1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Điều chỉnh quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã mai sơn, huyện lục yên, tỉnh yên bái giai đoạn 2016 2020​

119 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tế nông thôn theo hướng Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa, gắn phát triển kinh tế với xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nông thôn với thành thị, giữa các vùng miền

Trang 1

I

Luận văn “Điều chỉnh quy hoạch xây dựng Nông thôn mới xã Mai

Sơn, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái giai đoạn 2016-2020” Được hoàn thành

tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam theo chương trình đào tạo cao học

Lâm nghiệp – Khóa 22B, giai đoạn 2014 -2016

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Hoàng Thị iên

Trang 2

I Ả Ơ

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn học viên đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Nhân đây học viên xin được bày tỏ lòng cám ơn sâu sắc đến:

Ban Giám hiệu, Khoa Đào tạo Sau đại học – Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ học viên trong thời gian học tập cũng như thực hiện luận văn

Học viên xin chân thành cám ơn tới GS TS Trần Hữu Viên (người hướng dẫn khoa học) đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ học viên trong suốt quá trình nghiên cứu và tạo điều kiện cho học viên hoàn thành đề tài một cách tốt nhất

Qua đây tôi xin được chân thành cảm ơn tới UBND xã Mai Sơn, Phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái đã tạo điều kiện về thời gian, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu hiện trường

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và các anh chị học viên khác đã chia sẻ, giúp đỡ học viên trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi mong nhận được góp ý chân thành của quý thầy, cô giáo, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin cam đoan số liệu thu thập và kết quả tính toán là hoàn toàn trung thực và được trích dẫn rõ ràng

Tôi xin chân thành cám ơn!

Hà Nội, tháng năm 2017

Học viên

Trang 3

Hoàng Thị iên

Ụ Ụ

Trang Trang phụ bìa

L I C M ĐO N i

L I CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2

1.1 Một số khái niệm cơ bản 2

1.1.1 Khái niệm về nông thôn 2

1.1.2 Khái quát chung về quy hoạch 2

1.1.3 Về khái niệm nông thôn mới, quy hoạch xây dựng nông thôn mới 5

1.1.4 Mô hình phát triển nông thôn mới 6

1.2 Vấn đề quy hoạch NTM ở một số nước trên thế giới: 11

1.2.1 Kinh nghiệm ở Nhật Bản: Nông nghiệp phát triển tạo đà cho công nghiệp hóa 11

1.2.2 Kinh nghiệm về phát triển nông nghiệp ở Trung quốc 13

1.2.3 Mô hình ― Làng mới‖ ở Hàn Quốc 15

1.3 Vấn đề quy hoạch NTM ở Việt Nam 18

1.3.1 Tình hình chung về xây dựng nông thôn mới của cả nước 18

1.3.2 Một số chủ trương của Đảng và Nhà Nước ta về xây dựng NTM 23

1.3.3 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới của tỉnh Yên Bái 24

1.3.4 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới của huyện Lục Yên 25

1.3.5 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới của xã Mai Sơn 27

Trang 4

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Mục tiêu 30

2.1.1 Mục tiêu tổng quát 30

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 30

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30

2.3 Nội dung nghiên cứu 30

2.3.1 Điều tra phân tích đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 30

2.3.2 Đánh giá kết quả xây dựng nông thôn mới xã Mai Sơn, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái đến năm 2015 theo bộ tiêu chí quốc gia về NTM ; 30

2.3.3 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Mai Sơn, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái giai đoạn 2016 -2020 31

2.4 Phương pháp nghiên cứu 31

2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu có sẵn 31

2.4.2 Phương pháp điều tra thực địa kết hợp phỏng vấn trực tiếp 32

2.4.3 Phương pháp chuyên gia 32

2.4.4 Phương pháp phân tích thị trường và dự báo tiềm năng cho phát triển 32

2.4.5 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

3.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội xã Mai Sơn 35

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 35

3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 39

3.1.3 Hiện trạng sử dụng đất 43

3.2 Đánh giá kết quả xây dựng nông thôn mới xã Mai Sơn, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái đến năm 2015 theo bộ tiêu chí quốc gia về NTM 45

3.2.1 Công tác quy hoạch (1 tiêu chí) 45

3.2.3 Kinh tế và tổ chức sản xuất (4 tiêu chí) 50

Trang 5

3.2.4 Văn hóa – Xã hội – Môi trường (4 tiêu chí) 51

3.2.5 Đánh giá chung 54

3.3 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Mai Sơn, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái giai đoạn 2016- 2020 65

3.3.1 Tiềm năng và định hướng phát triển kinh tế- xã hội của xã 65

3.3.2 Dự báo quy mô dân số, lao động và đất đai 66

3.3.3 Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật 71

3.4.4 Quy hoạch phát triển không gian xã 72

3.4.5 Quy hoạch phát triển sản xuât 73

3.4.6 Quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật 76

3.4.7 Nhu cầu đầu tư và hiệu quả của phương án 83

3.4.8 Đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch nông thôn mới 86

KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KHUYẾN NGHỊ 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

D H Ụ Á TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

TT Viết tắt Viết đầy đủ

1 CNH – HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

6 NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

10 VH – TT - DL Văn hóa - thể thao – du lịch

Trang 8

STT Tên bảng Trang

3.1 Tổng hợp hiện trạng sử dụng đất toàn xã 42 3.2 Bảng thống kế hiện trạng đường giao thông trên xã 45 3.3 Thống kê hiện trang công trình thoát nước trong xã 47 3.4 Thống kê hiện trạng các phai thủy lợi 48

3.5 Thống kê hiện trạng và như cầu sử dụng điện năm 2015 Xã

3.7 Tổng hợp đánh giá theo các chỉ tiêu về nông thôn mới 58

3.9 Bảng dự báo dịch chuyển cơ cấu lao động trong các thời kỳ 70 3.10 Thống kê các công trình công cộng cấp xã cần chuyển đổi 71 3.11 Tổng hợp tăng, giảm sử dụng đất đai năm 2020 72

Trang 11

tế nông thôn theo hướng Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa, gắn phát triển kinh

tế với xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nông thôn với thành thị, giữa các vùng miền, góp phần giữ vững ổn định chính trị,

xã hội, phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ an ninh, quốc phòng‖

Xã Mai Sơn là một xã nông thôn miền núi thuộc phía bắc của huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, cần phải xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, có hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại và môi trường xanh, sạch, đẹp tạo diện mạo mới cho nông thôn của xã

Chính vì vậy: Quy hoạch xây dựng nông thôn mới là sự cần thiết để xã phấn đấu thực hiện và đáp ứng mong muốn của nhân dân, yêu cầu chiến lược xây dựng của đất nước cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Đồng thời để triển khai thực hiện quy hoạch nông thôn mới trên địa bàn xã, nhằm lồng ghép các chương trình dự án, huy động nguồn lực, nhân dân xây dựng nông thôn mới

Mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào công tác quy hoạch phát triển nông thôn mới của huyện Lục Yên nói chung cũng như xã Mai Sơn nói

riêng, tôi xin thực hiện đề tài

“Nghiên cứu xây dựng quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Mai Sơn, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái giai đoạn 2016-2020

Trang 12

hương 1

TỔ G QU VẤ Ề GHIÊ ỨU

1.1 ột số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm về nông thôn

Hiện nay, trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn, có quan điểm cho rằng chỉ cần dựa vào trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, có quan điểm cho rằng chỉ cần dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn Tuy nhiên, theo quan điểm nhóm chuyên viên Liên hợp quốc đề cập đến khái niệm nông thôn - đô thị để so sánh nông thôn và đô thị với nhau Khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối và luôn biến động theo thời gian, để phản ánh biến đổi về kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay có thể hiểu:

“Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa-

xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”

1.1.2 Khái quát chung về quy hoạch

- Quy hoạch là một công cụ quản lý nhà nước được áp dụng khá phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới Trong xu thế toàn cầu hóa, nội hàm của quy hoạch cũng có những thay đổi để phù hợp với thời đại, nhất là với nhu cầu phát triển không gian cả bên trong và bên ngoài của mỗi quốc gia

- Theo Allmendinger và Tewdwr-Jones (2002) và Taylor (1998) quy hoạch được hình thành từ cách tiếp cận không gian vật thể sau đó lồng ghép các cách tiếp cận kinh tế, xã hội và môi trường trong việc sử dụng không gian Các quy hoạch vật thể (physical plan), như: quy hoạch đất đai, quy hoạch đô

Trang 13

thị… có tính không gian rất cụ thể Trong khi đó, các quy hoạch kinh tế vĩ

mô, quy hoạch xã hội, hay quy hoạch phát triển thường chứa đựng sự phát triển không gian mang tính trừu tượng nhiều hơn [25],[31]

- Theo Viện Chiến lược phát triển (2004), quy hoạch là ―việc lựa chọn phương án phát triển và tổ chức không gian kinh tế - xã hội cho thời kỳ dài hạn trên lãnh thổ xác định‖ Với định nghĩa này, đối tượng của quy hoạch là

các hoạt động kinh tế - xã hội Tương tự, quy hoạch ngành hay quy hoạch lãnh thổ cũng là việc lựa chọn phương án phát triển cơ cấu kinh tế ngành dựa trên nguyên tắc phân công lao động theo ngành/ lãnh thổ và giải quyết được mối quan hệ liên ngành và liên vùng (Ngô Doãn Vịnh, 2003) Do vậy, dạng quy hoạch này được áp dụng phổ biến, rộng khắp ở tất cả các quốc gia trên thế giới, bởi một lẽ đơn giản: mọi hoạt động của con người đều gắn với không gian[7],[19]

- Vai trò, ý nghĩa và nội dung của quy hoạch luôn gây tranh cãi bởi lẽ

đó là sự phân định quyền lực, ―đỉnh cao chỉ huy‖ giữa nhà nước và thị trường Phạm vi của quy hoạch theo thời gian thường được mở rộng và nó thường được gắn với sự biến động của chính trị theo thời gian (Palermo và Ponzini, 2010) và có thể coi đây là một ngành khoa học quản lý Còn Glasson và Marshall (2007) lại cho rằng, dù quy hoạch có được sử dụng như thế nào trong các thời kỳ phát triển khác nhau, nó đều liên quan trực tiếp đến việc phát triển không gian trong tương lai Theo nhóm tác giả này, quy hoạch là việc bố trí có mục đích hướng đến không gian tương lai của một tập hợp lớn các hoạt động trong/trên một phạm vi đất đai hay nguồn vật chất, nguồn lực

có hạn [7]

- Sự suy nghĩ, những ý tưởng về sự phát triển phải mang tính hợp lý và tính hệ thống, đồng thời phải có khả năng hiện thực; biết suy nghĩ Cân nhắc xem khả năng nào là tốt nhất, hữu hiệu và bền vững nhất so với những khả

Trang 14

năng khác Nghĩa là sự phát triển đó phải đạt được cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, có tác dụng lâu dài, được nhiều người chấp nhận là không phá huỷ môi trường Sự chuyển hoá những tư duy, ý tưởng hiện tại thành hành động tương lai, những tính toán, cân nhắc ấy gọi là quy hoạch Từ những quan điểm trên đây có thể đưa ra khái niệm về quy hoạch như sau:

"Quy hoạch là một quá trình lý thuyết về tư tưởng có quan hệ với từng

sự vật, sự việc được hình thành và thể hiện qua một quá trình hành động thực

tế Quá trình này giúp nhà quy hoạch tính toán và đề xuất những hoạt động cụ thể để đạt được mục tiêu"

- Phát triển nông thôn là vấn đề phức tạp và rộng lớn, nó liên quan đến nhiều ngành khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn Mục đích của phát triển nông thôn là phát triển đời sống con người với đầy đủ các phạm trù của nó Phát triển nông thôn toàn diện phải đề cập đến tất

cả các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế, an ninh quốc phòng Sự phát triển của mỗi vùng, mỗi địa phương nằm trong tổng thể phát triển chung của các vùng và của cả nước

- Vì vậy "Quy hoạch phát triển nông thôn là quy hoạch tổng thể, nó bao gồm tổng hợp nhiều nội dung hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá xã hội và môi trường liên quan đến vấn đề phát triển con người trong các cộng đồng nông thôn theo các tiêu chuẩn của phát triển bền vững"

- Quy hoạch phát triển nông thôn được coi là quy hoạch tổng thể trên vùng không gian sống của mọi sinh vật bao gồm loài người, động vật, thực vật Mục tiêu của quy hoạch là đáp ứng sự tăng trưởng liên tục mức sống của con người và phát triển bền vững Do đó đi đôi với việc phát triển kinh tế, văn hoá xã hội là vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ sự đa dạng sinh học, giữ gìn cảnh quan thiên nhiên, bảo vệ và tái tạo tài nguyên để phục vụ cho lợi ích lâu dài của các thế hệ mai sau

Trang 15

1.1.3 Về khái niệm nông thôn mới, quy hoạch xây dựng nông thôn mới

- Xây dựng nông thôn mới là biểu hiện cụ thể của phát triển nông thôn, nhằm tạo ra một nông thôn có kinh tế phát triển cao hơn, có đời sống về vật chất, văn hóa và tinh thần tốt, có bộ mặt nông thôn hiện đại

- Theo tác giả TS Vũ Thị Bình: Nông thôn mới là nông thôn có kinh tế phát triển, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng cao, có quy hoạch, kết cấu hạ tầng hiện đại, môi trường sinh thái trong lành, dân trí cao, giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, an ninh chính trị được giữ vững [5]

- Quy hoạch nông thôn mới là việc tổ chức mạng lưới điểm dân cư nông thôn hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trên địa bàn xã hoặc liên xã

- Quy hoạch nông thôn mới bao gồm quy hoạch mạng lưới điểm dân cư nông thôn trên địa bàn xã hoặc liên xã (còn gọi là quy hoạch chung xây dựng xã) và quy hoạch điểm dân cư nông thôn (còn gọi là quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã, thôn, làng, xóm, )

- Đứng trên góc độ phân bố lực lượng sản xuất, quy hoạch phát triển nông thôn là sự phân bố các nguồn lực tài nguyên, đất đai, lao động, vốn, cơ

sở vật chất kỹ thuật, sự bố trí cơ cấu kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, dịch

vụ trên lãnh thổ nông thôn một cách hợp lý để đạt hiệu quả cao

- Đứng trên góc độ kế hoạch hoá, quy hoạch phát triển nông thôn là một khâu trong quy trình kế hoạch hoá nông thôn Bắt đầu từ chiến lược phát triển kinh tế xã hội nông thôn, đến quy hoạch phát triển nông thôn rồi cụ thể hoá bằng các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn trên địa bàn nông thôn

- Đặc điểm của quy hoạch là quy hoạch thường mang tính định hướng

về tương lai, vì vậy quy hoạch phải có mục tiêu rõ rệt Mục tiêu không thể hình thành do ý nghĩ chủ quan của một số người làm quy hoạch, cũng không thể hình thành chóng vánh trong ngày một ngày hai mà nó phải trải qua một

Trang 16

quá trình tìm tòi, cân nhắc lâu dài từ tổng quát đến chi tiết, từ cục bộ đến toàn diện Mục tiêu phải có tính khả thi Nếu quy hoạch không hướng về tương lai thì chỉ là một việc làm tốn kém, một bức tranh không có lợi ích

- Quy hoạch phát triển nhằm đạt được mục tiêu cải thiện đời sống cho phần lớn người dân nông thôn Nó gây ít tổn thất hơn so với lợi ích mà nó đem lại

1.1.4 Mô hình phát triển nông thôn mới

1.1.4.1 Quan điểm của quy hoạch xây dựng nông thôn mới

- Quy hoạch xây dựng nông thôn mới phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, từng vùng và quy hoạch phát triển ngành, gắn liền với định hướng phát triển hệ thống đô thị, các vùng kinh

tế và phù hợp với Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ; phải xác định cụ thể định hướng phát triển đặc trưng của từng khu vực nông thôn ; giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng trước mắt với phát triển lâu dài, giữa cải tạo với xây dựng mới ; phù hợp với sự phát triển về kinh tế của địa phương và thu nhập thực tế của người dân

- Quy hoạch xây dựng nông thôn mới phải có sự tham gia của người dân, cộng đồng dân cư, từ ý tưởng quy hoạch đến huy động nguồn vốn, tổ chức thực hiện và quản lý xây dựng

- Quy hoạch xây dựng nông thôn mới phải đảm bảo tính đồng bộ, phù hợp với nguồn vốn đầu tư và điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương ; định hướng, giải pháp, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội, môi trường điểm dân cư, hạn chế tối đa những ảnh hưởng do thiên tai, ngập lũ, nền đất yếu

- Quy hoạch xây dựng nông thôn mới phải đảm bảo hiện đại, văn minh nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của từng vùng, miền, từng dân tộc; giữ gìn bảo tồn di sản và phát huy các giá trị văn hóa vật thể

Trang 17

1.1.4.2 Một số đặc trưng cơ bản của mô hình Nông thôn mới

-Một là, đối tượng của mô hình nông thôn mới là làng – xã Làng – xã thực sự là một cộng đồng, chịu sự quản lý của Nhà nước, tuy nhiên Nhà nước không can thiệp sâu vào đời sống nông thôn, mà trên tinh thần tôn trọng tính

tự quản của người dân thông qua hương ước, lệ làng

- Hai là, đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa, đô thị hóa, chuẩn bị những điều kiện vật chất và tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống và trở nên thịnh vượng ngay trên mảnh đất mà họ gắn bó lâu đời Trước hết, tạo mọi điều kiện cho người dân có thể làm giàu trên chính quê hương của mình

- Ba là, nông dân biết khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực, tăng cường kinh tế cao và bền vững, môi trường tự nhiên được giữ gìn, khai thác tốt tiềm năng du lịch, khôi phục ngành nghề truyền thống, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp

- Bốn là, dân chủ nông thôn được mở rộng và đi vào thực chất Các chủ thể nông thôn tham gia tích cực trong mọi quá trình ra quyết định về chính sách phát triển nông thôn; thông tin minh bạch, thông suốt và hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan; phân phối công bằng

- Năm là, nông dân, nông thôn có văn hóa, trí tuệ được nâng lên, sức lao động được giải phóng, nhân dân tích cực tham gia vào quá trình đổi mới

Đó chính là sức mạnh nội sinh của làng – xã trong công cuộc xây dựng nông thôn mới Các tiêu chí này trở thành mục tiêu, yêu cầu trong hoạch định chính sách về mô hình nông thôn mới ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

1.1.4.3 Nguyên tắc và yêu cầu của quy hoạch xây dựng nông thôn mới

- Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng NTM phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành của Thủ tướng Chính phủ [16]

- Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể

Trang 18

của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện

- Kế thừa và lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình

hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn

- Thực hiện Chương trình xây dựng NTM phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng NTM đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

- Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình,

dự án của Chương trình xây dựng NTM; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá

- Xây dựng NTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng NTM

- Tuân thủ các quy định pháp lý có liên quan về bảo vệ các công trình

kỹ thuật, công trình quốc phòng, di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh

và bảo vệ môi trường

- Phù hợp với đặc điểm của địa phương về:

+ Điều kiện tự nhiên : địa hình, địa chất, thủy văn, đất đai, nguồn nước, môi trường, khí hậu, tài nguyên, cảnh quan

+ Kinh tế : hiện trạng và tiềm năng phát triển

Trang 19

+ Xã hội : dân số, phong tục, tập quán, tín ngưỡng

- Đảm bảo việc xây dựng mới, cải tạo các điểm dân cư nông thôn đạt các yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, đảm bảo phát triển bền vững

- Đảm bảo các điều kiện an toàn, vệ sinh môi trường Bảo vệ cảnh quan

và các di tích lịch sử, văn hóa ; giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc ; đảm bảo các yêu cầu về quốc phòng và an ninh

- Sử dụng hợp lý vốn đầu tư, đất đai và tài nguyên

- Toàn diện, tổng hợp và phối hợp hài hòa giữa các lĩnh vực hoạt động đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường

1.1.4.4 Những nội dung chủ yếu về xây dựng mô hình NTM

a) Phát triển kinh tế

Sản xuất phát triển, nhất là sản xuất hàng hóa là điều kiện cơ bản để phát triển kinh tế của cộng đồng mỗi địa phương Kinh tế có phát triển thì những yếu tố xã hội mới có cơ hội phát triển theo động lực chính cho tiến bộ xã hội Trong nội dung xây dựng NTM thì nội dung phát triển sản xuất hàng hóa, làm tăng thu nhập của người dân là quan trọng nhất, tuy vậy không phải bất cứ địa phương nào cũng có điều kiện để sản xuất hàng hóa, những địa phương đã phát triển ngành nghề thì đẩy mạnh hơn nữa các ngành nghề để nâng cao sản xuất hàng hóa tạo cơ sở cho phát triển nông thôn và xây dựng NTM

b) Phát triển cơ sở hạ tầng và bộ mặt nông thôn

Đối với việc xây dựng NTM ở địa phương thì việc xây dựng cơ sở hạ tầng là yếu tố thiết yếu, cở sở hạ tầng không những là nhân tố đảm bảo thúc đẩy sản xuất và phát triển kinh tế, mà còn nâng cao đời sống nhân dân Đối với cơ sở hạ tầng, đường giao thông, hệ thống thủy lợi, các công trình chăm sóc y tế, trường học, công trình văn hóa…xếp thứ tự các hạng mục ưu tiên

Trang 20

cần được phát triển để đáp ứng yêu cầu thiết yếu của đời sống sản xuất

c) Phát triển văn hóa và nâng cao dân trí

Việc nâng cao dân trí, phát triển văn hóa sẽ là một trong những động lực

để giải phóng sức lao động, kích thích sáng tạo, đẩy mạnh sản xuất cho chính

họ và cộng đồng dân cư thôn, trong công cuộc phát triển nông nghiệp nông thôn nói chung và xây dựng NTM nói riêng Trong xây dựng NTM, không chỉ tạo ra các nhà văn hóa, các công trình phúc lợi công cộng mà điều cốt yếu là phải xây dựng các phong trào hoạt động văn hóa, thể thao, phát triển văn hóa

có tính thiết thực được cả công đồng tham gia

Địa phương xây dựng NTM cần phải là địa phương có phong trào văn hóa mới, vì văn hóa mới là tiêu chí cần thiết trong xây dựng con người mới, phát huy nên dân chủ của nhân dân

d) Phát triển nguồn nhân lực

Trong quá trình thực hiện CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn, yêu cầu cấp thiết nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, tạo ra sản phẩm có chất lượng và khả năng cạnh tranh Người nông dân giờ đây đang tự vươn lên nắm bắt thị trường, chuyển đổi mục đích, phương pháp canh tác để làm giàu trên mảnh đất của mình Trong xây dựng NTM, công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư cần được đẩy mạnh thông qua chương trình nông lâm ngư nghiệp và ngành nghề

e) Bảo vệ môi trường và tài nguyên

Tăng cường kinh tế cao là điều kiện thiết yếu để phát triển nông thôn song không có nghĩa là phát triển kinh tế với bất cứ giá nào Trong phát triển kinh tế, việc giữ gìn bảo vệ môi trường là một trong những nội dung quan trọng đó là sự kết hợp hài hòa bảo vệ môi trường với phát triển cảnh quan thiên nhiên ở khu vực nông thôn Về lâu dài nông thôn phải đúng là nơi cảnh quan và môi trường thực sự lý tưởng cho cuộc sống

Trang 21

1.2 Vấn đề quy hoạch T ở một số nước trên thế giới:

1.2.1 Kinh nghiệm ở Nhật Bản: Nông nghiệp phát triển tạo đà cho công nghiệp hóa

- Như mọi quốc gia Âu, Mỹ trước đây, quá trình công nghiệp hóa ở Nhật Bản bắt đầu bằng một thời gian dài tăng trưởng nhanh sản xuất nông nghiệp Trải qua một thế kỷ phát triển, Nhật Bản đã trở thành một quốc gia công nghiệp hiện đại nhưng đơn vị sản xuất nông nghiệp chính vẫn là các hộ gia đình nhỏ, mang đậm tính chất của nền văn hóa lúa nước Đặc điểm này rất giống với hoàn cảnh Việt Nam Những kinh nghiệm của Nhật Bản về phát triển kinh tế nông thôn có thể được tóm tắt như sau:

- Thứ nhất, tăng năng suất nền nông nghiệp quy mô nhỏ, giữ lao động lại nông thôn

Trong hoàn cảnh đất chật người đông, chiến lược phát triển khôn khéo

và hiệu quả đã được Nhật Bản thực hiện thành công để đạt được mục tiêu khó khăn: đưa nông nghiệp đi vào phát triển theo chiều sâu từ giai đoạn tăng trưởng ban đầu (chiến lược này gần gũi với quan điểm ―CNH – HĐH nông nghiệp‖ của chúng ta ngày nay) Từ năm 1878 đến năm 1912 là thời kỳ công nghiệp Nhật Bản tăng trưởng nhảy vọt nhưng tổng số lao động nông nghiệp chỉ giảm rất ít từ 15,5 triệu xuống 14,5 triệu người, công nghiệp tăng trưởng gần như chỉ thu hút phần lao động thêm ra do tăng dân số tự nhiên[6]

- Thứ hai là: dưỡng sức dân, tạo khả năng tích lũy và phát triển nội lực Nhật Bản là một ví dụ điển hình cho vai trò quan trọng của lĩnh vực nông nghiệp đóng góp cho quá trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước Trong suốt nửa thế kỷ, nền kinh tế tăng tốc, nông nghiệp cung cấp đầy

đủ lương thực thực phẩm cho nhu cầu ngày càng tăng của tầng lớp thị dân và công nhân công nghiệp có nhu cầu ngày càng tăng, nhờ đó dập tắt nguy cơ lạm phát do thiếu lương thực gây ra (như đã từng xảy ra ở nhiều nước phải

Trang 22

nhập khẩu lương thực); thông qua xuất khẩu nông, lâm sản (chè và lụa là hai mặt hàng xuất khẩu chính), đóng góp nguồn ngoại tệ quan trọng để xuất khẩu máy móc, thiết bị phục vụ công nghiệp hàng hóa; cung cấp nguyên liệu cho các nghành công nghiệp chế biến, công nghiệp nhẹ sản xuất hàng tiêu dùng

Sau chiến tranh, nước Nhật bị tàn phá rơi vào tình trạng đói kém, ngoại

tệ thiếu hụt, khó nhập khẩu lương thực Bị dồn vào chân tường, vẫn như trước, Nhật Bản áp dụng phương châm ―dưỡng dân, để dân tự tích lũy, tự khai thác nội lực tạo phát triển‖ tuy còn thiếu lương thực nhưng chính phủ chấp nhận sức ép của nhu cầu khôi phục công nghiệp và thành phố cần lương thực, kiên trì chính sách giữ giá nông sản cao để khuyến khích nông dân Giá lương thực cao đã nhanh chóng thúc đẩy nông dân tăng sản lượng, mở rộng sản xuất vượt qua khủng hoảng[6]

Từ năm 1970, Nhật Bản đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa nông thôn, thu nhập của nhân dân tăng nhanh do chính sách phi tập trung hóa công nghiệp, đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn Cơ cấu kinh tế nông thôn thay đổi, tỷ lệ đóng góp của các ngành phi nông nghiệp trong thu nhập cư dân nông thôn ngày càng tăng Năm 1990, phần thu nhập phi nông nghiệp cao hơn 5,6 lần phần thu từ nông nghiệp Thu nhập từ nông nghiệp của nông dân tăng gấp 9 lần so với mức năm 1950 chủ yếu nhờ giá nông sản tăng do Chính phủ

đã trợ giá Tính cả thu nhập từ nông nghiệp và phi nông nghiệp, thu nhập của nông dân tính theo đầu người hay bình quân hộ đều cao hơn thu nhập hộ công nhân đô thị

- Thứ ba là, gắn nông nghiệp với công nghiệp, gắn nông thôn với thành thị Một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện thành công CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản là sự liên kết hài hòa giữa nông nghiệp, nông thôn với công nghiệp và đô thị

Phát triển kết cấu hạ tầng, (thông tin, giao thông, giáo dục, nghiên cứu)

Trang 23

là nhân tố quan trọng thúc đẩy nông nghiệp phát triển, tạo nên năng suất đất đai các giai đoạn đầu thời kỳ Duy Tân và tạo điều kiện phát huy tác dụng máy móc, thiết bị và hóa chất cho quá trình cơ giới hóa và hóa học hóa nông nghiệp, tạo nên năng suất lao động cao cho nông nghiệp Nhật bản giai đoạn sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Một tác động quan trọng khác của công nghiệp là tạo việc làm cho lao động nông thôn Để khắc phục tình trạng này, Chính phủ chú trọng phát triển những công nghệ thu hút nhiều lao động trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa Ngay cả đến sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khi các công nghệ hiện đại thu hút nhiều vốn đã phát triển, các công nghệ thu hút lao động vẫn được coi trọng đặc biệt

Một biện pháp khác là phân bố các ngành công nghiệp, các nhà máy về nông thôn Nhờ kết cấu hạ tầng, hệ thống năng lượng và liên lạc hoàn chỉnh, giá thấp, không chỉ các ngành công nghiệp chế biến dùng nguyên liệu nông nghiệp như tơ tằm, dệt may mà cả các ngành cơ khí, hóa chất cũng phân bố

trên địa bàn nông thôn toàn quốc

1.2.2 Kinh nghiệm về phát triển nông nghiệp ở Trung quốc

Hơn 50 năm qua, khoa học và công nghệ (KH&CN) nông nghiệp của Trung Quốc đã có sự phát triển mạnh mẽ, đóng góp to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc mà bao trùm lên có thể thấy là đã giải quyết vấn đề no ấm cho hơn 1 tỷ dân, phát triển mạnh mẽ công nghiệp hương trấn, đưa hàng trăm triệu nông dân Trung Quốc đến cuộc sống khá giả Có được những thành tựu ấy là do Chính phủ cũng như các cấp chính quyền địa phương ở Trung Quốc rất coi trọng KH&CN nông nghiệp, thể hiện ở sự đầu

tư cho nó; có cơ chế khuyến khích mạnh mẽ cán bộ khoa học lao động và sáng tạo, bám sát mặt trận nông nghiệp, nông dân và nông thôn; chú trọng xây dựng hệ thống các tổ chức KH&CN trong nông nghiệp; quan tâm thích đáng

Trang 24

tới việc nâng cao ý thức và năng lực KH&CN cho nông dân Thiết nghĩ những kinh nghiệm đó của họ rất đáng để chúng ta tham khảo và học tập[24]

Trong công tác di truyền chọn tạo giống đã có hàng loạt các kết quả đột phá trong tạo giống lúa thấp cây, cao sản, sử dụng ưu thế lai Theo thống kê,

từ năm 1949 đến năm 1998, các nhà khoa học Trung Quốc đã tạo ra được hơn

5 000 tổ hợp các giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, tính chống chịu cao Các loại giống này đã làm cho giống cây trồng được đổi mới tới 4 - 5 lần, mỗi lần đổi mới, sản lượng tăng lên 10-30% Chỉ riêng việc trồng giống lúa lai đã làm tăng được 350 triệu tấn lúa gạo Hàng loạt công nghệ mới đã được sáng tạo và ứng dụng trong nông nghiệp, làm cho hơn 1/3 diện tích đất canh tác của Trung Quốc đã trồng được nhiều vụ Công nghệ trồng trọt được định lượng hóa, mô hình hóa, hệ thống hóa và khu vực hóa, công nghệ tưới tiết kiệm nước, công nghệ phòng trừ dịch bệnh tổng hợp nhằm hướng tới nền nông nghiệp sinh thái, phát triển bền vững đã và đang được trình diễn và phổ biến[24]

Trong phát triển nông thôn, nổi bật nhất là sự phát triển của công nghiệp hương trấn - một trong những điều khiến cho cả thế giới phải để tâm Công nghiệp hương trấn của Trung Quốc bắt đầu được khởi động từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20, đến cuối những năm 80 bước vào giai đoạn tăng trưởng nhanh, đầu những năm 90 thực hiện điều chỉnh tối ưu hoá, đến giữa những năm 90 lại có bước tăng trưởng nhanh, tạo ra nhiều kỳ tích Công nghiệp hương trấn đã trở thành trụ cột và là nguồn tăng trưởng chính của kinh

tế nông thôn Trung Quốc Qua sự thành công trong phát triển KH&CN nông nghiệp của Trung Quốc có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Phát huy tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, tập trung nguồn lực vào những việc lớn Kết hợp chặt chẽ nhà nước, ngành và địa phương, theo phương châm: ―Nhà nước lập sân khấu, cán bộ KH&CN biểu diễn‖, trung

Trang 25

ương đi đầu, địa phương phụ trách liên kết các ngành chuyên môn tập trung vào những trọng điểm KH&CN để tạo nên hiệu quả và đạt tới mục tiêu cuối cùng cho nông dân hưởng thụ

Kiên trì phương hướng phục vụ ―Tam nông‖: Việc lựa chọn các đề tài KH&CN nông nghiệp phải bám sát mặt trận chính là kinh tế quốc dân, hướng vào những yêu cầu của nhà nước, chọn ra những yêu cầu cấp thiết, mấu chốt của nông thôn, nông nghiệp và nông dân để giải quyết[12]

Kết hợp giữa sáng tạo và du nhập công nghệ: Cùng với việc tự chủ sáng tạo công nghệ, cần tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài thông qua hoạt động hợp tác quốc tế, đẩy mạnh việc nhập các công nghệ tốt và thích hợp của

nước ngoài

1.2.3 Mô hình “ Làng mới” ở Hàn Quốc

Hàn quốc vào những năm 1960 vẫn là một nước chậm phát triển, nông nghiệp là hoạt động chính với khoảng 2/3 dân số sống ở khu vực nông thôn Những suy nghĩ mang tính thụ động và ỷ lại ở phần đông nông dân cần được thay đổi; do vậy, các chính sách mới khơi dậy được niềm tin và tính tích cực đối với việc phát triển nông thôn, khơi dậy tính độc lập, hăng say lao động của đội ngũ nông dân ở khu vực nông thôn

Mục tiêu chính của chính sách mới là làm cho người dân có niềm tin và trở nên tích cực đối với sự nghiệp phát triển nông thôn, làm việc chăm chỉ, cần cù sáng tạo và mang tính cộng đồng

Phong trào làng mới nhấn mạnh đến yếu tố quan trọng nhất, tạo động lực cho phát triển là ― phát triển tinh thần của người nông dân‖, lấy kích thích vật chất nhỏ để kích thích tinh thần và qua đó phát huy nội lực tiềm tàng to lớn của nông dân

Một số hoạt động của mô hình ―Làng mới‖ trong việc nâng cao vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng mô hình

Trang 26

- Phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, tổ chức từ Cơ sở đến Trung ương Cấp được coi trọng nhất vẫn là cấp cơ sở, việc đầu tiên được tiến hành là bầu cử ra một tổ chức ở cấp cơ sở được gọi là ―Ủy ban Phát triển Làng mới‖

- Nhà nước và nhân dân cùng làm:

Nhà nước hỗ trợ vật tư, nhân dân đóng góp công, sự giúp đỡ và hỗ trợ của nhà nước giảm dần khi quy mô của địa phương và sự tham gia của dân gia tăng Nông dân chủ động trong vấn đề ra quyết định thứ tự ưu tiên, họ tự quyết định các loại thiết kế, chỉ đạo thi công, xây lắp, nghiệm thu và giám sát công trình

- Một số kết quả đạt được từ phong trào ―Làng mới‖:

Bộ mặt nông thôn thay đổi một cách nhanh chóng, sau 08 năm các dự

án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn cơ bản hoàn thành Trong vòng 20 năm, rừng đã được che phủ khắp nước và trong vòng 06 năm, thu nhập bình quân các nông hộ gấp 3 lần, tình hình thương mại trong sản xuất nông nghiệp tăng; việc xây dựng cơ sở vật chất, đường làng nhà xưởng, hệ thống cung cấp nước, điện, chuyển giao khoa học công nghệ, tích lũy vốn, đào tạo nhân lực, bảo vệ môi trường…

Đầu tư phát triển nông thôn là quá trình lâu dài và tốn kém, để tìm ra biện pháp phát triển rút ngắn được khoảng cách thời gian, đồng thời hạn chế nguồn kinh phí hạn hẹp thì mô hình phong trào ―Làng mới‖ là một trong số những mô hình phát triển nông thôn cần được nghiên cứu và áp dụng một cách chọn lọc, phù hợp với tình hình thực tế tại nước ta

* Từ những thành tựu đã đạt được trong việc quy hoạch nông thôn mới trên thế giới, họ đã đưa ra có một số kinh nghiệm quý báu trong việc xây dựng quy hoạch nông thôn mới như:

Thứ nhất: Phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng

nông thôn với phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, ―Nhà

Trang 27

Nước bỏ ra 1 vật tư, nhân dân bỏ ra 5 - 10 công sức và tiền của‖ Dân quyết định loại công trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình

Thứ hai: Phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục

vụ sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa Chính phủ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn để chế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông thôn, cho vay thúc đẩy sản xuất

Thứ ba: Đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn, xác định nhân tố

quan trọng nhất là đội ngũ cán bộ cơ sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu Nhà nước xây dựng các trung tâm đào tạo quốc gia và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương Nhà nước đài thọ, mở các lớp học trong thời gian từ 1 - 2 tuần để trang bị đủ kiến thức thiết thực như kỹ năng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án, phát triển cộng đồng

Thứ tư: Phát huy dân chủ để phát triển nông thôn: Thành lập hội đồng

phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương

Thứ năm: Thành lập và phát triển các hợp tác xã (HTX) kiểu mới phục

vụ trực tiếp nhu cầu của dân, cán bộ HTX do dân bầu chọn Với vai trò của HTX hoạt động đa dạng, hiệu quả trong dịch vụ tín dụng, cung cấp đầu vào cho sản xuất, tiếp thị nông sản, bảo hiểm nông thôn và các dịch vụ khác Thứ sáu: Phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh toàn dân Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp, hỗ trợ giống, tập huấn cán bộ kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng rừng để hướng dẫn và yêu cầu tất cả chủ đất trên vùng núi trọc đều phải trồng rừng, bảo vệ rừng

Trang 28

1.3 Vấn đề quy hoạch T ở Việt am

1.3.1 Tình hình chung về xây dựng nông thôn mới của cả nước

Theo đánh giá của các nhà khoa học trong nước và quốc tế, trong công cuộc đổi mới đất nước, sở dĩ nền nông nghiệp Việt Nam phát triển và có những thành tựu to lớn, là bởi các chính sách của Ðảng và Nhà nước ta phù hợp với tình hình thực tiễn, nên được người dân cả nước, nhất là nông dân hưởng ứng và lao động sáng tạo

Nổi bật nhất là các chính sách và sự chỉ đạo về chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp ngày càng đi vào chiều sâu để nông nghiệp từng bước hiện đại hóa Ðó là việc rà soát, bổ sung quy hoạch các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả, vùng chăn nuôi gia súc, gia cầm, phát triển các vùng nông nghiệp công nghệ cao

Theo đó, các cơ quan khoa học đã tăng cường đầu tư, nâng cao năng lực hoạt động nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất giống, canh tác, chăm sóc, tăng cường cơ giới hóa khâu sản xuất, thu hoạch, phơi sấy, sơ chế, bảo quản nông sản sau thu hoạch Cùng với các chính sách lớn để ổn định và phát triển nông nghiệp nông thôn, đầu tư cho tam nông trong vòng ba năm qua đã lên tới hơn 100 nghìn tỷ đồng, gấp hai lần so với ba năm từ 2006 đến 2008 Trong phân bổ đầu tư đã thực hiện tốt chủ trương hỗ trợ việc xây dựng hệ thống kho tàng, các cơ sở bảo quản, phơi sấy, sơ chế nhằm giảm hao hụt, bảo đảm chất lượng sau thu hoạch Coi trọng hơn công tác khuyến nông, công tác thú y, bảo vệ thực vật đã tích cực và thiết thực giúp nông dân áp dụng nhanh tiến bộ khoa học, công nghệ và bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm

Tuy vậy, việc triển khai thực hiện các chính sách tam nông trong những năm qua vẫn còn một số bất cập và hạn chế Nổi lên là việc phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại còn chậm và chưa thật gắn kết với xây dựng nông

Trang 29

thôn mới Những số liệu điều tra của ngành thống kê cho thấy một nghịch lý Các vùng đất nông nghiệp rộng lớn thì có tỷ lệ lao động thấp, phân bố lao động lại chưa phát huy được lợi thế về đất đai tạo ra sự dịch chuyển lao động rất lớn từ nông thôn ra thành thị Ví như vùng trung du và miền núi phía Bắc chỉ chiếm 13,8% lực lượng lao động, còn khu vực Tây Nguyên rộng lớn chỉ chiếm 5,8% lao động Ðáng chú ý là sự chuyển dịch lao động trong nông nghiệp ba năm gần đây có những biến động tiêu cực do tác động của khủng hoảng kinh tế, tài chính thế giới Nếu trước năm 2008 lao động nông nghiệp

đã giảm từ 54,7% vào năm 2006 xuống 47,7% vào năm 2008 thì năm 2009 tỷ

lệ lao động nông nghiệp lên đến 53,9% và năm 2010 là 59,1% do việc cắt giảm mạnh lao động khu vực công nghiệp và dịch vụ

Xây dựng nông thôn mới là chương trình quốc gia với những quyết sách lớn và tầm nhìn xa của Ðảng và Nhà nước Trong đó nội dung lớn xuyên suốt là xây dựng nền nông nghiệp hiện đại gắn kết chặt chẽ với phát triển nông thôn mới ở thế kỷ 21

Ðể phát triển nền nông nghiệp hiện đại gắn liền với xây dựng nông thôn mới, trước tiên cần phải rà soát lại các quy hoạch ngành nông nghiệp từ sản xuất đến chế biến gắn với quy hoạch các điểm dân cư nông thôn Trên nền tảng của quy hoạch cần thiết phải điều chỉnh để tiếp tục triển khai xây dựng các chương trình phát triển nông nghiệp một cách khoa học và xây dựng nông thôn theo những tiêu chí mới

Ði vào hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới thì quy hoạch phải làm trước Do đó, trong công tác quy hoạch nông nghiệp và nông thôn cần thiết phải tính toán một cách toàn diện sự phát triển kinh tế - xã hội của các vùng miền và liên vùng để tránh sự lãng phí và những mâu thuẫn của quá trình phát triển

Công tác quy hoạch phát triển nông thôn đang được quan tâm cả về

Trang 30

mặt lý luận và thực tiễn Đặc biệt Việt Nam đang trong quá trình CNH – HĐH đất nước thì quy hoạch phát triển nông thôn càng trở nên quan trọng Với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, chương trình hoạt động

cụ thể nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội

Công tác quy hoạch phát triển nông thôn ở nước ta có những bước tiến

bộ và thu được những thành tựu trên nhiều mặt Trong đó, kinh tế đang chuyển dịch cơ cấu theo hướng phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, phát triển nông – lâm – ngư nghiệp gắn liền với công nghiệp, chế biến và dịch vụ Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn hiện đại hơn, nâng cao chất lượng sống của nhân dân, đồng thời gắn liền sự phát triển kinh tế xã hội với bảo vệ môi trường sinh thái

Năm 2012, tại Hà Nội diễn ra Hội nghị tổng kết chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới giai đoạn 2009-2011 đã đánh giá: Sau 4 năm (2009 -2012) triển khai thực hiện thí điểm xây dựng chương trình nông thôn mới tại 11 xã do Trung ương chỉ đạo Kết quả đạt được ở mỗi xã khác nhau nhưng đã hình thành mô hình nông thôn mới với sản xuất phát triển như các xã Tân Thông Hội (TPHCM), Tân Hội (Lâm Đồng), Tân Thịnh (Lạng Sơn) đã hình thành được các vùng sản xuất hàng hóa, thu nhập của người dân các xã thí điểm tăng hơn 62%, cơ sở hạ tầng các xã được cải tạo, nâng cấp khá đồng bộ đã làm thay đổi rõ nét diện mạo nông thôn tác động trực tiếp đến việc cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, thúc đẩy hoạt động văn hóa và phát triển kinh tế-xã hội từng bước được hoàn thiện; bản sắc văn hóa được gìn giữ, trình độ dân trí và chất lượng hệ thống cơ sở được nâng cao

Công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay có thể nói còn rất mới mẻ, đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển Đây lại là vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có đầu tư thích đáng về thời gian và tiền của nên nhìn

Trang 31

chung chúng ta còn thiếu hụt về thông tin, về phương pháp luận và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn Do vậy chúng ta cần phải tiếp tục có những nghiên cứu nhằm hoàn thiện dần phương pháp luận cũng như tích luỹ dần kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời làm phong phú thêm nguồn thông tin cho các nhà nghiên cứu sau này

Thực tế hơn 3 năm triển khai Nghị quyết 26/TQ-TW , các Bộ, ngành

đã sớm ban hành các văn bản, thông tư và các cuốn sổ tay hướng dẫn công tác quy hoạch Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của các tỉnh, thành phố đã sớm cụ thể hoá các nội dung quy hoạch nông thôn mới như ban hành đề cương, định mức, xây dựng quy hoạch mẫu ở một số xã để rút kinh nghiệm,

tổ chức các cuộc họp với các đơn vị tư vấn, ban chỉ đạo huyện để triển khai công tác quy hoạch Do vậy, đến nay số xã trong diện triển khai thí điểm đã hoàn thành việc phê duyệt quy hoạch chung là 1.040 xã (11,67%) với 200 xã

đã hoàn thành một số quy hoạch chi tiết cần thiết (khu dân cư và trung tâm xã, khu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp); số xã đã hoàn thành đồ án quy hoạch chung, chờ thẩm định là 1.083 xã (12,15%) Số xã đang triển khai lập đồ án quy hoạch là 2.732 xã (30,66%) Mô hình nông thôn mới theo 19 tiêu chí đã được hình thành, khẳng định việc lấy xã làm địa bàn tổ chức thực hiện và tổ chức xây dựng mô hình theo Bộ tiêu chí nông thôn mới là phù hợp Chương trình đã góp phần xác định rõ hơn những nội dung về huy động nội lực, cách thức để người dân thực sự là chủ thể trong xây dựng nông thôn mới

* Bên cạnh những kết quả đạt được, mô hình thí điểm xây dựng nông thôn mới đã bộc lộ một số hạn chế:

- Phần lớn các xã đã quá chú trọng đến đầu tư xây dựng cơ bản mà chưa quan tâm đúng mức sản xuất Có mô hình sản xuất còn quá thiên về nông nghiệp, chưa được đầu tư thỏa đáng vào phát triển ngành nghề, công nghiệp nông thôn, dịch vụ và các vấn đề văn hóa Nội dung dân chủ chưa

Trang 32

được thể hiện rõ trong các dự án, đa số các xã đều dàn trải mong muốn thực hiện nhiều vấn đề mà chưa xác định rõ những nội dung trọng tâm để triển khai thực hiện

- Phương châm của chỉ đạo xây dựng mô hình là dựa vào nguồn lực tại chỗ là chính, Nhà nước hỗ trợ một phần, nhưng chỉ khoảng một nửa số xã tự huy động được sự đóng góp của người dân từ 47-55% tổng vốn đầu tư, các xã còn lại có mức huy động chỉ đạt 10% tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự đầu tư của Nhà nước còn phổ biến

- Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội cho các xã đòi hỏi vốn lớn nhưng đến nay ngoài nguồn vốn thông qua một số chương trình dự án của Bộ NN&PTNT, của tỉnh còn lại là Bộ, ngành khác chưa có sự quan tâm đầu tư thỏa đáng

- Chương trình này, từ khi xây dựng và thông qua đã không xác định rõ nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước và không được ghi vốn riêng Do vậy, khi triển khai đã thiếu nguồn lực cụ thể, không thể tạo ra động lực thu hút nguồn vốn đóng góp của nhân dân Do không có nguồn vốn riêng cho chương trình, các dự án mô hình đều phụ thuộc vào việc lồng ghép các chương trình rất thụ động, không thường xuyên và hiệu quả rất hạn chế

- Việc phối hợp tổ chức thực hiện mô hình của các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở chưa tập trung đồng bộ; đội ngũ cán bộ xã tuy có được đào tạo nhưng trình độ vẫn còn hạn chế, chưa nắm vững yêu cầu và phương pháp triển khai dự án, nhiều xã điểm chưa phát huy được tiềm năng sẵn có, việc nhân rộng mô hình gặp nhiều khó khăn

- Một trong những nhược điểm quan trọng nhất là việc thực hiện chương trình vẫn chủ yếu xuất phát từ mong muốn của cấp trên đưa xuống, sự tham gia của người dân từ khâu đề xuất những công trình thiết yếu cho đời sống, sản xuất…đến việc quản lý điều hành còn rất yếu, nhiều nơi người dân

Trang 33

hầu như không được tham gia mà chỉ được vận động khi cần đóng góp, do đó nhiều công trình không thực sự là nhu cầu cần thiết của nhân dân nên xây dựng xong không được đưa vào sử dụng một cách có hiệu quả và nhanh chóng xuống cấp

- Thực trạng xây dựng mô hình chỉ chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng làm chủ yếu vẫn chưa chú trọng đến đời sống xã hội của nhân dân Mô hình như một lớp ―vỏ bọc‖ bên ngoài còn ―bên trong‖ vẫn chưa được quan tâm đúng mức

Những đánh giá này là bài học rất bổ ích để tiếp thu thực hiện một cách mềm dẻo hơn, xác thực hơn công tác xây dựng các mô hình nông thôn mới giai đoạn tiếp theo

1.3.2 Một số chủ trương của Đảng và Nhà Nước ta về xây dựng NTM

- Nghị quyết số 26/NQ –TW ngày 05/08/2008 của BCH TW Đảng khóa

X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;

- Nghị quyết số 24/2008/NQ – CP ngày 28/10/2008 của Chính Phủ V/v ban hành Chương trình hành động về xây dựng nông nghiệp, nông dân và nông thôn;

- Thông báo số 238/TB - TW ngày 10/04/2009 của Ban bí thư Trung ương Đảng về xây dựng thí điểm mô hình NTM;

- Quyết định số 491/QĐ – TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chính Phủ V/v ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM;

- Quyết định số 800/QĐ – TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính phủ V/v Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020;

- Quyết định số 1013/QĐ – TTg ngày 01/07/2010 của Thủ tướng chính phủ V/v Thành lập BCĐ TW Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020;

Trang 34

- Thông tư liên tịch 26/2011/TTLT – BNNPTNT – BKHĐT – BTC ngày 13/04/2011 của liên Bộ NN&PTNT – Bộ Kế hoạch và Đầu tư – Bộ Tài chính

về việc hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/QĐ –TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010 -2020;

- Quyết định số 342/QĐ –TTg ngày 20/02/2013 của Thủ tướng chính phủ V/v sửa đổi một số tiêu chí của Bộ Tiêu chí quốc gia về NTM

-Nghị định số 26/2010/NQ-HĐND ngày 16 tháng 12 năm 2010 của Hội đồng nhân dân tỉnh Yên Bái về xây dựng nông thôn mới tỉnh Yên Bái giai đoạn 2011-2020

-Nghị định số 474/QĐ-UBND ngày 06 tháng 4 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái về việc giao kế hoạch vốn chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới

1.3.3 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới của tỉnh Yên Bái

Tính đến hết năm 2016, tỉnh Yên Bái có 18 xã đạt 19/19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới, chiếm 11,46% Số xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí là 04 xã; 46

xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí; 78 xã đạt từ 5 – 9 tiêu chí; số xã đạt dưới 5 tiêu chí chỉ còn 11 xã Một số tiêu chí đạt cao như tiêu chí quy hoạch, tiêu chí thủy lợi, tiêu chí điện, hệ thống chính trị, an ninh trật tự xã hội

Chỉ tính riêng trong năm 2016, tỉnh Yên Bái có thêm 12 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, vượt 07 xã so với kế hoạch đề ra, đạt 240% so với kế hoạch Trong đó huyện Văn Yên có 3 xã, huyện Văn Chấn 3 xã, huyện Yên Bình 2 xã, thành phố Yên Bái 1 xã, huyện Trấn Yên có 3 xã Chương trình xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào sôi nổi rộng khắp, tạo bước chuyển mạnh mẽ về nhận thức của cán bộ, nhân dân, trong đó vai trò chủ thể của người dân được nâng lên Nguồn lực đầu tư cho chương trình

Trang 35

ngày càng tăng, đặc biệt đã thu hút, huy động mạnh mẽ sự tham gia đóng góp

tự nguyện của người dân

Phát huy những kết quả đạt được, năm 2017 tỉnh Yên Bái phấn đấu có thêm 12 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới Trong đó thành phố Yên Bái đăng ký 1 xã, Thị xã Nghĩa Lộ 2 xã, huyện Văn Chấn 2 xã, huyện Trấn Yên 2 xã, huyện Lục Yên 2 xã và huyện Yên Bình 1 xã Lũy kế đến hết năm 2017 số xã được công nhận đạt tiêu chí nông thôn mới của toàn tỉnh là

30 xã

Để thực hiện được mục tiêu trên, tỉnh Yên Bái tiếp tục rà soát, bổ sung hoàn chỉnh đề án phát triển sản xuất tại các xã, lựa chọn sản phẩm chủ lực của địa phương để phát triển sản xuất hàng hóa Xây dựng và thực hiện cơ chế chính sách thu hút nguồn lực đầu tư xây dựng nông thôn mới Tích cực huy động, lồng ghép có hiệu quả các nguồn vốn từ các chương trình, dự án tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, trong đó ưu tiên xây dựng hạ tầng phục vụ sản xuất, tạo việc làm ổn định, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn Tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng đến thôn, bản, hộ gia đình về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, phát động phong trào thi đua thôn điểm, hộ điểm; thực hiện biểu dương, khen thưởng kịp thời các tổ chức, cá nhân tiêu biểu trong xây dựng nông thôn mới

1.3.4 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới của huyện Lục Yên

Sau 5 năm triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (XDNTM), huyện Lục Yên đã đạt được một số thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội

Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện; kết cấu hạ tầng được đầu tư và từng bước hoàn thiện, trong đó có sự thay đổi đáng kể về hạ tầng giao thông nông thôn; trình độ dân trí được nâng lên; tình

Trang 36

hình an ninh trật tự ở khu vực nông thôn trong huyện ổn định, nhân dân yên tâm lao động sản xuất, đóng góp tiền của, ngày công lao động để xây dựng bản làng giàu đẹp hơn

Nhận thấy công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách

về XDNTM được triển khai phổ biến đầy đủ đến cán bộ, đảng viên và nhân dân với nhiều hình thức, giúp cho cán bộ và nhân dân hiểu rõ hơn mục đích, nội dung, tư tưởng chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh, của huyện để mỗi cán

bộ, đảng viên và nhân dân tích cực tham gia XDNTM

Từ năm 2011 đến 2015, Ban chỉ đạo huyện đã phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức 9 lớp tập huấn kiến thức về Chương trình XDNTM cho 584 lượt cán bộ quản lý và cán bộ trực tiếp tham mưu thực hiện Chương trình XDNTM cấp huyện và cấp xã…

Qua rà soát, đánh giá, đến hết năm 2015, huyện có 22/23 xã đạt từ 5 tiêu chí trở lên; trong đó, 15 xã đạt 10 tiêu chí trở lên gồm: Liễu Đô, Tân Lĩnh, Tô Mậu, Yên Thắng, Vĩnh Lạc, Mường Lai, Mai Sơn, Trúc Lâu, Động Quan, Minh Chuẩn, An Phú, Minh Tiến…, bình quân đạt 8,8 tiêu chí/xã; mỗi

xã tăng 2 - 3 tiêu chí/năm Đến hết năm 2015, xã Liễu Đô đã hoàn thành 19/19 tiêu chí, đã được công nhận xã đạt chuẩn NTM Trong 5 năm qua, toàn huyện đã thực hiện nâng cấp, rải nhựa và bê tông hóa mặt đường liên xã, trục

xã theo tiêu chuẩn cấp V miền núi đạt 160,5 km/tổng số 180,6 km, bằng 89%; đường trục thôn, liên thôn đã cứng hóa 239,66 km/tổng số 804,07 km, bằng 30% Năm 2014, Lục Yên là một trong 10 huyện của cả nước được Thủ tướng Chính phủ tặng cờ thi đua xuất sắc trong phong trào làm đường giao thông nông thôn

Trong 5 năm qua, huyện đã tổ chức 150 lớp đào tạo nghề ngắn hạn cho trên 4.500 lượt lao động nông thôn; triển khai xây dựng trên 500 mô hình (dự án) sản xuất nông - lâm nghiệp, thủy sản Từ các mô hình đạt hiệu quả, hiện

Trang 37

nay, huyện đã phát triển nhân rộng như các mô hình chăn nuôi trâu, bò từ 10 con trở lên; chăn nuôi lợn thịt 100 con/lứa; chăn nuôi gia cầm 1.000 con/lứa;

mô hình nuôi cá rô phi đơn tính; mô hình trồng cam, quýt tập trung, trồng măng mai , góp phần nâng cao thu nhập cho hàng nghìn hộ dân ở khu vực nông thôn Tổng nguồn vốn đầu tư trong 5 năm thực hiện Chương trình XDNTM trên địa bàn huyện đạt trên 838,5 tỷ đồng; trong đó, nhân dân đóng góp trên 100 tỷ đồng, hiến 35 ha đất và trên 500 nghìn công lao động để xây dựng cơ sở hạ tầng…

Chương trình XDNTM đã và đang góp phần làm thay đổi bộ mặt nông nghiệp, nông dân và nông thôn của huyện Lục Yên, đời sống của nhân dân nâng lên rõ rệt Phát huy những kết quả đã đạt được, giai đoạn 2015 - 2020, huyện Lục Yên sẽ huy động, lồng ghép các nguồn vốn để phấn đấu mỗi năm kiên cố hóa 30 km đường giao thông nông thôn; xây dựng xã Trúc Lâu, Mai Sơn và Vĩnh Lạc được công nhận chuẩn NTM; tiếp tục đầu tư các nguồn lực, huy động nhân dân phát huy nội lực, hoàn thành các tiêu chí còn lại để đạt được mục tiêu XDNTM theo lộ trình đề ra

1.3.5 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới của xã Mai Sơn

Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng với sự quyết tâm, vào cuộc của cả

hệ thống chính trị và nhân dân, Chương trình xây dựng nông thôn mới (XDNTM) ở xã Mai Sơn (huyện Lục Yên) đã có những chuyển biến tích cực, những con đường bê tông khang trang, sạch sẽ nối liền các thôn, bản gần xa; những mái trường với đầy đủ trang thiết bị học tập; những mô hình chăn nuôi tiền tỷ, quy mô lớn Đặc biệt, chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được quan tâm Mai Sơn đã huy động, phát huy tốt các nguồn lực đầu tư trong việc hoàn thiện hệ thống giao thông nông thôn, phát triển kinh tế, xây dựng các vùng chuyên canh sản xuất… Đến nay, toàn xã có 67 tuyến đường với tổng chiều dài đường trục xã 42,6 km, trong số đó gần 20 km

Trang 38

đã nhựa hóa, bê tông hóa Nhờ đó, hoạt động giao thương, phát triển kinh tế của người dân có nhiều thuận lợi, góp phần tích cực cho chương trình XDNTM Diện mạo nông thôn ở Mai Sơn có nhiều khởi sắc, đời sống kinh tế

- xã hội của nhân dân ngày càng nâng cao

Xã đã và đang tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, giống mới vào sản xuất nông nghiệp; khuyến khích người dân mạnh dạn đầu tư sản xuất nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, từ

đó nâng cao thu nhập cải thiện đời sống Đó là các mô hình chăn nuôi quy mô lớn, hiệu quả cao như: chăn nuôi lợn thịt, lợn nái sinh sản, chăn nuôi gà, ba

ba, sản xuất lúa hàng hóa cánh đồng mẫu lớn, trồng cây măng mai Cùng với

đó, xã cũng tập trung huy động mọi nguồn lực cho thực hiện Chương trình XDNTM; các tổ chức đoàn thể vận động đoàn viên, hội viên của mình tham gia đóng góp sức người, sức của kết hợp nguồn hỗ trợ của Nhà nước để thực hiện có hiệu quả mô hình XDNTM; tiếp tục chú trọng vào đầu tư xây dựng,

mở rộng các công trình đường giao thông nông thôn…

Xã Mai Sơn là một xã thuần nồn miền núi thuộc phía bắc của huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, cần phải xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, có hạ tàng kinh tế xã hội hiện đại và môi trường trong lành, sạch đẹp, tạo một diện mạo mới cho nông thôn của xã

Vì vậy Xây dựng quy hoạch NTM là sự cần thiết để xã phấn đấu đạt mục tiêu của chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông tôn mới của chính phủ và để triển khai thực hiện tốt quy hoạch NTM trên địan bàn xã, nhằm lồng ghép các chương trình dự án huy động nguồn lực, nhân dân xây dựng NTM

Trang 40

hương 2

Ụ TIÊU, ỐI TƯỢ G, PHẠ VI, ỘI DU G

VÀ PHƯƠ G PHÁP GHIÊ ỨU

2.1 ục tiêu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Quy hoạch xây dựng xã Mai Sơn hướng tới năm 2020 trở thành một

xã đạt 19 tiêu chí nông thôn mới theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá thực trạng nông nghiệp, nông thôn và nông dân trên địa bàn

xã giaiđoạn 2011 - 2015

- Quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Mai Sơn, huyện Lục Yên,

tỉnh Yên Bái giai đoạn 2016 - 2020

2.2 ối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu toàn bộ đất đai và hạ tầng kỹ thuật khu vực xã Mai Sơn, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái

- Đối tượng quy hoạch: Quy hoạch hạ tầng và sản xuất để phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng, bền vững theo yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

- Phạm vi quy hoạch theo ranh giới hành chính vực xã Mai Sơn, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái với quy mô quy hoạch

2.3 ội dung nghiên cứu

2.3.1 Điều tra phân tích đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

-Điều kiện tự nhiên

- Điều kiện kinh tế xã hội

2.3.2 Đánh giá kết quả xây dựng nông thôn mới xã Mai Sơn, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái đến năm 2015 theo bộ tiêu chí quốc gia về NTM ;

Ngày đăng: 23/06/2021, 06:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w