H.T.Chang & R.H.Miao, Lan hài Paphiopedilum sp, Kim tuyến đá vôi Anoectochilus calcareous, Bảy lá một hoa Paris polyphylla Sm… Lịch sử tồn tại hơn 4000 năm trong công cuộc xây dựng và b
Ổ QUA VỀ VẤ Ề Ê CỨU
Nghiên cứu tại BQL KBTTN Pù Luông
ỤC ÊU, Ố ƢỢ , VI, Ộ DU VÀ ƢƠ Á Ê CỨU
Cung cấp cơ sở khoa học nhằm bảo tồn và phát triển loài Bảy lá một hoa (Paris polyphylla Smith) tại Khu BTTN Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa
- Đánh giá được đặc điểm lâm học và hiện trạng bảo tồn loài Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông
- Đánh giá được khả năng nhân giống hữu tính đối với loài Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông
- Đề xuất được một số giải pháp bảo tồn đối với loài Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông
2.2 ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Loài Bảy lá một hoa (Paris polyphylla Smith)
- Phạm vi về nội dung: Nội dung nghiên cứu chi tiết gồm: Nghiên cứu thực trạng phân bố của loài thực vật Bảy lá một hoa; Thử nghiệm nhân giống hữu tính; Xác định các mối đe dọa đối với loài; Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững đối với loài thực vật Bảy lá một hoa.
- Phạm vi về không gian: Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông có diện tích là 17.171,03 ha, tuy nhiên đối với loài thực vật Bảy lá một hoa chỉ phân bố ở một số khu vực rừng trên núi đá vôi và trên núi đất của KBTTN
Pù Luông, vì vậy đề tài lựa chọn phạm vi nghiên cứu tại một số tiểu khu
ỤC ÊU, Ố ƯỢ , V , Ộ DU VÀ ƢƠ Á Ê CỨU
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
ỤC ÊU, Ố ƢỢ , VI, Ộ DU VÀ ƢƠ Á Ê CỨU
Cung cấp cơ sở khoa học nhằm bảo tồn và phát triển loài Bảy lá một hoa (Paris polyphylla Smith) tại Khu BTTN Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa
- Đánh giá được đặc điểm lâm học và hiện trạng bảo tồn loài Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông
- Đánh giá được khả năng nhân giống hữu tính đối với loài Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông
- Đề xuất được một số giải pháp bảo tồn đối với loài Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông
2.2 ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Loài Bảy lá một hoa (Paris polyphylla Smith)
- Phạm vi về nội dung: Nội dung nghiên cứu chi tiết gồm: Nghiên cứu thực trạng phân bố của loài thực vật Bảy lá một hoa; Thử nghiệm nhân giống hữu tính; Xác định các mối đe dọa đối với loài; Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững đối với loài thực vật Bảy lá một hoa.
- Phạm vi về không gian: Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông có diện tích là 17.171,03 ha, tuy nhiên đối với loài thực vật Bảy lá một hoa chỉ phân bố ở một số khu vực rừng trên núi đá vôi và trên núi đất của KBTTN
Pù Luông, vì vậy đề tài lựa chọn phạm vi nghiên cứu tại một số tiểu khu
261, 262 thuộc địa phận xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước và các tiểu khu 27,
41, 136 thuộc các xã Phú Lệ, Hồi Xuân, Thanh Xuân, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Phạm vi về thời gian: Từ tháng 12/2017 đến tháng 4/2019
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và thực trạng phân bố loài Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông, Thanh Hóa
- Nghiên cứu hiện trạng bảo tồn Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông, Thanh Hóa
- Thử nghiệm khả năng nhân giống hữu tính loài Bảy lá một hoa
- Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển loài Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông
2.4 hương pháp nghiên cứu Để thực hiện các nội dung nghiên cứu nêu trên, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
2.4.1 Phương pháp kế thừa các tài liệu sẵn có
- Đề tài sẽ kế thừa có chọn lọc và phát triển các nghiên cứu trước đây về vấn đề đa dạng hệ thực vật của Khu BTTN Pù Luông và các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội tại khu vực nghiên cứu
- Kế thừa các tài liệu hiện có để hệ thống hoá các thông tin đã có liên quan đến nội dung của đề tài
2 4.2.Phương pháp nghiên cứu điều tra thực địa
Quy trình điều tra nghiên cứu thực địa áp dụng theo phương pháp được Nguyễn Nghĩa Thìn giới thiệu trong “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng thực vật” 1997, “Hệ sinh thái rừng nhiệt đới” (2004), và “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” (2008)
2.4.2.1 Dụng cụ và trang thiết bị phục vụ khảo sát thực địa
Các trang thiết bị xác định vị trí: Bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25.000; máy định vị toàn cầu GPS; la bàn, nhãn, dây buộc, kéo cắt cành, nhãn ghi mẫu; bút ghi nhãn, bút ghi dây buộc; ống nhòm, túi đựng mẫu tạm thời; kẹp mẫu, cồn công nghiệp
2.4.2.2 Điều tra thu thập số liệu trên tuyến và trên OTC
- Điều tra theo tuyến vạch sẵn trên bản đồ địa hình, tuyến cần được lựa chọn dựa trên các đường mòn có sẵn để dễ tiếp cận khu vực hơn
- Các tuyến điều tra có chiều dài không giống nhau được xác định đảm bảo đi qua tất cả các trạng thái rừng Tuyến điều tra được đánh dấu trên bản đồ và đánh dấu trên thực địa bằng sơn hoặc dây nilon có màu dễ nhận biết
- Dùng máy định vị GPS để xác định phân bố của các loài trên các tuyến điều tra vào bản đồ thảm thực vật rừng của Khu BTTN Pù Luông
- Dùng máy ảnh để lưu lại hình ảnh của loài thực vật quý hiếm trên tuyến điều tra
* Thiết lập các tuyến điều tra:
Căn cứ vào điều kiện thời gian cũng như về nhân lực, vật lực cần thiết phục vụ công tác điều tra, nhằm thực hiện hiệu quả các nội dung của đề tài đề ra nhưng vẫn đảm bảo về mặt thời gian và các điều kiện cần thiết khác Công tác chuẩn bị nội nghiệp đóng góp một phần rất quan trọng, sau khi xem xét tất cả các yếu tố có liên quan như: hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp KBTTN Pù Luông, điều kiện địa hình và ý kiến góp ý của lãnh đạo, cán bộ khoa học - kỹ thuật đã nhiều năm làm công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại KBTTN Pù Luông sẽ tiến hành lập 10 tuyến điều tra a Điều tra cá thể loài:
- Điều tra, thu thập tiêu bản đo tính tất cả các cá thể loài thực vật quý, hiếm Bảy lá một hoa được tìm thấy trên tuyến điều tra
- Đo chiều cao vút ngọn (H vn ) bằng thước đo mét có chia cự li đến cm Kết quả điều tra theo tuyến được ghi vào mẫu biểu sau: ẫu biểu 01 Biểu điều tra loài Bảy lá một hoa theo tuyến
Tuyến số:………Kiểu rừng hính:……… Độ cao:……….Độ dốc:……….Hướng dốc:…….…… Ngày điều tra:……… Người điều tra:……… ………
TT H vn (cm) ọa độ ộ cao
Sinh trưởng Ghi chú x y b) Xác định sự phân bố theo độ cao
Sử dụng định vị toàn cầu (GPS) để xác định độ cao phân bố của từng cá thể loài thực vật quý hiếm Bảy lá một hoa Căn cứ vào kết quả điều tra sự phân bố của loài và bản đồ địa hình đã được số hoá theo các độ cao khác nhau để phân chia theo các đai cao phù hợp và chính xác
Tham vấn các nhà lãnh đạo địa phương, các chuyên gia đầu ngành, các nhà khoa học chuyên môn liên quan đến các vấn đề nghiên cứu
Phân tích tài liệu xây dựng báo cáo
Phương pháp chuyên gia được sử dụng để phân tích tài liệu xây dựng báo cáo Các chuyên gia thảo luận theo nhóm để phân tích tình trạng phân bố, đặc tính sinh thái, tình trạng bảo tồn của loài thực vật trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP, Sách đỏ Việt nam (2007)
Phân hạng bảo tồn loài Bảy lá một hoa được trình bày theo biểu mẫu sau: ẫu biểu 02 Biểu phân hạng bảo tồn loài Bảy lá một hoa
TT ên Việt am ên khoa học ức độ đe dọa
2.4.2.4 Phương pháp điều tra phỏng vấn người dân
Phỏng vấn cán bộ BQL KBTTN Pù Luông và người dân địa phương về nơi phân bố cũng như một số đặc điểm của các loài thực vật Bảy lá một hoa
2.4.2.5 Phương pháp thu mẫu và xử lý sơ bộ mẫu ngoài thực địa
Các mẫu thu phải có đủ của các bộ phận dinh dưỡng và bộ phận sinh sản và được gắn Etyket để ghi lại các thông tin sơ bộ ngoài thực địa, mẫu thu được sẽ được kẹp trong giấy báo khổ A3 và nẹp tạm thời bằng kẹp mắt cáo bằng gỗ
2.4.3 Phương pháp xử lý và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm Ép mẫu: Trước khi sấy mẫu cần ép phẳng trên giấy báo dày, đảm bảo phiến lá được duỗi hoàn toàn, không bị quăn mép, các bộ phận của hoa hoặc quả được mở hoặc bổ ra để tiện cho việc phân tích, ép và sấy mẫu
Phương pháp nghiên cứu
41, 136 thuộc các xã Phú Lệ, Hồi Xuân, Thanh Xuân, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Phạm vi về thời gian: Từ tháng 12/2017 đến tháng 4/2019
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và thực trạng phân bố loài Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông, Thanh Hóa
- Nghiên cứu hiện trạng bảo tồn Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông, Thanh Hóa
- Thử nghiệm khả năng nhân giống hữu tính loài Bảy lá một hoa
- Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển loài Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông
2.4 hương pháp nghiên cứu Để thực hiện các nội dung nghiên cứu nêu trên, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
2.4.1 Phương pháp kế thừa các tài liệu sẵn có
- Đề tài sẽ kế thừa có chọn lọc và phát triển các nghiên cứu trước đây về vấn đề đa dạng hệ thực vật của Khu BTTN Pù Luông và các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội tại khu vực nghiên cứu
- Kế thừa các tài liệu hiện có để hệ thống hoá các thông tin đã có liên quan đến nội dung của đề tài
2 4.2.Phương pháp nghiên cứu điều tra thực địa
Quy trình điều tra nghiên cứu thực địa áp dụng theo phương pháp được Nguyễn Nghĩa Thìn giới thiệu trong “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng thực vật” 1997, “Hệ sinh thái rừng nhiệt đới” (2004), và “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” (2008)
2.4.2.1 Dụng cụ và trang thiết bị phục vụ khảo sát thực địa
Các trang thiết bị xác định vị trí: Bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25.000; máy định vị toàn cầu GPS; la bàn, nhãn, dây buộc, kéo cắt cành, nhãn ghi mẫu; bút ghi nhãn, bút ghi dây buộc; ống nhòm, túi đựng mẫu tạm thời; kẹp mẫu, cồn công nghiệp
2.4.2.2 Điều tra thu thập số liệu trên tuyến và trên OTC
- Điều tra theo tuyến vạch sẵn trên bản đồ địa hình, tuyến cần được lựa chọn dựa trên các đường mòn có sẵn để dễ tiếp cận khu vực hơn
- Các tuyến điều tra có chiều dài không giống nhau được xác định đảm bảo đi qua tất cả các trạng thái rừng Tuyến điều tra được đánh dấu trên bản đồ và đánh dấu trên thực địa bằng sơn hoặc dây nilon có màu dễ nhận biết
- Dùng máy định vị GPS để xác định phân bố của các loài trên các tuyến điều tra vào bản đồ thảm thực vật rừng của Khu BTTN Pù Luông
- Dùng máy ảnh để lưu lại hình ảnh của loài thực vật quý hiếm trên tuyến điều tra
* Thiết lập các tuyến điều tra:
Căn cứ vào điều kiện thời gian cũng như về nhân lực, vật lực cần thiết phục vụ công tác điều tra, nhằm thực hiện hiệu quả các nội dung của đề tài đề ra nhưng vẫn đảm bảo về mặt thời gian và các điều kiện cần thiết khác Công tác chuẩn bị nội nghiệp đóng góp một phần rất quan trọng, sau khi xem xét tất cả các yếu tố có liên quan như: hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp KBTTN Pù Luông, điều kiện địa hình và ý kiến góp ý của lãnh đạo, cán bộ khoa học - kỹ thuật đã nhiều năm làm công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại KBTTN Pù Luông sẽ tiến hành lập 10 tuyến điều tra a Điều tra cá thể loài:
- Điều tra, thu thập tiêu bản đo tính tất cả các cá thể loài thực vật quý, hiếm Bảy lá một hoa được tìm thấy trên tuyến điều tra
- Đo chiều cao vút ngọn (H vn ) bằng thước đo mét có chia cự li đến cm Kết quả điều tra theo tuyến được ghi vào mẫu biểu sau: ẫu biểu 01 Biểu điều tra loài Bảy lá một hoa theo tuyến
Tuyến số:………Kiểu rừng hính:……… Độ cao:……….Độ dốc:……….Hướng dốc:…….…… Ngày điều tra:……… Người điều tra:……… ………
TT H vn (cm) ọa độ ộ cao
Sinh trưởng Ghi chú x y b) Xác định sự phân bố theo độ cao
Sử dụng định vị toàn cầu (GPS) để xác định độ cao phân bố của từng cá thể loài thực vật quý hiếm Bảy lá một hoa Căn cứ vào kết quả điều tra sự phân bố của loài và bản đồ địa hình đã được số hoá theo các độ cao khác nhau để phân chia theo các đai cao phù hợp và chính xác
Tham vấn các nhà lãnh đạo địa phương, các chuyên gia đầu ngành, các nhà khoa học chuyên môn liên quan đến các vấn đề nghiên cứu
Phân tích tài liệu xây dựng báo cáo
Phương pháp chuyên gia được sử dụng để phân tích tài liệu xây dựng báo cáo Các chuyên gia thảo luận theo nhóm để phân tích tình trạng phân bố, đặc tính sinh thái, tình trạng bảo tồn của loài thực vật trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP, Sách đỏ Việt nam (2007)
Phân hạng bảo tồn loài Bảy lá một hoa được trình bày theo biểu mẫu sau: ẫu biểu 02 Biểu phân hạng bảo tồn loài Bảy lá một hoa
TT ên Việt am ên khoa học ức độ đe dọa
2.4.2.4 Phương pháp điều tra phỏng vấn người dân
Phỏng vấn cán bộ BQL KBTTN Pù Luông và người dân địa phương về nơi phân bố cũng như một số đặc điểm của các loài thực vật Bảy lá một hoa
2.4.2.5 Phương pháp thu mẫu và xử lý sơ bộ mẫu ngoài thực địa
Các mẫu thu phải có đủ của các bộ phận dinh dưỡng và bộ phận sinh sản và được gắn Etyket để ghi lại các thông tin sơ bộ ngoài thực địa, mẫu thu được sẽ được kẹp trong giấy báo khổ A3 và nẹp tạm thời bằng kẹp mắt cáo bằng gỗ
2.4.3 Phương pháp xử lý và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm Ép mẫu: Trước khi sấy mẫu cần ép phẳng trên giấy báo dày, đảm bảo phiến lá được duỗi hoàn toàn, không bị quăn mép, các bộ phận của hoa hoặc quả được mở hoặc bổ ra để tiện cho việc phân tích, ép và sấy mẫu
Sấy mẫu và tẩm mẫu: Mẫu mang về sau khi ép cần được sấy ngay Khi sấy chú ý để mẫu dựng đứng để nước bốc hơi dễ dàng và mẫu chóng khô
Phân tích mẫu: Sử dụng phương pháp chuyên gia: phân tích theo họ, chi So mẫu với bộ mẫu chuẩn tại Khu BTTN Pù Luông và Trường Đại học Lâm nghiệp, xác định tên loài dựa vào các đặc điểm của cành, lá, hoa, quả
ẶC Ể Ự Ê , K Ế - XÃ Ộ
Đặc điểm kinh tế - xã hội
TT ên khu rừng đặc dụng Số loài Số loài quý hiếm
1 Vườn quốc gia Bến En 1.004 93
5 Vườn quốc gia Cúc Phương 621 94
(Nguồn: Đỗ Tước và Lê Trọng Trải, báo cáo điều tra khu Hệ động vật rừng Pù Luông, FFI, 2013; Dự án điều tra lập danh lục động thực vật rừng, 2012)
Dựa vào Sách Đỏ Việt Nam (2007, phần Động vật), IUCN 2009, Nghị định 32/2006/NĐ-CP, hệ động vật Khu BTTN Pù Luông có 39 loài động vật quý hiếm chiếm 6,52% tổng số loài; trong đó 37 loài có tên trong Sách Đỏ, 19 loài có tên trong IUCN 2009, 28 loài có tên trong NĐ 32, 27 loài có tên trong Công ước Cites
3.2 ặc điểm kinh tế - xã hội
3.2.1 Tình hình dân số và dân tộc
Khu BTTN Pù Luông nằm trong khu vực đông dân cư.Phần lớn người dân địa phương (> 95%) ở đây là các dân tộc Thái, Mường Do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, và do những yêu cầu thiết yếu của cuộc sống dẫn đến sự phân bố dân cư trong vùng không đồng đều Đa số các dân tộc chỉ tập trung sống ở những vùng có thể canh tác nông nghiệp Người dân sống thành từng thôn (bản) phân bố rải rác, không tập trung Nhìn tổng thể có thể phân chia ra làm các khu vực chính:
- Vùng núi đất Pù Luông: Đây là vùng đất đai màu mỡ phía dưới chân núi Pù Luông là những vùng đất bằng phẳng, có các tuyến giao thông như đường 15A, 15C, có nguồn sông suối thuận lợi cho canh tác lúa nước, trồng hoa màu cũng như dùng nước sinh hoạt Khu vực này là nơi tập trung sinh sống của người Thái, Mường và người Kinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, chăn nuôi gia súc gia cầm và các hoạt động dịch vụ khác
- Vùng núi đá: Trong vùng chủ yếu là núi đá xen lẫn giữa là các thung lũng nhỏ có đất đai màu mỡ có thể trồng lúa nước và canh tác các loài cây nông nghiệp khác, nơi đây là nơi tập trung sinh sống chủ yếu của người Mường Tuy nhiên, do địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn là một trở ngại lớn cho phát triển kinh tế Mặt khác do ảnh hưởng của việc canh tác trong khu vực đã ảnh hưởng rất lớn đến công tác BTTN, làm giảm vùng sống của các loài động vật trong vùng
Hiện trạng phân bố dân cư tại khu vực Khu BTTN Pù Luông được thể hiện tại Bảng 3.5
Bảng 3.5 hân bố dân cƣ của các xã nằm trong Khu B ù uông (năm 2012)
TT ơn vị hành chính
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Bá Thước, Phòng thống kê huyện
Hầu hết người dân sống ở vùng đệm Tại vùng lõi có 312 hộ; 1.593 nhân khẩu sinh sống (cả ở phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu phục hồi sinh thái) tại 9 bản: Kịt, Cao Hoong, Pốn, Thành Công, Son, Bá, Mười của xã Lũng Cao và các bản Ấm, bản Hiêu của xã Cổ Lũng
Phân bố dân cư tại vùng lõi KBT ở các phân khu chức năng (phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu phục hồi sinh thái) được thể hiện tại Bảng 3.6
Bảng 3.6 hân bố dân cƣ trong vùng lõi KB
TT Khu vực Số hộ Số khẩu
2 Phục hồi sinh thái 114 626 ổng 312 1.593
(Nguồn: Điều tra bổ sung của tác giả Nguyễn Văn Chính, 2014) 3.2.1.2 Mật độ dân số
Mật độ dân số trong khu vực được thể hiện qua Bảng 3.7
Bảng 3.7 ật độ dân số của các xã nằm trong Khu B ù uông
STT ơn vị hành chính (xã) ật độ dân số
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Bá Thước, Quan Hoá (2012), Thanh Hoá)
Nhìn chung mật độ dân số trong vùng thấp và phân bố không đều, trung bình có 102 người/km 2 , vùng thuộc KBT mật độ 63 người/km 2 Nếu so sánh với mật dộ dân số trung bình của toàn quốc thì mật độ dân số ở đây rất thưa thớt
4.2.1.3 Tỷ lệ tăng dân số
Theo số liệu đến hết năm 2012, tỷ lệ tăng dân số tại các xã thuộc KBT là 7,4% Trong đó chủ yếu là tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, tỷ lệ tăng dân số cơ học hầu như không có Tỷ lệ sinh, chết, tăng dân số tự nhiên tại các xã trong khu vực Khu BTTN Pù Luông từ năm 2001 đến năm 2005 được thể hiện qua Bảng 3.8
Bảng 3.8 ỷ lệ sinh, chết, tăng tự nhiên qua các năm tại các xã thuộc Khu B ù uông ăm ỷ lệ 2006 2007 2008 2009 2010
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Bá Thước, Quan Hoá (2012), Thanh Hoá)
Qua Bảng 3.8 cho thấy tỷ lệ sinh tự nhiên hàng năm tại khu vực còn cao so với toàn quốc Dự tính trong vòng 10 năm tới dân số trong vùng sẽ tăng lên 4.000 - 5.000 người Đây là một sức ép lớn đối với xã hội nói chung và ảnh hưởng đến Khu BTTN Pù Luông nói riêng
3.2.2 Lao động và phân bố lao động
Theo số liệu thống kê đến hết năm 2005 cho thấy lực lượng lao động ở các xã nằm trong Khu BTTN Pù Luông được thể hiện qua Bảng 3.9
Bảng 3.9 ao động và phân bố lao động của các xã thuộc KB
TT ơn vị hành chính
(Nguồn: BQL Khu BTTN Pù Luông (2010), Dự án đầu tư xây dựng đề xuất của
KBT thiên nhiên Pù Luông giai đoạn 2006 đến 2010 Thanh Hoá)
Qua Bảng 3.9 cho thấy lực lượng lao động trong khu vực rất phong phú có 9.378 lao động chiếm 53,36% tổng số dân Trong đó lao động nam là 4.473 người chiếm 47,7% tổng số lao động; lao động nữ là 4.905 lao động chiếm 52,3% tổng số lao động Số lao động này có thể tham gia tốt vào công tác quản lý bảo vệ rừng, song số lao động dư thừa cũng là một sức ép lớn đối với công tác quản lý bảo vệ rừng nếu như không có nghề nghiệp ổn định
Cơ cấu ngành nghề của dân cư cũng rất đơn điệu Chủ yếu người dân sống bằng nghề nông nghiệp như trồng lúa nước, trồng hoa màu, chăn nuôi gia súc, gia cầm Một số sống bằng nghề trồng rừng trên đất được giao theo
Nghị định 02, số ít khác làm việc trong các lĩnh vực khác như: tiểu thủ công nghiệp; y tế; giáo dục; dịch vụ (Bảng 3.10)
Bảng 3.10 ao động phân theo ngành nghề ở các xã nằm trong KB
STT ơn vị hành chính (xã) ao động (người)
(Nguồn: BQL Khu BTTN Pù Luông (2010), Dự án đầu tư xây dựng đề xuất của Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông giai đoạn 2006 đến 2010, Thanh Hoá)
Qua Bảng 3.10 cho thấy, trong khu vực có 89,57% số người lao động trong ngành nông nghiệp nhưng diện tích đất nông nghiệp của các xã bình quân chỉ chiếm 7,97% Trong khi diện tích đất lâm nghiệp của các xã bình quân chiếm 73,51% thì số lao động lại chỉ chiếm có 2,51% (Bảng 3.7) Ngoài ra một số ngành khác cũng bổ sung vào cơ cấu ngành nghề như đồ mộc, dệt thổ cẩm… nhưng tỷ lệ không nhiều Đa phần người dân vẫn phải dựa vào sản xuất nông nghiệp
3.2.3 Các hoạt động kinh tế của người dân
Sản xuất nông nghiệp là nghề kinh tế chủ yếu của người dân trong vùng chiếm đến 89,57% tổng số người lao động
Nghề trồng trọt trong khu vực chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp nhưng do diện tích đất nông nghiệp quá ít, kỹ thuật thâm canh tăng năng suất thấp, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên (đặc biệt là thời tiết) Cơ cấu cây trồng đơn điệu, sản phẩm chỉ gồm lúa, sắn, ngô và một số loại cây phi lương thực khác như: đậu tương, đậu xanh, lạc nhưng số lượng không nhiều Năng suất thu được rất thấp, đời sống của người dân còn nhiều khó khăn, nhiều hộ gia đình tình trạng thiếu lương thực vẫn xảy ra thường xuyên, người dân phải ăn độn thêm sắn, ngô, khoai Một số xã thuộc vùng trọng điểm đã được Ban quản lý Khu BTTN Pù Luông kết hợp với dự án “Pù Luông - Cúc Phương” cùng với các dự án khác tổ chức tập huấn kỹ thuật trồng lúa nước, trồng ngô bước đầu đã thu được hiệu quả đáng khích lệ, năng suất cây trồng được nâng lên rõ rệt, nhưng số này chưa nhiều so với tổng thể Tình hình sản xuất nông nghiệp được thể hiện qua Bảng 3.11
Bảng 3.11 ình hình sản xuất nông nghiệp tại 9 xã nằm trong
Khu BTTN Pù Luông năm 2010
TT ạng mục Diện tích
(ha) ăng xuất (tạ/ha)
(Nguồn: Ban quản lý Khu BTTN Pù Luông (2010), Dự án đầu tư xây dựng đề xuất của Khu BTTN Pù Luông giai đoạn 2006 đến 2010 Thanh Hoá)
Qua Bảng 3.11 cho thấy, diện tích đất trồng cây lương thực trong khu vực là 5.807,6 ha, trong đó diện tích đất trồng lúa nước rất thấp, bình quân chỉ bằng 1/4,5 lần tổng diện tích đất trồng màu Diện tích đất trồng màu, bình quân chỉ có: 360 m 2 /người
KẾ QUẢ Ê CỨU VÀ ẢO UẬ
Đặc điểm lâm học loài Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông, Thanh Hóa
Bảy lá một hoa (Paris polyphylla Smith) là dạng cây cỏ sống nhiều năm, có chiều cao 0,4 - 1,2 mét, cây chỉ có một thân mọc trên mặt đất, cây mọc thẳng đứng, không phân nhánh, số lá giao động 4 - 9 lá xếp thành một vòng trên thân, phiến lá màu xanh hình mũi mác dài từ 8 - 22 cm, đường kính
5 - 12 cm và có 5 gân chính không cùng gốc, đầu lá nhọn, đuôi lá tù, cuống lá dài từ 2,3 - 8,2 cm Mọc cách vòng lá 20 - 50 cm về phía trên là hoa
Hình 4.1; 4.2 ình thái lá loài Bảy lá một hoa tại khu vực nghiên cứu
Hoa mọc đơn độc ở đỉnh thân, hoa lưỡng tính Đài hoa có 5 - 6, đài dạng lá màu xanh lục và có hình mũi mác dài 5
- 10 cm, đường kính từ 1,5 - 3,0 cm
Cánh hoa dài và nhỏ, mỗi bông hoa có từ 5 - 6 cánh màu lục vàng, dài 5 - 10 cm, đường kính 1 - 2 mm
Nhị hoa có 15 - 20 nhị xếp thành hai vòng tròn, vòng ngoài nhị dài và to hơn vòng trong.Vòng ngoài dài 8 - 12 mm vòng trong dài 5 - 7 mm, vòng ngoài nhị có màu vàng vòng trong nhị có màu nâu tím
Nhụy hoa dài 2 - 3 mm phần trên xẻ 5 - 6 thùy
Hình 4.3; 4.4 Hình thái hoa loài Bảy lá một hoa tại khu vực nghiên cứu
Hình 4.5; 4.6 ình giải phẫu quả Bảy lá một hoa tại khu vực nghiên cứu
Bảy lá một hoa có quả màu xanh, bầu 6 ô, bên trong có nhiều hạt được bao bởi áo hạt màu đỏ Khi chín thì lớp vỏ ngoài quả chuyển dần sang màu vàng, nứt dọc và để lộ hạt ra bên ngoài
Hình 4.7; 4.8 ình thái quả và hạt loài Bảy lá một hoa tại khu vực nghiên cứu
Hiện trạng bảo tồn loài Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông
Để nghiên cứu về hiện trạng bảo tồn loài tại khu vực nghiên cứu, tôi tiến hành điều tra về sự phân bố của loài ngoài tự nhiên và tình trạng khai thác, buôn bán loài Bảy lá một hoa của người dân tại khu vực nghiên cứu
4.2.1 Đặc điểm phân bố của loài Bảy lá một hoa tại khu vực nghiên cứu Để điều tra về đặc điểm phân bố của loài tại khu vực nghiên cứu, tôi đã tiến hành lập 10 tuyến điều tra và xác định khu vực phân bố của loài Bảy lá một hoa trong Khu BTTN Pù Luông dựa trên ba tiêu chí như sau:
(1) - Là nơi có số lượng quần thể loài nhiều hoặc nơi phân bố ổn định của các quần thể loài;
(2) - Là nơi có sinh cảnh phù hợp với yêu cầu sinh thái của loài;
(3) - Là nơi có mức độ đe doạ thấp (xa các khu dân cư trong KBT) đối với loài và sinh cảnh sống của chúng
Kết quả xác định khu vực phân bố loài theo 10 tuyến điều tra được thể hiện ở hình 4.9 và thông tin chi tiết về các khu vực này được thể hiện ở phần 4.2.1 như sau:
Hình 4.9 Bản đồ tuyến điều tra Bảy lá một hoa tại khu vực nghiên cứu Bảng 4.1 Tọa độ 10 tuyến điều tra Bảy lá một hoa tại khu vực nghiên cứu
TT Khu vực điều tra ọa độ (X/Y) iểm đầu iểm cuối
4 Thôn Eo Điếu, xã Cổ
7 Thôn Hang, xã Phú Lệ, huyện Quan Hóa 0508107/ 2270310 0511041/ 2270353
TT Khu vực điều tra ọa độ (X/Y) iểm đầu iểm cuối
8 Thôn Tân Phúc, xã Phú
Thôn Tân Sơn, xã Thanh
Xuân đi bản Nghèo, xã Hồi
4.2.1.1 Mô tả một số khu vực phân bố tập trung của loài Bảy lá một hoa trong Khu BTTN Pù Luông
* Khu vực: Đồi Piêng Toóng a) Vị trí và đặc điểm sinh cảnh
Toạ độ (X/Y) từ 0522459/ 2266922đến 0518784/ 2267177 Đây là khu vực thuộc xã Lũng Cao và thuộc địa phận của năm tiểu khu: 256, 257, 260 và 261
Thảm thực vật chính ở đây là: Rừng lá rộng thường xanh trên núi đá vôi thấp Trạng thái này phân bố ở độ cao 700 - 950 m
Các tác động của con người ở khu vực này chủ yếu là: Săn bắt động vật hoang dã và khai thác gỗ thương mại nhưng ở mức độ thấp Do địa hình phức tạp, không có nguồn nước nên không thể sử dụng trâu để kéo gỗ mà vận chuyển gỗ bằng cách vác, gùi và và kéo bằng sức người b) Lý do lựa chọn
Là nơi phân bố của quần thể Bảy lá một hoa: Đợt điều tra gần đây nhất tại Khu BTTN Pù Luông đã phát hiện Bảy lá một hoa ở khu vực đồi Piêng Toóng
Là nơi có sinh cảnh phù hợp với yêu cầu sinh thái của Bảy lá một hoa.
* Khu vực: Eo điếu - hung chuối a) Vị trí và đặc điểm sinh cảnh
Toạ độ (X/Y) từ 0524785/ 2258254 đến 0524793/ 2260336 Đây là khu vực thuộc xã Cổ Lũng (huyện Bá Thước) và thuộc địa phận của 3 tiểu khu: 265 và 270
Thảm thực vật chính ở đây là: Rừng lá rộng đất thấp trên đá vôi phân bố ở độ cao dưới 700 m Ngoài ra có rừng thông núi thấp trên đá vôi ở độ cao trên 700 m Địa hình dạng Karst, độ dốc lớn và có nhiều eo núi Độ cao biến động từ 550 - 900 m
Các tác động của con người ở khu vực này chủ yếu là: Săn bắt động vật hoang dã và khai thác gỗ thương mại nhưng ở mức độ thấp Do địa hình phức tạp, không có nguồn nước nên không thể sử dụng trâu để kéo gỗ mà vận chuyển gỗ bằng cách vác, gùi và và kéo bằng sức người b) Lý do lựa chọn
Là nơi phân bố tương đối ổn định (nguyên thủy) của quần thể Bảy lá một hoa: 2 đợt điều tra gần đây nhất (tháng 5,9/2018) đã ghi nhận được loài Bảy lá một hoa ở khu vực Eo điếu
Là nơi có sinh cảnh phù hợp với yêu cầu sinh thái của loài Bảy lá một hoa (độ cao, độ ẩm, thung lũng đất mùn núi cao)
Là nơi có mức độ đe doạ thấp đối với động thực vật và sinh cảnh sống của chúng
* Khu vực: hôn Báng, thôn à Khà xã hành Sơn, huyện Bá hước đi ang Khoai a) Vị trí và đặc điểm sinh cảnh
Toạ độ (X/Y) từ 0512730/ 2262886 đến 0511694/ 2261778 Đây là khu vực thuộc xã Thành Sơn huyện Bá Thước và thuộc địa phận của các tiểu khu:
Thảm thực vật chính ở đây là: Rừng lá rộng thường xanh trên núi đá vôi thấp Trạng thái này phân bố ở độ cao 650 - 900 m
Các tác động của con người ở khu vực này chủ yếu là: Săn bắt động vật hoang dã và khai thác gỗ thương mại nhưng ở mức độ thấp Do địa hình phức tạp, nên không sử dụng trâu để kéo gỗ mà vận chuyển gỗ bằng gùi, kéo gỗ bằng sức người b) Lý do lựa chọn
Là nơi phân bố của quần thể Bảy lá một hoa: Đợt điều tra gần đây nhất (tháng 9/2018) tại khu vực Hang Khoai đã phát hiện loài Bảy lá một hoa
Là nơi có sinh cảnh phù hợp với yêu cầu sinh thái của loài
* Khu vực: hung ang và ân húc, xã hú ệ, huyện Quan óa a) Vị trí và đặc điểm sinh cảnh
Toạ độ (X/Y) từ 0508107/ 2270310 đến 0505281/ 2268662 Đây là khu vực giáp ranh giữa 3 xã: Phú Lệ, Thành Sơn, Lũng Cao và thuộc địa phận của năm tiểu khu: 52, 74 và 255
Thảm thực vật chính ở đây là: rừng lá rộng đất thấp trên đá vôi phân bố ở thung lũng Ngoài ra có rừng lá rộng núi thấp trên đá vôi phân bố ở sườn đỉnh núi trên 700 m.Địa hình dạng Karst, độ dốc lớn và có nhiều thung lũng hẹp
Các tác động của con người ở khu vực này chủ yếu là: Săn bắt động vật hoang dã và khai thác gỗ thương mại nhưng ở mức độ thấp Do địa hình phức tạp, không có nguồn nước nên không thể sử dụng trâu để kéo gỗ mà vận chuyển gỗ bằng gùi và việc vận chuyển cũng rất khó khăn b) Lý do lựa chọn
- Là nơi phân bố ổn định của quần thể Bảy lá một hoa: Đợt điều tra gần đây nhất (tháng 5,9/2018) tại Khu BTTN Pù Luông đã phát hiện Bảy lá một hoa ở khu vực Thung Hang và Thung trong Thung Hang của xã Phú Lệ
- Là nơi có sinh cảnh phù hợp với yêu cầu sinh thái của loài bởi vì đây là nơi có độ tàn che cao, độ ẩm cao, tầng đất dày, nhiều mùn
- Là nơi có mức độ đe doạ thấp đối với động thực vật và sinh cảnh sống của chúng
* Khu vực: Thôn Tân Sơn, xã Thanh Xuân đi bản Nghèo, xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa a) Vị trí và đặc điểm sinh cảnh
Toạ độ (X/Y) từ 0507171/ 2263659 đến 0509193/ 2263849 Đây là khu vực thuộc xã Thanh Xuân và xã Hồi Xuân (huyện Quan Hoá) và thuộc địa phận của hai tiểu khu: 65 và 84
Kết quả thử nghiệm khả năng nảy mầm của loài Bảy lá một hoa
4.3.1 Kết quả thử nghiệm khả năng nảy mầm của loài Bảy lá một hoa bằng phương pháp gieo hạt
4.3.1.1 Độ thuần của lô hạt
Kết quả kiểm tra độ thuần hạt giống Bảy lá một hoa của 2 mẫu kiểm nghiệm, tổng trọng lượng mỗi mẫu 1 kg và được kết quả như sau:
Bảng 4.4 Kết quả kiểm tra độ thuần của hạt giống Bảy lá một hoa rọng lƣợng hạt tốt (g) rọng lƣợng hạt loại bỏ (g) rọng lƣợng tạp vật (g) ộ thuần (%) ộ thuần trung bình (%)
Mẫu 1 Mẫu 2 Mẫu 1 Mẫu 2 Mẫu 1 Mẫu 2 Mẫu 1 Mẫu 2
Như vậy, theo kết quả ở bảng 4.4 cho thấy độ thuần của hạt Bảy lá một hoa tương đối cao Ở mẫu 1 độ thuần đạt 88,7%, mẫu 2 đạt 89,2% và độ thuần trung bình là 88,95% Điều này chứng tỏ hạt sau khi thu hái tương đối đồng đều, hạt có chất lượng kém chiếm tỉ lệ rất ít và tạp chất hầu như không có
4.3.1.2 Khả năng nảy mầm của hạt Để đánh giá được khả năng nảy mầm của hạt Bảy lá một hoa tại khu vực nghiên cứu, tôi tiến hành thử nghiệm trên 2 giá thể khác nhau, cụ thể như sau:
+ Giá thể 1 (GT1): Cát ẩm;
+ Giá thể 2 (GT2): Cát trộn đất với tỷ lệ 70% cát + 30% đất
Hình 4.10 ô hình gieo ƣơm hạt Bảy lá một hoa
Quá trình nảy mầm của hạt Bảy lá một hoa trên 2 giá thể khác nhau, hạt được gieo vào ngày 12/12/2017 và được theo dõi chặt chẽ, tổng hợp ở bảng 4.5 như sau:
Bảng 4.5 Quá trình nảy mầm của hạt Bảy lá một hoa
Tháng thứ 15 ỷ lệ nảy mầm sau 15 tháng (%)
Hình 4.11 Biểu đồ diễn biến quá trình nảy mầm của hạt cây bảy lá một hoa
Từ số liệu ở bảng 4.5 và hình 4.11 về quá trình nảy mầm của hạt Bảy lá một hoa ở 2 giá thể khác nhau thì cho tỷ lệ nảy mầm khác nhau Ở giá thể 1, hạt được gieo vào cát ẩm đã xử lý cơ giới cho tỷ lệ nảy mầm cao (67%) và hạt nảy mầm đều hơn so với giá thể 2 là đất pha cát (65,33%)
4.3.2 Kết quả thử nghiệm khả năng nhân giống bằng hom (đầu củ giống) 4.3.2.1 Độ thuần của hom
Kết quả kiểm tra độ thuần của hom giống Bảy lá một hoa của 2 mẫu kiểm nghiệm, tổng trọng lượng mỗi mẫu 1 kg và được kết quả như sau:
Bảng 4.6 Kết quả kiểm tra độ thuần của hom giống bảy lá một hoa rọng lƣợng hom tốt (g) rọng lƣợng hom loại bỏ (g)
Trọng lƣợng tạp vật (g) ộ thuần (%) ộ thuần trung bình
Như vậy, theo kết quả ở bảng 4.6 cho thấy độ thuần của hom Bảy lá một hoa tương đối cao Ở mẫu 1 độ thuần đạt 79,4%, mẫu 2 đạt 80,6% và độ thuần trung bình là 80% Điều này chứng tỏ hom sau khi thu hái tương đối đồng đều, hom có chất lượng kém chiếm tỉ lệ rất ít và có lẫn ít tạp chất, chủ yếu là rễ cây và vỏ bẹ lá
4.3.2.2 Khả năng nảy mầm của hom Để đánh giá được khả năng nảy mầm của hom Bảy lá một hoa tại khu vực nghiên cứu, tôi tiến hành thử nghiệm trên 2 giá thể khác nhau, cụ thể như sau:
+ Giá thể 1 (GT1): Cát ẩm;
+ Giá thể 2 (GT2): Cát trộn đất với tỷ lệ 70% cát + 30% đất
Hình 4.12 ô hình gieo ƣơm hom củ Bảy lá một hoa
Quá trình nảy mầm của hom Bảy lá một hoa trên 2 giá thể khác nhau, hom được gieo ươm ngày 17/12/2017 và được theo dõi chặt chẽ, tổng hợp ở bảng 4.7 như sau:
Bảng 4.7 Quá trình nảy mầm của hom bảy lá một hoa
10 tuần sau gieo ỷ lệ nảy mầm sau
Hình 4.13 Biểu đồ diễn biến quá trình nảy mầm của than củ Bảy lá một hoa
Từ số liệu ở bảng 4.7 và hình 4.13 về quá trình nảy mầm của thân củ Bảy lá một hoa ở 2 giá thể khác nhau thì cho tỷ lệ nảy mầm khác nhau Ở giá thể 1, thân củ được gieo vào cát ẩm đã xử lý cơ giới cho tỷ lệ nảy mầm cao (95%) và hạt nảy mầm đều hơn so với giá thể 2 là đất pha cát (89,33%)
Hình 4.14 Cây con Bảy lá một hoa mọc từ thân củ
Vậy, qua diễn biến của quá trình nảy mầm của hạt và thân củ cây Bảy lá một hoa tại khu vực nghiên cứu cho thấy khả năng nhân giống từ thân củ của loài sẽ cho tỷ lệ nảy mầm cao hơn, tỷ lệ đạt tới 95% ở giá thể cát ẩm và đạt tỷ lệ 89,33% ở giá thể cát pha đất Thời gian nảy mầm của thân củ cũng diễn ra tương đối nhanh, chỉ khoảng 9 - 10 tuần sau khi gieo là tất cả số hom đã phát triển lên mầm mới, trong khi đó hạt gieo phải mất
12 - 15 tháng, tức là khoảng 400 ngày thì hạt mới nảy mầm và phát triển.
Các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển đối với loài Bảy lá một hoa tại Khu BTTN Pù Luông
4.4.1 Thực trạng công tác bảo tồn và phát triển đối với loài Bảy lá một hoa tại khu vực nghiên cứu
BQL Khu BTTN Pù Luông đã và đang thực hiện nhiều biện pháp để quản lý và bảo vệ rừng nói chung như khoanh vùng, giao trách nhiệm quản lý đến từng tiểu khu cho cán bộ kiểm lâm quản lý, thành lập các tổ đội bảo vệ rừng ở các thôn bản trong vùng đệm của KBT để cùng nhau thực hiện công tác bảo vệ rừng Tuy nhiên, công cuộc bảo vệ rừng, bảo vệ các loài cây gỗ, cây thuốc quý hiếm, trong đó có cây Bảy lá một hoa luôn là một thách thức lớn và trường kỳ
Các đối tượng khai thác trộm chủ yếu là người dân địa phương, họ sống gần rừng và thông thuộc địa hình, đường đi trong rừng, họ sống dựa vào nguồn tài nguyên rừng Nếu có phát hiện được người khai thác trộm thì các cán bộ kiểm lâm cũng khó mà đuổi bắt được đối tượng
Có một khó khăn và trở ngại rất lớn khi trong giữa vùng lõi của KBT có tới 4 thôn của 2 xã với gần 500 hộ gia đình sinh sống ở đây Đời sống của người dân ở đây rất khó khăn, họ sống dựa vào rừng và trồng lúa nước, cả 4 thôn chưa có điện, hệ thống đường xá chưa ổn định, đặc biệt là đường vào thôn Eo Điếu - xã Cổ Lũng chưa có đường bê tông, trời mưa xuống là hầu như bị cô lập bởi nước suối ngập cục bộ và đường trơn trượt Trình độ dân trí của đại bộ phận dân cư trong khu vực còn rất thấp, BQL KBT đã cùng chính quyền các cấp, các cơ quan chức năng tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, vận động bà con nhân dân cùng tham gia bảo vệ rừng nhưng nhận thức của nhân dân còn yếu
Hình 4.15 rên đỉnh núi nhìn xuống hôn Eo iếu - xã Cổ ũng
Hình 4.16 hôn Eo iếu - xã Cổ ũng khi nhìn từ dưới lên
Hình 4.17 ƣờng lên 3 Thôn Son, ƣời, Bá - xã ũng Cao
Hình 4.18 Trên thôn Son nhìn xuống khu trung tâm xã ũng Cao
Cùng với các hoạt động bảo vệ, BQL KBTTN Pù Luông đã và đang triển khai biện pháp bảo tồn loài như nghiên cứu nhân giống và trồng thử nghiệm loài Bảy lá một hoa tại vườn ươm của BQL và trồng tại mô hình ở giữa vùng lõi của KBT
Với những điều kiện thực tiễn nêu ở trên cho thấy công tác quản lý, bảo vệ rừng nói chung và hoạt động bảo tồn, phát triển loài Bảy lá một hoa tại khu vực nghiên cứu còn gặp rất nhiều khó khăn và thách thức
4.4.2 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài
Qua công tác điều tra và nghiên cứu về loài Bảy lá một hoa tại BQL KBTTN Pù Luông tôi nhận thấy rằng loài Bảy lá một hoa ở khu vực bị đe dọa tuyệt chủng bởi số lượng cây còn tồn tại và phát triển ngoài tự nhiên là rất ít, giá trị thương mại của củ rễ khá cao nên loài đã bị người dân khai thác cạn kiệt, chúng tôi chỉ bắt gặp 16 cây trưởng thành có chiều cao từ 34 - 126 cm, các cây này mọc ở các vị trí khuất, xa khu dân cư, xa đường đi nên mới còn sót lại và không bắt gặp cây con mọc tái sinh Do đó, việc nghiên cứu, tìm ra giải pháp bảo tồn và phát triển loài là một hoạt động rất thiết thực
4.4.2.1.Giải pháp quản lý bảo vệ rừng
Tiến hành xây dựng và tổ chức mạng lưới bảo vệ rừng trong nhân dân tại các thôn có diện tích rừng, bảo đảm cho những nơi có nguy cơ bị khai thác trái phép cần có người bảo vệ chuyên trách hợp lý, có chế độ đãi ngộ phù hợp.Điển hình tại Khu BTTN Pù Luông, đã giao khoán bảo vệ từng tiểu khu cho tổ đội bảo vệ rừng là người dân địa phương, có chế độ đãi ngộ đối với các thành viên tham gia tổ đội bảo vệ rừng.Thực hiện tốt mô hình quản lý rừng bền vững dựa vào cộng đồng
Tăng cường lực lượng, phương tiện, trang thiết bị cho các trạm quản lý rừng nhằm ngăn chặn hiệu quả tình trạng khai thác, vận chuyển trái phép gỗ và các loại lâm sản phụ trên địa bàn
Xử lý nghiêm các vụ vi phạm về khai thác, vận chuyển trái phép Bảy lá một hoa, đặc biệt xử lý các đầu nậu chuyên thu mua cây Bảy lá một hoa
Tăng cường đầu tư và xây dựng các chương trình, dự án nhằm tạo việc làm cho người dân sống trong, gần rừng, giảm áp lực cho công tác quản lý bảo vệ rừng
Khoanh nuôi tái sinh tự nhiên loài Bảy lá một hoa tại khu vực phân bố của loài, đồng thời giám sát, bảo vệ, phòng chống cháy rừng, có thể khoán bảo vệ cho người cộng đồng dân địa phương - mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng
Cần nâng cao đời sống cho người dân, giảm áp lực vào rừng, giảm tỷ lệ các hộ nghèo bằng các biện pháp cụ thể như: Tăng cường hỗ trợ vốn, cho vay để người dân có kế hoạch phát triển kinh tế lâu dài; tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, hỗ trợ giống, kỹ thuật tới tận người dân để họ sử dụng tiền vốn vay có hiệu quả; tổ chức chuyển giao kỹ thuật cho người dân sống trong rừng, gần rừng;hỗ trợ cây giống đa mục đích cho người dân để họ trồng quanh khu gia đình nhằm mục đích lấy củi, lấy gỗ để phục vụ cuộc sống, giảm áp lực vào rừng
Hoàn thiện cơ chế, chính sách cho các trạm quản lý rừng và tổ đội bảo vệ rừng, tạo điều kiện về kinh phí, nhân lực để các trạm quản lý và tổ đội bảo vệ rừng của các khu rừng hoạt động hiểu quả
Xây dựng chương trình giám sát loài quý hiếm, đặc biệt là loài Bảy lá một hoa có giá trị kinh tế cao và có giá trị bảo tồn nguồn gen quý hiếm
Thực hiện tốt hoạt động nhân giống và việc chuyển giao kỹ thuật, nguồn giống cây Bảy lá một hoa cho một số hộ dân có khả năng trồng và chăm sóc loài tại vườn gia đình