Bên cạnh các yếu tố về kiến trúc công trình, quận Hoàn Kiếm còn có hệ thống cây xanh bóng mát đường phố đẹp, chủng loại đa dạng với nhiều cây cổ thụ lâu đời gắn liền với lịch sử phát tri
Trang 1-
NGUYỄN THỊ HOÀN
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG, ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP
BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN CÂY XANH ĐƯỜNG PHỐ
QUẬN HOÀN KIẾM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Trang 2-
NGUYỄN THỊ HOÀN
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG, ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP
BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN CÂY XANH ĐƯỜNG PHỐ
QUẬN HOÀN KIẾM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Lâm học
Mã Số: 60620201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS ĐẶNG VĂN HÀ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Hoàn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Lâm nghiệp, tôi luôn nhận được sự quan tâm, dạy dỗ và chỉ bảo ân cần của các thầy giáo, cô giáo Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu Nhà trường, Phòng Đào tạo sau Đại học, quý thầy cô cùng toàn thể cán bộ trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS.Đặng Văn Hà, là thầy giáo đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn Công ty TNHH một thành viên Công viên cây xanh Hà Nội
đã giúp đỡ tôi trong việc điều tra nghiên cứu thực tế để thu thập số liệu cho luận văn
Tôi vô cùng biết ơn sự quan tâm giúp đỡ động viên của gia đình, người thân
và bạn bè trong quá trình thực hiện luận văn này
Thời gian qua, mặc dù tôi đã làm việc với tinh thần nghiêm túc, nỗ lực hết mình Song do điều kiện về thời gian, nhân lực, tài chính cùng với kinh nghiệm và kiến thức bản thân còn nhiều hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng từ các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để tôi có điều kiện hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn./
Tác giả
Nguyễn Thị Hoàn
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Nghiên cứu bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đô thị trên thế giới 3
1.1.1 Thời kỳ trung đại 3
1.1.2 Thời kỳ cận đại 4
1.1.3 Thời kỳ hiện đại 5
1.2 Nghiên cứu bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đô thị ở Việt Nam 7
1.2.1 Thời kỳ phong kiến 7
1.2.2 Thời kỳ Pháp thuộc (1858-1945) 8
1.2.3 Thời kỳ từ năm 1945 đến nay 10
1.3 Bảo tồn và phát triển cây xanh đô thị trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 12
Chương 2 MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 14
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 14
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 14
2.2 Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu 14
Trang 62.2.1.Đối tượng nghiên cứu: 14
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu: 14
2.3 Nội dung nghiên cứu 14
2.3.1 Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố khu vực quận Hoàn Kiếm 14
2.3.2 Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đường phố trên địa bàn nghiên cứu 14
2.4 Phương pháp nghiên cứu 15
2.4.1 Phương pháp ngoại nghiệp 15
2.4.2 Công tác nội nghiệp 16
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 17
3.1 Điều kiện tự nhiên 17
3.1.1 Vị trí địa lý 17
3.1.2 Địa hình 17
3.1.3 Khí hậu 18
3.1.4 Thổ nhưỡng 19
3.1.5 Độ ẩm không khí 20
3.1.6 Thủy văn 20
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 21
3.2.1 Diện tích và dân số 21
3.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 21
3.2.3 Lịch sử hình thành và phát triển 22
3.2.4 Cảnh quan thiên nhiên 23
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố khu vực quận Hoàn Kiếm 24
4.1.1 Hiện trạng thành phần loài cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm 24
4.1.2 Hiện trạng cây xanh đường phố trên các khu vực của quận Hoàn Kiếm 27
Trang 74.2 Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm 80 4.2.1 Các căn cứ làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển cây xanh đường phố trên địa bàn quận Hoàn Kiếm 80 4.2.2 Giải pháp bảo tồn các cá thể cây cổ thụ và cây quý hiếm 83 4.2.3 Đề xuất giải pháp phát triển cây xanh đường phố địa bàn quận Hoàn Kiếm 85 KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Nội dung của ký hiệu viết tắt
đất) đến đỉnh sinh trưởng của thân cây
H dc
Chiều cao dưới cành của cây rừng tính từ vị trí gốc cây (sát mặt đất) đến vị trí điểm phân cành lớn đầu tiên của thân cây
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 10STT Tên bảng Trang
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
4.5
4.7
4.8
Cây Xà cừ đường kính thân 75cm trước số nhà 39 phố Hai Bà
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây xanh có một vai trò quan trọng trong đời sống của con người trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Hệ thống cây xanh từ lâu đã được con người coi như lá phổi của trái đất có tác dụng bảo vệ môi trường và cải thiện môi sinh Cây xanh không những làm đẹp cho thành phố và làm phong phú cuộc sống dân cư đô thị mà còn có ý nghĩa kinh tế và tác dụng phòng hộ Ngoài tác dụng tạo cảnh quan và bóng mát, hệ thống cây xanh đường phố còn có nhiều tác dụng đối với môi trường như: giảm nhiệt độ không khí, tăng độ ẩm, cung cấp khí ô xi và giảm tích lũy khí các bon, hạn chế tiếng ồn, hấp thu các chất có tính phóng xạ, giảm nồng
độ bụi Trên phương diện kiến trúc, cây xanh đô thị là một bộ phận tổ thành cấu trúc đô thị Mỗi loài cây đều có hình dáng, màu sắc, kích thước, cấu trúc, mức độ sinh trưởng khác nhau, phối hợp với các thành phần kiến trúc khác nhau, tạo cho đô thị thành một quần thể thống nhất có giá trị thẩm mỹ cao Trong hệ thống cây xanh
đô thị thì cây xanh đường phố có vị trí quan trọng trong việc liên kết các mảng xanh tạo môi trường thẩm mỹ đường phố, tạo cảnh quan cho bộ mặt của đô thị
Hà Nội là thủ đô đất nước Việt Nam và đã có lịch sử phát triển trên 1000 năm Mặc dù thành phố Hà Nội đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, nhiều lần điều chỉnh quy hoạch nhưng quận Hoàn Kiếm luôn là khu vực trung tâm của Thành phố
So với các quận còn lại, quận Hoàn Kiếm là nơi bảo tồn nhiều công trình kiến trúc cảnh quan có giá trị về lịch sử và nghệ thuật, đặc biệt là khu vực phố cổ
Về tổng thể, địa bàn quận Hoàn Kiếm được chia thành 3 phân khu chính gồm khu phố cổ, khu phố cũ và khu vực phố mới nằm ngoài đê Sông Hồng Bên cạnh các yếu tố về kiến trúc công trình, quận Hoàn Kiếm còn có hệ thống cây xanh bóng mát đường phố đẹp, chủng loại đa dạng với nhiều cây cổ thụ lâu đời gắn liền với lịch sử phát triển của quận Tuy nhiên, chất lượng hệ thống cây xanh đường phố này cũng đang chịu tác động bởi quá trình đô thị hóa và sinh hoạt của người dân Nhiều cây bóng mát có tuổi đời, đường kính lớn bị bịt gốc, cành tán vướng mái nhà hoặc đường dây điện, thân bị đóng đinh treo biển quảng cáo, không gian sống bị thu hẹp
Trang 13làm tán cây mất cân đối, hệ rễ không phát triển…Hơn nữa, cây xanh tại khu vực phố cổ, phố cũ được quy hoạch và trồng khá lâu, công tác chăm sóc, duy trì chưa được sự quan tâm đúng mức nên đến nay một bộ phận cây không đáp ứng được yêu cầu về cảnh quan và an toàn
Để góp phần cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đường phố hiện có trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, tôi
đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu thực trạng, đề xuất biện pháp bảo tồn và phát
triển cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm – Thành phố Hà Nội”
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nghiên cứu bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đô thị trên thế giới
Qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài người ,quá trình đô thị hóa ở các nước ngày càng tăng, số liệu tổng hợp của Liên Hiệp Quốc (1991) chỉ ra rằng vào giữa năm 1990, khoảng 45% dân số thế giới sống ở các thị trấn và thành phố, con số này sẽ tăng lên 51% trong năm 2000 và 65% trong năm 2025 Quá trình phát triển
đô thị quá nhanh sẽ làm mất cân bằng hệ sinh thái và tác động tiêu cực tới sự phát triển bền vững của đô thị Trên thế giới đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về tạo lập môi trường sinh thái, tuy nhiên ở bất cứ quan điểm nào thì cây xanh đô thị cũng
là một thành phần rất quan trọng để tạo nên một môi trường sống tốt và sự tham gia của cộng đồng là yếu tố then chốt, là phương thức hiệu quả để quản lý và phát triển cây xanh đô thị Qua đó các nghiên cứu về bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh
đô thị trên thế giới đã trải qua nhiều thời kỳ
1.1.1 Thời kỳ trung đại
Các công trình kiến trúc, công trình tôn giáo trong xã hội phong kiến đã được kết hợp trồng cây xanh Đến thế kỷ IX, hệ thống đô thị với 3 loại hình: đô thị tôn giáo, đô thị quân sự và đô thị thương mại Trong đó, không gian xanh đa dạng hơn, nổi bật là xuất hiện không gian xanh công cộng, quảng trường, cung điện [21]
Công tác trồng cây xanh dọc theo các tuyến đường bắt đầu có từ khoảng thế kỉ
X trước Công nguyên Với mục đích vì quân sự, người ta đã cho trồng cây trên tuyến đường nối từ Kolkata của Ấn độ đến Afghanistan nằm ở chân dãy Himalaya Cây trên đường được trồng thành 3 hàng, một hàng chính giữa trung tâm đường và hai hàng cây hai bên đường Vào thời kỳ đó đường còn có một tên gọi khác là “Grand trunk road” - Đường cây lớn [27]
Sau đó đến khoảng giữa thế kỉ VIII trước Công nguyên vùng Lưỡng hà (Mesopotania), khi xây dựng cung điện người ta đã trồng các hàng cây Tùng, Cây Bách Italia (Italian crypress) thành hàng đối xứng dọc theo các tuyến đường trong
Trang 15khu vực cung điện Đây cũng được xem là mốc lịch sử trồng cây xanh đường phố của các quốc gia vùng châu Âu [27]
Từ thế kỉ VII trước Công nguyên đến thế kỉ IV Công nguyên (thời kỳ Hi Lạp
cổ đại), người ta thấy hai bên các đường dạo phía trước các sân vận động (Stadium)
và quảng trường (Forum) trước các đền thờ đều có trồng cây Ngô đồng Pháp Còn ở những tuyến đường chính trong các khu thành cổ La mã thì lại chủ yếu trồng Bách Italia Tiếp đến thời kỳ từ thế kỉ V cho đến thế kỉ XIV, nhiều quốc gia châu Âu cũng đã trồng Bách Italia trên các tuyến đường hành lễ [27]
1.1.2 Thời kỳ cận đại
Sau thời kỳ văn hóa phục hưng tại một số quốc gia vùng châu Âu, công tác trồng cây đường phố phát triển khá nhanh Năm 1552, ở nước Pháp, Henri 2 đã từng công bố pháp lệnh trồng cây, phát động nhân dân trong cả nước trồng cây trên các tuyến đường chính trong các khu ở và trồng cây trên các tuyến đường quốc lộ Cũng trong thời kỳ này, Đế chế Áo – Hung (Austro-Hungarian empire) cũng đưa ra kế hoạch trồng cây Ngô đồng Pháp dọc theo các tuyến đường chính trong cả nước với mục đích là bổ sung nguồn gỗ cung cấp cho các hoạt động quân sự [27]
Chủ nghĩa tư bản xuất hiện vào thế kỷ 17 đã tạo điều kiện để đô thị phát triển với qui mô lớn Các nghiên cứu về đô thị học ra đời làm lý luận về cây xanh đô thị càng được chú trọng hơn Năm 1647, ở Đức sau khi xây dựng tuyến đại lộ tại thành phố Beclin, người ta đã trồng 4-6 hàng cây bóng mát lớn hai bên đường Tuyến đường này sau đã được các nhà quy hoạch đô thị Pháp nghiên cứu và áp dụng trong việc xây dựng loại hình đường Boulvars tại thành phố Pari sau này [22]
Ở Anh vào năm 1652, công viên St.Jame‟s Park tại vùng Moore Phils, thủ đô Luân Đôn đã được thiết kế các đường dạo bóng mát công cộng có độ dài khoảng 1
km, hai bên đường trồng 4-6 hàng cây Ngô đồng Pháp tạo bóng mát với mục đích phục vụ Nữ Hoàng đi dạo trên xe ngựa Sau đó mô hình dạng đường bóng mát này được sử dụng rộng rãi để tạo nên các đường cây bóng mát trong các đô thị ở nước Anh [22]
Trang 16Nước Anh cũng là một trong những quốc gia có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu về cây xanh đô thị Jame Lyte (1578) trong cuốn Dodens đã sử dụng
khá chi tiết về việc chăm sóc cây trồng đô thị trong cuốn “Vườn và vườn giống
mới” John Evelyn, năm 1662 đã đề cập đến tất cả các lĩnh vực cây trồng (CAT, cây
lâm nghiệp) trong một cuốn sách có tên Sylva (Eve, 1970) Trong cuốn sách này
ông chú trọng đến việc nghiên cứu cây trồng đường phố, cây cảnh
Năm 1825, ở Pháp Chính phủ đã công bố pháp lệnh về việc bắt buộc phải trồng cây xanh bóng mát trên các tuyến đường phố Pháp lệnh này chính là cơ sở để xây dựng những quy phạm kỹ thuật về tuyển chọn cây trồng, kiểm nghiệm chất lượng cây giống đưa trồng, cắt tỉa và duy trì cây xanh trên các tuyến đường đô thị [23]
Năm 1858, kiến trúc sư Georges E.H Smann chủ trì thiết kế xây dựng tuyến đường bóng mát Champs Elysees ở thành phố Senna Tuyến đường này đã trở thành mẫu đường bóng mát điển hình thời kỳ cận đại và có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển mô hình đường bóng mát ở các thành phố của Mỹ và các quốc gia khu vực châu Âu Năm 1872, kiến trúc sư người Pháp Pierre Charles L.Enfant thiết kế các tuyến đường bóng mát tại thành phố Washington cũng đa số là áp dụng các mô hình đường bóng mát của Pháp Đặc biệt để chọn loài cây trồng cho các tuyến đường thiết kế ở Mỹ, nhà thiết kế đã tiến hành thử nghiệm 30 loài cây và chọn ra được 12 loài cây thích hợp nhất dùng cho trồng đường phố [23]
1.1.3 Thời kỳ hiện đại
Cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật ra đời và phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ 19 đã thúc đẩy sản xuất phát triển, dân cư đô thị ngày càng đông đúc hơn Các nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí cho dân cư đô thị do cuộc sống Công nghiệp hóa ngày càng cao đặt cho các nhà quản lý đô thị phải tính đến việc xây dựng nhiều mảng xanh hơn nữa Việc thiết kế không chỉ ở nội đô, mà phải mở rộng ra bên ngoài, nơi đất đai còn khá dồi dào
Trong quá trình phát triển, mặc dù châu Âu đã có một lịch sử lâu dài và phong phú của các thiết kế mảng xanh, cách thức quản lý cây xanh [22], nhưng lâm nghiệp
Trang 17đô thị chính thức được nghiên cứu như một lĩnh vực khoa học đầu tiên tại Vương quốc Anh trong thập niên 1980 Jorgensen giới thiệu các khái niệm về lâm nghiệp đô
thị tại Đại học Toronto, Canada, vào năm 1965 [24] “Lâm nghiệp đô thị không chỉ
liên quan đến cây xanh thành phố hay quản lý cây cá thể, mà còn quản lý cây xanh trong toàn bộ khu vực chịu ảnh hưởng và sử dụng bởi cư dân đô thị” Năm 1978,
Hiến chương lâm nghiệp phối hợp (The Coopperative Forestry Act) đã định nghĩa lâm nghiệp đô thị “Lâm nghiệp đô thị nghĩa là trồng và tạo lập, bảo vệ và quản trị
cây xanh và các thực vật kết hợp dưới dạng cá thể, nhóm nhỏ hay dưới hoàn cảnh rừng trong các thành phố, ngoại ô của thành phố và nông thôn ngoại thành”
Ở Mỹ, theo Nowak (1994) đưa ra rằng diện tích phủ xanh ở Mỹ trải từ 55% ở Baton Rouge, Louisiana tới 1% ở Lancaster, California, tỷ lệ phủ xanh lớn nhất là ở những vùng đất trống, công viên và khu dân cư Cây xanh đường phố chiếm 1/10 số cây trong đô thị Riêng thành phố Chicago nơi có cây xanh bóng mát phát triển mạnh nhất trên các tuyến đường phố Toàn thành phố có khoảng 3,1 triệu cây xanh, trong đó 10% là cây xanh đường phố chiếm 24% tổng diện tích phủ xanh của thành phố [26]
Ở Liên Xô cũ (trước khi giải thể năm 1991), công tác phát triển cây đường phố cũng đạt được nhiều thành tựu cả về lý luận lẫn thực tiễn, đặc biệt vào những năm sau cách mạng tháng 10 Nga thành công [25] Trong hệ thống cây đường phố, nhấn mạnh việc kết hợp giữa những đường bóng mát, các dải rừng phòng hộ để tạo thành những hành lang xanh trong đô thị Số lượng đường bóng mát tại thành phố Matxcova đã tăng lên đáng kể, từ 40 tuyến đường vào năm 1957 lên 100 tuyến đường vào năm 1973 [22] Những tuyến đường này đã góp phần đáng kể bảo hộ và cải thiện môi trường của thành phố
Trong các công trình nghiên cứu của L.B.Lunx A.C Xalatyn, L.X Dalexcaia
và nhiều nhà nghiên cứu khác đã tìm tòi những tỷ trọng cây xanh đường phố thích hợp, đề ra những nguyên tắc cơ bản và các vấn đề thiết kế cây xanh đường phố Kết quả của các công trình nghiên cứu đã được vận dụng trong thực tiễn xây dựng ở Liên Xô, Đức, Mỹ, Anh, Pháp
Trang 18Ở khu vực châu Á, nước có lịch sử trồng cây đường phố sớm nhất là Trung Quốc Theo kết quả nghiên cứu của Wang Hao, thì lịch sử trồng cây trên các tuyến đường giao thông ở Trung Quốc đã thực hiện trước đây khoảng 3500 năm Sau đó đến Nhật Bản, cây xanh đường phố phát triển từ những năm đầu của thế kỉ 17 [29] Điển hình như thành phố Sendai bắt đầu được biết tới là một thành phố của cây xanh từ trước Thế chiến thứ hai Các lãnh chúa của Sendai đã khuyến khích dân trồng cây xanh trong sân nhà và ngoài đường phố Kết quả mọi ngôi nhà, ngôi đền
và điện thờ, trên đường phố ở trung tâm thành phố đều có những khu rừng gia đình được sử dụng với mục đích nguồn cung cấp gỗ và nguyên liệu hàng ngày Sau Thế chiến thứ hai, thành phố Sendai đã bị oanh tạc và mọi thứ hầu hết bị phá huỷ nhưng Sendai vẫn được biết đến như "Thành phố của cây xanh" vì tất cả mọi cố gắng to lớn nhằm phục hồi lại cây xanh [29]
Nhiều kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới đã chứng minh ngoài tác dụng tạo cảnh quan và bóng mát, hệ thống cây xanh đường phố còn có tác dụng làm giảm nhiệt độ không khí, ngăn chặn làm giảm tốc độ của gió, tăng độ ẩm tác dộng tích cực vào chu kỳ tuần hoàn nước Cung cấp khí ô xi và giảm tích lũy khí các bon, mặt khác làm hạn chế tiếng ồn, hạn chế ô nhiễm không khí hấp thu các chất
có tính phóng xạ, làm giảm nồng độ bụi, giảm bớt lượng vi khuẩn trong không khí
Từ những kết quả nghiên cứu nói trên có thể thấy, lịch sử trồng cây xanh có
từ hàng nghìn năm trước nhưng việc nghiên cứu khoa học về vấn đề này thì mới phát triển khoảng vài chục năm gần đây để đáp ứng các nhu cầu của con người về môi trường, cảnh quan kiến trúc, tính thẩm mỹ Hiện nay, trên thế giới đã có cả một
hệ thống lý luận và kinh nghiệm thực tiễn phong phú nghiên cứu về cây xanh đô thị Trong đó khẳng định rằng khi quy hoạch cho thành phố, quy hoạch cho công tác trồng cây xanh là đặc biệt quan trọng và phải có trong quy hoạch tổng thể
1.2 Nghiên cứu bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đô thị ở Việt Nam
1.2.1 Thời kỳ phong kiến
Công tác trồng cây xanh ở các đô thị đã được tiến hành từ hàng trăm năm trước Từ xa xưa, cha ông ta khi xây dựng các công trình kiến trúc cũng đã chú ý đến việc trồng cây xanh Những tài liệu lưu lại không còn nhưng những thành quả của
Trang 19việc trồng cây xanh còn lại đến ngày nay thể hiện ở các đình, đền, chùa hoặc các công trình lăng tẩm và đây cũng thể hiện truyền thống và bản sắc dân tộc riêng của Việt Nam Đặc biệt tại thành phố Huế, vào thời kỳ Triều Nguyễn cây xanh đã được chú trọng trồng trên các con đường, trong mỗi vườn nhà tạo nên nét đặc trưng riêng
1.2.2 Thời kỳ Pháp thuộc (1858-1945)
Vào những năm 1925-1935, Hà Nội được người Pháp xây dựng thành một trong 3 thành phố đẹp nhất châu Á thời đó (Hà Nội, Tokyo và Thượng Hải) Các kiến trúc sư từ nước Pháp với nhiều ý tưởng canh tân và chọn Hà Nội là mảnh đất thực nghiệm “Thành phố – Vườn cây” của mình Khu vườn Bách Thảo đã được quy hoạch xây dựng vào năm 1896
Từ năm 1884, Hà Nội đã có những bản thiết kế đường phố đầu tiên do các Kỹ
sư công chính lập ra thay đổi diện mạo của kinh thành hoang phế phương Đông sau những biến cố lịch sử … chỉ còn lại làng quê với nhiều ngôi nhà mái tranh và đường đất
Cây đầu tiên được trồng theo chỉ dẫn tại Hà Nội là cây Phượng vĩ trên phố Tràng Tiền – Hàng Khay, đồng thời với việc làm vỉa hè và xây nhà gạch theo quy hoạch, loại cây này có nhiều muỗi và ve sầu kêu đinh tai vào mùa hè đã sớm bị thay thế
Để tìm kiếm các loại cây, hoa trồng trong đô thị thích hợp hơn, năm 1888, người Pháp lập “Jardin d‟essal” (Vườn thí nghiệm thực vật) rộng 33ha, ta thường gọi là vườn Bách Thảo
Vườn chia thành hai khu: khu cao (bên đường Hoàng Hoa Thám) là vườn cây, nuôi thú là nơi đi dạo, giải trí… Khu thấp (bên đường Thụy Khuê) làm vườn ươm – có tên là Laforge, ươm các giống cây bản địa, giống nhập từ Châu Phi, Châu
Mỹ và Châu Âu
Năm 1902, Thành phố treo biển tên phố, đánh số nhà Năm 1903, Thành phố quy định cây xanh chỉ trồng trên các phố có vỉa hè rộng hơn 3 mét trở lên và phải tuân theo tiêu chí: có bóng mát, bảo đảm mỹ quan, không có nhựa và khí độc hại, không đổ trước các trận bão vừa phải… Phạt tiền người nào phá hoại cây trên phố và
Trang 20phải trồng lại đúng giống cây đó Ở các phố lớn, Chính quyền cho lát vỉa hè và trồng cây lấy bóng mát Ban đầu, cây Xà cừ được trồng thử ở vườn Bách Thảo và chỗ đất trống xung quanh Cây Xà cừ lớn nhanh cho bóng mát rộng… Tuy nhiên, các nhà thực vật phát hiện ra giống cây này có nhược điểm là không chịu được ở khu vực đất trũng, rễ cây ăn ngang gây nguy hiểm cho các nhà mặt phố, đồng thời rễ nông, dễ đổ khi mưa bão lớn Lá Xà cừ rụng rải rác trong các mùa làm cho công nhân vệ sinh phải quét lá quanh năm Trong khi các giống bản địa: Sấu, Sao đen, Cơm nguội, Sưa đỏ… lại có ưu điểm là rễ cọc, tán gọn, thân thẳng, chống chọi được với gió
Các nhà thực vật vẫn cho trồng Xà cừ với số lượng hạn chế ở những nơi xa các công trình, nhà cửa để lấy bóng mát Thành phố cho trồng mỗi phố một loài để tạo kiến trúc phong cảnh Ở các phố phía nam hồ Gươm và các phố lớn quận Ba Đình, hay các phố Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lê Thánh Tông, đầu phố Bà Triệu, cuối phố Đinh Tiên Hoàng… chỉ trồng Sấu, Lý Thường Kiệt trồng Cơm nguội, nửa trên phố Lò Đúc trồng cây Sao đen Các vườn hoa Lý Thái Tổ trồng Sưa, vườn hoa Lênin, vườn Cửa Nam trồng Cọ Châu Phi, Muồng; các công thự trồng Hoàng lan, Cọ Cây Sấu tuy phát triển chậm nhưng có nhiều ưu điểm: lá đẹp, lại chỉ rụng vào một mùa Rất lãng mạn khi hoa rụng trắng vỉa hè tỏa mùi thơm dịu Quả sấu còn được dùng làm thức ăn, nước giải khát
Hình 1.1 Hàng cây trên phố Lý Thường Kiệt 1983
(Triển lãm “ Nơi mảnh đất hóa tâm hồn “ của John Ramsden- HN 2014)
Giống cây Sao đen có rễ cọc và nhìn hàng sao thẳng tắp nom khỏe khoắn và
uy nghi vô cùng Cây Cơm nguội chân chất, Cọ Châu Phi vươn cao lên trời, khát khao tự do, còn Hoàng lan sang trọng và gần gũi Còn cây hoa Sữa được trồng để át
Trang 21mùi hôi do thu thùng nhà vệ sinh vào giờ ăn cơm tối (ngày trước chưa có xí máy trên nhiều phố) được thơ ca làm nên mùi hương lãng mạn Nhưng nếu ngửi thường xuyên thì là cực hình và thu hút nhiều muỗi, sâu bọ Có ý kiến cho rằng: các nhà khoa học đã nghiên cứu trồng cây Sấu xen kẽ để trung hòa mùi Hoa sữa) (theo Trần Huy Ánh - Một thời “thành phố trong vườn cây” của Hà Nội - VietNamNet ngày 21/03/2015)
1.2.3 Thời kỳ từ năm 1945 đến nay
Việc nghiên cứu về lâm nghiệp đô thị một cách khoa học được thực hiện tập trung khoảng một vài chục năm gần đây Từ sau ngày miền Bắc được giải phóng, nhiều tuyến đường phố mới được xây dựng với hệ thống cây xanh ổn định, tạo cảnh quan đô thị Công tác trồng cây xanh ở các đô thị đã được Trung ương Đảng, Chính phủ và đặc biệt Hồ Chủ Tịch hết sức quan tâm Đảng và Chính phủ đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị vạch ra phương hướng và nhiệm vụ cho công tác trồng cây, gây rừng thực hiện việc trồng cây trong cả nước Trong hoàn cảnh đất nước trải qua cuộc chiến tranh phá hoại tàn khốc của giặc Mỹ, công tác cải tạo và xây dựng đô thị bị đình đốn, công tác cây xanh không phát triển Nơi nào nhận thức được lợi ích của cây xanh đô thị và quan tâm chỉ đạo thì phong trào trồng cây đường phố, bảo vệ cây
và các công viên, vườn hoa làm tốt, điển hình là Hà Nội, Hải Phòng Nhiều nơi công tác cây xanh không được chú ý, không có tổ chức chuyên trách, thiếu kế hoạch ươm và trồng cây Nhiều nơi đã trồng cây một cách tuỳ tiện và cây trồng không đúng tiêu chuẩn quy phạm xây dựng đô thị đã làm hư hỏng nhà cửa và các hệ thống công trình ngầm, hạn chế ánh sáng và gió mát Nhưng từ những nỗ lực ban đầu đó, kết quả đã trồng được nhiều cây bóng mát, cây phong cảnh cho đường phố, khu nhà
ở, những nơi sinh hoạt văn hoá công cộng Trồng được những đai cây xanh ở ngoại
ô có tác dụng phòng hộ cho thành phố, diện tích cây xanh đô thị được tăng lên so
với thời gian trước khi miền Bắc giải phóng [2]
Tính đến năm 1954, Hà Nội có 1.512 cây Sấu, chiếm tới 60% trong tổng số cây xanh ở bốn quận nội thành: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng và Đống Đa
Trang 22Song có một điều khó hiểu là cây Xà cừ có nhiều nhược điểm lại được trồng khá phổ biến sau 1954
Trận bão lớn năm 1967 và năm 1969 cho thấy các cây bị đổ trong hai trận bão này chủ yếu vẫn là Xà cừ, Phượng Cuối thời bao cấp, lấy lý do giống Cơm nguội hay bị sâu bên trong thân gây nguy hiểm nên họ đã chặt gần hết để thay vào
đó là Phượng Cây này hay trong các kỷ niệm ngày hè thuở học trò nhưng rất giòn
và hay gãy khi mùa mưa bão, cành giòn dễ gãy gây nguy hiểm cho người và xe cộ
Cây xanh đường phố đã từng làm nên nét đẹp Hà Nội, nhưng để có duy trì tiếng thơm ấy, Hà Nội còn nhiều việc dang dở để viết tiếp câu chuyện „„Thành phố cây xanh‟‟
Sau ngày giải phóng Sài Gòn năm 1975, trong thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 8.000 cây xanh đường phố, tập trung chủ yếu ở các quận trung tâm như quận 1, 3 và 5 Bên cạnh công tác chăm sóc, cải tạo, thay thế cây già cỗi, sâu bệnh, công tác trồng mới cây xanh được thực hiện theo kế hoạch hàng năm Trong thập niên đầu sau năm 1975, cây được trồng phủ xanh với số lượng lớn (trên các tuyến đường đô thị, đất dự kiến làm công viên nhưng chưa có quy hoạch cụ thể, nghĩa trang được công viên hóa v.v ) nhưng tỷ lệ cây sống và phát triển tốt rất thấp do cây đưa ra trồng có kích thước tương đối nhỏ nên sức sống kém và dễ bị bẻ phá Chỉ
có các dải cây xanh trồng trên đường phố ở khu vực nội thành trên một số tuyến ở Quận 1, 3 và một số các trục đường lớn ở các Quận khác có từ trước năm 1975 phát triển tốt tạo bóng mát cho người đi bộ [17]
Từ những năm 1990, kế hoạch trồng mới cây xanh hàng năm có giảm về chỉ tiêu số lượng nhưng tăng về chất lượng; quy cách cây đưa ra trồng trên đường phố lớn hơn nhằm tạo thuận lợi cho cây sinh trưởng, phát triển và hạn chế sự xâm hại cây xanh một cách vô ý thức, đồng thời, cây nhanh chóng phát huy tác dụng cải thiện môi trường và tạo cảnh quan đẹp cho các tuyến đường ngay sau khi được trồng mới Tuy nhiên, theo thống kê mới nhất của Phòng Quản lý công viên cây xanh - Sở Giao thông vận tải đến nay toàn bộ diện tích công viên, vườn hoa và cây
Trang 23xanh dải phân cách trên địa bàn thành phố chỉ còn khoảng 535 héc ta, giảm gần 50% so với năm 1998 [17]
Ở Huế, cây xanh được trồng nhiều tại các địa điểm công cộng như công viên, đường phố, vườn đồi, ven sông, góp phần quan trọng để tạo nên một nét Huế riêng Theo danh mục các loài thực vật quý hiếm ở Thừa Thiên Huế có tên trong sách đỏ Việt Nam 1996 và Nghị định số 48/2002/NĐ-CP (trên Cổng Thông tin điện
tử Thừa Thiên Huế) có 43 loài trong đó một số loài đang được trồng làm cây bóng mát như Chò chỉ, Kim Giao, Pơ mu, Sao lá to, Sến mủ…
Nhiều công trình nghiên cứu và bài viết liên quan đến quy hoạch xây dựng đô thị, phát triển cây xanh và quản lý trong môi trường đô thị, kiến trúc cảnh quan đô thị, chủng loại cây xanh đô thị…đã được các tác giả như Hàn Tất Ngạn, Phạm Kim Giao, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Trần Hợp, Nguyễn Thế Bá, Chế Đình Lý…công bố
Nhà Nước cũng đã ban hành cácNghị định, Thông tư, Quyết định để phục vụ công tác quản lý cây xanh đô thị như Nghị định 64/2010/NĐ-CP của Chính phủ; Thông tư 20/2005/TT-BXD của Bộ Xây dựng; Quyết định số 19/2010/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội với mục đích bảo tồn, phát triển hệ thống cây xanh đô thị trong cả nước nói chung và địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng
Những năm gần đây cùng với quá trình đô thị hóa mạnh mẽ, việc nghiên cứu phát triển cây xanh đô thị được quan tâm ở hầu hết các đô thị lớn trong cả nước Điều này cũng khẳng định vai trò và vị trí của cây xanh đô thị trong xây dựng nền công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hóa ở nước ta
1.3 Bảo tồn và phát triển cây xanh đô thị trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
Thực hiện mục tiêu xây dựng thành phố Hà Nội xanh, sạch, đẹp, văn minh, hiện đại, một trong những nhiệm vụ quan trọng là xác định quy hoạch và phát triển đồng bộ hệ thống cây xanh đô thị với các hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác của Thành phố Các loài cây xanh, cây bóng mát trong nhiều năm qua đã phát huy tác dụng cải thiện môi trường và tô đẹp thêm cho đường phố Tuy vậy, hệ thống cây xanh bóng mát hiện nay còn một số vấn đề tồn tại cần phải được điều tra đánh giá một cách
Trang 24khoa học và thực tiễn Những loài cây có giá trị, phát huy tác dụng tốt cần được bảo tồn, phát triển Những loài có tác dụng xấu đến môi trường cần phải loại bỏ, thay thế bằng những loài cây mới
Trong 12 quận nội thành, quận Hoàn Kiếm đã có hệ thống cây bóng mát với
số lượng lớn và phát triển tương đối ổn định đặc biệt trên các tuyến phố cổ, phố cũ Tuy nhiên trong quá trình phát triển, chất lượng của hệ thống cây xanh đang giảm dần do chịu tác động từ các yếu tố tự nhiên và con người Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của xã hội, do ý thức của người dân nhiều cây cổ thụ trước cửa nhà do cản trở đến kinh doanh, buôn bán đã bị xâm hại làm cây bị chết Ngoài ra, trên nhiều tuyến đường phố người dân tự phát trồng nhiều loài cây không thuộc chủng loại cây đô thị cũng như không theo quy hoạch Nhiều cây trong quá trình phát triển chịu các tác động khách quan hoặc chủ quan làm thân cong, nghiêng, chết ngọn, sâu mục ở thân, gốc làm cây bị đổ gẫy trong mùa mưa bão, một
số cây già cỗi không phát huy hiệu quả về cảnh quan đô thị, tác dụng về môi trường, tiềm tàng mối nguy hiểm khi bị đổ, gẫy
Để có được hệ thống cây xanh đạt chuẩn, đáp ứng được các yêu cầu cho sự phát triển bền vững riêng của quận Hoàn Kiếm và Thủ đô Hà Nội cần có các giải pháp bảo tồn và phát triển đồng bộ gắn với quy hoạch để phát huy được hiệu quả của hệ thống cây xanh đô thị trước mắt và lâu dài Đây là nhiệm vụ quan trọng cần được quan tâm của toàn xã hội gồm Nhà nước, các cơ quan, đoàn thể, tổ chức và người dân
Trang 25Chương 2 MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.2 Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu
2.2.1.Đối tượng nghiên cứu:
Hệ thống cây trồng bóng mát và cây cổ thụ trên đường phố của quận Hoàn Kiếm
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài thực hiện nghiên cứu hệ thống cây xanh của 152 tuyến phố, thuộc địa bàn
18 phường, trong đó khu phố cổ: 76 tuyến; khu phố cũ: 71 tuyến và khu vực phố ngoài đê: 5 tuyến
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố khu vực quận Hoàn Kiếm
2.3.1.1 Đánh giá hiện trạng cây xanh đường phố khu vực phố cổ
2.3.1.2 Đánh giá hiện trạng cây xanh đường phố khu vực phố cũ
2.3.1.3 Đánh giá hiện trạng cây xanh đường phố khu vực phố ngoài đê
2.3.2 Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đường phố trên địa bàn nghiên cứu
Trang 262.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp ngoại nghiệp
2.4.1.1 Phương pháp kế thừa
- Các văn bản có liên quan
- Các tài liệu kết quả nghiên cứu hệ thống cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm
- Các số liệu thống kê hệ thống cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm
- Các sơ đồ, bản đồ hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm
2.4.1.2 Phương pháp điều tra hiện trạng
- Điều tra, đo đếm và mô tả ghi chép các tuyến đường, hệ thống cây xanh đường phố, gồm khu phố cổ 76 tuyến, khu phố cũ 71 tuyến, khu phố mới ngoài đê 05 tuyến
- Đo đếm cụ thể và tổng hợp vào phiếu: Khảo sát hiện trạng cây xanh đường phố Nội dung đo đếm ghi chép gồm:
- Chỉ tiêu chung:
+ Loài cây: gồm tên thường gọi và tên địa phương
+ Đơn vị quản lý: Công ty, cơ quan, gia đình
+ Sở hữu: Nhà nước, tập thể, tư nhân
+ Số nhà: kèm theo tên, phố, đường
+ Mã số loài cây
- Chỉ tiêu định lượng:
+ Đường kính thân cây ở độ cao 1,3m
+ Chiều cao cây: Chiều cao vút ngọn
+ Chiều cao dưới cành: Chiều cao tới chỗ phân cành lớn nhất
+ Đường kính tán
+ Vật hậu
- Đánh giá chất lượng cho cây đường phố: tạo bóng mát, cảnh quan, chịu cắt tỉa, ít
đổ gẫy, mức độ sinh trưởng, phát triển
- Hình thức phối trí và thiết kế cây trồng: điều tra khoảng cách cây, trồng trên dải đất hay theo hố trồng, trồng đan xen hay trồng lẫn, trồng theo hàng hay theo khóm…
Trang 27- Nhận xét đánh giá mối quan hệ giữa cây xanh và các yếu tố xung quanh (con người, động vật, các cơ sở hạ tầng kĩ thuật như giao thông, điện nước, nhà cửa…)
c Phương pháp phỏng vấn
Kết hợp trong quá trình tiến hành điều tra hệ thống cây xanh, tiến hành thực hiện phỏng vấn người dân và các nhà chuyên môn với những nội dung chính sau:
- Vai trò cây xanh trong cảnh quan đô thị
- Ảnh hưởng của hoạt động sống con người tới sinh trưởng, phát triển cây xanh
- Mong muốn, nguyện vọng người dân về vấn đề cây xanh đường phố
- Vai trò của người dân trong bảo vệ, duy trì cây xanh
- Phỏng vấn các nhà quản lý và chuyên môn về công tác quản lý cây xanh đô thị
và định hướng lựa chọn loài cây trồng…
2.4.2 Công tác nội nghiệp
- Tìm đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm có thêm các thông tin và luận cứ để vận dụng trong quá trình phân tích đánh giá cũng như xây dựng các phương án đề xuất
- Các số liệu điều tra được tổng hợp vào máy tính và được xử lý phân tích bằng phần mềm Excel
- Phân tích đánh giá đánh giá hiện trạng cây xanh đô thị ở khu vực nghiên cứu: + Theo Phường và đường phố
+ Theo các loài cây và cấp đường kính
+ Tổng hợp đánh giá chất lượng cây gồm 3 cấp: Tốt (T), Trung bình (TB) và Kém (K)
+ Tham khảo các tài liệu và đề xuất các nhóm giải pháp cho việc bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đô thị trên địa bàn quận Hoàn Kiếm
Trang 28Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Quận Hoàn Kiếm nằm ở trung tâm của Thủ đô Hà Nội có tọa độ địa lý:
Ranh giới giáp:
- Phía Tây giáp quận Đống Đa
- Phía Tây Bắc giáp quận Ba Đình và quận Đống Đa
- Phía Nam giáp quận Hai Bà Trưng
- Dọc từ phía Bắc xuống phía Nam là sông Hồng
- Phía Đông giáp sông Hồng, bên kia sông là Quận Long Biên Quận Hoàn Kiếm có 18 phường: Chương Dương, Cửa Đông, Cửa Nam, Đồng Xuân, Hàng Bạc, Hàng Bài, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Buồm, Hàng Đào, Hàng Gai, Hàng Mã, Hàng Trống, Lý Thái Tổ, Phan Chu Trinh, Phúc Tân, Tràng
3.1.2 Địa hình
Quận Hoàn Kiếm nằm trong khu vực có địa hình tương đối bằng phẳng, thoải dần từ Đông sang Tây và từ Bắc xuống Nam Cao độ cao nhất là 11,0m và thấp nhất là 6,5m Qua nhiều năm xây dựng, địa hình đã được bồi nền nhân tạo cao thêm 1¸2 m so với địa hình tự nhiên ban đầu
Diện tích đất chưa sử dụng trên địa bàn quận hầu như không đáng kể, chỉ khoảng 0,4 ha ở phường Chương Dương Thế nhưng đây là vùng đất nằm trong hành lang thoát lũ nên cũng rất khó có khả năng khai thác Điều này chứng tỏ tình hình sử dụng đất của quận rất tốt nhưng đây cũng là khó khăn cho quận trong việc tiếp tục phát triển thêm các dự án kinh tế - xã hội khi có nhu cầu
Quận Hoàn Kiếm có 21,26 % diện tích tự nhiên là mặt nước sông Hồng Diện tích này có giá trị lớn về cảnh quan, môi trường nhưng đến nay vẫn chưa được
Trang 29khai thác Nếu các biện pháp tổng thể của Chính phủ về chỉnh trị sông Hồng được triển khai, khi đó ý tưởng xây dựng thành phố ven sông được thực hiện, thì diện tích mặt nước sông Hồng mới thực sự được khai thác phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Hoàn Kiếm nói riêng và của cả thành phố nói chung
Quận Hoàn Kiếm có điều kiện khí hậu chung của Thành phố Hà Nội, một năm chia thành 2 mùa rõ rệt Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ
trung bình trong năm: 84,5%
Biểu đồ nhiệt độ không khí trung bình các tháng (ºC)
Trang 30Biểu đồ lượng mưa trung bình các tháng (mm)
3.1.4 Thổ nhưỡng
Một nhà khoa học nước ngoài khi nghiên cứu về Đồng bằng Bắc Bộ đã phát biểu: "Vùng Đồng bằng Sông Hồng đã chết ở tuổi vị thành niên" Cha ông ta từ xa xưa trong quá trình trị thủy Sông Hồng đã xây dựng nên hệ thống đê điều hoàn chỉnh Toàn bộ phù sa Sông Hồng bị che chắn bởi đê đã bị đẩy ra tận cửa sông Tất
cả các loại đất trong đê hầu như không còn được tiếp tế từ nguồn phù sa tự nhiên
Phù sa Sông Hồng từ xưa đã bồi tụ lấp vào vùng trũng giữa núi được gọi là
"Vùng trũng Hà Nội" làm cho trầm tích ở đây có chiều dày khá lớn Đây là loại phù sa mới rất phì nhiêu được bồi tụ một cách tự do trong điều kiện ngày xưa chưa có đê nên phần đất nổi cao hơn nhiều so với mực nước biển
Đất quận Hoàn Kiếm nằm trong quy luật chung của Đồng bằng Sông Hồng, chủ yếu là loại đất trong đê hầu như đã mất hẳn nguồn bổ sung từ phù sa tự nhiên Đất có hiện tượng rửa trôi theo chiều thẳng đứng từ trên xuống, nghèo một phần các chất kiềm và hơi chua, đến một chừng mực nhất định do bị ẩm nên có hiện tượng
"Glây" làm cho tầng đất sét ở dưới có màu xám xanh
Trang 31Trải qua thời gian dài canh tác và bón phân của con người đất ở đây đã biến đổi mạnh, nhất là luôn nằm trong trạng thái bị ngập nước, mạch nước ngầm luôn ở mức cao
Đất trên các đường phố quận Hoàn Kiếm chủ yếu cũng là đất bồi tụ từ xa xưa, cộng thêm những yếu tố tác động của các công trình xây dựng sẽ là những khó khăn trong quá trình trồng cây xanh bóng mát
Bảng 3.1: Mực nước trung bình Sông Hồng qua các năm
Mực nước Sông Hồng cũng thay đổi rất lớn theo mùa Mùa khô lạnh mực nước Sông Hồng trung bình xuống thấp làm cho tàu thuyền đi lại trên sông cũng gặp khó khăn Về mùa mưa, mức nước trung bình cao nhất trên Sông Hồng đạt 7,63m (tháng 7/2006)
Trang 323.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Quận Hoàn Kiếm tập trung nhiều đầu mối giao thông đường sắt, đường thuỷ, đường bộ Yếu tố này đã gắn kết Hoàn Kiếm với các quận, các tỉnh, thành khác tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy giao lưu phát triển kinh tế - văn hoá và du lịch Đó là một ưu thế đặc biệt mà không phải quận nào cũng có thể có được
Quận Hoàn Kiếm là nơi tập trung dân cư có nhiều ngành nghề thủ công truyền thống, là nơi sản xuất ra những mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao như: chạm, khắc, kim hoàn, may, thêu, ren, đồ da, song, mây tre đan, hoa lụa, hoa giấy
Đây là nơi tập trung nhiều Bộ, Sở, Ban, ngành và các cơ quan quản lý Nhà nước (10 Bộ trong tổng số 17 Bộ của Trung ương đóng trên địa bàn toàn Thành phố
Hà Nội) và cũng là nơi tập trung của nhiều đại sứ quán và nhà riêng đại sứ (17 đại
sứ trong tổng số 60 nước có đại sứ quán tại Hà Nội), các văn phòng đại diện nước ngoài, nơi tập trung của các cơ quan chính trị - xã hội - tôn giáo, Hoàn Kiếm xứng đáng là trung tâm hành chính, chính trị của Thành phố
Trên địa bàn quận Hoàn Kiếm có chợ Đồng Xuân là đầu mối giao lưu hàng hoá của cả khu vực phía Bắc Ngoài chợ Đồng Xuân, Hoàn Kiếm còn có các chợ lớn như: Hàng Da, Cửa Nam, Hàng Bè và những tuyến phố thương mại sầm uất như Hàng Gai, Hàng Bông, Hàng Ngang, Hàng Đào
Với chợ Đồng Xuân - một khu thương mại và dịch vụ lớn, là đầu mối giao lưu hàng hoá của cả khu vực phía Bắc cùng với một loạt chợ lớn như: Hàng Da, Cửa Nam, Hàng Bè và những tuyến phố thương mại sầm uất như Hàng Gai, Hàng Bông, Hàng Ngang, Hàng Đào , Hoàn Kiếm đã và đang trở thành trung tâm thương mại lớn của Thủ đô Hà Nội Chợ đêm Đồng Xuân cũng là một nhân tố phát
Trang 33triển kinh tế của quận đồng thời có thể thu hút khách du lịch, tạo điều kiện cho quận phát triển hơn nữa ngành du lịch của địa phương Chợ đêm Đồng Xuân - một hình thức dịch vụ thương mại mới - tuy đang trong giai đoạn hình thành nhưng nếu phát huy có hiệu quả thì không những khẳng định vị trí trung tâm thương mại của Hoàn Kiếm mà còn là một nhân tố thu hút khách du lịch
Thời gian gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội là sự đầu tư mạnh
mẽ trong xây dựng các công trình cao ốc, các toà văn phòng nổi tiếng như Hà Nội Tower Đó là lợi thế về vị trí địa lý mà không quận nào có thể có được Các cơ quan, đơn vị đều muốn có văn phòng đặt trên địa bàn Quận Chính vì vậy, Hoàn Kiếm phát triển rất mạnh dịch vụ cho thuê văn phòng và là Quận có nhiều tiềm năng nhất để phát triển loại hình dịch vụ cao cấp này Điều đó tạo cho Hoàn Kiếm một bộ mặt mới, văn minh bên cạnh những công trình kiến trúc cổ, đồng thời khẳng định vị thế trung tâm dịch vụ của Quận
Với hệ thống các trung tâm tài chính, ngân hàng đầu não tập trung tại quận, Hoàn Kiếm có tiềm năng phát triển mạnh các giao dịch về kinh tế tài chính Trong
10 năm tới, trên cơ sở Nhà nước đổi mới chính sách tài chính ngân hàng và sự phát triển của các thành phần kinh tế, Hoàn Kiếm sẽ trở thành trung tâm tài chính lớn của Hà Nội Đây chính là một loại hình dịch vụ cao cấp - một hình thức dịch vụ dựa trên trí thức và dựa trên sự tiến bộ, văn minh của nền kinh tế
Ở vị trí trung tâm Thành phố với vai trò trung tâm hành chính, chính trị, trung tâm thương mại, dịch vụ, quận Hoàn Kiếm có nhiều điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội
Trang 34Từ năm 1886, quận Hoàn Kiếm được phát triển về phía Nam hồ Hoàn Kiếm theo kiểu khu phố của người Châu Âu, với hệ thống bàn cờ được hoạch định trước Đây là một giai đoạn phát triển mới, mang phong cách xây dựng đô thị Châu Âu với nhiều công trình kiến trúc có sắc thái riêng mang nhiều đường nét kiến trúc Pháp
Từ năm 1955, đặc biệt là sau năm 1975, việc xây dựng phát triển của quận Hoàn Kiếm đẩy mạnh ra phía ngoài đê, các khu nhà ở tập thể của các cơ quan được hình thành
Do sự hình thành các khu vực theo từng giai đoạn như vậy, quận Hoàn Kiếm được phân rất rõ ràng với đặc điểm của từng giai đoạn lịch sử:
- Khu phố cổ: gồm các phường Hàng Bạc, Hàng Bồ, Hàng Đào, Cửa Đông, Hàng Buồm, Hàng Mã, Hàng Gai, Đồng Xuân và một phần của hai phường Lý Thái
Tổ và Hàng Bông
- Khu phố cũ: gồm các phường Cửa Nam, Trần Hưng Đạo, Phan Chu Trinh, Tràng Tiền, Lý Thái Tổ, Hàng Bông, Hàng Trống, Hàng Bài
- Khu ngoài đê: gồm 2 phường Phúc Tân và Chương Dương
Bề dày lịch sử hình thành và phát triển với sự tập trung của các khu phố cổ là một đặc thù riêng có của quận Hoàn Kiếm, tạo cho Quận một thế mạnh đặc biệt trong phát triển dịch vụ, thương mại và du lịch
3.2.4 Cảnh quan thiên nhiên
Quận Hoàn Kiếm nổi tiếng với Hồ Gươm "viên ngọc quý của Thủ đô" một danh thắng, di tích quan trọng mang nhiều dấu ấn lịch sử Không những thế, với 130.000 m2 mặt nước và 32.250 m2 diện tích cây xanh ven hồ ở giữa trung tâm Thủ
đô, Hồ Gươm còn là một cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn và là hồ điều hoà của trung tâm Hà Nội Cùng với Hồ Gươm, không thể không kể đến những tài nguyên sinh tạo, với những vườn hoa lớn, đã tạo nên vẻ đẹp của Thủ đô và tăng thêm tính hấp
dẫn của du lịch sinh thái - văn hoá
Trang 35Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố khu vực quận Hoàn Kiếm
4.1.1 Hiện trạng thành phần loài cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm
Tổng hợp kết quả điều tra cây xanh trên 152 tuyến phố trên địa bàn quận Hoàn Kiếm được khoảng trên 7.000 cây, thuộc 44 loài và 21 họ thực vật Trong đó, một số loài cây gắn liền với lịch sử phát triển của thành phố Hà Nội như Hoa sữa, Cơm nguội, Bàng, Xà cừ, Phượng vĩ, Lộc vừng, Nhội, Si, Sấu, Sưa, Thàn mát…(chi tiết tại phụ biểu 2)
Trang 36Thành phần loài, tỉ lệ, tình hình sinh trưởng của một số loài cây chủ yếu trên đường phố quận Hoàn Kiếm được thể hiện trong bảng 4.1
Bảng 4.1: Tổng hợp thành phần loài và tình hình sinh trưởng các loài cây chủ yếu trên đường phố quận Hoàn Kiếm
STT Loài cây Tên khoa học
Số lượng cây
Tỷ lệ (%)
Trang 37STT Loài cây Tên khoa học
Số lƣợng cây
Tỷ lệ (%)
Trang 38tuổi đời hơn trăm năm Một số loài cây được trồng nhiều như Bằng lăng, Bàng, Lim xẹt, Phượng vĩ, Xà cừ, Sấu và có thể coi đây là cây xanh truyền thống của Hà Nội
Sau năm 1954 đến nay, cơ bản các khu phố cũ vẫn giữ được nét đặc trưng của hệ thống cây xanh trên đường phố từ thời Pháp Tuy nhiên trong quá trình xây dựng phát triển đô thị, các công trình xây dựng, giao thông được đầu tư mạnh mẽ,
đi kèm theo là hệ thống hạ tầng kỹ thuật ngầm nổi và các yếu tố khách quan, chủ quan của xã hội thì hệ thống cây xanh trên các đường phố có chịu tác động không nhỏ và ngày càng giảm dần về số lượng cây
Từ bảng 4.1 cho thấy số lượng loài cây trồng trên các đường phố lớn có tới
44 loài, trong đó 21 loài có số lượng lớn, 23 loài còn lại chỉ có 126 cây (1,77%) Những loài cây có số lượng lớn như Bằng lăng (1.178 cây), Xà cừ (1.106 cây), Sấu (857 cây), Lim xẹt (724 cây), Phượng vĩ (601 cây), Bàng (563 cây), Chẹo (421 cây), Hoa sữa (350 cây) Các loài cây này đã chứng minh được sự thích nghi với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng hiện đang sinh trưởng, phát triển tốt Ngoài ra, còn có một
số loài do người dân tự ý trồng để lấy bóng mát như Dâu da (244 cây), Trứng cá (77 cây), Dướng (47 cây), Vông (35 cây)…không thuộc danh mục cây trồng đô thị gây lộn xộn trong tổ chức cây xanh trên đường phố, ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị Phân theo đặc điểm cảnh quan, trong số 44 loài được khảo sát có tới tới 10 loài cây rụng lá, gồm: Bằng lăng, Phượng vĩ, Bàng, Dâu da, Sưa đỏ, Trứng cá, Cơm nguội, Xoan, Dướng, Vông (chiếm 22,72%); 5 loài có hoa đẹp gồm: Bằng lăng, Lim xẹt, Phượng vĩ, Sưa đỏ, Vông (chiếm 23,80%) Nhóm cây không thích hợp trồng đường phố 7 loài (11,36%)
4.1.2 Hiện trạng cây xanh đường phố trên các khu vực của quận Hoàn Kiếm
4.1.2.1 Đánh giá hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố khu vực phố cổ
Khu phố cổ có 76 tuyến phố thuộc địa bàn của 10 phường: phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Gai, Hàng Mã, Đồng Xuân, Cửa Đông, Lý Thái Tổ (theo quyết định số 70/BXD/KT-QH ngày 30 tháng 3 năm 1995 của Bộ Xây dựng) Mặc dù các phố cổ của Hà Nội còn nằm cả bên ngoài khu vực này, nhưng do đây là khu vực tập trung phố cổ nhiều nhất và còn giữ được
Trang 39những đặc trưng nên chỉ khu vực theo quy định trên được gìn giữ, bảo tồn là khu phố cổ
Khu phố cổ được quy hoạch, thiết kế từ thời Pháp, chủ yếu là nhà ở kết hợp với cửa hàng bán nhiều mặt hàng truyền thống Mật độ xây dựng cao với các khu nhà dạng ống, đường giao thông nhỏ, hẹp, ngắn kiểu ô bàn cờ, vỉa hè hai bên có độ rộng khác nhau Hiện nay, hè của các tuyến phố cổ đã được Thành phố cho cải tạo lát đá
- Các tuyến phố có mặt cắt ngang vỉa hè từ 1-2m gồm (17 tuyến): Chả Cá, Chợ Gạo, Đào Duy Từ, Đông Thái, Hà Trung, Hàng Cá, Hàng Cân, Hàng Chai, Hàng Giầy, Hàng Quạt, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Quang Bích, Ngõ Trạm, Nhà Hỏa, Thanh Hà, Tô Tịch, Yên Thái
- Các tuyến phố có mặt cắt ngang hè từ 2 - 2,5m (36 tuyến phố): Bát Đàn, Bát Sứ, Cầu Đông, Cầu Gỗ, Đinh Liệt, Đồng Xuân, Gầm Cầu, Gia Ngư, Hàng Bè, Hàng Bồ, Hàng Buồm, Hàng Bút, Hàng Chĩnh, Hàng Da, Hàng Đào, Hàng Đậu, Hàng Điếu, Hàng Đồng, Hàng Đường, Hàng Giấy, Hàng Hòm, Hàng Khoai, Hàng Ngang, Hàng Nón, Hàng Phèn, Hàng Rươi, Hàng Thiếc, Hàng Tre, Hàng Vải, Lò Rèn, Lương Ngọc Quyến, Lương Văn Can, Ngõ Gạch, Nguyễn Thiện Thuật, Tạ Hiện, Thuốc Bắc
- Các tuyến phố có mặt cắt ngang hè 3,0m (16 tuyến phố): Cao Thắng, Hàng Bạc, Hàng Bông, Hàng Chiếu, Hàng Gà, Hàng Gai, Hàng Lược, Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Mành, Hàng Thùng, Lãn Ông, Mã Mây, Nguyễn Siêu, Nguyễn Thiếp,
Trang 40chất dinh dưỡng cũng như khả năng bám đất của cây và đó là nguyên nhân làm cây
dễ đổ trong mùa mưa bão Bên cạnh đó, người dân còn cơi nới mái đua, mái vẩy, ban công, đặt biển quảng cáo và sử dụng mặt bằng hè trước nhà cho mục đích kinh doanh làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hệ thống cây xanh hiện có và khó khăn trong việc trồng bổ sung thêm cây xanh
Để có đánh giá chung hiện trạng hệ thống cây xanh bóng mát đường phố khu phố cổ nêu trên, tác giả tập trung nghiên cứu, phân tích trên một số tuyến phố chính như sau:
(1) Phố Nguyễn Hữu Huân
Chiều dài tuyến phố là 510 m, mặt cắt ngang hè trung bình 5,5m Trên hè có
91 cây bóng mát thuộc 13 loài cây, trong đó những loài có số lượng lớn như: Chẹo (24 cây, chiếm 26,37%); Xà cừ (18 cây, chiếm 19,78%); Lim xẹt (16 cây, chiếm 17,58%); Bằng lăng (10 cây, chiếm 10,99%) Trong đó, nhóm cây có kích thước
nhiều cửa hàng kinh doanh lấn chiếm để xe máy và đồ dùng sát gốc làm ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của cây