1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu bảo tồn hai loài lan quý hiếm lan hài vân bắc (paphiopedilum callosum (rchb f ) pfitzer), lan hài lông

81 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo thống kê sơ bộ, Khu bảo tồn thiên nhiên KBTTN Xuân Liên có 85 loài Lan Báo cáo đề tài Lan 2014 trong đó có nhiều loài quý hiếm, loài có giá trị kinh tế cao như Lan kim tuyến, Lan Hà

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

NGÔ XUÂN THẮNG

NGHIÊU CỨU BẢO TỒN HAI LOÀI LAN QUÝ HIẾM: LAN HÀI

VÂN BẮC (Paphiopedilum callosum (Rchb.f.) Pfitzer), LAN HÀI LÔNG (Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl.ex Hook.) Stein.) TẠI

KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN XUÂN LIÊN, TỈNH THANH HÓA

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học

Hà Nội, ngày 22 tháng 10 năm 2018

Người cam đoan

Ngô Xuân Thắng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau hơn hai năm học tập và rèn luyện khóa Cao học K 24 B1.2 chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng đã bước sang giai đoạn kết thúc Được sự nhất trí của Nhà trường và Khoa Đào tạo Sau Đại học, tôi tiến hành thực tập tốt nghiệp

với đề tài “Nghiên cứu bảo tồn hai loài lan quý hiếm: Lan hài vân bắc

(Paphiopedilum callosum (Rchb.f.) Pfitzer), Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl.ex Hook.) Stein.) tại Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa” Sau gần một năm thực hiện đề tài đến nay đã hoàn thành

Nhân dịp này cho phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS.TS Trần Ngọc Hải người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành đề tài này

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo thuộc khoa Đào tạo Sau đại học; Khoa Quản lý tài nguyên rừng, Giám đốc Ban quản lý Khu BTTN Xuân Liên và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và chia sẻ với tôi một phần công việc trong những ngày thu thập số liệu ngoài hiện trường để thực hiện đề tài

Mặc dù đã có nhiều cố gắng do đối tượng nghiên cứu là loài ngoài tự nhiên nên việc quan sát, điều tra, thu thập số liệu tại một số điểm ghi nhận là rất khó Hơn nữa do điều kiện thời gian, tài liệu tham khảo và trang bị dụng

cụ điều tra còn hạn chế Vì vậy, đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, tôi kính mong nhận được những góp ý, bổ sung của các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi xin cam đoan những số liệu điều tra, hình ảnh và kết quả xử lí số liệu là trung thực, chính xác có trích dẫn rõ ràng

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, năm 2018

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Nghiên cứu trên thế giới về các loài Lan 3

1.2 Tình hình bảo tồn, phát triển các loài lan 4

1.3 Nghiên cứu trong nước về Lan 7

1.4 Nghiên cứu về thực vật tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên 15

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 17

2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 17

2.3 Nội dung nghiên cứu 17

2.4 Phương pháp nghiên cứu 18

2.4.1 Phương pháp phỏng vấn 18

2.4.2 Phương pháp điều tra hiện trạng phân bố 02 loài 18

2.4.3 Phương pháp sinh vật học 22

2.4.4 Phương pháp thử nghiệm nhân giống 02 loài Lan hài 23

2.4.5 Phương pháp xây dựng bản đồ 25

2.4.6 Phương pháp xác định mối đe dọa đến bảo tồn 25

2.4.7 Phương pháp xử lý số liệu 26

ChươnG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI KBTTN XUÂN LIÊN 27

3.1 Điều kiện tự nhiên của Khu BTTN Xuân Liên 27

Trang 5

3.1.1 Vị trí địa lý 27

3.1.2 Đặc điểm địa hình 27

3.1.3 Khí hậu, thuỷ văn 28

3.1.4 Đa dạng về khu hệ thực vật rừng 29

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30

3.2.1 Dân số 30

3.2.2 Cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội 31

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Đặc điểm hình thái 02 loài Lan hài tại Khu BTTN Xuân Liên 32

4.1.1 Lan hài lông 32

4.1.2 Lan hài vân bắc 33

4.1.3 Tình trạng bảo tồn các loài Lan quý hiếm ghi nhận tại khu vực nghiên cứu 34

4.2 Đặc điểm phân bố 02 loài Lan hài tại KBTTN Xuân Liên 35

4.2.1 Sự xuất hiện của 02 loài trên các tuyến điều tra 35

4.2.2.Kích thước quần thể của 02 loài Lan hài tại rừng 39

4.2.3 Đặc trưng sinh cảnh rừng nơi có phân bố 02 loài lan Hài 40

4.3 Kết quả nhân giống vô tính 02 loài lan hài 46

4.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ thích hợp để tách chồi với 02 loài lan hài 46

4.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể trồng cây sau tách chồi đối với 02 loài Lan hài 48

4.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón thích hợp cho cây sau tách nhánh đối với 02 loài Lan hài 50

4.4 Mối đe dọa và đề xuất các giải pháp bảo tồn 02 loài lan Hài. 51

4.4.1 Mối đe dọa đối với 02 loài lan Hài tại khu bảo tồn 51

4.4.2 Đề xuất giải pháp bảo tồn 02 loài Lan Hài 55

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT

BNN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

KBTLSC Khu bảo tồn loài và sinh cảnh

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tuyến điều tra hiện trạng phân bố 19

Bảng 2.2 Các dạng sinh cảnh rừng chính 21

Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả đánh giá các mối đe dọa 26

Bảng 3.1 Cấu trúc khu hệ thực vật Khu BTTN Xuân Liên 30

Bảng 4.1 Hiện trạng các loài Lan quý hiếm tại khu BTTN Xuân Liên 35

Bảng 4.2 Phân bố của 02 loài Lan quý hiếm trên các tuyến điều tra tại Khu BTTN Xuân Liên 36

Bảng 4.3 Số lượng cá thể và quần thể 02 loài lan Hài trong tự nhiên 39

Bảng 4.4 Ảnh hưởng của thời vụ đến tỷ lệ sống và hệ số nhân chồi của 02 loài Lan hài 47

Bảng 4.5 Ảnh hưởng của thời vụ tách chồi đến động thái ra lá, ra chồi của 02 loài Lan hài 47

Bảng 4.6 Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ sống và hệ số nhân chồi của 02 loài Lan hài 48

Bảng 4.7 Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của 02 loài Lan sau tách chồi 49

Bảng 4.8 Ảnh hưởng của phân bón đến tình hình sinh trưởng của các loài Lan 50 Bảng 4.9 Kết quả ghi nhận tác động theo tuyến điều tra 51

Bảng 4.10 Tổng hợp các vụ vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng rừng giai đoạn 2013-2017 52

Bảng 4.11 Tổng hợp các mối đe dọa theo mức độ tác động khác nhau 55

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ các dạng sinh cảnh rừng chính ở KBTTN Xuân Liên 22

Hình 3.1 Biểu đồ diễn biến nhiệt độ trung bình tháng 28

Hình 3.2 Biểu đồ diễn biến lượng mưa trung bình tháng 29

Hình 4.1 Lan hài lông – thôn Vịn, xã Bát Mọt 33

Hình 4.2 Lan hài vân bắc – theo dõi sinh trưởng tại vườn giống gốc Khu BTTN Xuân Liên 34

Hình 4.3 Bản đồ phân bố Lan hài lông tại Khu BTTN Xuân Liên (điểm tròn, màu đỏ) 37

Hình 4.4 Bản đồ phân bố Lan hài vân bắc tại Khu BTTN Xuân Liên (điểm tròn, màu vàng) 38

Hình 4.5 Đai cao phân bố của Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum)38 Hình 4.6 Đai cao phân bố của Lan Hài vân bắc (Paphiopedilum callosum) 38 Hình 4.7 Sinh cảnh rừng nơi ghi nhận 02 loài lan hài phân bố 40

Hình 4.8 Sinh cảnh rừng rừng thường xanh trên núi đá vôi 42

Hình 4.9 Sinh cảnh rừng rừng thường xanh á nhiệt đới 44

Hình 4.10 Sinh cảnh rừng rừng thường xanh nhiệt đới 46

Hình 4.11 Ảnh hưởng thời vụ đến sự nảy chồi của 02 loài lan hài 47

Hình 4.12 Ảnh hưởng giá thể đến tỷ lệ sống và sự nảy chồi của 02 loài lan hài 49

Hình 4.13 Hoạt động khai thác từ rừng và thu mua LSNG 53

Hình 4.14 Hoạt động chăn thả gia súc tự do của cộng đồng vùng đệm 54

Trang 9

đã tạo ra vùng tiểu khí hậu đặc trưng cho sự tồn tại của kiểu rừng thường xanh

Á nhiệt đới, là điều kiện lý tưởng cho các loài Lan sinh sống Theo thống kê

sơ bộ, Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Xuân Liên có 85 loài Lan (Báo cáo

đề tài Lan 2014) trong đó có nhiều loài quý hiếm, loài có giá trị kinh tế cao như Lan kim tuyến, Lan Hài Lông, Thủy tiên Hường, Hài vân bắc… Tuy nhiên, hiện nay tại khu bảo tồn chưa có nghiên cứu, đánh giá chi tiết nào về hiện trạng phân bố, giá trị sử dụng – bảo tồn của chúng để có cơ sở dữ liệu phục vụ công tác bảo tồn bền vững các loài Lan tự nhiên có phân bố trong Khu bảo tồn

Do nhu cầu thị trường và nguồn lợi kinh tế từ những giá trị của các loài Lan mang lại, đặc biệt là giá trị của nguồn Lan rừng tự nhiên có công dụng làm thuốc biệt dược chữa các bệnh nan y Bên cạnh đó, nhu cầu chơi Lan nguồn gốc từ tự nhiên của nhân dân ngày càng gia tăng, cộng thêm thực trạng nghèo đói, thiếu việc làm và cuộc sống còn phụ thuộc nhiều vào nguồn lợi từ rừng của người dân vùng núi đang là nguyên nhân trực tiếp làm suy giảm quá

Trang 10

mức tài nguyên các loài Lan phân bố tự nhiên, đặc biệt nhiều loài quý hiếm, loài có giá trị kinh tế cao trên địa bàn KBTTN Xuân Liên nói riêng và trong tỉnh Thanh Hóa nói chung

Vì vậy, để xác định được hiện trạng phân bố, đặc điểm sinh vật học đối với 02 loài lan quý hiếm là thực sự cần thiết, là cơ sở để đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển những loài Lan quý hiếm, tôi đề xuất thực hiện Luận văn

nghiên cứu: “Nghiên cứu bảo tồn hai loài lan quý hiếm: Lan hài vân bắc

(Paphiopedilum callosum (Rchb.f.) Pfitzer), Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl.ex Hook.) Stein.) tại Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh

Thanh Hóa”

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án sẽ cung cấp cơ sở khoa học đầy

đủ và cập nhật mới nhất về hiện trạng quần thể 02 loài Lan quý hiếm Bổ sung

tư liệu về hiện trạng, phân bố và đặc điểm sinh vật học góp phần nâng cao hiểu biết về những đặc điểm phân bố của 02 loài Lan quý hiếm này trong tỉnh Thanh Hóa

Các kết quả khoa học của luận án là cơ sở để việc xây dựng kế hoạch

và biện pháp quản lý nhằm bảo tồn, phát triển nguồn gen của 02 loài Lan quý hiếm ở Khu BTTN Xuân Liên nói riêng và ở Việt Nam nói chung

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Nghiên cứu trên thế giới về các loài Lan

Tài nguyên di truyền cây trồng là di sản ngàn đời của nhân loại và nằm trong những tài nguyên quý giá nhất hiện nay Vài chục năm trở lại đây, do nhiều nguyên nhân khác nhau, sự đa dạng di truyền cây trồng đã và đang đứng trước mối đe doạ bị thu hẹp và bị mất đi

Trên trái đất, hầu như nơi nào có thực vật là có phong lan Cây hoa lan mọc ở khắp năm châu, bốn bể, từ miền gió tuyết lạnh cho đến sa mạc khô hạn, từ miền núi cao rừng thẳm cho đến các đồng cỏ miền bình nguyên và ngay cả vùng sình lầy, đâu đâu cũng có lan sinh sống

Tuy nhiên đa số các loài lan mọc tập trung ở các rừng cây nhiệt đới, ở các nước Châu Á như: Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam…

Theo hệ thống phân loại của Takhtajan et al (1974) [18], cây hoa lan

thuộc ngành Mộc lan (hạt kín - Magnoliophyta), lớp hành (1 lá mầm - Liliopsida), phân lớp hành (Lilidae), bộ lan (Orchidales), Họ lan (Orchidaceae) Cho tới nay (theo Jack Kramer, 1999 [18]) con người đã hiểu

biết và phân loại họ lan gồm hơn 780 chi với khoảng 35.000 loài là loài cây thân thảo, thân leo sống lâu năm Những loài sống chủ yếu trên môi trường đất, có thân giả dạng củ, rễ chùm được gọi là địa lan; loại sống chủ yếu trên thân cây tách khỏi mặt đất gọi là phong lan Lan có rất nhiều loài và giống, tên gọi theo địa phương rất khác nhau và rất dễ bị nhầm lẫn Vì vậy, khi muốn phân biệt được các loài lan khác nhau, cần phải mô tả chi tiết đặc điểm thực vật học và xác định chính xác tên khoa học Do sự đa dạng và phong phú về số lượng, hình thái, cấu trúc cho nên hệ thống phân loại của họ này khá phức tạp

Trang 12

Theo Rasmussen Dahlgren et al (1985) [11] thì họ phong lan được chia

làm 6 họ phụ: Apostasioideae, Cypripedioideae, Neottioideae, Rchidioideae, Ppidendroideae và Vandoideae, trong các họ phụ còn các tông, chi khác

nhau; vùng trung sinh bắc bán cầu có 75 chi và 900 loài Vùng trung sinh nam bán cầu có 40 chi và 500 loài, toàn Châu Âu có khoảng 120 loài và Bắc Mỹ khoảng 170 loài; vùng Châu Á nhiệt đới có khoảng 250 chi và 6800 loài Vùng Châu Mỹ nhiệt đới có khoảng 306 chi và 8.266 loài

Vùng nhiệt đới có khí hậu rất phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của hoa lan Tuy có số chi, số loài lan ít hơn nhưng xuất hiện một số loài lan đặc biệt mà các vùng khác không có Theo tài liệu của R.L Dresler (1981) [12] ở Châu Mỹ có khoảng 306 chi và 8.266 loài lan Châu Mỹ là nơi khởi nguồn của nhiều loài lan nổi tiếng được con người nuôi trồng rộng rãi như:

Cattley 60 loài, Epidendrum 500 loài, Odontoglossum 200 loài… Vùng Đông

Nam Á điều kiện có mùa khô, mùa mưa, thời tiết nóng ẩm, lượng mưa rất cao thuận lợi cho lan sinh trưởng và ra hoa Cũng theo R.L Dressler (1981), ở Đông Nam Á có khoảng 250 loài và 6900 giống khác nhau Trong đó có các

nhóm lan như: Hoàng thảo (Dendrobium) 1400 loài, Thanh đạm (Coelogyne)

200 loài, Hồ điệp (Phalaenopsis) 35 loài, Vanda 60 loài.v.v

Để bảo tồn đa dạng sinh học, một số cách thức và nguyên tắc đã được các nước áp dụng đó là bảo tồn nguyên vị (insitu) và bảo tồn chuyển vị (ex – situ) Trong những thập kỷ gần đây, cùng với sự phát triển về khoa học công nghệ, các thành tựu khoa học kỹ thuật mới đã được ứng dụng rộng rãi trong việc sản xuất giống lan

1.2 Tình hình bảo tồn, phát triển các loài lan

Tại Ấn Độ, Jack Kramer, (1999) [16], đã nghiên cứu về tính đa dạng và các phương pháp bảo tồn các loài lan quý hiếm vùng Đông Bắc Ấn Độ, các tác giả đã khẳng định trên toàn Ấn Độ có khoảng 1.331 loài hoa lan, thuộc 186 chi,

Trang 13

trong đó vùng Đông Bắc Ấn Độ duy trì số lượng cao nhất với khoảng 856 loài

Trong số đó có 34 loài có nguy cơ tuyệt chủng cần bảo tồn, bao gồm loài P hirsutissimum Các tác giả đã khẳng định vấn đề ô nhiễm môi trường, sự nóng

lên toàn cầu, thương mại hóa nông nghiệp và lâm nghiệp, trồng trọt và khai thác quá mức là những nguyên nhân chính cho sự mất đa dạng Ấn Độ đã tăng cường

về bảo tồn đa dạng sinh học bằng cách thực hiện một loạt các hành vi, quy tắc, luật lệ, quy định, thỏa thuận và mạng lưới phát triển các khu bảo tồn

Barman D và Devadas R (2013) [10] thuộc Trung tâm nghiên cứu phong lan Quốc gia Ấn Độ cho rằng, biến đổi khí hậu hiện đang là một trong các nguyên nhân chính dẫn đến nguy cơ giảm số lượng và tuyệt chủng của các loài phong lan quý hiếm Từ đó, tác giả cũng đưa ra một số biện pháp khắc phục như: cần phục hồi và duy trì các hệ sinh thái bản địa, quản lý chặt sinh cảnh của các loài quý, hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng, xếp hạng các mức độ dễ tổn thương của các loài và theo dõi, nghiên cứu dài hạn các loài sinh vật giao phấn

Tại Iran, bất chấp lệnh cấm khai thác, vấn đề khai thác hoa lan hoang

dã nhằm xuất khẩu mỗi năm lên tới 40-50 triệu cây, nhiều loài phong lan trở

nên khan hiếm

Lan hài (Paphiopedilum Pritz) là một chi lan đẹp trong họ lan

(Orchidaceae Juss) thuộc họ phụ Cypripedioideae Hơn 2 thập kỷ trở lại đây, lan hài ngày càng được chú ý nhiều hơn ở trên thế giới không chỉ trong việc nuôi trồng, lai tạo mà còn cả trong việc sưu tầm phát hiện những loài lan hài mới Chính vì vậy chỉ trong một thời gian ngắn, thế giới đã có một loạt các loài

lan hài mới được phát hiện và ghi nhận như Paph armeniacum Chen et Liu (1982); Paph malipoense Chen et Tsi (1984); Paph Emersonii Koopowitz et

Cribb (1986); Paph Henryanum Braem (1987); Paph Malipoense var jackii

Hua (1995); Paph.herrmannii Fuchs et Reisinger (1995); Paph Helenae Aver (1996); Paph Hiepii Aver (1998); Paph tranlienianum Gruss & Perner (1998)

và Paph.hangianum Perner & Gruss (1999)

Trang 14

Để tạo điều kiện sống tốt nhất cho các giống lan hài được thuần hóa Koopowitz và Hasegawa (1991) [15] đã xác định điều kiện ánh sáng nhân tạo cho hầu hết các loài lan hài là từ 11.000 - 22.000 lux Nếu lá bị vàng hoặc phát hoa ngắn là cây quá thừa ánh sáng, còn nếu lá mềm, màu xanh đậm hoặc phát hoa dài, yếu, là bởi do thiếu ánh sáng Cây từ rừng về không ra hoa nguyên nhân chính là ánh sáng và nhiệt độ không phù hợp Ngoài ra, ánh sáng

có vai trò quan trọng trong sự nảy mầm của hạt giống, sự tiếp xúc với ánh sáng sẽ ức chế sự nảy mầm và có thể dẫn đến hiện tượng ngủ của hạt gây khó khăn cho quá trình nhân giống

Trong chương trình cải tiến giống của chi lan Hài (Paphiopedilum) ở

đại học Hawaii, Kamemoto (2000) [14] đã nhận thấy phương pháp nuôi cấy

vô trùng trong nhân giống lan hài khó thực hiện thành công vì mẫu nuôi cấy của loài này rất khó bảo quản Nhiều thử nghiệm về mẫu cấy như chồi đỉnh, chồi lấy từ cây con nẩy mầm trong ống nghiệm hoặc môi trường nuôi cấy mô sẹo từ protocorm, tái sinh lan hài thông qua sự hình thành chồi từ nuôi cấy lá đã được thực hiện nhưng tỉ lệ hình thành mô sẹo và khả năng tái sinh còn rất thấp

Một phương pháp khác được ứng dụng là sử dụng hạt lan hài nẩy mầm

in vitro để sản xuất cây con Từ cây con in vitro, các mô sẹo được cảm ứng từ

protocorm có nguồn gốc từ hạt, được cấy chuyền trên môi trường có chứa nồng

độ 2,4-D và TDZ cao, những mô sẹo này có khả năng tái sinh thành cây hoàn chỉnh thông qua bước trung gian hình thành PLB Một mảnh nhỏ mô sẹo này

có thể tái sinh từ 3-7 chồi trong 3 tháng và chúng có thể được giữ trên môi trường nuôi cấy trong 3 năm mà không mất đi khả năng tái sinh Tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề chưa được giải quyết như tính bền vững về mặt di truyền của những cây được tái sinh… Các tác giả cũng đã tiến hành phương pháp nuôi

Trang 15

cấy huyền phù tế bào từ những dòng mô sẹo có nguồn gốc từ protocorm và

nuôi cấy mô sẹo có tính toàn thể từ những loại mô khác của Paphiopedilum

Ở Ấn Độ Chyuam-Yih Ng và Norihan Mohd (2011) [20], đã nghiên

cứu nhân giống Paphiopedilum trong in vitro thông qua phương pháp hình

thành các thể protocorm thứ cấp từ thể protocorm sơ cấp được phát triển từ callus có nguồn gốc từ thân Các thể protocorm được nuôi cấy trên môi trường ½ MS có bổ sung các nồng độ BA và Kinetin khác nhau (1.0, 2.0, 3.0,

và 4.0 μM) để cảm ứng các PLB thứ cấp Số lượng PLB thứ cấp được hình thành nhiều nhất trên môi trường ½ MS có bổ sung 4.0 μM Kinetin, trung bình có 4.1 PLB được hình thành trên mỗi mẫu sau 8 tuần nuôi cấy Các PLB thứ cấp được nhân lên từ 9,5-12,1 PLBs mới Mỗi PLB thứ cấp sau khi được cấy chuyển trên môi trường ½ MS không có chất điều hòa sinh trưởng và được bổ sung 60 g/l dịch chiết chuối Các PLB thành thục này sẽ được nuôi cấy trên môi trường có chứa các chất hữu cơ khác nhau như nước dừa, dịch chiết chuối, khoai tây, cà chua để tái sinh hình thành cây con Trong số các chất hữu cơ được thử nghiệm, việc bổ sung 20% CW trên môi trường ½ MS

có kết quả tỷ lệ tái sinh trung bình là 67,9% PLBs, sau 8 tuần nuôi cấy

1.3 Nghiên cứu trong nước về Lan

Tài nguyên di truyền là tài sản riêng của mỗi quốc gia đồng thời cũng

là tài sản chung của thế giới Tài nguyên di truyền sinh vật là một bộ phận của giống, là vật liệu ban đầu để lai tạo giống mới và là hạt nhân của đa dạng sinh học nên giữ vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển nông nghiệp của mỗi quốc gia Với nhận thức đó, Việt Nam đã sớm xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cho việc quản lý bảo tồn nguồn gen Từ năm 1987 đến nay, mặc dù còn nhiều hạn chế, khoa học và công nghệ đã đóng góp đáng kể trong việc lưu giữ, bảo tồn và khai thác phát triển nguồn gen, đóng góp không nhỏ vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong giai đoạn tiếp theo, với

Trang 16

mục tiêu và các nội dung đã đề ra của Chương trình quốc gia về bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen, khoa học công nghệ sẽ tiếp tục đóng vai trò then chốt và là động lực để thúc đẩy bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen sinh vật, nguồn tài nguyên vô giá của đất nước

Việt Nam nằm trong khu vực Châu Á nhiệt đới, đây là một trong hai khu vực tập trung nhiều loài lan rừng đẹp nhất thế giới: Châu Á và Châu Mỹ nhiệt đới Theo đánh giá của Averyanov năm 2003 có khoảng 158 chi và 900 loài phong lan được phát hiện ở Việt Nam Trần Duy Quý và cs (2015) Việt Nam đã thống kê và phát hiện được 160 chi và 1004 loại lan Đây cũng là quốc gia có nguồn tài nguyên thực vật và đặc biệt là họ Lan phong phú bậc nhất trong khu vực Châu Á

Theo L Averianov, Phillip.C, Phan Kế Lộc, Nguyễn Tiến Hiệp năm 2004

đã thống kê được 10 chi lan lớn nhất trong số 160 chi của họ lan ở Việt Nam

trong đó chi Hoàng thảo Dendrobium có 97 loài, chi lan lọng Bulbophllum có

78 loài ,Chi Erria 37 loài, chi Calanthe 20 loài, chi lan hài Paphiopedilum 18

loài Đây cũng là những chi lớn nhất của lan nhiệt đới châu Á Cũng theo các tác giả trên thì Lan Hài Việt Nam có sự đa dạng nhất về số loài lan thuộc chi

Paphiopedilum, chỉ có một số vùng ở nam Trung Quốc gần đạt được sự đa dạng này Leonid và cộng sự [5], có chín (09) taxôn của chi Paphiopedilum có khu vực phân bố chỉ ở Việt Nam là: Paphiopedilum x Aspersum, P x dalatense, P.delenatii, P Hangianum, P helense, P malipoense var hiepii, P tranliennianum, P vietnamnense và P villosum var.anamnense

Và 12 taxôn khác: Paphiopedilum x affine, P barbigerrum, P.dianthum, P Emersonii, P g, P gratrixianum, P.henryanum, P x hermannii, P malipose var.malipoense, P malipose var jackii, P micrathum, P purpuratum, P villosum var.bosalliicó thể coi là đặc hữu của

Việt Nam vì chỉ có một số vùng gần biên giới Việt Nam mới có những loài này

Trang 17

Hai loại lan Hài trong đề tài nghiên cứu của chúng ta đề thuộc loại đặc hữu quý hiếm của Việt Nam cần được bảo tồn và phát triển Leonid và cộng sự [1]

Theo Phạm Hoàng Hộ (1993) lan Việt Nam là lan của vùng nhiệt đới chịu ảnh hưởng bởi hai mùa mưa nắng rõ rệt, vì thế đa số các loài lan mỗi năm chỉ cho một kỳ hoa Mùa nở hoa tập trung vào hai thời kỳ: Tháng 2 và tháng 4; tháng 7, tháng 8

* Về các nghiên cứu điều tra, sưu tập, lưu giữ, bảo tồn lan

Việc bảo tồn những loài lan quý hiếm, xây dựng ngân hàng gien về hoa lan để phát triển lâu dài ngành trồng và kinh doanh hoa lan cũng đang bắt đầu được khởi động tại tỉnh Lâm Đồng nơi được giới chơi hoa lan thế giới đánh giá cao về tiềm năng trồng và xuất khẩu hoa lan của vùng đất này Vùng rừng Lâm Đồng đứng đầu cả nước về nguồn lợi lan rừng với khoảng 400 loài, chiếm đến gần 80% lan rừng Việt Nam Thế nhưng, người ta đã chứng kiến

sự mất đi của nhiều loài lan rừng quý hiếm Trong khi đó, những loài lan có giá trị tại các vườn trồng cũng bị thoái hoá về giống Theo Tiến sỹ Dương Tấn Nhựt, Phân viện Sinh học Đà Lạt: "Các nhà khoa học ở đây đang xúc tiến việc bảo tồn giống hoa lan bằng hai con đường, đó là hình thành bộ sưu tập sống về các loài lan và xây dựng ngân hàng gen Công việc này đang có tính khả thi khi gần đây Phân viện Sinh học Đà Lạt đã sở hữu những phương pháp mới trong tạo giống Hàng loạt giải pháp kỹ thuật theo công nghệ sinh học được áp dụng, về cơ bản cho phép nhà khoa học có thể bảo tồn được những loài lan quý hiếm Và thực tế, họ đã thành công bằng việc giữ lại giống lan hài được tổ chức Bảo vệ động thực vật hoang dã thế giới đưa vào sách đỏ"

- Đề tài “Điều tra tài nguyên di truyền các loài lan rừng Vườn quốc gia Cát Tiên (VQGCT) và nghiên cứu các biện pháp nhân nhanh để bảo tồn” của Tiến sỹ Nguyễn Văn Kết

Trang 18

- Khoa Nông lâm thuộc trường Đại học Đà Lạt VQGCT là nơi có sự tập trung với mật độ khá dày các loại lan rừng quý hiếm tại Việt Nam (ở đây

có tới 100 chi và gần 400 loài trên tổng số 152 chi và 897 loài lan của cả nước) Được biết, tình trạng khai thác bừa bãi diễn ra liên tục trong thời gian dài và không có kế hoạch gây trồng đã làm cho nhiều loài lan đứng trước nguy cơ tuyệt chủng ngay tại VQGCT Sau hơn 01 năm nghiên cứu, đã nhân giống thành công bằng biện pháp nuôi cấy mô gần 30 giống lan đặc hữu của Vườn Quốc gia Cát Tiên (VQGCT) Trong số các giống lan đã được nhân giống thành công tại Khoa Nông lâm Đại học Đà Lạt có nhiều loài rất quý được nước ngoài đặt mua với số lượng lớn như kim hài, vân hài, lan gấm, (trong đó có một số loài còn có tác dụng làm thuốc chữa bệnh như Ludisia discolor, Kim tuyến ) Việc nhân giống thành công các loài lan đặc hữu không chỉ cho phép bảo tồn các nguồn gen quý hiếm bằng cách di thực các giống lan này trở lại trồng tại VQGCT mà còn tạo điều kiện để nhân rộng các giống phong lan quý ở các địa bàn khác (nhất là trồng tại vùng trồng hoa nổi tiếng Đà Lạt)

- Dự án “Sưu tập, nhập nội, khảo nghiệm và nhân giống các giống hoa lan”, do Trung tâm Công nghệ Sinh học TP HCM tiến hành từ năm 2005, đến nay đã sưu tập được hơn 285 giống hoa lan thuộc 12 nhóm giống khác nhau

(Mokara, Dendrobium, Phalaenopsis, Oncidium …), để phục vụ cho công tác

bảo quản nguồn gen và lai tạo giống Trong đó, đặc biệt có hơn 80 giống lan rừng quý, có thể phục vụ công tác lai tạo giống lan sau này Bên cạnh đó, Trung

tâm đã tiến hành nhập nội 14 giống lan Mokara, 13 giống Dendrobium, 5 giống Catlleya để khảo nghiệm và nhân nhanh giống phục vụ sản xuất Hiện tại, Trung

tâm này đã lai tạo 50 cặp lai, đang tiến hành gieo hạt trong ống nghiệm

- Đề tài “Nghiên cứu chọn lọc và phát triển một số loài lan rừng có triển vọng phục vụ cho công tác nhân giống, lai tạo và bảo tồn nguồn gien đặc

Trang 19

hữu, quý hiếm của Lâm Đồng” của Viện Sinh học Tây Nguyên công bố tháng 10/2008 Kết quả đã xác định được 73 loài lan rừng có hoa to, lâu tàn, màu sắc đẹp, có giá trị kinh tế và được nhiều người ưa chuộng có thể đưa vào nhân giống phục vụ sản xuất kinh doanh Ngoài ra đã xác định được tên khoa học của 189/209 loài lan rừng phân bố trên địa bàn Lâm Đồng mà đơn vị đã thu thập, khảo sát Trong đó có 3 loài mới và 37 loài đặc hữu thuộc loại quý hiếm của Việt Nam như lan Hài hồng, Huyết nhung trơn, Hài vân, Hài Đà Lạt Hiện các loài lan thu thập được ngoài tự nhiên đều đang phát triển tốt, có khả năng ra hoa ở điều kiện của khí hậu Đà Lạt

- Dự án: “Sưu tập và xây dụng vườn hoa phong lan đầu dòng tại tỉnh Phú Yên” năm 2006 Kết quả đã xây dựng khu vườn 4.500 m2, với bộ sưu tập phong lan lớn nhất miền Trung – Tây nguyên với gần 200 dòng phong lan trong và ngoài nước

- Đề tài: “Điều tra, thu thập đánh giá, bảo tồn nguồn gen cây hoa cảnh khu vực miền Bắc Việt nam do Trung tâm Hoa cây cảnh - Viện Di truyền nông nghiệp chủ trì Kết quả của đề tài đã chỉ ra khu vực Tây bắc có trên 18

chi lan khác nhau, trong đó phải kể đến các chi Hoàng thảo (Dendrobium), Dáng Hương (Aerides), Ngọc điểm (Rhynchostylis), Kiếm (Cymbidium), Hài(Paphiopedilum),

- Đề tài: “Thu thập đánh giá nguồn gen hoa lan Việt Nam và lưu giữ chúng ở 2 vùng: miền núi phía Bắc và đồng bằng Bắc bộ” do GS TSKH Trần Duy Quý – Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam làm chủ nhiệm, từ năm 2007 – 2009 Kết quả đã điều tra, thu thập, định danh và lưu giữ nguồn gen cho nhiều loài lan rừng thuộc 10 chi khác nhau (Hài vệ nữ, Hồ điệp, lan Kiếm, Hoàng thảo, Quế lan hương, Vanđa, Catlan, Phượng vĩ, Hạc đính và Đai châu) và lưu giữ chúng ở 2 nơi: Vùng núi Tam đảo và vùng đồng bằng Hà nội với quy mô 2.000 dò (chậu)/ 1.500m2

vườn nuôi trồng

Trang 20

* Về nghiên cứu kỹ thuật nuôi trồng lan

+ Tác giả Nguyễn Xuân Linh, 2002 - Trung tâm hoa cây cảnh, Viện Di truyền nông nghiệp - cho rằng: Nên tưới nước phân cho lan vào buổi sáng sớm hay lúc chiều mát, không nên tưới phân vào buổi trưa Bình thường tưới một lần trong tuần, nếu vườn lan râm mát thì khoảng cách dài hơn 10- 15 ngày/lần Ngược lại vườn lan có nhiều ánh sáng có thể tưới 2 lần/tuần Sau khi tưới phân nên tăng lượng nước tưới của ngày sau đó để rửa bớt muối còn đọng lại gây ảnh hưởng bất lợi cho lan Cây lan rất cần bón phân nhưng không chịu được nồng độ dinh dưỡng cao Vì vậy, bón phân cho lan phải thực hiện thường xuyên và tốt nhất là dùng phân bón lá Nồng độ và liều lượng phun tuỳ thuộc tuổi và thời kỳ phát triển của cây lan Đối với lan dưới 6 tháng tuổi phun phân NPK loại 30-15-10 nồng độ 500 ppm (0,5 g/l) 7 ngày/lần Đối với lan 6-12 tháng, phun phân NPK loại 30-15-10 nồng độ 2000 ppm (2g/l) định kỳ 7ngày/lần Đối với lan 12 đến 18 tháng, phun phân NPK loại 10-30-

20 nồng độ 3000 ppm (3g/lít) định kỳ 7 ngày/lần Khi vòi hoa xuất hiện, phun phân NPK loại 15-20-25 nồng độ 2000 ppm sẽ cho kết quả tốt nhất

+ Nguyễn Công Nghiệp, 2004 đã kết luận: Trong mùa sinh trưởng của lan không nên dùng phân tổng hợp NPK loại 30-10-10 Khi chớm nở hoa phải dùng loại phân có nồng độ lân cao để màu sắc hoa đặc trưng như phân NPK loại 10-10-20 hoặc 6-30-30 Trước khi cây bước vào mùa nghỉ, lan phải dùng loại phân bón có nồng độ Kali cao để tăng sức chịu đựng như phân NPK loại 10-20-30, không nên dùng nồng độ phân bón quá 1g/lit nước và sẽ làm cây lan chết hoặc thoái hoá Phân bón qua lá dưới dạng phun sương là rất hiệu quả

+ Về kỷ thuật tưới nước (theo Nguyễn Xuân Linh, 2002) tưới nước cho lan ở giai đoạn cây con phải thận trọng, tưới nhẹ nhàng bằng vòi phun sương, mịn hạt, tưới thường xuyên 3- 4 lần/ngày nếu quá khô Đối với lan trưởng thành thì tuỳ theo mùa, theo loài lan, thời kỳ sinh trưởng, giá thể trồng mà

Trang 21

quyết định số lần tưới cũng như lượng nước tưới cho phù hợp Trong mùa mưa, mỗi ngày tưới cho chúng 2 lần trừ những ngày có mưa, tưới 1 lần vào lúc 9 giờ sáng và vào lúc 3 giờ chiều Tưới như vậy sẽ đảm bảo cây khô ráo khi trời tối vì đọng nước ở nách lá suốt đêm có thể gây thối rữa Vào mùa nắng nên tưới cho chúng 3 lần/ngày

Hiện nay, hầu hết các nghiên cứu về lan hài ở Việt Nam mới chỉ tập trung vào công tác điều tra, khảo sát và thu thập bảo tồn Các nghiên cứu về chọn tạo, kỹ thuật sản xuất còn ít chỉ tập trung ở một số Viện, trường và Trung tâm ứng dụng kỹ thuật

Các nghiên cứu ở trong nước (Trần Hợp, Nguyễn Thiện Tịch và Cs.) đã cho thấy Việt Nam là nước nằm trong vùng Đông Nam Á, thuộc châu Á nhiệt đới - một trong hai khu vực tập trung nhiều loài lan đẹp nhất thế giới Riêng

về lan hài, Việt Nam nằm trọn bộ ở một trong hai khu vực có phân bố lan hài của thế giới, cho nên trong khoảng 70 loài lan hài nguyên chủng được công

bố trên thế giới, Việt Nam đã có khoảng 23 loài và có những loài đặc hữu, chỉ

Việt Nam mới có như Paph.delenatii (hài đỏ hay hài hồng), Paph.vietnamense (Hài bóng), Paph.hangianum (Hài hằng )… được cả thế

giới ưa chuộng

Lan hài và Hoàng thảo Việt Nam được phát hiện nhiều nhất ở khu vực Hoàng Liên Sơn, khu vực biên giới các tỉnh Bắc Trung bộ, khu vực núi Ngọc Linh và khu cao nguyên Lâm Viên Bên cạnh sự đa dạng, phong phú về chủng loại, các loài lan hài ở Việt Nam còn được cả thế giới đánh giá rất cao

bởi cả 3 loài lan hài có hương thơm duy nhất của thế giới (Paph.delenatii, Paph.emersonii, Paph.hangianum) đều có ở Việt Nam và 2 trong 3 loài được coi là đặc hữu (Paph.delenatii, Paph.hangianum) Việc phát hiện và ghi nhận

những loài lan hài mới vẫn còn tiếp tục, điều đó đã khẳng định sự ưu đãi của thiên nhiên đối với Việt Nam, cần phải bảo vệ và phát triển các loài lan rừng nói chung và lan hài nói riêng

Trang 22

Lan hài đỏ của Việt Nam (Paphiopedilum delenatii) đã được phát hiện

vào năm 1993 tại Bác Ái, Ninh Sơn, Khánh Hòa bởi Peter Schwott (Đại học Praha, Tiệp Khắc) và Phân viện Sinh học Đà Lạt Đây là loài thực vật đặc hữu của Việt Nam, được CITES công nhận và bảo vệ Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật gây vết thương trong nhân giống loại lan này Kết quả cho thấy phương pháp gây vết thương kết hợp với nuôi cấy trên môi trường lỏng bổ sung nồng độ thích hợp chất điều hòa tăng trưởng TDZ và NAA đã đem lại một kết quả khả quan trong việc tìm ra phương pháp

nhân giống in vitro trên lan hài đỏ Hệ số nhân được thiết lập thông qua

phương pháp gây vết thương và nuôi cấy trên môi trường lỏng là 52, cho hiệu

quả hơn gấp 25 lần so với phương pháp nhân giống bằng cách gieo hạt in vitro đơn thuần

Để góp phần bảo tồn nguồn gen hài quý, Viện sinh học NN - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã nghiên cứu quy trình nhân giống 3 loài lan

hài là Paphiopedilum.sp.laichau A 2 , Paphiopedilum.hangianum perner Gurss (hài Hằng)và Paphiopedilum.sp 720 Kết quả nghiên cứu đã tìm ra môi

trường thích hợp nhất để gieo hạt giống là môi trường RE, môi trường thích hợp để tạo chồi protocorm và nhân nhanh là RE + 100g/l dịch chiết chuối +150ml/l nước dừa Môi trường ra rễ cho hài hằng là RE + 100g/l dịch chiết

chuối + 0,4ppm α-NAA, cho giống P.sp.laichauA 2 và P.sp.720 là RE + 100g/l

dịch chiết chuối + 0,6ppm α-NAA Ở giai đoạn vườn ươm, giá thể thích hợp

là dớn cho tỷ lệ sống cao, cây sinh trưởng tốt (hài Hằng là 80%, P.sp.720 là

86.,67%) Phân bón thích hợp ở giai đoạn cây con là NPK (30:10:10) với lượng bón là 1g/l và phun 2 lần/tuần

Năm 2007, Trần Phạm Anh Tuấn (Đà Lạt, Lâm Đồng) bước đầu đã tạo

ra được nhiều dòng lan hài bằng phương pháp lai tạo từ các giống lan hài rừng, trong đó có dòng hài mới với nhiều đặc điểm khác lạ như lá màu đốm

Trang 23

trắng, hoa có mùi thơm, cánh hoa màu đỏ tím với nhiều vân sọc sẫm, lưỡi hoa có màu chấm tím, đã bổ sung thêm vào tập đoàn lan hài của Đà Lạt

Để phát triển một số loài lan hài bản địa của Sapa - Lào Cai, trong những năm qua Viện Di truyền Nông nghiệp cũng đã tiến hành nghiên cứu, xây dựng một số biện pháp kỹ thuật như giá thể trồng là hỗn hợp xơ dừa hoặc dớn sợi, than gỗ vụn, lá khô vụn, phân gia súc khô Nước tưới có pH từ 6,2-6,6.Phân bón NPK với tỉ lệ 20:20:20 hoặc 14:14:14, bổ sung 30-40mg/l Ca và 20-30mg/l Mg để làm tăng khả năng sinh trưởng của cây

Ở Việt Nam việc chơi và tiêu thụ lan hài, chủ yếu là sử dụng nguồn lan

tự nhiên, khai thác từ rừng đã làm cho nguồn tài nguyên này bị suy kiệt nhanh chóng,nên rất cần thiết phải có công tác nghiên cứu, tuyển chọn và xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất, đặc biệt là quy trình nhân giống không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mà còn để bảo vệ nguồn gen quý hiếm, bảo vệ tính đa dạng sinh học của các loài lan hài đã được ghi nhận trong sách đỏ Việt Nam

1.4 Nghiên cứu về thực vật tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên

Tác giả Mai Văn Chuyên, 2010 đã xác định được 05 nguyên nhân trực tiếp và 05 nguyên nhân giáp tiếp gây suy giảm đa dạng thực vật khu BTTN Xuân Liên; đề xuất được 05 nhóm giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng đó là: (1) Giải pháp về kinh tế kỹ thuật; (2) giải pháp về xã hội, (3) giải pháp về cơ chế chính sách thu hút vốn đầu tư, (4) Giáo dục môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học, (5) giải pháp về quản lý bảo vệ rừng, Nguyễn Ngọc Thảo, 2012 [6]

Nguyễn Đức Thắng cộng sự, 2015 [7], nghiên cứu đã thống kê được

85 loài Lan, thuộc 38 chi phân bố tại Khu bảo tồn Nghiên cứu đã bổ sung cho

KBTTN 03 loài trước đây chưa từng được ghi nhận, đó là: Liparis pumila Aver., Liparis filiformis Aver., Eria calcicola Aver Hiện có 02 loài Lan quý hiếm là Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl ex Hook.) Stein.),

Trang 24

Kim tuyến trung bộ (Anoectochilus annamensis Aver.) Trong đó cả 02 loài

đều thuộc nhóm IA, Nghị định 32/2006/NĐ-CP; Sách đỏ Việt Nam 2007, 01 loài cấp VU

Tại các khu rừng đặc dụng có các hệ sinh thái khác nhau như vùng sinh thái Đông Bắc (Khu BTTN Bát Đại Sơn); vùng sinh thái Hoàng Liên Sơn ( Khu BTTN Copia); Vùng sinh thái Tây Bắc và Bắc Trung Bộ (Bạch

Mã, Xuân Liên, Pù Luông ) Đã có nhiều công trình nghiên cứu về bảo tồn

và phát triển các loài thuộc họ Lan Các hoạt động nghiên cứu này đã đánh giá được thực trạng và đề xuất được các giải pháp để bảo tồn và phát triển bền vững Như vậy, trong thực tiễn công tác bảo tồn đa dạng sinh học nói chung

và bảo tồn nhóm thực vật trong họ Lan nói riêng ở Việt Nam, ở các địa phương khác nhau đều nhận thức được tầm quan trọng, cần thiết phải nghiên cứu đồng bộ các giải pháp kỹ thuật cả về bảo tồn nội vi lẫn bảo tồn ngoại vi, gắn kết các mục tiêu bảo tồn và phát triển Tuy nhiên, các khu rừng đặc dụng

sẽ có điều kiện về tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội; cũng như các tiềm năng, lợi thế, các nguy cơ, thách thức khác nhau Để các hoạt động nghiên cứu có hiệu quả, các giải pháp đề xuất phải phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng Khu rừng đặc dụng, nhằm phát huy và khai thác các tiềm năng, lợi thế cả về điều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội, gắn kết được cả 2 mục tiêu bảo tồn và phát triển; đó cũng chính là lý do để tôi thực hiện đề tài này

Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của Luận văn này sẽ cung cấp

bổ sung và cập nhật thông tin về hiện trạng 02 loài lan Hài ở Khu BTTN Xuân Liên, cung cấp một số kết quả nghiên cứu về thử nghiệm nhân giống 02 loài lan Hài tại Khu BTTN Xuân Liên

Ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả khoa học của luận văn là cơ sở khoa học

quan trọng cho việc xây dựng các kế hoạch và biện pháp quản lý nhằm bảo tồn và phát triển 02 loài lan Hài tại Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa

Trang 25

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá được thực trạng phân bố và thử nghiệm

nhân giống để bảo tồn 02 loài lan quý hiếm là Lan hài vân bắc

(Paphiopedilum callosum (Rchb.f.) Pfitzer), Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl.ex Hook.) Stein, tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên

- Mục tiêu cụ thể:

+ Xác định được hiện trạng phân bố 02 loài lan quý hiếm là Lan hài

vân bắc (Paphiopedilum callosum (Rchb.f.) Pfitzer), Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl.ex Hook.) Stein, tại Khu bảo tồn thiên

nhiên Xuân Liên

+ Phân tích được một số đặc điểm sinh vật học và thử nghiệm nhân giống của 02 loài Lan phân bố tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên

2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: 02 loài lan quý hiếm là loài Lan hài vân bắc

(Paphiopedilum callosum (Rchb.f.) Pfitzer) và loài Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl.ex Hook.) Stein

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá các đặc điểm sinh vật học của 02 loài lan quý hiếm

Trang 26

- Điều tra hiện trạng phân bố của 02 loài lan quý hiếm là Lan hài vân

bắc (Paphiopedilum callosum (Rchb.f.) Pfitzer), Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl.ex Hook.) Stein, tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên

- Thử nghiệm nhân giống 02 loài Lan hài

- Phân tích được các mối đe dọa và đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn

02 loài lan quý hiếm

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp phỏng vấn

Mục đích của phương pháp này là thu thập các thông tin ban đầu về ghi nhận 02 loài Tiến hành phỏng vấn người dân các thôn bản trong và gần Khu bảo tồn theo hình thức phỏng vấn bán cấu trúc Phỏng vấn được thực hiện theo nhóm hoặc đơn lẻ từng người tùy thuộc điều kiện cho phép Sử dụng ảnh màu của 02 loài lan để hỗ trợ người dân khi xác định loài Các địa điểm phỏng vấn trước đây đã ghi nhận do người dân cung cấp được xác định và đánh dấu trên bản đồ địa hình của Khu bảo tồn Xem xét kỹ lưỡng tất cả các mẫu vật (nếu có) hiện nuôi trồng tại nhà dân Các thông tin phỏng vấn được kiểm định qua nhiều người được phỏng vấn khác nhau

Phỏng vấn được tiến hành từ tháng 6-7/2018 tại 10 thôn bản giáp ranh Khu bảo tồn thuộc 5 xã vùng đệm Số lượng phỏng vấn từ 05-10 người/01 thôn (Chi tiết tại Phiếu 01)

2.4.2 Phương pháp điều tra hiện trạng phân bố 02 loài

+ Điều tra theo tuyến: Phương pháp điều tra theo tuyến được thực hiện

để quan sát trực tiếp 02 loài Lan Thiết kế 15 tuyến điều tra đi qua các dạng sinh cảnh rừng của khu vực nghiên cứu, mỗi tuyến khảo sát thường có chiều dài 3-6

km tùy thuộc vào điều kiện địa hình, mỗi tuyến cách nhau 500m (Bảng 2.1) Bản

đồ sử dụng được xây dựng theo các dạng sinh cảnh của khu bảo tồn với tỷ lệ 1/25.000, hệ tọa độ: UTM Zone 48, Northern Hemisphere (WGS84) [EPSG:

Trang 27

32648] và máy định vị GPS cũng cài đặt hệ tọa độ UTM để xác định toạ độ các khu vực điều tra cũng như các điểm quan sát được

Bảng 2.1 Tuyến điều tra hiện trạng phân bố

Sinh cảnh rừng

vực đỉnh Pù khóe 0514018 2203137 0511298 2209279 4,70 SC4

Trang 28

Sinh cảnh rừng

+ Xác định hiện trạng quần thể: Trong quá trình điều tra trên tuyến, khi

phát hiện 02 loài lan trên tuyến điều tra, sẽ tiến hành quan sát ghi chép thông tin Tiến hành đếm số lượng cá thể ghi nhận Đồng thời, kết hợp với các hình ảnh minh họa để xác định loài Ghi chép bổ sung thông tin về: Thời tiết, cấu trúc rừng vào mẫu phiếu 02

+ Xác định dạng sinh cảnh sống của loài: Từ số liệu về 11 kiểu thảm

rừng và các đặc trưng điều kiện địa hình có thể xác định các đặc điểm của 08 kiểu sinh cảnh rừng chính ở Khu bảo tồn [3] Việc đánh giá sinh cảnh phân bố của 02 loài Hài trong quá trình điều tra trên tuyến, được dựa trên cơ sở phát hiện loài trên hiện trường nghiên cứu, ghi chép thông tin về tọa độ, các tầng thực vật, địa hình…Số liệu sẽ được tổng hợp và phân tích trên bản đồ sinh cảnh của Khu bảo tồn (Bảng 2.2 và hình 2.1)

Trang 29

Bảng 2.2 Các dạng sinh cảnh rừng chính

hiệu Dạng sinh cảnh & kiểu rừng

Sinh cảnh (ha)

Kiểu rừng (ha)

SC1

Sinh cảnh rừng thường xanh trên núi đá vôi: 767

- Kiểu phụ thổ nhưỡng rừng kín thường xanh á

SC2

Sinh cảnh rừng thường xanh á nhiệt đới: 2.259

- Kiểu rừng kín thường xanh chủ yếu là cây lá

- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường

SC3 Sinh cảnh rừng thường xanh nhiệt đới: 2.801

SC4

Rừng thường xanh nhiệt đới sau khai thác 1.372

- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường

SC5

Rừng thường xanh nhiệt đới đang phục hồi 5.293

- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường

xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp phục hồi sau

nương rẫy

5.293

SC6

Sinh cảnh rừng hỗn giao gỗ - giang, nứa: 6.617

- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác hỗn giao Giang hoặc

Nứa và cây lá rộng phục hồi sau nương rẫy á nhiệt

đới

379

- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác hỗn giao Giang

hoặc Nứa và cây lá rộng núi thấp phục hồi sau

nương rẫy và khai thác kiệt

6.238

SC7

Sinh cảnh rừng giang / nứa thuần loại: 3.276

- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác Giang hoặc Nứa

Trang 30

Hình 2.1 Bản đồ các dạng sinh cảnh rừng chính ở KBTTN Xuân Liên

2.4.3 Phương pháp sinh vật học

- Mô tả một số đặc điểm hình thái của loài: Quan sát 10 cây trên tuyến điều tra sau đó mô tả đặc điểm hình thái cụ thể như sau:

+ Thân: Mô tả hình dạng, màu sắc, cách mọc và mức độ phát triển

+ Lá, hoa, quả: Mô tả hình dạng, kích thước, màu sắc Lấy mẫu tiêu bản để giám định

- Mô tả điều kiện sinh cảnh nơi phân bố của 02 loài lan Hài

+ Để xác định, mô tả một số đặc điểm sinh cảnh nơi phân bố của 02 loài tại rừng Luận văn tiến hành phân tích thông tin trên cơ sở ghi nhận loài trên hiện trường, các điểm bắt gặp được lưu tọa độ, độ cao, hướng phơi… Kết hợp kế thừa kết quả nghiên cứu về các đặc điểm của 08 dạng sinh cảnh rừng

ở Khu BTTN Xuân Liên, từ đó phân tích đánh giá đặc điểm sinh cảnh của 02 loài lan Hài

Trang 31

2.4.4 Phương pháp thử nghiệm nhân giống 02 loài Lan hài

* Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ thích hợp để tách

chồi, mầm với 02 loài Lan hài

- Thí nghiệm gồm các công thức:

CT1: Vụ hè (tháng 6)

CT2: Vụ thu – đông (tháng 10)

- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn, 3 lần nhắc lại

Số chậu thí nghiệm là 20 chậu/giống, theo dõi đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của 5 chậu/giống

* Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể trồng cây sau tách

chồi đối với 02 loài Lan hài

Thí nghiệm gồm các công thức:

CT1: Đất + trấu hun (1:1)

CT2: Đất + xơ dừa + trấu hun (1:1:1)

CT3: Đất + ngói non (1:1)

- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn, 3 lần nhắc lại

Số chậu thí nghiệm là 20 chậu/giống, theo dõi đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của 5 chậu/giống

* Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón thích hợp cho

cây sau tách nhánh đối với 02 loài Lan hài

Trang 32

- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn, 3 lần nhắc lại

Số chậu thí nghiệm là 32 chậu/giống, theo dõi đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của 8 chậu/giống

Các chỉ tiêu theo dõi và xử lí số liệu

Chỉ tiêu theo dõi số liệu: Theo dõi các đặc điểm sinh trưởng phát triển

của các giống Lan khi nhân giống định kỳ theo dõi lấy số liệu 10 ngày/lần Các chỉ tiêu theo dõi gồm:

+ Số nhánh/chậu: đếm tổng số nhánh (củ giả)/chậu

+ Chiều dài lá (cm): Đo từ gốc lá đến ngọn lá

+ Chiều rộng lá (cm): Đo tại điểm cắt ngang lá lớn nhất

+ Số lá (lá): Đếm số lá trên nhánh

+ Màu sắc lá: mô tả màu sắc lá theo cảm quan

Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý theo chương trình EXCEL

- Chiều dài trung bình lá =

Áp dụng các phương pháp phân tích thống kê toán học, để xử lý số liệu

và đánh giá kết quả đảm bảo yêu cầu khách quan và độ chính xác cho phép

Trang 33

với sự hỗ trợ của một số phần mềm thống kê toán học trên máy vi tính: Excel, phân tích phương sai một nhân tố (Anova),…

2.4.5 Phương pháp xây dựng bản đồ

Khoanh vẽ, xây dựng bản đồ phân bố của 02 loài Lan hài tại rừng Khu BTTN Xuân Liên: Căn cứ tọa độ (GPS) ghi nhận loài trên thực địa thông qua quá trình điều tra ngoại nghiệp, nhập dữ liệu tọa độ chạy trên phần mềm Mapinfo 10.5 để xây dựng bản đồ phân bố

2.4.6 Phương pháp xác định mối đe dọa đến bảo tồn

Thu thập dữ liệu từ các vụ vi phạm pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn rừng khu bảo tồn Xuân Liên trong thời gian 5 năm từ 2013-2017

từ hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Xuân Liên, làm cơ sở đánh giá các mối đe dọa Kết hợp thông tin điều tra về thực trạng khai thác buôn bán 02 loài lan từ phỏng vấn người dân, làm cơ sở đề xuất các giải pháp phù hợp trong công tác bảo tồn và sử dụng hiệu quả các kết quả nghiên cứu 02 loài Lan

Quan sát trực tiếp trên 15 tuyến điều tra và phỏng vấn người dân các thông tin về mức độ tác động của con người đến sinh cảnh phân bố 02 loài lan Hài

Đánh giá các mối đe dọa

Việc đánh giá mức độ các mối đe dọa tới loài và sinh cảnh của 02 loài lan Hài tại khu vực nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp của (Margoluis và Salafsky, 2001) [17] trên cơ sở việc xếp hạng và cho điểm từ 1 đến n, sau đó sắp xếp giảm dần theo mức độ ảnh hưởng của mối đe dọa theo 3 tiêu chí: Diện tích, cường độ và tính cấp thiết của mối đe dọa

- Diện tích vùng bị ảnh hưởng của mối đe dọa: Là tỉ lệ diện tích bị ảnh

hưởng bởi mối đe dọa tại khu vực nghiên cứu - ảnh hưởng đến toàn sinh cảnh hay chỉ ảnh hưởng giới hạn tới một vùng nhỏ Cho điểm n với những mối đe dọa có vùng ảnh hưởng rộng nhất, và giảm dần cho tới điểm 1 – tương ứng diện tích vùng bị ảnh hưởng bởi đe dọa là nhỏ nhất

Trang 34

- Cường độ ảnh hưởng của mối đe dọa: Mức độ phá hủy hay tính chất

khốc liệt của mối đe dọa tới sinh cảnh Cường độ mạnh, yếu của mối đe dọa

sẽ tương ứng với sự phá huỷ hoàn toàn sinh cảnh hay chỉ là ảnh hưởng cục bộ tới một phần nhỏ nào đó Tương ứng với đó, tiến hành cho điểm từ cao xuống thấp tùy thuộc cường độ tác động

- Tính hiện trạng – tính cấp thiết của mối đe dọa: Được hiểu là tầm ảnh

hưởng của mối đe dọa theo thời gian, liệu mối đe dọa này chỉ ảnh hưởng ở thời điểm hiện tại hay cả trong tương lai Tương tự như trên, ta cũng cho điểm

từ cao xuống thấp tương ứng với tính cấp thiết của từng mối đe dọa

Kết quả đánh giá và cho điểm các mối đe dọa được nêu trong bảng sau:

Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả đánh giá các mối đe dọa

TT Các mối đe dọa

Tiêu chí xếp hạng

hạng

Diện tích ảnh hưởng

Cường

độ ảnh hưởng

Tính cấp thiết

Trang 35

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI KBTTN XUÂN LIÊN

3.1 Điều kiện tự nhiên của Khu BTTN Xuân Liên

3.1.1 Vị trí địa lý

Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên nằm cách thành phố Thanh Hoá 65km về phía Tây Nam, phía Tây tiếp giáp với Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt (Nghệ An) và Khu bảo tồn thiên nhiên Nậm Xam (Nước CHDCND Lào) đã tạo ra một tam giác khu hệ động thực vật phong phú, đa dạng

Toạ độ địa lý: 19051’52’’-19059’00’’ vĩ độ Bắc;

104057’00’’-105019’20’’ kinh độ Đông

+ Phía Bắc giáp được giới hạn bởi sông Khao;

+ Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An giới hạn bởi ngọn Bù ta leo;

+ Phía Tây giáp tỉnh Nghệ An và Phần còn lại của xã Bát Mọt;

+ Phía Đông được giới hạn bởi ngọn Bù Khang và đập Thuỷ điện Cửa Đạt Khu BTTN Xuân Liên được thành lập theo Quyết định số 1476/2000/QĐ-UB ngày 15 tháng 6 năm 2000 của Chủ tịch UBND Tỉnh Thanh Hoá

Quy mô diện tích quy hoạch Khu bảo tồn có tổng diện tích 23.815,5 ha (Trong đó Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 10.455,5 ha; Phân khu phục hồi sinh thái 11.960,2 ha; Phân khu hành chính dịch vụ 1.399,8 ha) theo Quyết định số 2405/QĐ-UBND, ngày 12/7/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá về phê duyệt quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng Khu BTTN Xuân Liên đến năm 2020 (Khu BTTN Xuân Liên, 2013 [5])

3.1.2 Đặc điểm địa hình

Địa hình của khu vực này đặc trưng bởi các dãy núi từ 800-1.600 m và

bị chia cắt bởi những thung lũng sâu và hẹp, các sườn dốc từ Tây sang Đông Địa hình phía Đông đặc trưng là vùng chân núi có độ dốc vừa phải, nhiều trong số hàng loạt các sông suối trong vùng này chảy tương đối phẳng lặng mang

Trang 36

phù sa cho các nhánh của nó Sông Chu là con sông hình thành từ Lào, chảy qua Nghệ An trước khi chảy qua Khu đề xuất bảo tồn thiên nhiên (Le Trong Trai et

3.1.3 Khí hậu, thuỷ văn

- Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình năm 23 - 240C, nhiệt độ trung bình tháng 1 là 15,5 - 16,50C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối xuống đến

50C Nhiệt độ trung bình tháng 7 là 27 - 280C, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối chưa quá 400

C, (hình 3.1)

(Nguồn: Trạm khí tượng thủy văn Bái Thượng năm 2015, 2016)

Hình 3.1 Biểu đồ diễn biến nhiệt độ trung bình tháng

o

c

Tháng

Trang 37

- Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình năm 85 - 86%, tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 04 khoảng 91%, tháng thấp nhất là tháng 11 và 12 từ 80-83% Mùa đông có sương muối từ 5 - 7 ngày

- Lượng mưa: Lượng mưa trong năm là 2000 - 2200 mm, phân bố mưa trong năm không đều, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm từ 60-80% tổng lượng mưa cả năm Các tháng có lượng mưa lớn nhất từ tháng 7 đến tháng 9 thường gây lũ lụt cục bộ Các tháng có lượng mưa thấp nhất từ tháng 12 cho tới tháng 2 năm sau, thường gây hạn hán (hình 3.2)

(Nguồn: Trạm khí tượng thủy văn Bái Thượng năm 2015, 2016)

Hình 3.2 Biểu đồ diễn biến lượng mưa trung bình tháng

Tháng

Trang 38

Bảng 3.1 Cấu trúc khu hệ thực vật Khu BTTN Xuân Liên

họ

Số chi

Số loài

Tỷ lệ (%)

về kinh tế, văn hoá và hôn nhân, nhưng vẫn bảo tồn những nét đặc trưng riêng

về văn hoá dân gian truyền thống

Dân cư trong vùng phân bố trên 39 thôn bản, thuộc địa bàn 5 xã, thường tập trung ở những nơi có đất sản xuất nông nghiệp và sinh sống chính bằng nghề trồng trọt nông nghiệp và chăn nuôi gia súc, gia cầm Đặc điểm dân số có 13.530 người trong độ tuổi lao động, chiếm tỷ lệ 51,9 % tổng dân

số, trong đó lao động nữ 6.850 lao động chiếm 50,7% tổng số lao động Tỉ lệ

hộ nghèo vẫn còn cao, chiếm tới 50,8% Hệ số sử dụng lao động thấp dẫn đến lực lượng lao động nhàn rỗi trong năm chiếm khoảng hơn 20% Thời gian sử dụng lao động trong nông thôn bình quân đạt 189 ngày/năm

Qua theo dõi người dân ở vùng đệm Khu bảo tồn vẫn còn sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng, trong đó có thu hái cây thuốc, lan rừng để có thêm thu nhập

Trang 39

3.2.2 Cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội

a Cơ sở hạ tầng

* Giao thông: Hệ thống trục giao thông chính ở xã vùng đệm Khu bảo tồn có: Tỉnh lộ 507 từ thị trấn Thường Xuân đi qua các xã Lương Sơn, Yên Nhân, Bát Mọt với chiều dài 70 km, trong đó: Kết cấu đường nhựa từ thị trấn Thường Xuân đi qua trung tâm xã Yên Nhân dài 52 km; kết cấu đường đất, đá cấp phối từ Yên Nhân đi cửa khẩu Bản Khẹo, Bát Mọt dài 18 km; tỉnh lộ mới

519 từ thị trấn Thường Xuân đi qua các xã Xuân Cẩm, Vạn Xuân dài 29 km kết cấu đường nhựa; tỉnh lộ Tây Thanh Hóa từ huyện Lang Chánh đi qua xã Yên Nhân đi Nghệ An, với chiều dài 26 km (trong đó đi trong khu bảo tồn là

15 km) kết cấu đường nhựa

b Văn hoá- Xã hội

Những điểm di tích lịch sử và văn hóa tâm linh trong khu vực có sức thu hút khách đến thăm quan du lịch gồm: Di tích tín ngưỡng Bà chúa thượng ngàn và Danh nhân Cầm Bá Thước; các lễ hội truyền thống và văn hóa đặc sắc của các đồng bào dân tộc thiểu số (người Thái, người Mường)

Trang 40

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm hình thái 02 loài Lan hài tại Khu BTTN Xuân Liên

4.1.1 Lan hài lông

Tên Việt Nam: Lan hài lông

Tên khoa học: Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl ex Hook.) Stein

Họ thực vật: Họ Lan (Orchidaceae)

Hình thái: Cây cỏ mọc trên đất hoặc trên đá với 5-7 lá xếp thành 2 hàng, mọc thành đám Lá hình lưỡi dài hẹp, tù hoặc có 2 thùy tù không đối xứng ở chóp, dài tới 45 cm, rộng 1,5 -2cm, xanh, có đốm tía ở mặt gần dưới gần gốc

Cụm hoa có 1 hoa (rất ít khi có 2 hoa); cuống dài 17 - 25cm, phủ lông dài dày đặc, mọc trong một bao dạng lá màu xanh dài tới 11cm; lá đài vàng nhạt cho tới xanh nhạt, có nhiều đốm nâu tối, dày đặc gần như tới tận mép; cánh hoa vàng nhạt, đốm tía nâu ở nửa gốc, đốm hồng tía ở nửa trên; môi vàng nhạt cho đến xanh ô liu nhạt, đốm tía – hồng; nhị lép vàng nhạt, đốm tía

về gốc, nâu tối bóng về phía giữa; cuống hoa và bầu dài 5-7,5cm, phủ lông dài đen dày đặc

Lá đài hình trứng rộng cho tới trứng – bầu dục, tù hoặc lõm ở đỉnh, dài 1,8 (3)–4,5 (5,2) cm, rộng 1,8 (2,3)–4(4,5) cm với mép lượn sóng, có lông rìa

Lá đài hợp giống với lá đài lưng, dài 2,6 (5)–7(8) cm, rộng 1(1,3) – 2,5(3) cm xoắn lại ở nửa trên, thường lượn sóng ở mép về gốc, phủ lông tơ và lông rìa Môi dài 1,8 (3)–4 (4,5) cm, rộng 1,2 (1,5)–2,2 (2,8) cm Nhị lép gần hình vuông tù, lồi, dài khoảng 10mm, rộng 8mm

Ngày đăng: 23/06/2021, 06:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm