1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá rủi ro môi trường thông qua chỉ số tác động môi trường trong canh tác cam tại huyện cao pho

90 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 2,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng thực trạng sử dụng cho thấy, bà con nông dân thường có kiến thức hạn chế về các loại hoạt chất trong thuốc BVTV, dẫn tới tình trạng sử dụng thuốc BVTV thiếu hiệu quả và an toàn, là

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực, khách quan và chƣa từng đƣợc sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin, số liệu trích dẫn trong luận văn đều đƣợc ghi rõ nguồn gốc và đã đƣợc công bố theo quy định

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Ngọc Bình

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô trong bộ môn Quản Lý Môi Trường, quý thầy cô thuộc Trung tâm Quan trắc môi trường và Địa không gian khoa Quản lý tài nguyên rừng, trường Đại học Lâm Nghiệp đã quan tâm giúp đỡ chỉ bảo tận tình trong quá trình thực hiện luận văn Thông qua quá trình thực hiện luận văn tôi đã tiếp thu được nhiều ý kiến đóng góp và nhận xét quý báu của thầy cô qua các buổi bảo vệ đề cương và báo cáo tiến độ thực hiện

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Thị Thanh An đã trực tiếp hướng dẫn, định hướng chuyên môn, quan tâm giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình công tác cũng như thực hiện luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc đến gia đình đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành tốt mọi công việc trong quá trình thực hiện luận án Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn của mình tới bạn bè luôn quan tâm, chia sẻ, động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô và bạn bè

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Bình

Trang 4

rủi ro và các điểm kiểm soát tới giới hạn

ISO 22000 Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm

KHCN&MT Khoa học công nghệ và môi trường

VietGAP Vietnamese Good Agricultural Practices

WHO World Health Organization - Tổ chức y tế thế giới

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1.1 Các khái niệm cơ bản 5

1.1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài 6

1.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KHÍ HẬU ĐẤT ĐAI 7

1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 7

1.2.2 Khí hậu và thổ nhưỡng 8

1.2.3 Điều kiện kinh tế- xã hội 9

1.3 VẤN ĐỀ SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT 9

1.3.1 Một số khái niệm 9

1.3.2 Phân loại thuốc BVTV 11

1.4 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN, TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC BVTV TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 14

1.4.1 Trên thế giới 14

1.4.2 Ở Việt Nam 16

1.5 ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BVTV ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ HỆ SINH THÁI 19

1.5.1 Ảnh hưởng tới môi trường đất 20

1.5.2 Ô nhiễm môi trường nước 21

1.5.3 Ô nhiễm môi trường không khí 22

1.5.4 Ảnh hưởng của hóa chất BVTV lên con người và động vật 23

1.6 ĐẶC ĐIỂM CÂY CAM 23

Trang 6

1.6.1 Đặc điểm sinh vật học của cây Cam 23

1.6.2 Cách trồng và chăm sóc Cam 24

1.6.3 Sản xuất cam theo quy trình VietGAP 26

1.7 CHỈ SỐ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG EIQ 29

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 32

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 32

2.1.3 Mục tiêu nghiên cứu 32

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 33

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 33

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 33

2.3.3 Phương pháp lấy mẫu và phân tích đất 34

2.3.4 Phương pháp tính toán chỉ số tác động môi trường (EIQ) 36

2.3.5 Phương pháp phân tích thống kê 42

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44

3.1 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG THUỐC BVTV TẠI ĐỊA PHƯƠNG 44

3.1.1 Thực trạng công tác quản lý thuốc BVTV trong canh tác Cam tại địa phương 44

3.1.2 Thực trạng công tác sử dụng thuốc BVTV trong canh tác Cam tại địa phương 47

3.2 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ RỦI RO MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA CHỈ SỐ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG(EIQ) CỦA 2 HÌNH THỨC CANH TÁC VIETGAP VÀ TRUYỀN THỐNG 54

3.2.1 Chỉ số tác động môi trường lý thuyết 54

3.2.2 Chỉ số tác động môi trường đồng ruộng 56

Trang 7

3.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới giá trị EIQ 59

3.3 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH MẪU ĐẤT 61

3.3.1 Kết quả phân tích mẫu đất của hai phương thức canh tác cam trên địa bàn nghiên cứu 62

3.3.2 So sánh các chỉ tiêu về đất giữa 2 phương thức canh tác 67

3.4 MỘT SỐ BIỆN PHÁP VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ THUỐC BVTV 68

3.4.1 Giải pháp kỹ thuật 68

3.4.2 Giải pháp quản lý 70

3.4.3 Giải pháp về nâng cao nhận thức của người trồng cam 71

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1:Phân loại thuốc BVTV theo tính độc 14

Bảng 1.2:Thời gian tồn lưu của hóa chất BVTV trong đất 21

Bảng 1.3:Tiêu chuẩn để phân hạng các khả năng của chỉ số tác động môi trường 30

Bảng 2.1:Công thức tính các tác động môi trường, trên các đối tượng và tính EIQ 37

Bảng 3.1:Danh mục các loại thuốc BVTV sử dụng tại khu vực nghiên cứu 49

Bảng 3.2:Phân loại các loại thuốc được sử dụng tại vùng nghiên cứu 51

Bảng 3.3:Bảng diện tích trồng, lượng thuốc phun trên hộ và trên hectare 54

Bảng 3.4:Bảng phân bố thuốc BVTV theo giá trị EIQ lý thuyết 55

Bảng 3.5:Bảng thống kê mô tả giá trị EIQ đồng ruộng 57

Bảng 3.6:Kiểm định sự sai khác về giá trị bình quân chỉ số EIQ đồng ruộng dưới hai phương thức canh tác khác nhau 59

Bảng 3.7:Giá trị EIQ trung bình theo số hộ và liều lượng thuốc dùng 60

Bảng 3.8:Giá trị EIQ đồng ruộng trung bình hộ có người phun được tham gia tập huấn và chưa được tham gia tập huấn của hai xã 61

Bảng 3.9:Kết quả phân tích mẫu đất trồng cam trên địa bàn nghiên cứu 63

Bảng 3.10:Bảng mô tả thống kê kết quả một số chỉ tiêu phân tích đất trồng cam 65

Bảng 3.11:Kết quả kiểm tra sai khác về mặt thống kê các chỉ tiêu phân tích đất bằng kiểm định t test 67

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1.1:Sơ đồ của thuốc BVTV đi vào môi trường và con người 20

Hình 2.1:Các yếu tố môi trường được dùng để tính toán chỉ số của mô hình số tác động môi trường (EIQ) 39 Hình 2.2:Cấu trúc bảng tra các giá trị EIQ lý thuyết lập bởi trường Đại học Cornell năm 2019 40 Hình 2 3:Công cụ tính EIQ thực tế dựa vào trang web của Đại học Cornell 41 Hình 3.1:Biểu đồ ý kiến xử lý rác thải thuốc BVTV sau khi sử dụng 45 Hình 3.2:Mô hình thu gom rác thải thuốc BVTV tại xã Dũng phong năm 2016 (13) 45 Hình 3.3:Hộ được hướng dẫn chất cấm sử dụng trong nông nghiệp ở 2 hình thức canh 48 Hình 3.4:Tổng lượng thuốc sử dụng phân theo số hộ sử dụng của từng loại thuốc trên địa bàn nghiên cứu 53 Hình 3.5:Phân bố số hộ theo giá trị EIQ lý thuyết của 2 phương thức canh tác58

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, tình hình diễn biến các quá trình biến đổi khí hậu trên thế giới ngày càng diễn ra phức tạp cùng với đó là điều kiện canh tác nông nghiệp ngày càng khó khăn do thời tiết biến đổi thất thường, thiên tai xuất hiện ngày càng nhiều, dịch bệnh phát sinh và các yếu tố khác tác động làm cho năng suất và chất lượng các sản phẩm từ nông nghiệp ngày càng giảm Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng, nhưng cũng rất thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại cho mùa màng Do vậy để nâng cao năng suất cây trồng, cũng như việc phòngtrừ dịch hại, bảo vệ sản xuất, giữ vững an ninh lương thực quốc gia thì việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) luôn là biện pháp quan trọng và mang tính chiến lược

Với điều kiện khí hậu tự nhiên và đa dạng, Việt Nam là nước có lợi thế lớn trong canh tác và phát triển nhiều loại giống rau quả khác nhau phục vụ cho nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu Trên cả nước đã hình thành nên các vùng chuyên canh lớn ở Đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ Tuy nhiên nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm nên sâu, bệnh và cỏ dại xuất hiện quanh năm Do đó để phòng trừ dịch hại và bảo vệ cây trồng thì việc sử dụng thuốc BVTV vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ yếu Nhưng thực trạng sử dụng cho thấy, bà con nông dân thường có kiến thức hạn chế về các loại hoạt chất trong thuốc BVTV, dẫn tới tình trạng sử dụng thuốc BVTV thiếu hiệu quả và an toàn, làm tăng chi phí sản xuất và nguy cơ mất an toàn thực phẩm (ATTP), ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và môi trường, đặc biệt là ở các khu vực nghèo nơi nông dân chủ yếu dựa vào thuốc trừ sâu giá rẻ nhưng thường lạc hậu và độc hơn Mặc dù các chính sách và

Trang 11

quy định về thuốc trừ sâu đã tăng lên nhưng nhà nước vẫn không thể điều tiết thị trường thuốc trừ sâu

Sử dụng thuốc BVTV tuy đem lại hiệu quả tức thời, nhanh chóng nhưng lại gây ra những hệ quả nghiêm trọng trên nhiều mặt lâu dài về sau Một phần

do chính bản chất độc hại của thuốc BVTV, một phần là do người sử dụng không ý thức được tầm nguy hiểm của nó, nên bắt đầu lạm dụng, sử dụng thuốc BVTV một cách vô tội vạ, không kiểm soát và dùng sai cách Sự nguy hại của thuốc BVTV tới môi trường có thể gây mất cân bằng hệ sinh thái tiêu diệt cả các sinh vật có lợi, hình thành dịch bệnh hại trong khi các loài gây hại

có khả năng sản sinh và phát triển nhanh hơn thiên địch, mà người trồng thì

cứ sử dụng thuốc BVTV liên tục thì đời sống các sinh vật có ích càng bị đe dọa, môi trường sống càng bị ô nhiễm

Ngoài các ảnh hưởng tới môi trường, thuốc BVTV còn gây ra những hậu quả nghiêm trong tới sức khỏe con người nếu là loại có độc tính nhẹ thì sẽ không nguy hiểm ngay, mà sẽ tích lũy dần dần rồi đến lúc nào đó, sẽ biểu hiện ra bên ngoài, lúc này cơ thể đã bị các chất ấy phá hủy rồi có nhiều loại thuốc BVTV còn gây ảnh hưởng đến cả các thế hệ sau này, người sử dụng thì không thấy có biểu hiện, nhưng lại gây ra biến đổi di truyền ở nhiều đời như

dị tật hay mắc những căn bệnh hiểm nghèo bẩm sinh

Ngoài ra không thể không nhắc đến những thiệt hại về kinh tế vườn sử dụng thuốc BVTV sẽ có chi phí đầu tư ban đầu cao hơn so với vườn không sử dụng thuốc Nhiều trường hợp sử dụng thuốc BVTV nhưng lại không có hiệu quả cao, dẫn đến chi phí đầu vào cao trong khi sản phẩm thì chứa dư lượng không được thị trường chào đón, và thế là không có hiệu quả kinh tế

1.2 Vấn đề sử dụng thuốc BVTV trong canh tác Cây Cam

Cây Cam là cây ăn quả có múi cùng họ Bưởi được trồng ở nơi có khí hậu nóng ẩm, tuổi đời trung bình từ 13- 15 năm cho thu hoạch từ năm thứ 4

Trang 12

của chu kì tới cuối chu kì và đạt đỉnh năng suất vào khoảng thời gian từ năm thứ 7 đến năm thứ 12 của chu kì đem lại giá trị kinh tế cao (1)

Diện tích trồng cam được phân bố rải rác khắp các vùng miền đất nước như miền Bắc có vùng Cam Hưng Yên, Hà Giang, Hòa Bình, Tuyên Quang… miền Trung có cam Vinh(Nghệ An), Hà Tĩnh… Miền Nam có vùng đồng bằng sông Cửu Long như Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Hậu Giang…

Quá trình chăm sóc cây cam đòi hỏi sử dụng lượng phân bón và thuốc BVTV không ít, việc sử dụng phân bón và thuốc BVTV để bảo vệ mùa màng, nâng cao sản lượng cây trồng được người dân sử dụng thường xuyên

Việc bón phân và sử dụng thuốc BVTV quá nhiều làm ảnh hưởng rất lớn tới

môi trường và sức khỏe con người, do đó đã dẫn đến tình trạng lạm dụng

phân bón và thuốc BVTV diễn ra phổ biến, lượng sử dụng ngày càng nhiều

so với diện tích trồng trọt, ngoài ra, người dân chủ yếu vứt bừa bãi vỏ bao bì phân bón và thuốc BVTV tại các kênh mương, việc làm này có thể gây ô nhiễm môi trường nếu không được quan tâm đúng mức

Cao phong là 1 huyện miền núi của tỉnh Hòa Bình có vị trí địa lý, điều kiện khí hậu thổ nhưỡng thuận lợi cho việc trồng và tiêu thụ Cam Cây cam được chính thức đưa về trồng tại địa phương từ những năm 1960 với giống cam đầu tiên là loại cam Sành với sự hình thành của Nông trường Cao Phong ngày nay đổi tên thành Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên Cao Phong

Cây cam đã góp phần đáng kể phát triển kinh tế- xã hội giải quyết nhu cầu việc làm, tăng thu nhập và cải thiện sinh kế cho người dân địa phương nên thời gian gần đây diện tích trồng cam tại địa bàn huyện Cao phong đã tăng lên đáng kể

Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác Cam là một trong những biện pháp chủ đạo trong việc phòng trừ dịch hại, bảo vệ cây trồng được sử dụng phổ biến ở các nước trên thế giới và Việt Nam Tuy nhiên tình hình sâu bệnh ngày càng diễn biến phức tạp và khố lường hơn dẫn đến tình trạng người

Trang 13

dân gia tăng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu hại, do đó khó tránh khỏi tình trạng lạm dụng thuốc, sử dụng không đúng cách, gia tăng nồng

độ sẽ tạo ra nhiều rủi ro môi trường

Hiện nay Cao Phong đang nhân rộng mô hình trồng cam theo tiêu chuẩn VietGAP, tạo sự phát triển ổn định và bền vững

Trước hiện trạng đó, được sự đồng ý và hướng dẫn của TS Nguyễn Thị

Thanh An - bộ môn Quản lý Môi Trường thuộc trường Đại Học Lâm nghiệp

Việt Nam, tôi tiến hành nghiên cứu luận văn khoa học “Đánh giá rủi ro môi trường thông qua chỉ số tác động môi trường trong canh tác Cam tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình”

2 Ý nghĩa của đề tài

2.1 Ý nghĩa trong khoa học

- Khái quát được mức độ nguy hiểm của thuốc BVTV đối với sức khỏe con người và môi trường sinh thái ở huyện Cao phong, tỉnh Hòa Bình từ đó đưa ra những cảnh báo về vấn đề sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác cam và đề xuất được các giải pháp quản lý phù hợp góp phần vào việc quản lý môi trường tại địa phương

- Kết quả của đề tài khẳng định việc áp dụng phương pháp đánh giá rủi

ro môi trường thông qua chỉ số EIQ là có cơ sở, hợp lý, ít tốn kém và có thể xác định nhanh được các rủi ro môi trường so với các phương pháp truyền thống trước đây

2.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

- Đánh giá tình hình sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật trên địa bàn huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

- Đưa ra được các tác động của thuốc bảo vệ thực vật với sức khỏe con người và hệ sinh thái

- Tạo cơ sở đề xuất các biện phá quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một cách hợp lý và hiệu quả

- Nâng cao nhận thức, tuyên truyền giáo dục về bảo vê môi trường cho người dân

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

 Khái niệm môi trường: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu

tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên

để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú

Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng

xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác

Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong

Trang 15

cuộc sống, như ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo

 Khái niệm Ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi

tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường (2)

 Khái niệm Rủi ro môi trường là các mối đe dọa thực tế hoặc tiềm ẩn tác động lên các sinh vật sống và môi trường thông qua nguồn nước thải, khí thải, chất thải, hoặc gây suy giảm tài nguyên (2)

 Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ

1.1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài

• Luật Bảo vệ môi trường của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

• Thông tư 36/2011/TT-BNN&PTNT ngày 20/5/2011 về việc ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam

• Thông tư số: 03/2018/TT-BNN&PTNT ngày 9/02/2018 Về việc ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam

Trang 16

• Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT Quy định về quản lý chất thải nguy hại

• Công văn số 2975/BKHCN & MT – MT ngày 18/11/1998 của Bộ trưởng Bộ KHCN&MT về việc điều tra đánh giá các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ ở Việt Nam và ảnh hưởng của chúng đến môi trường

1.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KHÍ HẬU ĐẤT ĐAI

1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Bắc và 20o35’20” - 20o46’34” kinh Đông Cao Phong là một trong số các huyện vùng cao của tỉnh Hoà Bình, có đường ranh giới:

+ Phía Bắc giáp huyện Đà Bắc và thị xã Hoà Bình

+ Phía Nam giáp huyện Lạc Sơn

+ Phía Đông giáp huyện Kim Bôi

+ Phía Tây giáp huyện Tân Lạc

* Dân số: dân số trung bình là 40.170 người (chiếm 5,1% dân số toàn tỉnh),

mật độ dân số là 158 người/km2

(chỉ bằng 0,9 lần mật độ dân số cả tỉnh)

* Điều kiện tự nhiên: Độ cao trung bình của toàn huyện là 399 m Tuy là một

huyện vùng cao nhưng trên địa bàn huyện Cao Phong lại có ít núi cao Nhìn chung, địa hình của huyện có cấu trúc thoai thoải, độ dốc trung bình của đồi núi khoảng 10-15o, chủ yếu là đồi dạng bát úp, thấp dần theo chiều từ đông nam đến tây bắc

Trang 17

Do điều kiện tự nhiên đa dạng, phức tạp nên Cao Phong có điều kiện rất thuận lợi để hình thành nền nông nghiệp đa dạng về cây trồng và vật nuôi Tuy nhiên, địa hình đa dạng và phức tạp như vậy cũng sẽ gây khó khăn trong việc thiết kế, xây dựng và nâng cao hiệu quả sử dụng của các công trình thủy lợi và các cơ sở hạ tầng khác (7)

1.2.2 Khí hậu và thổ nhưỡng

* Khí hậu

Khí hậu Cao Phong thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều; mùa đông lạnh và khô Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 đến 24oC Lượng mưa trung bình hàng năm khá cao, dao động từ 1.800 đến 2.200 mm Tuy vậy, lượng mưa phân bố không đều trong năm, tập trung chủ yếu trong các tháng 7, 8 và 9 nên dễ gây úng lụt, ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống của nhân dân

+ Thuận lợi: khí hậu Cao Phong thuộc loại mát mẻ, lượng mưa khá và tương đối điều hòa Điều kiện khí hậu như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi với nhiều hình thức canh tác hoặc mô hình chăn nuôi khác nhau

+ Khó khăn: Hạn chế lớn nhất của khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp là nạn thiếu nước vào mùa khô, đặc biệt là ở những vùng chưa có các công trình thủy lợi Về mùa đông, bên cạnh sự khô hạn, các yếu tố khí hậu khác như: nhiệt

độ xuống thấp, sương muối, không đủ ánh sáng cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển (7)

* Thổ nhưỡng đất đai

Trên địa bàn huyện Cao Phong có nhiều loại đất khác nhau Ở vùng địa hình đồi núi có các loại đất: nâu vàng, đỏ vàng, nâu đỏ và mùn đỏ vàng Vùng địa hình thấp có các loại đất: phù sa, dốc tụ Nhìn chung, đa số các loại đất ở Cao Phong có độ phì cao, thích hợp cho việc trồng nhiều loại cây khác nhau,

nhất là cây công nghiệp, cây ăn quả cũng như phát triển chăn nuôi

Trang 18

Trong cơ cấu sử dụng đất của huyện Cao Phong, tính đến cuối năm 2002, đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ không lớn (16,4%), trong khi đó, đất chưa sử dụng chiếm

tỷ lệ khá cao (51,31%), chủ yếu là đất đồi núi Đây chính là tiềm năng cho

việc phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả và cũng đặt ra nhiệm vụ trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc cho địa phương (7)

1.2.3 Điều kiện kinh tế- xã hội

Kinh tế - xã hội có những chuyển biến tích cực Tính chung trong 15 năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm đạt 12%; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2002 đạt 1,4 tỷ đồng, năm 2016 đạt trên 29 tỷ đồng, tăng hơn 20 lần so với năm 2002 Thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh, năm 2002 đạt 3 triệu đồng, 2016 đạt 32,8 triệu đồng/người, tăng hơn

10 lần so với năm 2002 Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp (tỷ trọng nông nghiệp, lâm, ngư nghiệp năm 2002 là 72%, đến năm 2016 giảm xuống còn 46%; tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng tăng từ 18% năm 2002 lên 28% năm 2016; tỷ trọng du lịch, dịch vụ tăng từ 10% năm 2002 lên 26% năm 2016)

Diện mạo của huyện Cao Phong đã có sự thay đổi nhanh chóng, kết cấu hạ tầng- kỹ thuật và xã hội của huyện ngày càng được hoàn thiện, phát triển các khu dân cư mới được hình thành, trụ sở các cơ quan hành chính được xây dựng khang trang, hệ thống giao thông được quy hoạch xây dựng đồng bộ đã phục vụ tốt hơn đời sống của nhân dân trên địa bàn và thu hút đầu tư phát triển Bộ mặt nông thôn và thị trấn huyện lỵ thay đổi từng ngày Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao (7)

Trang 19

+ Thuốc BVTV là những hợp chất hóa học (vô cơ hoặc hữu cơ), những chế phẩm sinh học (chất kháng sinh, vi khuẩn, nấm siêu vi trùng, tuyến trùng ) những chất có nguồn gốc động vật, thực vật được sử dụng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hại của những sinh vật gây hại như côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, thú rừng, nấm, vi khuẩn, siêu vi khuẩn, rong, rêu cỏ, dại, ốc sên (pest)

+ Theo quy định tại Điều I Chương I, Điều lệ quản lý thuốc bảo vệ thực vật (ban hành kèm theo Nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày 03/06/2002 của chính phủ), ngoài tác dụng phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, thuốc BVTV bao gồm cả những chế phẩm có tác dụng điều tiết sinh trưởng thực vật, những chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt

+ Do những sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, thú rừng, nấm, vi khuẩn, siêu vi khuẩn, rong, rêu cỏ, dại ) có một tên chung là dịch hại (pest), nên ở nhiều nước thuốc BVTV có tên gọi là thuốc trừ dịch hại (Pesticide)

+ Cũng theo quy định ở nhiều nước thuốc BVTV bao gồm các chất làm khô cây hoặc các chất làm rụng lá cây; được dùng trước ngày thu hoạch cho một số cây trồng như bong vải, khoai tây để giúp thu hoạch mùa màng bằng

cơ giới có thể tiến hành thuận lợi

+ Thế giới cũng quy định thuốc bảo vệ thực vật còn bao gồm thuốc trừ ruồi, muỗi trong y tế (3)

k logram SV sống” - theo từ đ ển Bách khoa V ệt Nam Ngườ ta thường b ểu thị độ độc thông qua chỉ số LD50 - chỉ số biểu thị độ độc cấp tính của một loại thuốc BVTV đối với động vật máu nóng (đơn vị tính là mg chất độc/kg trọng lượng chuột) - là lượng chất độc gây chết 50% số cá thể chuột trong thí nghiệm LD50 càng thấp thì độ độc càng cao (4)

Trang 20

Nồng độ, l ều lư ng: Nồng độ là lượng thuốc cần dùng để pha loãng

vớ 1 đơn vị thể tích dung mô , thường là nước L ều lượng là lượng thuốc cần

áp dụng cho 1 đơn vị diện tích (3)

phẩm cây trồng được xử lý thuốc lần cuố cùng cho đến ngày thu hoạch làm thức ăn cho ngườ và vật nuô mà không tổn hạ đến sức khỏe Thờ g an cách

ly khác nhau vớ từng loạ thuốc khác nhau trên các loạ cây trồng khác nhau, tùy theo tốc độ phân hủy của thuốc (3)

1.3.2 Phân loại thuốc BVTV

- Thuốc trừ sâu (Insecticide): Gồm các chất hay hỗn hợp các chất có tác

dụng tiêu diệt, xua đuổi hay di chuyển bất kỳ loại côn trùng nào có mặt trong môi trường (AAPCO) Chúng được dùng để diệt trừ hoặc ngăn ngừa tác hại của côn trùng đến cây trồng, cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con người

Trong thuốc trừ sâu, dựa vào khả năng gây độc cho từng giai ñoạn sinh trưởng, người ta còn chia ra: thuốc trừ trứng (Ovicide ), thuốc trừ sâu non (Larvicide)

- Thuốc trừ bệnh (Fungicide): Thuốc trừ bệnh bao gồm các hợp chất có

nguồn gốc hoá học (vô cơ và hữu cơ), sinh học (vi sinh vật và các sản phẩm của chúng, nguồn gốc thực vật), có tác dụng ngăn ngừa hay diệt trừ các loài vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản (nấm ký sinh, vi khuẩn, xạ khuẩn) bằng cách phun lên bề mặt cây, xử lý giống và xử lý đất Thuốc trừ bệnh dùng để bảo vệ cây trồng trước khi bị các loài vi sinh vật gây hại tấn công tốt hơn là diệt nguồn bệnh và không có tác dụng chữa trị những bệnh do những yếu tố phi sinh vật gây ra (thời tiết, đất úng; hạn ) Thuốc trừ bệnh bao gồm

cả thuốc trừ nấm (Fungicides) và trừ vi khuẩn (Bactericides) Thường thuốc trừ vi khuẩn có khả năng trừ được cả nấm; còn thuốc trừ nấm thường ít có khả năng trừ vi khuẩn Hiện nay ở Trung quốc, mới xuất hiện một số thuốc trừ

bệnh có thể hạn chế mạnh sự phát triển của virus (Ningnanmycin )

Trang 21

- Thuốc trừ chuột (Rodenticde hay Raticide): là những hợp chất vô cơ,

hữu cơ; hoặc có nguồn gốc sinh học có hoạt tính sinh học và phương thức tác động rất khác nhau, được dùng để diệt chuột gây hại trên ruộng, trong nhà và kho tàng và các loài gậm nhấm Chúng tác động đến chuột chủ yếu bằng con đường vị độc và xông hơi (ở nơi kín đáo)

- Thuốc trừ nhện (Acricide hay Miticide): những chất được dùng chủ

yếu để trừ nhện hại cây trồng và các loài thực vật khác, đặc biệt là nhện đỏ Hầu hết thuốc trừ nhện thông dụng hiện nay đều có tác dụng tiếp xúc Đại đa

số thuốc trong nhóm là những thuốc đặc hiệu có tác dụng diệt nhện, có khả năng chọn lọc cao, ít gây hại cho côn trùng có ích và thiên địch Nhiều loại trong chúng còn có tác dụng trừ trứng và nhện mới nở; một số khác còn diệt nhện trưởng thành

Nhiều loại thuốc trừ nhện có thời gian hữu hiệu dài, ít độc với động vật máu nóng Một số thuốc trừ nhện nhưng cũng có tác dụng diệt sâu Một số thuốc trừ sâu, trừ nấm cũng có tác dụng trừ nhện

- Thuốc trừ tuyến trùng (Nematocide): các chất xông hơi và nội hấp

được dùng để xử lý đất trước tiên trừ tuyến trùng rễ cây trồng, trong đất, hạt giống và cả trong cây

- Thuốc trừ cỏ (Herbicide): các chất được dùng để trừ các loài thực vật

cản trở sự sinh trưởng cây trồng, các loài thực vật mọc hoang dại, trên đồng ruộng, quanh các công trình kiến trúc, sân bay, đường sắt và gồm cả các thuốc trừ rong rêu trên ruộng, kênh mương Đây là nhóm thuốc dễ gây hại cho cây trồng nhất Vì vậy khi dùng các thuốc trong nhóm này cần đặc biệt thận trọng (3)

1.3.2.2 Dựa vào con đường xâm nhập (hay cách tác động của thuốc) đến

dịch hại: tiếp xúc, vị độc, xông hơi, thấm sâu và nội hấp (3)

1.3.2.3 Phân loại theo nguồn gốc

Trang 22

- Thuốc có nguồn gốc thảo mộc: bao gồm các thuốc BVTV làm từ cây

cỏ hay các sản phẩm chiết xuất từ cây cỏ có khả năng tiêu diệt dịch hại

- Thuốc có nguồn gốc sinh học: gồm các loài sinh vật (các loài ký sinh

thiên địch), các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật (như các loài kháng sinh )

có khả năng tiêu diệt dịch hại

- Thuốc có nguồn gốc vô cơ: bao gồm các hợp chất vô cơ (như dung

dịch boocđô, lưu huỳnh và lưu huỳnh vôi ) có khả năng tiêu diệt dịch hại

- Thuốc có nguồn gốc hữu cơ: Gồm các hợp chất hữu cơ tổng hợp có

khả năng tiêu diệt dịch hại (như các hợp chất clo hữu cơ, lân hữu cơ )

Gần đây, do nhiều dịch hại đã hình thành tính chống nhiều loại thuốc

có cùng một cơ chế, nên người ta đã phân loại theo cơ chế tác động của các loại thuốc (như thuốc kìm hãm men cholinesterase, GABA, kìm hãm hô hấp ) hay theo phương thức tác động (thuốc điều khiển sinh trưởng côn trùng, thuốc triệt sản, chất dẫn dụ, chất xua đuổi hay chất gây ngán)

Phân chia theo các dạng thuốc (thuốc bột, thuốc nước…) hay phương pháp sử dụng (thuốc dùng để phun lên cây, thuốc xử lý giống )

Ngoài cách phân loại chủ yếu trên, tuỳ mục đích nghiên cứu và sử dụng, người ta còn phân loại thuốc BVTV theo nhiều cách khác nữa Không

có sự phân loại thuốc BVTV nào mang tính tuyệt đối, vì một loại thuốc có thể trừ được nhiều loại dịch hại khác nhau, có khả năng xâm nhập vào cơ thể dịch hại theo nhiều con đường khác nhau, có cùng lúc nhiều cơ chế tác động khác nhau; trong thành phần của thuốc có các nhóm hay nguyên tố gây độc khác nhau nên các thuốc có thể cùng lúc xếp vào nhiều nhóm khác nhau (3)

1.3.2.4 Phân loại theo tính độc

Các nhà sản xuất thuốc BVTV luôn ghi rõ độc tính của từng loại Đơn vị đo lường được biểu thị dưới dạng LD50 (Lethal Dose 50 là liều lượng chất độc gây chết 50% số cá thể dùng trong nghiên cứu) và tính

bằng mg/kg cơ thể Các loại thuốc BVTV được chia mức độ độc như sau:

Trang 23

Vạch màu đỏ trờn nhón là thuốc độc nhóm I, rất nguy hiểm

Vạch màu vàng là thuốc độc nhóm II, cảnh báo có hại

Vạch màu xanh da trời là thuốc độc nhóm III, lưu ý cẩn thận

Vạch màu xanh lá cây là thuốc độc nhóm IV, ít độc

Nhà sản xuất dùng kí hiệu đầu lâu gạch chéo là vô cùng nguy hiểm, rất độc, có thể gây chết người

Bảng 1.1:Phân loại thuốc BVTV theo tính độc

Mức độ độc

LD50 với chuột (mg/kg)

Thuốc rắn Thuốc nước Thuốc rắn Thuốc nước

Nhóm III 50 - 500 200 - 2000 100 - 1000 400 - 4000 Nhóm IV > 500 > 2000 > 1000 > 4000

(Nguồn: Cách phân nhóm độc của tổ chức WHO) (3)

Nói chung, thuốc BVTV có LD50 thấp thì có độ độc cao và ngược lại Cho nên, trong khi sử dụng nhiều loại có cùng tác dụng như nhau, nên chọn loại thuốc có LD50 cao, vì an toàn hơn

1.4 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN, TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC BVTV TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

Trang 24

+ Giai đoạn 2 (Từ đầu thế kỷ 20 đến năm 1960): Các thuốc trừ dịch hại hữu cơ ra đời, làm thay đổi vai trò của biện pháp hoá học trong sản xuất nông nghiệp Ceresan - thuốc trừ nấm thuỷ ngân hữu cơ đầu tiên (1913); các thuốc trừ nấm lưu huỳnh (1940); rồi đến các nhóm khác Thuốc trừ cỏ còn xuất hiện muộn hơn (những năm 40 của thế kỷ thế kỷ 20) Việc phát hiện khả năng diệt côn trùng của DDT (năm 1939) đã mở ra cuộc cách mạng của biện pháp hoá học BVTV Hàng loạt các thuốc trừ sâu ra đời sau đó: clo hữu cơ (những năm 1940-1950); các thuốc lân hữu cơ, các thuốc cacbamat (1945-1950) Lúc này người ta cho rằng: Mọi vấn đề BVTV đều có thể giải quyết bằng thuốc hoá học Biện pháp hoá học bị khai thác ở mức tối đa, thậm chí người ta còn hy vọng, nhờ thuốc hoá học để loại trừ hẳn một loài dịch hại trong một vùng rộng lớn

Từ cuối những năm 1950, những hậu quả xấu của thuốc BVTV gây ra cho con người, môi sinh và môi trường được phát hiện Khái niệm phòng trừ tổng hợp sâu bệnh ra đời

+ Giai đoạn 3 (những năm 1960- 1980): Việc lạm dụng thuốc BVTV ñã

ñể lại những hậu quả rất xấu cho môi sinh môi trường dẫn ñến tình trạng, nhiều chương trình phòng chống dịch hại của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế dựa vào thuốc hoá học ñã bị sụp đổ; tư tưởng sợ hãi, không dám dùng thuốc BVTV xuất hiện; thậm chí có người cho rằng, cần loại bỏ không dùng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp

+ Giai đoạn 4 (từ những năm 1980 đến nay): Vấn đề bảo vệ môi trường được quan tâm hơn bao giờ hết Nhiều loại thuốc BVTV mới, trong đó có nhiều thuốc trừ sâu bệnh sinh học, có hiệu quả cao với dịch hại, nhưng an toàn với môi trường ra đời Vai trò của biện pháp hoá học đã được thừa nhận

Tư tưởng sợ thuốc BVTV cũng bớt dần Quan điểm phòng trừ tổng hợp được phổ biến rộng rãi

Trang 25

Việc thành lập Tổ Hoá BVTV (1/1956) của Viện Khảo cứu trồng trọt

đã đánh dấu sự ra đời của ngành Hoá BVTV ở Việt nam Thuốc BVTV được dùng lần đầu trong sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc là trừ sâu gai, sâu cuốn

lá lớn bùng phát ở Hưng yên (vụ đông xuân 1956- 1957) Ở miền Nam, thuốc

BVTV được sử dụng từ 1962

+ Giai đoạn từ 1957-1990:

Thời kỳ bao cấp việc nhập khẩu, quản lý và phân phối thuốc do nhà nước độc quyền thực hiện Nhà nước nhập rồi trực tiếp phân phối thuốc cho các tỉnh theo giá bao cấp Bằng mạng lưới vật tư nông nghiệp địa phương, thuốc BVTV được phân phối thẳng xuống HTX nông nghiệp Ban Quản trị HTX quản lý và giao cho tổ BVTV hướng dẫn xã viên phòng trị dịch hại trên đồng ruộng Lượng thuốc BVTV dùng không nhiều, khoảng 15000 tấn thành phẩm/ năm với khoảng 20 chủng loại thuốc trừ sâu (chủ yếu) và thuốc trừ bệnh Đa phần là các thuốc có độ tồn lưu lâu trong môi trường hay có độ giả thuốc kém chất lượng không có điều kiện phát triển Song tình trạng phân phối thuốc không kịp thời đáp ứng không đúng chủng loại, nơi thừa, nơi thiếu, gây tình trạng khan hiếm giả tạo, dẫn đến hiệu quả sử dụng thuốc thấp Mặt khác, người nông dân không có điều kiện lựa chọn thuốc, thiếu tính chủ động và ỷ lại nhà nước

Tuy lượng thuốc dùng ít, nhưng tình trạng lạm dụng thuốc BVTV vẫn nảy sinh, để phòng trừ sâu bệnh, người ta chỉ biết dựa vào thuốc BVTV

Trang 26

Thuốc dùng tràn lan, phun phòng là phổ biến, khuynh hướng phun sớm, phun định kỳ ra đời, thậm chí dùng thuốc cả vào những thời điểm không cần thiết; tình trạng dùng thuốc sai kỹ thuật nảy sinh khắp nơi; thậm chí người ta còn hy vọng dùng thuốc BVTV để loại trừ hẳn một loài dịch hại ra khỏi một vùng rộng lớn Thuốc đã để lại những hậu quả rất xấu đối với môi trường và sức khoẻ con người

Khi nhận ra những hậu quả của thuốc BVTV, cộng với tuyên truyền quá mức về tác hại của chúng đã gây nên tâm lý sợ thuốc Từ cuối những năm

80 của thế kỷ 20, đã có nhiều ý kiến đề xuất nên hạn chế, thậm chí loại bỏ hẳn thuốc BVTV; dùng biện pháp sinh học để thay thế biện pháp hoá học trong phòng trừ dịch hại nông nghiệp

+ Giai đoạn từ 1990 đến nay:

Thị trường thuốc BVTV đã thay đổi cơ bản, nền kinh tế từ tập trung bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường Năm thành phần kinh tế đều được phép kinh doanh thuốc BVTV Nguồn hàng phong phú, nhiều chủng loại được cung ứng kịp thời, nông dân có điều kiện lựa chọn thuốc, giá cả khá ổn định có lợi cho nông dân Lượng thuốc BVTV tiêu thụ qua các năm đều tăng Nhiều loại thuốc mới và các dạng thuốc mới, hiệu quả hơn, an toàn hơn với môi trường được nhập Một mạng lưới phân phối thuốc BVTV rộng khắp cả nước đã hình thành, việc cung ứng thuốc đến nông dân rất thuận lợi Công tác quản lý thuốc BVTV được chú ý đặc biệt và đạt được hiệu quả khích lệ

Nhưng do nhiều nguồn hàng, mạng lưới lưu thông quá rộng đã gây khó cho công tác quản lý; quá nhiều tên thuốc đẩy người sử dụng khó lựa chọn được thuốc tốt và việc hướng dẫn kỹ thuật dùng thuốc cũng gặp không ít khó khăn Tình trạng lạm dụng thuốc, tư tưởng ỷ lại biện pháp hoá học đã để lại những hậu quả xấu cho sản xuất và sức khoẻ con người Ngược lại, có nhiều người bài xích” thuốc BVTV, tìm cách hạn chế, thậm chí đòi loại bỏ thuốc

Trang 27

BVTV trong sản xuất nông nghiệp và tìm cách thay thế bằng các biện pháp phòng trừ khác

Tuy vậy, vai trò của biện pháp hoá học trong sản xuất nông nghiệp vẫn được thừa nhận để phát huy hiệu quả của thuốc BVTV và sử dụng chúng an toàn, phòng trừ tổng hợp là con đường tất yếu phải đến Phải phối hợp hài hoà các biện pháp trong hệ thống phòng trừ tổng hợp; sử dụng thuốc BVTV là biện pháp cuối cùng, khi các biện pháp phòng trừ khác sử dụng không hiệu quả

Trong thời gian này, mối quan hệ quốc tế giữa nước ta với các nước, với các tổ chức quốc tế và các tổ chức trong khu vực vốn có nay càng được đẩy mạnh và phát huy tác dụng, giúp chúng ta nhanh chóng hội nhập được với trào lưu chung của thế giới (3)

Ô nhiễm đầu vào nông nghiệp đã tăng lên đáng kể ở Việt Nam trong hai thập kỷ qua cùng với việc mở rộng và thâm canh cây trồng Sản lượng cây trồng tăng mạnh trong suốt giai đoạn này do sự gia tăng không gian của việc sản xuất trồng trọt và thâm canh Trong khi đất trồng lúa, sắn, cà phê và cao

su đã tăng đáng kể kể từ những năm 90, diện tích trồng lúa đã tăng lên một cách vừa phải và gần đây nhất đã bắt đầu giảm

Sử dụng thuốc trừ sâu ở Việt Nam được ước tính đã tăng khoảng 3-5 lần trong khoảng 25 năm, với việc nhập khẩu các thành phần hoạt chất thuốc trừ sâu từ 20.000 đến 30.000 tấn/năm trong những năm 1990 đến gần 100.000 tấn/năm vào năm 2015 Mức độ thành phần hoạt chất trên mỗi héc-ta, tương

tự, có thể tăng gấp ba lần trong giai đoạn này

Việc lạm dụng thuốc trừ sâu cũng lan tràn ở một số khu vực của Việt Nam, nơi mà các nông trang đã nhanh chóng sử dụng thuốc trừ sâu ở mức tối thiểu cho tới mức

Trang 28

khá là cao (so với khuyến cáo), việc sử dụng thuốc trừ sâu đã tăng lên đáng

kể, kể từ khi nhập khẩu được hợp pháp hóa vào năm 1986 mặc dù đã có hơn một thập kỷ nỗ lực nhằm làm giảm xu hướng này

Chỉ có một số ít người bán thuốc trừ sâu, các đại lý khuyến nông và nông dân hiểu đúng về thuốc trừ sâu và những nỗ lực để thúc đẩy quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) đã không đạt được mong đợi Nông dân tiếp tục bỏ qua các hướng dẫn về liều lượng, pha trộn, thời gian và cách thức áp dụng

Nông dân cũng thường xuyên bỏ qua các hướng dẫn về việc vứt bỏ các dụng cụ chứa thuốc trừ sâu đã qua sử dụng, hoặc việc xử lý các thiết bị ứng dụng - đôi khi vì thiếu các lựa chọn tốt hơn Các thùng chứa thuốc trừ sâu thường bị thải ra, cùng với các hóa chất còn sót lại của chúng, trực tiếp vào các cánh đồng, kênh rạch và suối, như

ở đồng bằng Sông Hồng và Sông Cửu Long

Một mối quan ngại song song với việc sử dụng thuốc trừ sâu quá mức

và không đúng cách ở Việt Nam là sự độc hại của hỗn hợp thuốc trừ sâu, người nông dân Việt Nam có xu hướng sử dụng các loại thuốc trừ sâu không đắt tiền, ít tốn kém, có thể được sản xuất hoặc pha trộn trong nước, và có tính độc hại hơn và bền bỉ hơn các loại khác Việc kiểm tra thương lái, người bán

và người nông dân thực hiện trong năm 2010-2011 cho thấy khoảng 20% nông dân đang sử dụng thuốc trừ sâu vi phạm các quy định hiện hành (sử dụng thuốc trừ sâu bất hợp pháp nhập khẩu, cấm hoặc thậm chí giả mạo) Nhìn chung, việc thực thi và kiểm soát sử dụng hóa chất độc hại nhìn chung còn yếu (5)

1.5 ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BVTV ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ HỆ SINH THÁI

Hóa chất BVTV khi được phun hay rải trên đối tượng một phần sẽ được đưa vào cơ thể động, thực vật Qua quá trình hấp thu, sinh trưởng, phát triển hay qua chuỗi thức ăn, hóa chất BVTV sẽ được tích tụ trong nông phẩm

Trang 29

hay tích lũy, khuếch đại sinh học Một phần khác sẽ rơi vãi ngoài đối tượng,

sẽ bay hơi vào môi trường hay bị cuốn trôi theo nước mưa, đi vào môi trường đất, nước, không khí gây ô nhiễm môi trường:

Môi trường thành phần như đất, nước, không khí là một hệ thống hoàn chỉnh có sự tương tác và tương hỗ lẫn nhau Sự ô nhiễm của môi trường này

sẽ tác động đến môi trường xung quanh và ngược lại

Hình 1.1:Sơ đồ của thuốc BVTV đi vào môi trường và con người

1.5.1 Ảnh hưởng tới môi trường đất

Đất canh tác là nơi tập trung nhiều dư lượng hóa chất BVTV Hóa chất BVTV đi vào trong đất do các nguồn như phun xử lý đất, các hạt thuốc BVTV rơi vào đất, theo mưa lũ, theo xác sinh vật vào đất Theo kết quả nghiên cứu thì phun thuốc cho cây trồng có tới 50% số thuốc rơi xuống đất, ngoài ra còn có một số thuốc rải trực tiếp vào đất Khi vào trong đất một phần thuốc trong đất được cây hấp thụ, phần còn lại thuốc được keo đất giữ lại Thuốc tồn tại trong đất dần dần được phân giải qua hoạt động sinh học của đất và qua các tác động của các yếu tố lý, hóa Tuy nhiên tốc độ phân giải

Trang 30

chậm nếu thuốc tồn tại trong môi trường đất với lượng lớn, nhất là trong đất

có hoạt tính sinh học kém Những khu vực chôn lấp hóa chất BVTV thì tốc độ

phân giải còn chậm hơn nhiều

Lượng thuốc BVTV, đặc biệt là nhóm clo tồn tại quá lớn trong đất mà lại khó phân hủy nên chúng có thể tồn tại trong đất gây hại cho thực vật trong nhiều năm Sau một khoảng thời gian nó sinh ra một hợp chất mới, thường có tính độc cao hơn bản thân nó (6)

Bảng 1.2:Thời gian tồn lưu của hóa chất BVTV trong đất

lưu Thuốc diệt côn trùng Chlorinalted (Vd: DDT, chlordane,

Thuốc diệt cỏ Triazin (Vd: Amiben, simazine) 1-2 năm Thuốc diệt cỏ Benzoic (Amiben, dicamba) 2-12 tháng Thuốc diệt cỏ Urea (Vd: Monuron, diuron) 2-10 tháng

Thuốc diệt côn trùng Organophosphate (Vd: Malathion,

Thuốc diệt cỏ Carbamate (Vd: barban, CIPC) 2-8 tuần

Nguồn: Tổng cục môi trường năm 2015

1.5.2 Ô nhiễm môi trường nước

Theo chu trình tuần hoàn, hóa chất BVTV tồn tại trong môi trường đất

sẽ rò rỉ ra sông ngồi theo các mạch nước ngầm hay do quá trình rửa trôi, xói mòn khiến hóa chất BVTV phát tán ra các thành phần môi trường nước Mặt khác, khi sử dụng thuốc BVTV, nước có thể bị nhiễm thuốc trừ sâu nặng nề

Trang 31

do người sử dụng đổ hóa chất dư thừa, chai lọ chứa hóa chất, nước súc rửa xuống thủy, vực, điều này có ý nghĩa đặc biệt nghiêm trọng khi các nông trường vườn tược lớn nằm kề sông bị xịt thuốc xuống ao hồ Hóa chất BVTV vào trong nước bằng nhiều cách: cuốn trôi từ những cánh đồng có phun thuốc xuống ao, hồ, sông, hoặc do đổ hóa chất BVTV thừa sau khi đã sử dụng, phun thuốc trực tiếp xuống những ruộng lúa nước để trừ cỏ, trừ sâu, trừ bệnh Ô nhiễm nguồn nước do hóa chất BVTV cũng có nhiều hình thức khác nhau, từ rửa trôi thuốc từ các cánh đồng có chứa hóa chất BVTV, người sử dụng đổ hóa chất BVTV thừa, rửa dụng cụ ở các kênh mương hoặc do nuớc mưa chảy tràn từ các kho hóa chất BVTV tồn lưu

Thuốc trừ sâu trong đất, dưới tác dụng của mưa và rửa trôi sẽ tích lũy

và lắng đọng trong lớp bùn đáy ở sông, ao, hồ,…sẽ làm ô nhiễm nguồn nước Thuốc trừ sâu có thể phát hiện trong các giếng, ao, hồ, sông, suối cách nơi sử dụng thuốc trừ sâu vài km Mặc dù độ hoà tan của hoá chất BVTV tương đối thấp, song chúng cũng bị rửa trôi vào nước tưới tiêu, gây ô nhiễm nước bề mặt, nước ngầm và nước vùng cửa sông ven biển nơi nước tưới tiêu đổ vào (6)

1.5.3 Ô nhiễm môi trường không khí

Khi phun thuốc BVTV, không khí bị ô nhiễm dưới dạng bụi, hơi Dưới tác động của ánh sáng, nhiệt, gió… và tính chất hóa học, thuốc BVTV có thể lan truyền trong không khí Lượng tồn trong không khí sẽ khuếch tán, có thể

di chuyển xa và lắng đọng vào nguồn nước mặt ở nơi khác gây ô nhiễm môi trường

Rất nhiều loại hoá chất BVTV có khả năng bay hơi và thăng hoa, ngay

cả hóa chất có khả năng bay hơi ít như DDT cũng có thể bay hơi vào không khí, đặc biệt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm nó có thể vận chuyển đến những khoảng cách xa, đóng góp vào việc ô nhiễm môi trường không khí

Trang 32

1.5.4 Ảnh hưởng của hóa chất BVTV lên con người và động vật

Ngoài tác dụng diệt dịch bệnh, các loại cỏ và sâu bệnh phá hoại mùa màng, dư lượng hóa chất BVTV cũng đã gây nên các vụ ngộ độc cấp tính và mãn tính cho người tiếp xúc và sử dụng chúng, và cũng là nguyên nhân sâu xa dấn đến những căn bệnh hiểm nghèo

Các độc tố trong hóa chất BVTV xâm nhập vào rau quả, cây lương thực, thức ăn gia súc và động vật sống trong nước rồi xâm nhập vào các loại thực phẩm, thức uống như: thịt cá, sữa, trứng,… Một số loại hóa chất BVTV

và hợp chất của chúng qua xét nghiệm cho thấy có thể gây quái thai và bệnh ung thư cho con người và gia súc Con đường lây nhiễm độc chủ yếu là qua

ăn, uống (tiêu hóa) 97,3%, qua da và hô hấp chỉ chiếm 1,9% và 1,8% Thuốc gây độc chủ yếu là Wolfatox (77,3%), sau đó là 666 (14,7%) và DDT (8%)

1.6 ĐẶC ĐIỂM CÂY CAM

Cam có tên khoa học là Citrus sinensis L., là một trái thuộc họ Cam (Rutaceae), có nguồn gốc bắt nguồn từ khu vực Đông Nam Á, hiện nay vẫn

chưa xác định được rõ quốc gia bắt nguồn của loài cam, xong chúng được tìm thấy chủ yếu là từ các vùng Ấn Độ, Việt Nam và từ miền Nam Trung Quốc (1)

Cam là một loại trái được trồng và sử dùng rất nhiều trong đời sống, là một loại trái cây chứa nhiều tinh dầu mang mùi thơm đặc trưng, chứa nhiều vitamin C, có khả năng giải khát, cung cấp cho cơ thể một hàm lượng viatmin

C lớn Ngoài ra, Cam còn có một số tác dụng chữa bệnh rất hiệu quả Hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều các giống cam nổi tiếng như cam sành, cam

vinh, cam cao phong…

1.6.1 Đặc điểm sinh vật học của cây Cam

Cam thuộc loại cây có múi, thân gỗ, mọc thành bụi, thân không có hoặc

có rất ít gai, khi còn non thân có màu xanh sẫm sau đó chuyển dần sang màu xanh xám

Trang 33

Lá mọc so le, phiến lá dài, có màu xanh sẫm, có chiều dài từ 5-10 cm, chiều rộng từ 2,5-5 cm

Hoa thường mọc chủ yếu ở khu vực nách lá, mọc đơn độc hoặc mọc thành cụm chùm từ 2-6 hoa, hoa có màu trắng đặc trưng của loài Cây thường

ra hoa vào từ tháng 1-2

Quả có dạng hình cầu, có đường kính từ 5-8cm, khi chín có màu vàng cam, vỏ quả có chứa nhiều tinh dầu (1)

1.6.2 Cách trồng và chăm sóc Cam

- Thời vụ: vụ trồng cam thích hợp nhất là vào mùa xuân từ 2-4 và vào

mùa thu từ tháng 8-10 Cam là loại cây thuộc khí hậu của vùng Á nhiệt đới, nhiệt đới thích hợp trồng ở ngưỡng nhiệt độ từ 23-29o

C

- Đất đai: Có thể trồng Cam trên nhiều loại đất khác nhau, có khả năng

thoát nước tốt, tầng canh tác của đất dày từ 80- 100cm, pH phổ biến từ 5-7, có thể trồng cam trên một số loại đất như đất phù sa ven sông, đất bồi tụ, các loại đất rừng mới khai phá, hoặc các loại đất phù sa cổ

- Mật độ: Mật độ trồng cây cam thích hợp đối với cây ghép trồng trên

gốc được gieo hạt là 400 cây/ha Khoảng cách trồng cây là 4m x 4,5m Đối với loại cam chiết ghép mật độ trồng cây phù hợp là 1000 cây/ha, và khoảng cách trồng là 3mx3m

- Bón phân: Trước khi trồng Cam bón lót cho cây từ 20-30kg phân

chuồng hoai mục+ 0,5-0,7 kg super lân +0,3-0,5 kg vôi bột Khi cây từ 1-3 tuổi, bón thúc cho cây 5-20kg phân hoai mục+0,1-0,2 kg đạm ure+ 0,2-0,5 kg super lân+ 0,1-0,2 kg phân kali, chia làm 4 đợt trong năm bón vào các tháng 1,2, 5,7

Từ năm thứ 4 trở đi: Bón cơ bản cho cây vào tháng 8-tháng 11 bằng 30kg phân hữu cơ hoai mục bón kết hợp với 0,5-1,0 kg super lân và 0,5-1kg vôi

Trang 34

20-Bón đón hoa, cành xuân cho cây từ 15/1-15/3 bằng 0,5-0,8kg phân đạm ure kết hợp với 0,1-0,3 kg kali

Bón thúc tăng trọng cho quả bằng 0,5-0,8kg phân đạm ure kết hợp với 0,1-0,3kg phân kali vào tháng 5

Bón thúc cho cành và tăng trọng cho quả bằng 0,5-0,8 đạm ure cùng với phân 0,1-0,3 kg kali vào tháng 7-8

Các năm về sau, tùy thuộc vào từng loại cây, chế độ đất đai khác nhau

mà có chế độ bón phân cân đối, hợp lí

Khi bón phân cho cây, cần kết hợp xơi xáo để là tăng độ thông thoáng của đất, dọn cỏ cho khu vực gốc cây

- Ánh sáng và nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp là 18-35 độ C Ánh sáng

là một trong những điều kiện quan trọng nhất đối với cây cam Nó quyết định

chất lượng quả cam ngọt, giòn và thơm

- Sâu bệnh hại và cách phòng trừ:

+Sâu bùa vẽ: Là loại sâu chuyên gây hại lá làm ảnh hưởng đến chồi

non của cây, đến khi cây ra hoa, quả thường bị rụng Cần phòng trừ sâu bằng cách dùng thuốc bảo vệ thực vật để phun cho cây kết hợp cùng với dầu khoáng để tăng hiệu quả diệt sâu bùa vẽ Bọ cánh cứng, sâu đục thân, đục cành, đục gốc Biểu hiện đặc trưng là sẽ thấy những chất nâu vàng đục trên thân cây Cần diệt trừ bằng cách bắt xén tóc diệt trừ và loại bỏ cành héo Bọ xít, rầy, rệp: Khi thấy hiện tượng cây xuất hiện quá nhiều rệp, bọ xít cần phun thuốc Bi58 0,05-0,1% cho cây để diệt chúng, tránh để rệp lan ra những cây xung quanh, thấy cành cam bị sâu bệnh hại quá nhiều cần cắt bỏ ngay, có thể

sử dụng một số loại thuốc: Sherpa 25 EC; Trebon 2,5 EC; Pegasus 500 EC; Actara 25 WG; Danitol 10 EC…

+ Bệnh loét sẹo, đốm lá thân và cành lớn, thân quả: Hại chủ yếu ở thời

kỳ cây bắt đầu cho quả: có thể Rhidomil MZ 73 WP; Score 250 EC; thuốc gốc đồng…để phòng trừ cho cây

Trang 35

Tốt nhất nên sử dụng các biện pháp canh tác như cắt bỏ các cành lá, hoặc sử dụng các loại thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học để đảm bảo an toàn cho môi trường và người sử dụng

- Thu hoạch: Khi quả bắt đầu chuyển sang màu vàng, có thể tiến hành

thu hoạch quả, tốt nhất là nên thu hoạch quả vào lúc trời râm mát Khi thu hoạch có thể phân loại quả để nâng cao giá thành và chất lượng quả (1)

1.6.3 Sản xuất cam theo quy trình VietGAP

VietGAP(là cụm từ viết tắt của: Vietnamese Good Agricultural Practices-có nghĩa là Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam) là những nguyên tắc, trình tự, thủ tục, quy định hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, sơ chế đảm bảo sản phẩm an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khoẻ người sản xuất và người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm (8)

Đối với sản phẩm trồng trọt, từ năm 2008 đến nay Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành các Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) cho rau, quả tươi; chè búp tươi, lúa và cà phê

1.6.3.1 Những quy định chung của quy trình sản xuất Cam theo VietGAP

Theo dự án AFACI - GAP – Vietnam của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (8) thì:

Áp dụng tiêu chuẩn VietGAP là nhằm đảm bảo các yêu cầu, tiêu chuẩn nghiêm nghặt về chất lượng sản phẩm và an toàn vệ sinh thực phẩm

Các tổ chức, doanh nghiệp muốn đạt được chứng nhận VietGAP cần đáp ứng đầy đủ 4 tiêu chí sau:

Trang 36

 Truy tìm nguồn gốc sản phẩm; tiêu chuẩn này cho phép xác định được những vấn đề từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm

Cụ thể là việc quy định rõ ràng những yếu tố chính trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong canh tác Cam nói riêng là: Đánh giá và lựa chọn vùng sản xuất; giống và gốc ghép; quản lý đất và giá thể; phân bón và chất phụ gia; nước tưới; hóa chất (bao gồm cả thuốc bảo vệ thực vật); thu hoạch và xử lý sau thu hoạch; quản lý và xử lý chất thải; an toàn lao động; ghi chép, lưu trử hồ sơ, truy nguyên nguồn gốc và thu hồi sản phẩm; kiểm tra nội bộ; khiếu nại và giải quyết khiếu nại

1.6.3.2 Hiện trạng sản xuất Cam theo quy trình VietGAP trên cả nước và tại địa phương

* Trên cả nước

Hiện nay trên cả nước đã có nhiều nơi trồng cam được áp dụng quy trình VietGAP từ bắc bộ, Bắc trung bộ và nam bộ

Hiện khu vực Bắc Trung Bộ đã phát triển được khoảng 16.279ha cây

ăn quả có múi (cam, bưởi, quýt) Theo Cục Trồng trọt, toàn vùng Bắc Trung

Bộ đang có hơn 9.800ha cam phát triển tốt, tập trung chủ yếu ở 2 tỉnh Nghệ

An và Hà Tĩnh (9) Những năm gần đây diện tích cam trên cho năng suất, hiệu quả kinh tế khá cao, thương hiệu một số loại đứng” được trên thị trường trong và ngoài vùng, thậm chí ở các thị trường khó tính” như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh Điển hình là cam Vinh, cam Vân Du, Sông Con (Nghệ An); cam Khe Mây, Thượng Lộc, cam bù Hương Sơn - Hà Tĩnh Đối với cây cam, quýt, sản xuất tập trung trên 70% diện tích gắn với ngành công nghiệp chế biến; 100% sản phẩm vùng tập trung đảm bảo ATTP

* Tại địa phương

Nhằm phát huy thế mạnh sẵn có của địa phương, tạo ra sản phẩm mang tính hàng hóa, nâng cao thu nhập cho người dân, tỉnh Hòa Bình đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển, mở rộng diện tích cây ăn quả

Trang 37

có múi gắn với phát triển kinh tế đồi rừng, trong đó cây có múi được xác định là cây trồng chủ lực, được tỉnh hỗ trợ phát triển Đến nay, một số cây

ăn quả có múi đã bước đầu cho thấy tiềm năng, hiệu quả kinh tế, thích ứng trên vùng đất vườn đồi Đặc biệt, tại các vùng sản xuất cam, bưởi tập trung, ứng dụng công nghệ cao, nhiều gia đình đã thoát khỏi nghèo, vươn lên làm giàu và không ít gia đình trở thành tỷ phú ngay trên đồng đất quê hương Bên cạnh đó, các sản phẩm như Cam Cao Phong được Cục Sở hữu Trí tuệ cấp Giấy chứng nhận Chỉ dẫn địa lý; Cam Lạc Thủy được đón nhận bảo hộ nhãn hiệu tập thể; Bưởi đỏ Tân Lạc được đón nhận bảo hộ nhãn hiệu tập thể

- đây là đòn bẩy” rất quan trọng giúp sản phẩm cây ăn quả có múi của tỉnh

Hòa Bình quảng bá thương hiệu, mở rộng thị trường

Theo thống kê, hiện, toàn huyện Cao Phong có 3.015,6 ha cây ăn quả

có múi, trong đó, diện tích cây thời kỳ kiến thiết cơ bản đạt 1.671 ha, diện tích cây thời kỳ kinh doanh đạt 1.344,6 ha Sản lượng cây ăn quả có múi

niên vụ 2018 - 2019 của toàn huyện dự kiến đạt trên 36.000 tấn

Thực hiện định hướng phát triển thương hiệu cam Cao Phong, huyện

đã chủ động triển khai mô hình trồng cam theo tiêu chuẩn VietGAP Trong

đó đã điều tra quy hoạch khoanh vùng sản xuất; mở hàng trăm lớp tập huấn

kỹ thuật trồng, chăm sóc cam, đặc biệt là việc lựa chọn giống, cách sử dụng phân bón hợp lý, đúng quy trình; tổ chức tuyên truyền, lựa chọn hộ dân tham gia mô hình, tập huấn đào tạo kỹ thuật, cung cấp nhận thức chung về sản xuất VietGAP Huyện đã phân công cán bộ thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát sản xuất cam theo tiêu chuẩn VietGAP, kiên quyết không cấp giấy chứng nhận và loại ra khỏi nhóm hộ những hộ dân không tuân thủ các quy trình sản xuất Cho đến nay, người dân trồng cam ở huyện Cao Phong

đã nhận thức được tầm quan trọng của trồng cam theo tiêu chuẩn VietGAP Người dân quan tâm đến chất lượng làm đất, nguồn nước, sử dụng chế phẩm sinh học chăm sóc cây trồng để cam có giá trị dinh dưỡng cao, thực hiện

Trang 38

nghiêm túc các quy trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để sản phẩm khi bán

ra thị trường không ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng

Bắt đầu triển khai mô hình sản xuất cam theo tiêu chuẩn VietGAP từ năm 2014, Đến nay, toàn huyện đã có 322 hộ với 409,5 ha cam trồng theo tiêu chuẩn VietGAP và 100% diện tích trên được sử dụng chế phẩm sinh học an toàn và thân thiện với môi trường tại thị trấn Cao Phong, các xã: Thu Phong, Bắc Phong, Dũng Phong, Nam Phong, Tân Phong, Yên Lập Năm

2016, sản lượng theo tiêu chuẩn VietGAP đạt 3.000 tấn (10)

Sau khi được trao chứng nhận VietGAP, chính quyền và người dân Cao Phong đang tiếp tục hoàn thiện việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, đăng ký mã

số, mã vạch và in bao bì nhãn mác nhằm xây dựng, định vị và bảo vệ thương hiệu cam Cao Phong trên thị trường Đây cũng là yếu tố cần có để sản phẩm cam VietGAP đến tận tay người tiêu dùng một cách rõ ràng, minh bạch

1.7 CHỈ SỐ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG EIQ

Để lượng hóa được những rủi ro do thuốc BVTV gây ra, các nhà khoa học của đại học Cornell (Mỹ) năm 1992 đã xây dựng và phát triển Chỉ số tác động môi trường - EIQ (Environmental Impact Quotient)

EIQ là một chỉ số dùng để lượng hóa rủi ro tiềm năng môi trường và nguy cơ của thuốc BVTV đối với con người và hệ sinh thái môi trường EIQ được dùng phổ biến trong đánh giá rủi ro thuốc BVTV vì nó phản ánh sự cải thiện cả về lượng và về chất trong sự lựa chọn của nông dân

Có hai loại EIQ, EIQ lý thuyết và EIQ thực tế trên đồng ruộng

Các chỉ tiêu này được tính toán theo ba mức độ có thể tạo ra rủi ro (1: rất ít hoặc không tác động, 3 có thể có tác động và 5 có tác động rõ rệt)

Trang 39

Bảng 1.3:Tiêu chuẩn để phân hạng các khả năng của chỉ số tác động

môi trường

Khả năng

Ký hiệu

200 - 2000mg/kg

0-200 mg/kg

1-4 Độc tính với ong Z Không độc Độc trung

tính

Có độc tính cao

5 Độc tính với thiên địch chân

đốt

B Hậu quả ít Hậu quả

trung bình

Hậu quả nghiêm trọng

6 Độc với cá (96 giờ LC50) F >10 ppm 1-10 ppm <1ppm

7 Thời gian phân hủy trên cây

(phân hủy 50%) P 1- 2 tuần 2 - 4 tuần >4 tuần

8 Thời gian bán phân hủy

>100 ngày

9 Khả năng nội hấp trong cây SY

Không nội hấp và tất cả các thuốc trừ cỏ Nội hấp

Trang 40

10 Khả năng thấm sâu vào

nguồn nước ngầm (thời gian

bán phân hủy trong nước, khả

năng hòa tan, hệ số thấm, tính

chất đất)

L

bình Nhiều

11 Khả năng rửa trôi bề mặt

đất (thời gian bán phân hủy

trong nước, khả năng hòa tan,

Ngày đăng: 23/06/2021, 06:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. Luật bảo vệ môi trường. 2005 Khác
3. Nguyễn Trần Oánh, Phạm Trọng Thủy and Phạm Văn Viên. Giáo trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. hà nội : NXB Nông nghiệp, 2007 Khác
4. Lê Huy Bá. Độc chất môi trường. Hà nội : NXB khoa học và kỹ thuật, 2008 Khác
5. Tổng quan về ô nhiễm nông nghiệp ở Việt Nam. 2017 Khác
6. Tổng cục môi trường. Hiện trạng ô nhiễm môi trường do hóa chát bảo vệ thực vật tồn lưu thuộc nhóm chất hữu cơ khó phân hủy tại Việt Nam. Hà nội, 2015 Khác
8. Nguyễn Văn Tuất, et al., et al. Hướng dẫn Kỹ thuật sản xuất Cam an toàn theo Vietgap. hà nội : Viện hoa học nông nghiệp Việt nam Khác
11. Kovach, J., Petzoldt, C., Degni, J., and Tette, J. (1992). A method to measure the environmental impact of pesticides. s.l. : New York’s Food and Life Sciences Bulletin 139:1–8 Khác
13. Thông tƣ số 03/2018/TT-BNNPTNT. Ban hành danh mục thuốc bảo bệ thực vật đƣợc phép sử dụng,cấm sử dụng tại Việt Nam. 2018 Khác
14. Cao Giang Nam and Trần Ngọc Toàn. Các giải pháp phát triển cây cam trên địa bàn tỉnh Nghệ An. s.l. : Viện Nông nghiệp và Tài nguyên, Đại học Vinh, 2019 Khác
15. FAO. IPM Impact Assessment Series. Use of Environmental Impact Quotient in IPM programmes in Asia. 2008 Khác
16. Lê Quốc Tuấn &amp; Phạm Thi Bích Diễm. Đánh giá rủi ro thuốc Bảo vệ thực vật thông qua chỉ số tác động môi trường trong canh tác lúa ở huyện Thoại Sơn-An Giang: Tạp chí KHKT Nông Lâm Nghiệp, 2018 Khác
17. Đăng Xuân Phi &amp; Đỗ Kim Chung. Đánh giá rủi ro thuốc Bỏ vệ thực vật thông qua chỉ số tác động môi trường trong sản xuất Súp Lơ ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương : Phát triển và hội nhập, 2012 Khác
18. Kavi,PI, Amarnath,JS and Sivasankari,B. Economic and enviromental impact of pesticide use in conventional cotton and bt cotton-Economic Affairs. 2018. pp. 425-431. Vol.63,No2 Khác
19. Giáo trình thuốc Bảo vệ thực vật. thành phố Hồ Chí Minh : Trường Đại học Nông Lâm Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm