra Trong đó các tuyếnđiều tra phải đại diện cho các sinh cảnh hiện có trên địa bàn xã Nghiên cứuđiều tra trên 3 tuyến Trên các tuyến chính mở thêm 1-2 tuyến phụ rồi tiếnhành điều tra trong phạm vi 10m dọc hai bên tuyến:

Tuyến 1: Dài 10 km, đi qua địa phận các thôn: Hùng Thịnh, Ba Khe, Khe Kẹn, Ba Chum, Lâm Sinh, Văn Hoà;

Tuyến 2: Dài 7,6 km, đi qua địa phận các thôn: Làng Ca, Đồng Hẻo, Vực Tuần;

Tuyến 3: Dài 13,5 km, đi qua địa phận các thôn: Khe Đắc, Pín Pé, ĐáGân, Tăng Khờ, Làng Lao;

Trên các tuyến tiến hành điều tra, thu mẫu, thống kê các loài cây thuốc; ghi chép đặc điểm các tác động tự nhiên hay do con người tác động lên hệthực vật, quan sát sự thay đổi của sinh cảnh trên tuyến Kết quả điều tra trên tuyến được ghi theo biểu mẫu 02

Mẫu biểu 02 ĐIỀU TRA CÂY THUỐC TRÊN TUYẾN

Tên tuyến: Số hiệu tuyến Người điều tra Tọa độ bắt đầu Tọa độ kết thúc Ngày điều tra Địa điểm:………

Số cây, nhánh, chồi/bụi, khóm

Chiều cao hoặc

độ dài dây leo

Chất lượng sinh trưởng

Số hiệu ảnh

Sinh cảnh

Tác động

Trang 29

(theo cấp)

1

Tất cả các thông tin khác có liên quan đến các loài cây thuốc khi bắtgặp chúng như: màu sắc, kích thước, vị trí mọc, mật độ, sinh trưởng đềuđược ghi lại bên cạnh phiếu điều tra để phục vụ công tác nghiên cứu chi tiết Ngoài ra, sử dụng máy ảnh để ghi lại những thông tin cần thiết

+ Điều tra, thu mẫu cây thuốc: Mẫu các loài cây thuốc thu được tại khu vực nghiên cứu đều được làm tiêu bản, các nội dung ghi chép lý lịch mẫu theo mẫu biểu 03

Mẫu biểu 03: PHIẾU ĐIỀU TRA LÝ LỊCH CÂY THUỐC THU MẪU

1 Số hiệu mẫu: ; Tên địa phương:

2 Thời gian thu mẫu, ngày tháng năm

3 Địa điểm: Thôn xã ; Tọa độ

tỷ lệ tương đối phù hợp với kích thước chuẩn của mẫu tiêu bản 41x29cm Tuy nhiên trong điều tra, các mẫu tiêu bản thường không đầy đủ các tiêu chuẩntrên Trong trường hợp này, chúng tôi tiến hành thu thập và làm mẫu tiêu bảnnhỏ Mẫu tiêu bản nhỏ là mẫu tiêu bản thực vật không đủ tiêu chuẩn phân loạivới kích thước nhỏ, thuận tiện cho việc mang theo để so sánh, đối chiếu trong

Trang 30

các đợt điều tra, kích thước khoảng 20-30cm, nhưng có những đặc điểm dễnhận biết.

Các thông tin liên quan đến mỗi mẫu vật phải được ghi chép hoặc chụp

ảnh ngay tại hiện trường Các thông tin về thực vật cần có như: dạng sống, đặc điểm thân, cành, lá, hoa, quả Trong đó đặc biệt lưu ý đến các thông tin không thể hiện được trên mẫu tiêu bản khô như màu sắc hoa, quả khi chín, màu của nhựa, dịch, mủ nếu có thể nhận biết được

Trong khi đi thực địa, các mẫu được cắt tỉa cho phù hợp sau đó kẹp vào giữa hai tờ báo và được ngâm trong dung dịch cồn 40-45º, sau đó được sấykhô tại phòng thí nghiệm

2.4.1.4 Xử lý số liệu

Phân tích mẫu dựa trên một số nguyên tắc: Phân tích từ tổng thể đếnchi tiết, từ cái lớn đến cái nhỏ, phân tích phải đi đôi với ghi chép Sau đó phân loại mẫu theo họ và chi

Định tên cây: Sử dụng theo phương pháp hình thái so sánh với sựhướng dẫn và giúp đỡ của các chuyên gia phân loại học Những tài liệu chủyếu dùng để giám định loài gồm có: Các tài liệu chuyên khảo về cây thuốccủa Việt Nam, Cây cỏ Việt Nam, Cây thuốc và động vật làm thuốc ở ViệtNam, Từ điển cây thuốc Việt Nam, Thực vật chí Việt Nam (11 tập), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Danh lục các loài thực vật Việt Nam (tập 1,

2, 3) …

Lập danh lục cây thuốc tại khu vưc nghiên cứu, dựa trên các kết quả giám định các mẫu vật thu được của các đợt điều tra trên tuyến và phỏng vấn người dân Tên loài Việt Nam và tên loài khoa học của các loài trong Danh lục cây thuốc căn cứ vào tài liệu: Danh lục các loài thực vật Việt Nam (tập 1,

2, 3) và trang web: IPNI, Theplantlist Danh lục cây thuốc được lập theo mẫu biểu 04

Trang 31

Mẫu biểu 04 DANH LỤC CÂY THUỐC TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Dạng sống

Phân bố

Bộ phận

sử dụng

Công dụng chữa bệnh

Thông tin mẫu tiêu bản

Các cây thuốc thuộc nhóm thực vật bậc cao có mạch được xếp theo họ, các họ xếp theo ngành hoặc lớp đối với ngành Ngọc lan (lớp Ngọc lan, lớp Loa kèn) Trong Danh lục cây thuốc các ngành xếp theo thứ tự tiến hóa; trong ngành hoặc lớp các họ xếp theo thứ a,b,c tên khoa học của họ Trong mỗi họ, các loài được sắp xếp theo thứ tự a,b,c tên khoa học của loài

Đánh giá mức độ đa dạng về thành phần loài, phân bố, dạng sống, đặc tính sinh học của các loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu dựa trên danh lục cây thuốc và tổng hợp từ mẫu biểu 01, 02, 03 ở trên

2.4.2 Phương pháp xác định hiện trạng phân bố cây thuốc tại khu vực nghiên cứu

Từ các kết quả điều tra ở trên tiến hành tổng hợp và phân tích các thông tin về hiện trạng phân bố cây thuốc tại khu vực nghiên cứu theo các nội dung sau:

- Số lượng các cá thể của các loài gặp trên tuyến; trên các kiểu thảm khác nhau, độ tàn che khác nhau, bản đồ phân bố của một số loài có giá trị bảo tồn cao, ước tính hiện tại trữ lượng của một số loài

- Phân bố cây thuốc trong các tầng tán rừng, tầng tán thảm, theo các đai cao

- Đặc điểm sinh cảnh nơi các loài cây thuốc phân bố, gồm: Rừng già, Rừng đang phục hồi, Trảng cây bụi, Trảng cỏ, Vườn nhà, Nương rẫy, Bờ ruộng, Ven đường, Bãi hoang, Ven các bờ nước…

Trang 32

- Dự đoán biến động phân bố hoặc khả năng bắt gặp của một số loài câythuốc.

2.4.3 Phương pháp xác định tình hình khai thác sử dụng tài nguyên cây thuốc

Sau khi giám định mẫu, tổng hợp các thông tin từ kết quả phỏng vấnđiều tra kiến thức bản địa của người dân trong sử dụng cây thuốc và kết quảđiều tra tại thực địa tiến hành tổng hợp theo các nội dung sau:

- Tên loài Việt Nam, tên loài khoa học;

- Mùa vụ thu hái; Đối tượng thu hái; Nơi thu hái;

- Bộ phận sử dụng; Cách thu hái; khối lượng thu hái; Cách bảo quản;

- Công dụng; Cách dùng; Hiệu quả chữa trị;

- Tình trạng khai thác, thu hái cây thuốc ngoài tự nhiên;

- Tình hình gây trồng;

- Thu nhập và thị trường tiêu thụ cây thuốc tại đại phương;

- Mong muốn, đề xuất của người dân địa phương

Từ danh lục cây thuốc, tra cứu các tài liệu khoa học chuyên ngành vềcây thuốc của Việt Nam như: Từ điển cây thuốc Việt Nam, Cây thuốc và vịthuốc Việt Nam, Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam và các nướckhác, để xác định công dụng làm thuốc của các loài trong danh lục So sánh đánh giá kết quả này với các kiến thức bản địa của người dân trong sử dụngcây thuốc tại địa phương

2.4.4 Phương pháp xây dựng giải pháp quản lý và phát triển tài nguyên cây thuốc cho khu vực nghiên cứu.

2.4.4.1 Căn cứ đề xuất giải pháp

- Kết quả điều tra nghiên cứu của đề tài: Hiện trạng tài nguyên cây thuốc, tình hình khai thác, sử dụng cây thuốc, gây trồng, thị trường;

- Quy định của Nhà nước về quản lý tài nguyên thực vật nói chung và cây thuốc nói riêng;

Trang 33

- Quy trình quy phạm của ngành lâm nghiệp trong lĩnh vực quản lý bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc.

2.4.4.2 Phương pháp đề xuất giải pháp quản lý tài nguyên cây thuốc

Xác định được các nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc từ đó đề xuất nhóm giải pháp bảo tồn đi đôi với phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

Đề xuất các giải pháp quản lý cây thuốc theo các hướng sau: (1) Các nhóm giải pháp kỹ thuật: cho các taxon hiếm hoặc đơn loài; nhóm công dụng; theo vùng phân bố; theo đặc tính sinh học và sinh thái học; theo các tác động của con người; theo đề xuất của người dân địa phương… (2) Các nhóm giải pháp

về xã hội: Cơ chế, chính sách, thị trường, tuyên truyền … nhằm quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên cây thuốc tại khu vực nghiên cứu

Trang 34

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI

KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điề u kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý

Cát thịnh là xã vùng cao của huyện Văn Chấn- tỉnh Yên Bái, có vị trí địa

lý từ 21022'32'' - 21033'09'' vĩ độ Bắc, 104035'13'' - 104045'57'' độ kinh Đông, tiếp giáp với các địa phương:

+ Phía Bắc: Giáp xã Cát Thịnh, huyện Trấn Yên;

+ Phía Nam: Giáp xã Mường La, Mường Thải, tỉnh Sơn La;

+ Phía Đông: Giáp xã Tân Thịnh, Thị trấn NT Trần Phú, huyện Văn Chấn;

+ Phía Tây: Giáp xã Tà Xi Láng, huyện Trạm Tấu; xã Suối Bu, huyện Văn Chấn

Tổng diện tích tự nhiên 16.912,12 ha, là xã lớn nhất và chiếm 14% diệntích toàn huyện Cách thành phố Yên Bái, trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của tỉnh 50 Km, cách thị xã Nghĩa Lộ 30 Km, cách Thủ đô Hà Nội hơn

170 Km, nơi giao nhau của Quốc lộ 32 và 37 chạy dọc theo chiều dài củahuyện, có các tuyến đường thông thương với các tỉnh bạn như Sơn La, Phú Thọ tạo nên hệ thống đường bộ thuận tiện giao lưu với các huyện bạn trong tỉnh và các tỉnh bạn Bên cạnh những thế mạnh về tài nguyên, Cát Thịnh còn

có vị trí chiến lược quan trọng trong khu vực phòng thủ và hệ thống quốcphòng của huyện, của tỉnh

3.1.2 Địa hình, địa mạo

Cát Thịnh nằm ở sườn phía Đông Bắc của dãy Hoàng Liên Sơn, có địahình hiểm chở, chia cắt mạnh bởi các dãy núi với nhiều lớp đỉnh cao thấpkhác nhau, độ cao trung bình so với mặt nước biển là 400 m, độ cao lớn nhất

là 2.184,4 m, độ dốc trung bình từ 20 – 25 độ, là địa hình núi đất có xen đá lộ

Trang 35

đầu với tỷ lệ 5 - 10% Địa hình có nhiều dải dông phụ với độ cao đƣợc hạ

- Ẩm độ, ánh sáng: Độ ẩm bình quân từ 86,2 %, lƣợng bốc hơi trung bình từ 770 - 780 mm/năm Thời gian chiếu sáng nhiều nhất từ tháng 5 đến

tháng 9, ít nhất từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Tổng số giờ nắng trong năm

từ 1.397 giờ, lƣợng bức xạ thực tế đến đƣợc mặt đất bình quân cả năm đạt

Trang 36

Do có khởi nguồn từ núi cao, độ dài ngắn nên độ dốc lớn, ngoài tướitiêu, phục vụ sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và đời sống của nhân dân, còn

có tiềm năng lớn về thuỷ điện

3.1.4 Địa chất, thổ nhưỡng

Căn cứ vào tài liệu đất của tỉnh Yên Bái và qua điều tra cho thấy trên

địa bàn có các loại đất chính như: Đất mùn Alít trên núi cao, đất mùn vàng đỏ

trên núi, đất Feralít đỏ vàng, đất bạc màu, đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ

Các loại đất này được hình thành trên nền đá mẹ Granit, Liparít, phiến sét, sa thạch, đá vôi, Gnai, Phiến mica, Philít độ dốc >300, độ dầy tầng đất từ 60 -

120 cm Thành phần cơ giới chủ yếu là thịt trung bình, tỷ lệ đá lẫn dưới 10%,

có hàm lượng mùn tương đối cao phù hợp với nhiều loại cây trồng nông lâm nghiệp

Trang 37

3.1.5 Tài nguyên rừng

Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp toàn xã là 14.673,1 ha (Rừng tựnhiên: 9.073,2 ha, chiếm 19,06% diện tích rừng tự nhiên toàn huyện; rừng trồng: 1.869,6 ha), độ che phủ 64,7%, cụ thể nhƣ sau:

Trang 38

Tài nguyên rừng trên địa bàn xã Cát Thịnh đã bị tác động mạnh làm cho suy giảm đáng kể về chất lƣợng Tuy nhiên, các khảo sát về đa dạng sinh học tại khu vực này đã ghi nhận đƣợc 359 loài thuộc 267 chi và 114 họ thựcvật của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch, trong đó đã thống kê đƣợc 271 loài cây có giá trị sử dụng và 20 loài có giá trị bảo tồn, là những loài có tên trong

Sách Đỏ Việt Nam, trong Danh lục Đỏ IUCN và Nghị định số

06/2019/NĐ-CP của Chính phủ

Trang 39

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế của xã đạt trung bình 9%, kinh tế ngành nông nghiệp chiếm 85%, các ngành phi nông nghiệp chiếm 15%; Thu nhậpbình quân/người/năm 2018 là 23 triệu đồng

- Tổng diện tích gieo trồng hàng năm đạt 2.309,0 ha, trong đó diện tích cây lúa đạt 373,4 ha, năng suất bình quân đạt 54 tạ/ha; Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2018 đạt 3.992 tấn Bình quân lương thực đầu người đạt44,43 kg/người/năm

- Cây lâu năm chủ yếu là các loại cây trồng truyền thống như: cây Chè với diện tích 380 ha; Cây ăn quả 144,2 ha

- Về chăn nuôi: Tổng đàn trâu, bò, lợn năm 2018 có 9.497 con; Tổngđàn gia cầm là 35.468 con, chăn nuôi phân bố đều ở các thôn bản

- Về nuôi trồng thuỷ sản: Toàn xã có 3,55 ha diện tích ao nuôi Ba Ba thương phẩm, tập chung nhiều ở các thôn Văn Hưng, Lâm Sinh, Khe Đắc, Ba Khe

- Công nghiệp, dịch vụ: Toàn xã có 03 xưởng chế biến chè xanh, đen,

có 20 hộ làm bom chè khô; 03 hợp tác xã chế biến gỗ bóc rừng trồng; 01 doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu; 02 hợp tác xã khai thác đá; 190 hộ kinh doanh dịch vụ, chủ yếu là bán lẻ hàng thương nghiệp tại 01 chợ trên địa bàn

- Dân số năm 2018 là 10.364 người (Nam 5.252 người; nữ 5.112 người), gồm 2.355 hộ (520 hộ nghèo chiếm 22,1%; 165 hộ cận nghèo, chiếm7,0%; hộ trung bình 1.587 hộ chiếm 67,4%; 82 hộ khá chiếm 3,5%), với 16 dân tộc: Kinh, Tày, Thái, Dao, HMông… trong đó dân tộc Kinh chiếm 52%

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,2%, không có tăng cơ học do người dân đi nơi khác làm ăn

- Hiện có 5.286 người trong độ tuổi lao động, chiếm 51% dân số (nam

là 2.679 người, nữ 2.607 người), lao động nông nghiệp 4.335 người chiếm82%, lao động phi nông nghiệp có 951 người chiếm 18%; lao động qua đào

Trang 40

tạo tỷ lệ thấp, toàn xã có 307 người được đào tạo, đạt 5,8%

- Có 16/17 thôn có nhà văn hoá (09 nhà xây, 07 nhà gỗ); 1.912 hộ gia đình văn hóa chiếm 81,2% Có 6 trạm phát sóng BTS trên địa bàn và hơn 95% hộ dân trong xã có điện thoại di động

- Toàn xã có 4 trường học, gồm:

+ Trường Mầm Non: Gồm 01 trường trung tâm và 5 điểm trường tạicác thôn với 32 giáo viên, 370 cháu, hiện có 13 lớp, 13 phòng học

+ Trường tiểu học: Có 01 trường chính và 4 phân hiệu tại các thôn với

523 học sinh, 37 giáo viên, 22 phòng học

+ Trường Trung học cơ sở: Có 02 trường trung tâm với 951 học sinh,

60 giáo viên, 32 phòng học và 4 phòng chức năng

+ Trường Phổ thông Trung học: Có 1 điểm trường tại thôn Khe Ba, gồm 28 phòng học, 1.115 học sinh, 100 giáo viên

- Y tế: Bệnh viện Đa khoa huyện Văn Chấn nằm trên địa bàn và 01Trạm y tế xã, đảm bảo việc khám chữa bệnh phục vụ nhân dân trong xã và khu vực

- Giao thông: Ngoài 2 tuyến đường quốc lộ 32 và 37 đi qua địa bàn xã (dài 20 km) còn có 2 tuyến đường đất liên xã dài 7km, 11 tuyến đường đấtliên thôn bản dài 62,5km, 18 tuyến đường trục chính ngõ xóm có chiềudài 64,5 km

- Thuỷ lợi: Tổng tuyến kênh tưới dài 103,20 km, cứng hoá 58,5 km, 44,7 km chưa cứng hoá; Dùng đật, kè tạm lấy nước suối Ngòi Lao, Ngòi Phà, Ngòi Tỳ và kênh đất phục vụ sản xuất cho toàn xã

- Hiện trạng cấp điện: Hiện có 10 trạm biến áp (03 trạm phục vụ doanh nghiệp, 07 trạm phục vụ thắp sáng cho dân); Hiện còn 36 hộ chưa có điện, chiếm 1,5%

Ngày đăng: 23/06/2021, 06:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w