1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đa dạng thành phần loài bướm ở 3 khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia đắkrông (quảng trị), bạch mã (thừa thiên huế), bà nà núi chúa (đà nẵng)​

84 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

--- PHẠM VIỆT HÙNG ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI BƯỚM Ở 3 KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÀ VƯỜN QUỐC GIA ĐẮKRÔNG QUẢNG TRỊ, BẠCH MÃ THỪA THIÊN HUẾ, BÀ NÀ – NÚI CHÚA ĐÀ NẴNG Chuyên ngành: Quản l

Trang 1

-

PHẠM VIỆT HÙNG

ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI BƯỚM Ở 3 KHU

BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÀ VƯỜN QUỐC GIA

ĐẮKRÔNG (QUẢNG TRỊ), BẠCH MÃ (THỪA THIÊN HUẾ),

BÀ NÀ – NÚI CHÚA (ĐÀ NẴNG)

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2013

Trang 2

-

PHẠM VIỆT HÙNG

ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI BƯỚM Ở 3 KHU

BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÀ VƯỜN QUỐC GIA

ĐẮKRÔNG (QUẢNG TRỊ), BẠCH MÃ (THỪA THIÊN HUẾ),

BÀ NÀ – NÚI CHÚA (ĐÀ NẴNG)

Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên rừng

Mã số: 60620211

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS VŨ VĂN LIÊN

Hà Nội, 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này do chính tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Vũ Văn Liên, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một công trình khoa học nào, các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 9 năm 2013

Tác giả

Phạm Việt Hùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình Đào tạo Cao học tại trường Đại học Lâm nghiệp, nhằm vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và nâng cao khả năng tổng hợp phân tích vấn đề, tôi đã

tiến hành thực hiện luận văn tốt nghiệp Cao học: “Đa dạng thành phần loài

bướm ở ba Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Vườn Quốc gia Đắkrông (Quảng Trị), Bạch Mã (Thừa Thiên Huế), Bà Nà – Núi Chúa (Đà Nẵng)”

Trong quá trình thực hành và hoàn thiện luận văn, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các cán bộ Khoa sau Đại học – Trường Đại học Lâm nghiệp và sự động viện từ phía gia đình, bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn Quỹ khoa học cơ bản (NAFOSTED) mã số 106.15-2011.62, TS Thomas Emmel - Giám đốc Trung tâm Mc Guire Center, Bảo tàng Lịch sử thiên nhiên Đại học Florida đã hỗ trợ thực địa và dành cho tôi cơ hội đến thăm quan và học hỏi tại Hoa Kỳ Đặc biệt tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Vũ Văn Liên, người thầy trực tiếp hướng dẫn tôi, thầy luôn quan tâm, chỉ bảo tôi tận tình, tạo cho tôi những điều kiện thuận lợi và truyền đạt rất nhiều kiến thức quý báu trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này

Tôi đã rất nỗ lực hoàn thiện luận văn, dựa trên cơ sở tham khảo nhiều tài liệu có liên quan, cùng ý kiến đóng góp của nhiều nhà khoa học có chuyên môn Tuy nhiên do khả năng, điều kiện và thời gian còn hạn chế và đề tài nghiên cứu cũng là một đề tài hoàn toàn mới nên luận văn của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, xây dựng của các nhà khoa học cũng như bạn bè để luận văn được hoàn thiện

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 9 năm 2013

Tác giả

Phạm Việt Hùng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt v

Danh mục các bảng vi

Danh mục các hình vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu bướmtrên thế giới 3

1.2 Tình hình nghiên cứu bướm ở Việt Nam 4

1.3 Nghiên cứu về bướm tại Đắkrông, Bạch Mã và Bà Nà – Núi Chúa 7

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 9

2.1 Vườn Quốc gia Bạch Mã 9

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 9

2.1.2 Đặc trưng về kinh tế xã hội 12

2.2 Khu bảo tồn thiên nhiên Đắkrông 14

2.2.1 Vị Trí địa lý 14

2.2.2 Địa hình địa chất, khí hậu thủy văn, sông ngòi 14

2.2.3 Dân cư, văn hóa 15

2.3 Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa 16

2.3.1 Đặc điểm tự nhiên 16

2.3.2 Đặc điểm sinh giới 17

2.3.3 Đặc điểm xã hội 18

Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 19

Trang 6

3.1.1 Mục tiêu chung 19

3.1.2 Mục tiêu cụ thể 19

3.2 Địa điểm nghiên cứu 19

3.3 Thời gian nghiên cứu 19

3.4 Nội dung nghiên cứu 20

3.5 Phương pháp nghiên cứu 20

3.5.1 Công tác chuẩn bị 21

3.5.2 Công tác ngoại nghiệp 22

3.5.3 Công tác nội nghiệp 26

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28

4.1 Đa dạng về thành phần loài 28

4.1.1 Thành phần loài 28

4.1.2 Đa dạng thành phần loài theo họ 36

4.1.3 Đa dạng theo loài của các họ bướm ở ba VQG và KBTTN 40

4.1.4 Mức độ phổ biến của các loài ở 3 VQG và KBTTN 42

4.1.5 Mức độ giống nhau về thành phần loài giữa 3 khu vực 44

4.1.6 Loài có ý nghĩa khoa học, kinh tế 45

4.2 Dẫn liệu về sinh học, sinh thái một số loài bướm 48

4.2.1 Bướm Phượng Paris - Papilio paris (Linnaeus) 48

4.2.2 Bướm chai xanh thường - Graphium sarpedon (Linnaeus) 49

4.2.3 Hải âu vàng viền đen - Appias lyncida (Cramer) 50

4.2.4 Bướm hổ đốm trắng - Parantica aglea (Stoll) 51

4.2.5 Bướm "Nữ phù thuỷ" - Hestina nama (Doubleday) 52

4.3 Thực trạng và giải pháp bảo tồn 53

4.3.1 Thực trạng bảo tồn 53

4.3.2 Giải pháp bảo tồn 58

KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

KBTTN Khu Bảo tồn Thiên nhiên

VQG Vườn Quốc gia

BTTN Bảo tồn thiên nhiên

TNTN Tài nguyên thiên nhiên

BQL Ban quản lý

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

4.1 Thành phần loài bướm theo họ tại KBTTN Đắkrông 37 4.2 Thành phần loài theo họ tại VQG Bạch Mã 39 4.3 Thành phần loài bướm theo họ ở KBTTN Bà Nà – Núi Chúa 40 4.4 Thành phần loài bướm theo họ ở 3 VQG và KBTTN 41 4.5 Mức độ phổ biến của các loài ở KBTTN Đắkrông 43 4.6 Mức độ phổ biến của các loài ở VQG Bạch Mã 43 4.7 Mức độ phổ biến của các loài ở KBTTN Bà Nà - Núi Chúa 43 4.8 Tỷ lệ về mức độ phổ biến (%) theo thành phần loài bắt gặp ở 3

khu vực

44

4.9 Mức độ tương đồng về thành phần loài bướm giữa 3 khu vực 45

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Côn trùng có mặt trên trái đất cách đây khoảng 370 triệu năm, chúng sinh sôi và phát triển một cách nhanh chóng trong các khu rừng nguyên sinh

và là giống sinh vật đầu tiên biết bay Trong khoảng 1.200.000 loài động vật

có mặt trên trái đất thì côn trùng đã chiếm gần 1.000.000 loài và con số những loài côn trùng chưa được biết đến vẫn còn rất nhiều, có thể lên đến hơn 10 triệu loài

Tác động theo chiều hướng ngày càng xấu đi của môi trường là nguyên nhân gây nên sự diệt vong đối với các loài côn trùng, mà quan trọng nhất vẫn

là môi trường sống bị biến mất, trong đó sự suy giảm diện tích rừng nhiệt đới

có tác động rất lớn vì rừng nhiệt đới là nơi tập chung các quần xã đa dạng của sinh vật, đặc biệt là côn trùng Cứ theo chiều hướng này thì trong tương lai thành phần và số lượng các loài côn trùng sẽ bị suy giảm một cách nhanh chóng

Cũng giống như bao nhiêu loài sinh vật khác trên trái đất, cùng tồn tại trong các hệ sinh thái, côn trùng đóng vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại của sinh giới Nếu không có côn trùng thì hẳn là mọi sinh vật khác sẽ không tiến hóa và hoàn thiện được như ngày nay Chúng là những con vật rất hiền lành, không có khả năng kháng cự đối với những mối đe dọa từ bên ngoài trong đó có con người là tác nhân nguy hiểm nhất, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của chúng Cho đến thời điểm hiện tại những hiểu biết về côn trùng của chúng ta còn tương đối hạn chế, hầu hết những loài biết đến đều rất gần gũi với cuộc sống con người và những nghiên cứu và biết đến, đó là một bất cập trong khoa học nghiên cứu hiện nay

Không chỉ có giá trị về mặt khoa học, vẻ đẹp của côn trùng mang tính thẩm mỹ cao Với những ưu điểm đó côn trùng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, người yêu thiên nhiên và một trong những loài đại diện

Trang 11

phải kể đến chính là bộ cánh vảy (Lepidoptera), mà điển hình là bướm (Rhopalocera) Có khá nhiều công trình nghiên cứu về bướm ở nước ta đã được thực hiện, song ở nhiều nơi chưa được nghiên cứu hoặc mới chỉ được nghiên cứu sơ sài, như Khu Bảo tồn Thiên nhiên Đắkrông tỉnh Quảng Trị, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bà Nà thành phố Đà Nẵng Vườn Quốc gia Bạch

Mã là điểm có khí hậu giao thoa giữa hai miền Bắc và Nam, nên khu hệ côn trùng nói chung, bướm nói riêng rất đa dạng Hơn nữa, ba khu vực trên đều nằm ở dải miền Trung của Việt Nam, là những điểm nóng về đa dạng sinh

học Chính vì vậy việc nghiên cứu “Đa dạng thành phần loài bướm ở 3 Khu

Bảo tồn Thiên nhiên và Vườn Quốc gia Đắkrông (Quảng Trị), Bạch Mã (Thừa Thiên Huế), Bà Nà – Núi Chúa (Đà Nẵng)” là cần thiết nhằm đánh

giá sự đa dạng của ba khu vực và đề xuất biện pháp bảo tồn và sử dụng hợp lý

nguồn tài nguyên bướm ở địa phương nhất là khu du lịch Bà Nà và Bạch Mã

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu bướmtrên thế giới

Bướm rất đa dạng và bắt gặp ở hầu hết các hệ sinh thái trên cạn, trừ vùng cực bắc và trên núi cao hơn 5500m (Schappert, 2000) Việt Nam nằm trong vùng Đông Phương nơi chiếm 21,4% tổng số loài bướm trên thế giới

Trong khu vực hay trên thế giới, bướm cũng được nghiên cứu khá kỹ Các công trình nghiên cứu về thành phần loài bướm đã xuất bản trong khu vực là Chou (1994) về bướm ở Trung Quốc, Ek – Amnuay (2012) về bướm Thái Lan, Corbet & Pendlebuty (1992) về bướm ở Malaysia, D’Abrera (1982-1986) về bướm ở vùng Đông Phương - Úc, Osada et al (1999) về bướm ở Lào, Wynter-Blyth (1957) về bướm ở Ấn Độ

Tính đa dạng của côn trùng tăng dần theo độ lớn của sinh cảnh và tính phức tạp về cấu trúc của thực vật trong sinh cảnh đó (Price, 1975) Điều này

có nghĩa là sinh cảnh rừng có cấu trúc nhiều tầng tán và phong phú về thực vật thì sẽ có nhiều loài côn trùng hơn so với sinh cảnh rừng có cấu trúc ít tầng tán và hệ thực vật đơn giản

Tính đa dạng về thực vật thay đổi nhiều theo thời gian và không gian Price (1975) cho rằng tính đa dạng của thực vật tăng lên khi diễn thế rừng xẩy

ra (diễn thế tự nhiên) Diễn thế xảy ra ở quần xã thực vật kéo theo sự thay đổi cấu trúc quần xã côn trùng ở đó Ngược lại, các loài côn trùng ăn thực vật có thể là một nhân tố quan trọng làm thay đổi quá trình diễn thế của quần xã thực vật Mặt khác, côn trùng còn phản ứng với sự thay đổi về thực vật bằng sự điều chỉnh chu trình sống và tập tính của mình ở các giai đoạn khác nhau của qúa trình diễn thế

Theo New & Collins (1991) có bốn nguyên nhân gây áp lực làm cho các loài bướm bị đe doạ là: (1) sự phá huỷ và làm thay đổi sinh cảnh (habitat),

Trang 13

(2) ô nhiễm môi trường, (3) các loài ngoại lai (Exotic species), và (4) khai thác thương mại

Các loài bướm phân bố hẹp sống gắn liền với rừng rất dễ bị tổn thương,

vì vậy muốn bảo tồn chúng cần phải bảo vệ rừng Thomas (1991) nghiên cứu bướm ở Co-xta Ri-ca đã xác định các loài bướm phân bố hẹp về địa lý có khả năng sống ở môi trường bị thay đổi kém hơn so với các loài phân bố rộng Sự giới hạn của các loài này ở các sinh cảnh chưa bị thay đổi chỉ ra rằng việc phá rừng có ảnh hưởng bất lợi cho sự tồn tại của chúng Thomas & Mallorie (1985) cho rằng đa dạng loài bướm có quan hệ với tỷ lệ độ che phủ thực vật mặt đất, nhiều loài bướm sống gắn liền với các giai đoạn diễn thế cụ thể của rừng, vì vậy, chiến lược để bảo tồn bướm tốt nhất là bảo vệ nhiều loại sinh cảnh

Theo Schappert (2000), để bảo tồn bướm cũng như bảo tồn các loài động vật hay thực vật khác, điều cần thiết đòi hỏi trước tiên giải quyết được

ba vấn đề: thứ nhất, cần biết vị trí của chúng, mối quan hệ của chúng với các loài gần gũi hoặc các loài khác xung quanh chúng; thứ hai, cần biết phân bố địa lý và điều kiện sinh thái như yêu cầu về sinh cảnh hay sự ưa thích sinh cảnh của loài; cuối cùng là cần biết càng nhiều càng tốt về sinh học của loài

Trên thế giới, có khá nhiều công trình nghiên cứu về sinh học và bảo tồn bướm Có các công trình nghiên cứu rất có giá trị về khoa học, như việc xác định cây chủ, vòng đời, tập tính và phân bố của bướm Trong số các loài bướm, nhiều loài quý, hiếm có trong danh lục của CITES và IUCN cũng được nghiên cứu Những tài liệu này rất có ích trong công tác bảo tồn nhân nuôi bướm (Igarashi 2001; Igarashi & Fukuda, 1997-2000; Koiwaya, 1996)

1.2 Tình hình nghiên cứu bướm ở Việt Nam

Bướm Việt Nam được nghiên cứu từ những năm đầu của thế kỷ XX Trong đó, công trình đầu tiên nghiên cứu về bướm ở Việt Nam là cuốn Côn

Trang 14

trùng Đông dương (Dubois & Vitalis, 1919) với danh lục 611 loài, đây cũng

là danh lục bướm đầu tiên của các quốc gia vùng Đông Dương (Việt Nam, Lào và Cam Pu Chia) Sau đó Metaye (1957) đã xác định danh lục 454 loài bướm Việt Nam

Kết quả điều tra côn trùng miền Bắc Việt Nam (Viện Bảo vệ Thực vật, 1976) với sự tham gia của các nhà côn trùng học hai nước Trung Quốc và Việt Nam, đã xác định 181 loài thuộc 9 họ bướm Công trình chủ yếu là xác định các loài côn trùng gây hại Tiếp theo là công trình về điều tra cơ bản côn trùng miền Bắc Việt Nam từ năm 1960 đến 1970 (Mai Phú Qúy và nnk., 1981) đã xác định danh lục 161 loài

Có thể nói từ những năm 90 của thế kỷ XX, có khá nhiều công trình nghiên cứu về bướm được tiến hành Các khảo sát về bướm được thực hiện ở các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên Các nhà côn trùng nước ngoài nghiên cứu bướm ở Việt Nam nhiều nhất đến từ Nhật Bản, Liên Bang Nga, Cộng hoà Séc và một số quốc gia khác Ở Việt Nam, các nghiên cứu và khảo sát về bướm tập trung nhiều ở Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga; Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật

Các công trình nghiên cứu về bướm đã được tiến hành ở các Vườn Quốc gia của Việt Nam, như: Ba Bể, Bắc Cạn (Đặng Thị Đáp & Hoàng Vũ Trụ, 2003; Monastyrskii et al., 1998); Hoàng Liên, Lào Cai (Vũ Văn Liên, 2003; Monastyrskii & Hill, 1997; Monastyrskii et al., 1999; Cúc Phương, Ninh Bình (Đặng Thị Đáp và nnk., 1995; Lương Văn Hào et al., 2004; Vũ Văn Liên & Đặng Thị Đáp, 2002; Ikeda et al., 1998, 1999, 2000); Tam Đảo, Vĩnh Phúc (Đặng Thị Đáp và nnk., 2011; Phạm Văn Lầm, 2005; Phạm Văn Lầm và nnk., 2004; Khuất Đăng Long & Vũ Quang Côn, 2005; Vu, 2007, 2013); Cát Bà, Hải Phòng (Đặng Ngọc Anh & Vũ Văn Liên, 2005); Phong Nha-Kẻ Bàng, Quảng Bình (Đặng Thị Đáp, 1997); Núi Chúa, Ninh Thuận (Tạ

Trang 15

Huy Thịnh và nnk., 2005a) Các công trình nghiên cứu về bướm ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên ở Việt Nam, như: Ngọc Linh, Kon Tum (Bùi Xuân Phương, 2005); Hòn Bà, Khánh Hoà (Vũ Văn Liên, 2005)

Các công trình mô tả loài bướm mới cho khoa học, điển hình là Devyatkin (1996, 1997), tác giả đã mô tả rất nhiều loài bướm mới thuộc họ Hesperiidae Ngoài ra, một số công trình khác cũng mô tả loài bướm mới cho khoa học là Devyatkin & Monastyrski (1999), Funahasha (2003), Monastyrskii (2005), Monastyrskii & Devyatkin (2003) & Yokochi (2004) Cho đến nay, Việt Nam có hơn 1000 loài bướm

Một số nghiên cứu về phân bố bướm theo đai độ cao ở Miền Trung Việt Nam cho thấy đa dạng về loài và phong phú của các loài trong quần xã bướm ở đai cao thấp hơn so với ở đai thấp (Vũ Văn Liên, 2005)

Phần lớn các công trình nghiên cứu về bướm ở Việt Nam tập trung vào xây dựng danh sách loài Các công trình nghiên cứu về sinh học và sinh thái học về bướm còn ít Spitzer et al (1987) nghiên cứu bướm ở các sinh cảnh khác nhau ở rừng khô Khánh Hoà đã xác định mối quan hệ chặt chẽ giữa đa dạng thành phần loài bướm với đa dạng về thành phần các loài thực vật có mạch Số loài bướm có quan hệ thuận với số loài thực vật có mạch ở rừng khô

Khánh Hòa

Một số công trình nghiên cứu về sinh học bướm ở Việt Nam, được tiến hành do các nhà nghiên cứu nước ngoài Koiwaya et al (2003) nghiên cứu

vũng đời của bốn loài bướm thuộc giống Theclini (Lycaenidae) ở Phia Oác

(Cao Bằng) và Sapa (Lào Cai) Đây là những loài chỉ sống trên các vùng núi cao ở Việt Nam

Theo nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 về quản

lý thực vật và động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, Việt Nam có 4 loài bướm là

Teinopalpus aureus, T imperialis, Troides helena ceberus và Zeuxidia

Trang 16

masoni được xếp vào danh lục nhóm II Đây là nhóm hạn chế khai thác, sử

dụng vì mục đích thương mại, có giá trị về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng

Tạ Huy Thịnh & Hoàng Vũ Trụ (2004) đã so sánh độ tương đồng về thành phần loài bướm giữa một số Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên của Việt Nam Tác giả đã xác định yếu tố địa lý - khí hậu là yếu tố quyết định và độ cao là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tương đồng về thành phần loài bướm giữa các khu vực Tạ Huy Thịnh và nnk (2005b) với kết quả điều tra côn trùng (gồm cả bướm) dọc theo tuyến đường cao tốc dự kiến Hà Nội-Thái Nguyên đã xác định các chỉ số đa dạng côn trùng thấp và có

xu hướng tăng theo hướng từ Hà Nội tới Thái Nguyên Tuy nhiên, hệ sinh thái

ở đó là hệ sinh thái nông nghiệp, do vậy, tính đa dạng của côn trùng thấp

Tóm lại, việc nghiên cứu bướm ở Việt Nam đã được tiến hành khá sớm,

từ đầu thế kỷ XX Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc xây dựng danh lục loài được tiến hành ở các Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn Thiên nhiên Việt Nam Các khu vực có nhiều nghiên cứu về bướm ở Việt Nam điển hình là Tam Đảo, Cúc Phương, Hoàng Liên, Cát Tiên, v.v

1.3 Nghiên cứu về bướm tại Đắkrông, Bạch Mã và Bà Nà – Núi Chúa

Có một số công trình nghiên cứu về bướm các khu vực nghiên cứu mà

đề tài thực hiện, trong đó điển hình là công trình của Lê Trọng Sơn và nnk (2003) về kết quả điều tra khu hệ bướm ngày (Lepidoptera, Rhopalocera) ở Vườn Quốc gia Bạch Mã; Lê Trọng Sơn (2004) đa dạng sinh học về côn trùng; Lê Trọng Sơn và nnk (2005) về kết quả nghiên cứu về đa dạng họ Nymphalidae (Lepidoptera) ở VQG Bạch Mã; Lê Trọng Sơn và Trương Thị

Bé (2008) về Kết quả nghiên cứu họ Bướm phượng (Papilionidae) ở hành lang Phong Điền – Bạch Mã, Thừa Thiên Huế; Nguyễn Thế Nhã và nnk (2011) điều tra, thiết lập danh lục các loài Côn trùng ở khu mở rộng Vườn

Trang 17

quốc gia Bạch Mã; Huỳnh Văn Kéo và Trần Thiên Ân (2011) kiểm kê danh lục động – thực vật Vườn quốc gia Bạch Mã: Phần côn trùng Các nghiên cứu

về bướm Bạch Mã đã xác định 256 loài thuộc các họ Papilionidae, Pieridae, Danaidae, Satyridae, Amathusiidae, Nymphalidae, Lycaenidae, Hesperiidae

Bà Nà – Núi Chúa: Theo tài liệu thống kê của Trần Khánh Toàn (2004),

có 45 loài bướm ngày tại KBTTN Bà Nà – Núi Chúa

Nhìn chung, có khá nhiều công trình nghiên cứu về bướm ở VQG Bạch

Mã Nghiên cứu về bướm ở KBTTN Đắkrông và KBTTN Bà Nà – Núi Chúa chưa có nhiều

Trang 18

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Vườn Quốc gia Bạch Mã

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Tọa độ địa lý: 15o59'-16o16' vĩ độ Bắc, 107o37'-107o54' kinh độ Đông

 Phía Bắc giáp Công ty lâm nghiệp Phú Lộc

 Phía Nam giáp xã A Ting, Tà Lu huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam

 Phía Đông giáp xã Hòa Bắc huyện Hoà Vang thành phố Đà Nẵng

 Phía Tây giáp thị trấn Khe Tre tỉnh Thừa Thiên Huế

và sạch tạo nên vẻ đẹp độc đáo thu hút khách du lịch, đồng thời góp phần cải tạo tiểu khí hậu vùng và cũng là một trong những điều kiện thuận lợi tạo nên ĐDSH vùng này Nhìn chung Bạch Mã có địa hình phức tạp được cấu tạo bởi những ngọn núi cao, được phân chia đặc trưng thành hai kiểu địa hình phụ là núi trung bình và núi thấp

2.1.1.3 Khí hậu thủy văn

- Khí hậu

Vườn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa Khí hậu nhiệt đới của vùng Bạch Mã chịu ảnh hưởng của hai hiện tượng chính: gió mùa Đông Bắc kéo theo mưa từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau; gió mùa Tây Nam kéo theo khô hạn

từ tháng 5 đến tháng 9

Trang 19

Qua số liệu cung cấp tại các trạm khí tượng thuỷ văn về khí hậu VQG Bạch Mã, Một số đặc trưng khí hậu khu vực VQG Bạch Mã như sau:

Nhiệt độ bình quân năm của vùng Bạch Mã là 25oC (chân Vườn), Nam Đông là 24oC, khu vực đỉnh Bạch Mã là 19oC (độ cao >1.200m) Chế độ nhiệt

có sự khác nhau theo năm tháng, theo độ cao, theo vùng Càng lên cao nhiệt

độ càng giảm, từ độ cao >1.000m cứ lên cao 100m thì nhiệt độ giảm đi 10oC,

đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến nhiệt độ bình quân tại khu vực đỉnh Bạch

Mã thấp hơn so với nhiệt độ bình quân toàn vùng và chân vùng Bạch Mã

Sự phân biệt giữa mùa mưa và mùa khô không rõ rệt Thời gian mưa tập trung nhiều nhất bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 12 Các tháng khác đều có lượng mưa lớn, trừ tháng 3 hàng năm (mưa dưới 50mm)

Khu vực đỉnh Bạch Mã là nơi có lượng mưa lớn nhất tỉnh Thừa Thiên Huế cũng như khu vực miền Trung Kết quả nghiên cứu khí tượng thuỷ văn của khu vực đỉnh Bạch Mã từ năm 1998 - 2000 cho thấy lượng mưa tại khu vực đỉnh Bạch Mã lên tới 10.758 mm/năm

Xét về tổng thể, lượng mưa trung bình lớn nhất ở khu vực Bạch Mã là 8.000 mm/năm, lượng mưa bình quân năm trên toàn vùng là 3.440mm

Độ ẩm khu vực đỉnh Bạch Mã khá cao, chiếm 90% Độ ẩm bình quân toàn vùng là 85% Ẩm độ giữa hai đai cao có sự khác biệt lớn, từ độ cao 900m trở lên sương mù hầu như quanh năm bao phủ, tạo khí hậu mát mẻ ôn hoà

Với nhiệt độ mát mẻ vào mùa hè chỉ từ 18oC – 23oC, Bạch Mã là nơi nghỉ dưỡng lý tưởng để du khách có thể tránh được cái nóng oi bức ở vùng đồng bằng Đây là lý do tại sao mà người Pháp trước đây đã phát hiện và xây dựng nên khu vực này và hiện nay nhiều doanh nghiêp du lịch trong tỉnh đã đầu tư khôi phục lại các ngôi biệt thự cũ để là nơi đón tiếp khách tham quan, nghỉ ngơi

Trang 20

- Thuỷ văn

Do đặc điểm của địa hình địa thế nên hệ thống thuỷ văn của khu vực Bạch Mã rất dày đặc Đây cũng là nơi điều hòa nguồn nước cho các con sông lớn trong vùng như: sông Truồi, sông Cuđê và nhất là sông Tả Trạch (đầu nguồn của sông Hương) Bạch Mã là nguồn dự trữ nước cực kỳ quan trọng cho các xã vùng đệm của Vườn Quốc gia

Đặc biệt hiện nay trên thượng nguồn sông Truồi thuộc địa bàn VQG Bạch Mã quản lý đã xây dựng một hồ chứa nước với dung tích khoảng 60.000.000m3 nhằm cung cấp nước phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp, đẩy mặn cho sông Hương, góp phần cải tạo tiểu khí hậu vùng và giữ ẩm cho cây nông nghiệp, lâm nghiệp sinh trưởng và phát triển

2.1.1.4 Tài nguyên rừng

Thảm thực vực là nền cơ bản, điều kiện, môi trường sống cho muôn loài động - thực vật trên cạn và dưới nước phân bố, sinh tồn và phát triển Qua kết quả của nhiều nhà nghiên cứu thì thảm thực vật Bạch Mã có những đặc trưng cấu trúc cơ bản như sau:

- Kiểu 1: Rừng rậm thường xanh nhiệt đới ưa mưa thuộc đai thấp dưới 900m: Gồm có 4 trạng thái rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo và rừng non phục hồi, có các quần xã chính:

+ Rừng rậm thường xanh nhiệt đới ưa mưa cây lá rộng ít bị tác động, ưu

thế các loài như: Chò (Parashorea stellata), Ươi (Scaphium macropodium), Sâng (Pometia pinnata), Huỷnh (Heritiera cochinchinensis), Kiền kiền (Hopea

siamensis)

+ Rừng rậm thường xanh nhiệt đới ưa mưa cây lá rộng, thứ sinh bị tác

động mạnh, ưu thế các loài như: Ràng rang (Ormosia dasycarpa), Lá nến (Macaranga denticulate), Thành ngạnh (Cratoxylon formosum), Vạng (Endospermum chinense), Ba bét (Mallotus paniculatus)…

Trang 21

+ Trảng cây bụi thứ sinh, thường xanh cây lá rộng, ưu thế các loài như:

Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Thành ngạnh (Cratoxylon formosum), Ba bét (Mallotus paniculatus), Cỏ lào (Eupatorium odoratum), Mắc cở (Mimosa pudica)…

+ Trảng cỏ nhiệt đới thứ sinh, ưu thế các loài như: Lau (Saccharum

spontaneum), Cỏ tranh (Imperata cylindrical)…

- Kiểu 2: Rừng rậm thường xanh nhiệt đới gió mùa đai núi thấp trên 900m: gồm có 3 quần xã của các trạng thái là rừng nghèo và rừng non phục hồi

+ Rừng rậm thường xanh nhiệt đới gió mùa ít bị tác động từ (900

-1292m), các loài ưu thế như: Tùng Bạch Mã (Dacrydium elatum), Dẻ Cau (Lithocarpus fenestratus), Giổi (Michelia foveolata), Sồi (Quercus thorelii), Thích Bắc bộ (Acer tonkinensis), Gò đồng nách (Gordnia axillaris), Hồi lá nhỏ (Illicium parviflorum)…

+ Rừng rậm thường xanh nhiệt đới gió mùa bị tác động mạnh

(1292-1400m), các loài ưu thế như: Kháo rè (Phoebe tavoyana), Sổ dã (Saurauia

roxburghii), Thích Bắc bộ (Acer tonkinensis), Gò đồng nách (Gordnia axillaris), Đỗ quyên (Rhododendron simsii)…

+ Trảng cỏ cây bụi thứ sinh, thường xanh nhiệt đới (trên 1.400m),

chiếm diện tích không đáng kể, các loài cây ưu thế như: Kháo rè (Phoebe

tavoyana), Sim (Rhodomyrtus tomentosa), các loài thảo họ Poaceae,…

Thảm thực vật nhân tạo là diện tích trồng cây lâm nghiệp của các lâm trường trước khi quy hoạch thành lập Vườn Quốc gia, diện tích này không đáng kể,

chủ yếu các loài như thông nhựa (Pinus merkusii), Trầm (Aquilaria crassna), Keo tai tượng (Acacia maginum),…

2.1.2 Đặc trưng về kinh tế xã hội

2.1.2.1 Dân số và các thành phần dân tộc

Trong vùng đệm Vườn Quốc gia có 4 dân tộc anh em sinh sống là: Kinh, Ka tu, Vân Kiều và dân tộc Mường

Trang 22

 Dân tộc Kinh: 50.946 người, chiếm 81% dân số vùng đệm

 Dân tộc Ka tu: 11.391 người, chiếm 18 % dân số vùng đệm

 Dân tộc Mường, Vân kiều: 637 người, chiếm 1% dân số vùng đệm Dân tộc Kinh chiếm đại đa số Các dân tộc khác chỉ chiếm 19% Họ sống tập trung thành từng bản xen kẽ với dân tộc Kinh, có sự lai hoá và hoà nhập giữa các dân tộc với nhau Vì vậy những phong tục tập quán bản sắc riêng của từng dân tộc không có sự khác biệt nhiều so với dân tộc Kinh

Tập quán canh tác của tất cả các xã trong vùng chủ yếu là làm lúa nước

và chăn nuôi, một số vùng dân cư như thị trấn Phú Lộc, Lộc Điền, Lộc Trì (huyện Phú Lộc), thị trấn Khe Tre (huyện Nam Đông), là những khu vực trung tâm cho nên có nhiều thuận lợi về phát triển kinh tế, bên cạnh việc sản xuất nông lâm nghiệp, các ngành như công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, phát triển mạnh, đời sống nhân dân có phần cao hơn

Mật độ dân số toàn vùng đệm là 191 người/km2, cao nhất ở thị trấn Khe Tre (849 người/km2) và thấp nhất ở xã Thượng Lộ (11 người/km2) Dân số chủ yếu tập trung ở những nơi thị trấn gần các trung tâm văn hóa, nơi có địa hình bằng phẳng, nhiều đất canh tác, nơi giao thông thuận lợi cho việc đi lại

và làm ăn buôn bán như thị trấn Phú Lộc, Khe Tre, xã Lộc Điền, Lộc Trì Những nơi ít đất canh tác, giao thông chưa phát triển, dân số không tập trung

đã gây khó khăn trong việc quản lý con người, nâng cao dân trí, xây dựng cơ

sở hạ tầng và bảo vệ tài nguyên rừng

2.1.2.2 Sản xuất lâm nghiệp

Trên địa bàn vùng dự án hiện có một Công ty lâm nghiệp chuyên kinh doanh rừng trồng, hai Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn (BQL rừng phòng hộ Nam Đông và ban quản lý rừng phòng hộ Sông Kôn) làm nhiệm vụ quản lý bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn các con sông Tả Trạch và Sông Kôn

Trang 23

Mỗi huyện có Ban quản lý điều hành thực hiện chương trình trồng mới

5 triệu ha rừng Hầu hết các xã trong vùng đệm đều tham gia thực hiện các hạng mục của Dự án 661 Ngoài ra các ban khuyến lâm, khuyến nông cũng là một bộ phận quan trọng chỉ đạo, hướng dẫn, chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật sản xuất nông - lâm nghiệp cho các xã trong vùng

Bằng các nguồn vốn tự có hoặc được đầu tư từ các dự án, nhiều hộ gia đình đã tham gia tích cực trồng rừng, bảo vệ, khoanh nuôi phục hồi rừng, lập trang trại theo hướng nông lâm kết hợp…

2.2 Khu bảo tồn thiên nhiên Đắkrông

2.2.1 Vị Trí địa lý

Nằm ở vị trí 16017`55`` đến 16049`12`` vĩ độ Bắc và 106044`01`` đến 107014`15`` kinh độ Đông Phía Bắc giáp với các huyện Gio Linh, Cam Lộ: Phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế và Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào: Phía Đông giáp huyện Triệu Phong và Hải Lăng: Phía Tây giáp huyện Hướng Hóa

Đắkrông có vị trí quan trọng không chỉ đối với tỉnh Quảng Trị mà còn với cả khu vục Bắc Trung Bộ đây chính là cửa ngõ đi vào thị xã Đông Hà, vào Thừa Thiên Huế là khu vực cuối các tỉnh Cam Lộ Triệu Phong, Gio Linh, Hải Lăng với huyện Hướng Hóa của tỉnh Quảng Trị là khu vực biên giới tiếp giáp với nước Lào

2.2.2 Địa hình địa chất, khí hậu thủy văn, sông ngòi

Địa hình Đắkrông cao về phía Đông – Đông Nam thấp về phía Tây - Tây Bắc Cao nhất là đỉnh Kovalađút 1251m, thấp nhất là khu vực bãi bồi Ba Lòng 25m Đồi núi tập trung ở phía Đông Nam của huyện

Do chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tự nhiên khác nhau nên đất đai ở Đắkrông rất đa dạng và phong phú bao gồm bảy loại chính đó là: Đất màu tím trên đá sét, đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất phú sa bồi, đất đỏ vàng trên đá

Trang 24

phiến thạch sét, đất đỏ vàng trên đất mácmaxit và đất vàng nhạt trên đá cát Nhóm đất có địa hình đồi chiếm hơn 95 diện tích phù hợp trông các loại cây công nghiệp có giá trị cao như cà phê, tiêu, cao su vv Đắkrông cá khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa thể hiện rõ ở chế độ mưa và gió mùa Khí hậu Đắkrông chịu ảnh hưởng rõ rệt của bức xạ nội chí tuyến và đặc điểm địa lý ma trước hết là sự xuất hiện của dãy núi Trường Sơn, nằm trong khu vục chuyển tiếp của hai mùa khí hậu mùa nóng và mùa lạnh Sông Đắkrông bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn ở phía Nam và đông Nam huyện Đắkrông có chiều dài 85 km Sông Quảng Trị chảy qua Đăkrông là hợp lưu của hai con sông Đắkrông và sông Rào Quán Thượng lưu gọi là sông Đắkrông, hạ lưu gọi là sông Ba Lòng Trong hệ thống sông Đắkrông có nhiều con suối tương đối lớn đổ ra như Paây, Scam, Ra Ngao, Ta Sam Ba Le, Rơlay vv… Ngoài ra còn có nhiều con suối

đỏ vào song Ba Lòng như Khe Làng An, Khe Vẽ,… Sông Đắkrông có độ dài ngắn và dốc nên tốc độ chảy cao về mùa mưa lũ thưỡng xảy ra tình trạng lũ lụt lớn

2.2.3 Dân cư, văn hóa

Dân cư ở đây không chỉ có người Chăm mà gồm cả đồng bào dân tộc ít người như Vân Kiều, PaCô cùng người Kinh định cư lâu đời Dân cư Đắkrông ngoài các dân tộc thiểu số như Ba Hy, Vân Kiều, Pa Cô là chủ yếu còn có người Kinh sinh sống Tính đến 2005, Dân số Đắkrông khoảng 34.160 người Mặc dù thành phần dân tộc phức tạp nhưng trải qua quá trình chung sống vật lộn đấu tranh với thiên nhiên và giặc ngoại xâm cư dân Đắkrông đã trở thành một khối thống nhất trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu của cộng đồng cư dân Việt Nam nói chung và Quảng Trị nói riêng Cộng đồng cư dân sinh sống đầu tiên ở trên địa bàn huyện Đắkrông đó là cộng đồng người Ba Hy Họ sống theo dạng du canh du cư từ ngọn núi này sang ngọn núi khác nhưng sau một thời gian sinh sống họ gặp phải dịch bệnh

và thú dũ tấn công nên đã chuyển di nơi khác sinh sống Sau khi người Ba Hy

Trang 25

dời đi thì những người mới đến định cư ở đây (còn gọi là người Bru nghĩa là nhũng người sống ở trên cao) Ngoài người Vân Kiều còn có người Pa cô cư trú ở phía Tây Nam của huyện ở các xã A Túc, A Bung, Tà Rụt

2.3 Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa

2.3.1 Đặc điểm tự nhiên

2.3.1.1 Vị trí địa lý

KBTNN Bà Nà – Núi Chúa thuộc xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng, nằm cách Đà Nẵng khoảng 30 Km về phía tây, có độ cao 1.482m so với mặt nước biển Núi Bà Nà phía bắc giáp Hải Vân phía tây giáp huyện Hiên, phía nam giáp huyện Đại Lộc, phía đông giáp xã Hòa Phú huyện Hòa Vang, như vậy Bà Nà nằm ở vùng giao lưu chuyển tiếp giữa miền bắc và miền nam của nước Việt Nam, đặc trưng cho vùng chuyển tiếp giữa hai khu

vực động thực vật phía bắc và phía nam của nước ta

KBTNN Bà Nà – Núi Chúa có tọa độ từ 15’55’ đến 26’4’22’’ vĩ độ bắc

và từ 107’59’ đến 108’6’30’’ kinh độ Đông Địa hình Bà Nà – Núi Chúa phức tạp, độ dốc cao, sông suối nhiều và phức tạp

2.3.1.2 Địa chất thổ nhưỡng

Núi Bà Nà có nên địa chất với ba loại đá: Đá Granit, đá sét biến chất,

đá cát kết Nhóm đất ferarit núi thấp phát triển trên các loại đá Granit, sét biến chất và đá cát kết.Nhóm đất ferarit mùn trên núi trung bình, phát triển các loại

đá granit, đá cát kết.Nhóm đất ferarit đồi thấp phát triển trên đá Granit, đá cát kết và đá biến chất Ở những vùng có độ cao trên 1000m là đất mùn màu vàng

đỏ phát triển trên đá granit và đất màu nâu vàng đỏ trên đất sét và đá biến chất

2.3.1.3 Khí hậu thủy văn

- Khí hậu

Do vị trí địa lý và địa hình như trên, Bà Nà tạo ra một vùng khí hậu khá

đa dạng Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng bức xạ dồi dào và

Trang 26

địa hình và độ cao đã gây nên sự phân hóa khí hậu ở khu vức này Càng lên cao nhiệt độ càng giảm, độ ẩm càng tăng hình thành vành đai á nhiệt đới ẩm phía bắc và trên địa đỉnh núi, vành đai nhiệt đới ẩm phía Nam

+ Nhiệt độ: Do ảnh hưởng yếu tố địa hình nên nhiệt độ thay đổi theo độ cao

và theo các tháng trong năm Nhiệt độ trung bình dao động từ 14,1oC vào tháng II đến 20,8oC vào tháng V Những ngày có gió mùa đông bắc nhiệt độ

có thể xuống đến 10oC, còn ở vùng cao có thể xuống đến 7oC

+ Lượng mưa: Lượng mưa ở bà Nà phụ thuộc vào địa hình và chế dộ gió mùa Tổng lượng mưa trung bình từ 2500mm -5185mm và chia thành 2 mùa rõ rệt

Mùa khô bắt đầu từ tháng I đến tháng VII Mùa mưa bắt đầu từ tháng VIII đến tháng XII Lượng mưa trong mùa mưa chiếm 74,5% lượng mưa cả năm + Độ ẩm: Độ ẩm trung bình hàng năm từ 80% - 90% Độ ẩm cao nhất trong tháng XII, đạt 99,4% thấp nhất vào tháng II 85,2% Nhiệt độ thấp nhất vào tháng XII 14,4oC, cao nhất VI 20,8oC

Sông Lô Đông: Bắt nguồn từ các đỉnh phía nam của dãy núi Bà Nà

2.3.2 Đặc điểm sinh giới

Bà Nà là miền rừng núi còn mang nhiều tính chất nguyên sinh của khu vưc miền trung, nằm ở phía tâu của thành phố Đà Nẵng, do đặc điểm vị trí địa

lý, địa hinh, thổ nhưỡng, khí hậu thủy văn nên đặc điểm sinh giới ở đây rất đa dạng và phong phú

Trang 27

Về thực vật: theo số liệu của các tác giả trước, thực vật ở Bà Nà đa dạng về cả chi, họ và loài Có 423 loài thực vật bậc cao, có mạch, thuộc 109

họ, 276 chi Trong đó có 16 loài thực vật quý hiếm

Về động vật: Khu hệ động vật ở Bà Nà nói chung rất phong phú và đa dạng với 40 loài giun đất theo Trần Thái Bái và nnk (2003), 45 loài bướm ngày theo Trần Khánh Toàn (2004) và 17 loài mối Đinh Thị Phương Anh và nnk (2000)

2.3.3 Đặc điểm xã hội

Dân cư sống quanh khu vực Bà Nà đa số là dân tộc Kinh, mật độ thưa thớt, trình độ văn hóa thấp, nền kinh tế lạc hậu, đời sống khó khăn, chính vì vậy trước đây có một bộ phận không nhỏ dân cư sống bằng nghề khai thác lâm sản, làm ảnh hưởng đến diện tích rừng cũng như số lượng và thành phần

các loài sinh vật sinh sống ở đây

Trang 28

Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu

3.1.1 Mục tiêu chung

Xác định thành phần loài bướm và so sánh sự đa dạng loài bướm ở ba khu vực trong một khoảng thời gian điều tra nhất định (tháng 4 và 5)

Trên cơ sở nghiên cứu tính đa dạng loài Bướm của ba Vườn Quốc Gia

và Khu bảo tồn thiên nhiên nhằm đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn và

sử dụng hợp lý tài nguyên côn trùng (bướm)

3.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại Khu bảo tồn Thiên nhiên (KBTTN) Đắkrông, Vườn Quốc Gia (VQG) Bạch Mã và KBTTN Bà Nà – Núi Chúa

Khu vực điều tra ở các dạng sinh cảnh, các dạng trạng thái rừng điển hình của các Vườn Quốc Gia và Khu Bảo tồn Thiên nhiên

3.3 Thời gian nghiên cứu

Thời gian thực hiện luận văn từ tháng 04/2013 đến 10/2013

Thời gian nghiên cứu, thu thập số liệu, mẫu vật ngoài thực địa được tiến hành trong 15 ngày, từ ngày 26/4-10/5/2013 Mỗi khu vực điều tra 5 ngày,

Trang 29

cụ thể: Đắkrông từ ngày 26-30/4/2013, Bạch Mã từ ngày 1-5/5/2013, Bà Nà – Núi Chúa từ ngày 6-10/5/2013

Thời gian phân tích, làm tiêu bản mẫu vật từ giữa tháng 5 đến tháng 7 tại Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt Mẫu vật được lưu giữ tại Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam

Thời gian viết luận văn tháng 7-9 năm 2013

3.4 Nội dung nghiên cứu

Với những mục tiêu mà đề tài đặt ra, các nội dung nghiên cứu bao gồm:

1 Xác định thành phần loài bướm ở các khu vực nghiên cứu

2 Đánh giá tính đa dạng sinh học của các loài Bướm trong các khu vực nghiên cứu, so sánh thành phần loài giữa 3 khu vực nghiên cứu:

- Đa dạng theo họ;

- Đa dạng theo khu vực;

- Mức độ giống/khác nhau về thành phần loài giữa 3 khu vực

- Ý nghĩa của các loài bướm ở 3 khu rừng đặc dụng:

+ Các loài quý, hiếm có giá trị bảo tồn;

+ Các loài có hình thái đẹp, hấp dẫn có thể phục vụ du lịch;

+ Loài có ý nghĩa chỉ thị môi trường;

+ Các loài có ích, loài gây hại

- Tìm hiểu dẫn liệu sinh học, sinh thái học của một số loài bướm

3 Đề xuất biện pháp quản lý nhằm tăng tính đa dạng của các loài bướm trong khu vực nghiên cứu:

- Các tác động ảnh hưởng đến đa dạng bướm;

- Biện pháp bảo tồn các loài bướm

3.5 Phương pháp nghiên cứu

Dựa theo các phương pháp nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Thế Nhã và nnk (2001), Vũ Văn Liên & Lưu Hoàng Yến (2011) và các tác giả khác

Trang 30

- Công tác chuẩn bị

- Điều tra ngoại nghiệp

- Công tác nội nghiệp

3.5.1 Công tác chuẩn bị

Thu thập các tài liệu có liên quan: Bản đồ địa hình, điều tra sơ thám

khu vực nghiên cứu, tài liệu phân loại

Chuẩn bị dụng cụ cần thiết:

- Vợt bắt bướm: Làm bằng vải mềm, miệng có đường kính 30cm - 60cm khung làm bằng nhôm được gắn vào một cán gỗ dài 1m, cán gỗ hay cán sợi các bon có thể kéo ra dài 6-7m

- Bao giấy giữ mẫu: Được làm bằng giấy can, giấy glassin nhẵn bóng,

có tác dụng giữ mẫu không bị rách nát, không bị mất màu, không bị hỏng, mất phấn Trên bao mẫu ghi rõ ngày tháng điều tra, vị trí thu bắt được và các thông tin khác Kích thước bao đựng mẫu tùy thuộc vào kích thước của mẫu vật Cách gập bao giữ mẫu như sau: Đầu tiên ta gấp chéo tờ giấy vào theo đường sao cho tờ giấy thừa ra bằng nhau và chiều rộng từ 2 – 3cm, sau đó gấp tiếp hai đầu giấy và vào Cuối cùng gấp hai đầu giấy và ta được bao giữ mẫu, mỗi bao đựng một loại mẫu vật Mẫu bắt được yêu cầu phải giữ nguyên trạng thái không bị xước, không bị bay hết lớp phấn trên bề mặt mẫu và phải còn đầy đủ các bộ phận

- Bàn bướm (bàn bằng gỗ để căng bướm) Ngoài ra, có thể sử dụng tấm xốp để căng mẫu

- Kim cắm mẫu Kim không gỉ, có mũ, có nhiều kích thước khác nhau,

số 0 đến số 7, thông thường sử dụng kim số 1-3 để cắm mẫu bướm

- Hộp gỗ, hộp nhựa để bảo quản mẫu

- Kẹp côn trùng, địa bàn, sách nhận dạng các loài bướm

- Máy ảnh, GPS và một số dụng cụ cần thiết khác

Trang 31

Xác định các dạng sinh cảnh có trong khu vực nghiên cứu Các dạng sinh cảnh được chọn theo tiêu chuẩn chung là các dạng sinh cảnh điển hình của khu vực Trong khu vực nghiên cứu chúng tôi xác định được một số dạng sinh cảnh tùy theo từng khu vực nghiên cứu, cụ thể như sau:

- Đất canh tác nông – lâm nghiệp

3.5.2 Công tác ngoại nghiệp

3.5.2.1 Xác định các tuyến điều tra

Do các loài trong bộ Cánh vẩy có miệng hút, thức ăn chủ yếu là mật hoa và các chất khoáng nên chúng thường tập trung ở những nơi: Ven suối, ven đường đi, đám cây bụi, bụi có nhiều hoa, cây hoa màu, cây ăn quả Ngoài

ra, một số loài chỉ sống trong các thảm thực vật rừng nên chúng tôi bố trí điều tra theo phương pháp điều tra tuyến

- Cách lập tuyến điều tra

Chúng tôi tiến hành xác định tuyến điều tra dựa vào địa hình khu vực nghiên cứu, kiểu thảm thực vật Các tuyến điều tra cần đảm bảo các tiêu chí sau:

+ Tuyến điều tra phải đi qua các dạng sinh cảnh chính trong khu vực

nghiên cứu;

+ Đảm bảo tính đại diện;

+ Thuận lợi cho việc điều tra và thu bắt mẫu

Các sinh cảnh điều tra nghiên cứu bướm trong các khu vực như sau: + Khu bảo tồn thiên nhiên Đắkrông:

Tuyến 1: Khu vực xung quanh trụ sở Khu bảo tồn, độ cao 500m bao gồm, rừng thứ sinh , cây bụi, trảng cỏ, bãi trống ven rừng

Trang 32

Tuyến 2: Dọc đường hai bên là rừng thứ sinh, rừng tự nhiên, bãi trống trong rừng trồng có các khu vực canh tác nông nghiệp như sắn, lúa Các điểm nghiên cứu chính có tọa độ địa lý là khu vực thôn La Tó, Húc Nghi, Đắkrông

ở độ cao 900-1000m có tọa độ địa lý là N 16.49770’, E 107.00285’; N 16.48331’, E 107.01114’

Tuyến 3: Tuyến ven suối, rừng tự nhiên, rừng thứ sinh gần với tuyến 2,

độ cao 900m

Tuyến 4: Khu vực cây bụi, rừng thứ sinh ven suối, xen lẫn cây trồng nông – lâm nghiệp như sắn, lúa dọc đường mòn và ven suối, độ cao 600-800m, tuyến xuất phát từ gần đường mòn Hồ Chí Minh vào sâu trong rừng, tọa độ địa lý N 16.62375’, E 106.864790’; N 16.61910’, E 106.87888’ Sinh cảnh rất phong ph, úthảm thực vật bao gồm cây bụi, cây gỗ nhỏ, đôi khi xen lẫn cây bụi, bãi trồng sắn một năm (chiều cao cây 1-2m), lúa sắp đến mùa thu hoạch, bờ cỏ với các vũng nước nhỏ, đường mòn dưới tán rừng với tán cây cao 4-5 m, suối rộng 5-6m, nhiều đá sỏi, nước suối ít (mùa khô) tán rừng che phủ khoảng ½ suối Độ cao 800-900m

Độ cao khu vực nghiên cứu ở Đắkrông từ 500-1000m

+ Vườn Quốc gia Bạch Mã:

Tuyến 1: Từ Biệt thự Đỗ Quyên theo đường ô tô, xuống thác Đỗ quyên, tọa độ địa lý N 16.18630’, E 107.84880, lên khu vực Biệt thự Đỗ quyên, độ cao 1200 – 1100-1200m Rừng tự nhiên, rừng thứ sinh, ven suối

Tuyến 2: Dọc đường ô tô từ Biệt thự Đỗ quyên tới cuối đường ô tô khách sạn Morin, tọa độ địa lý N 16.19603’, E 107.86255 (1200-1400m)

Tuyến 3: Từ điểm cuối đường ô tô khách sạn Morin lên đỉnh Bạch Mã, tọa độ tọa độ địa lý N 16.19952’, E 107.85760 (1400-1450m) Rừng tự nhiên, cây bụi dọc hai bên đường và trên đỉnh Bạch Mã

Tuyến 4: Từ đường ô tô vào thác Trĩ Sao, tọa độ địa lý N 16.22933’, E 107.84875, độ cao 300-500m Rừng tự nhiên, rừng thứ sinh dọc đường mòn trong rừng và ven suối

Trang 33

Tuyến 5: khu vực trụ sở Vườn và khu du lịch gần Vườn độ cao 300m Rừng thứ sinh, tái sinh, cây gỗ nhỏ, cây bụi, xe lẫn tre trúc, mua, tọa

100-độ địa lý N 16.23538’, E 107.87205

Nói chung sinh cảnh nghiên cứu khá phong phú từ cây bụi, khoảng trống trong rừng, ven suối, rừng tái sinh ven suối khu vực thấp (100m so với mặt nước biển) đến rừng nguyên sinh trên đỉnh Bạch Mã cao 1470m (N 16.19952’; E 107.85760’) Rừng nguyên sinh dọc đường mòn từ biệt thự Đỗ Quyên độ cao 1200 m đến đỉnh Bạch Mã, và từ biệt thự Đỗ Quyên theo đường nhựa và đường mòn xuống thác Đỗ Quyên độ cao 1100m (N 16.18630’; E 107.84880’) Rừng tự nhiên dọc đường mòn xuống thác Trĩ Sao

độ cao 350-450m (N 16.29330’; E 107.84785”) Sinh cảnh rừng tự nhiên dọc các tuyến đường mòn du lịch núi Bach Mã Sinh cảnh rừng thứ sinh, tái sinh theo đường mòn và ven suối khu vực thấp gần trụ sở Vườn Quốc gia Bạch Mã (N 16.23538’; E 107.87025’)

Độ cao nghiên cứu ở Bạch Mã 100-1450m

+ Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bà Nà – Núi chúa:

Tuyến 1: Khu vực trung tâm (khách sạn Morin Bà Nà) lên đỉnh Bà Nà, tọa độ địa lý N 15.99764’, E 107.98586 (1400-1487m) Sinh cảnh vườn hoa, cây bụi, khoảng trống hai bên đường, rừng tự nhiên trên đỉnh núi Bà Nà

Tuyến 2: Theo đường mòn gần đỉnh núi Bà Nà (1450m) Rừng tự nhiên, rừng hỗn giao tre nứa

Tuyến 3: Đường mòn rừng tự nhiên khu biệt thự Mimosa, tọa độ địa lý

N 15.99644’, E 107.99473, độ cao 1200 – 1250m Rừng tự nhiên, rừng thứ sinh, cây bụi

Tuyến 4: Dọc đường ô tô từ khách sạn Morin xuống khu vực hầm rượu (1400m – 1300) Rừng tự nhiên và cây bụi hai bên đường, vườn hoa

Tuyến 5: Ven đường ô tô độ cao 500-1200 m Rừng tự nhiên, cây bụi hai bên đường

Trang 34

Tuyến 6: Ven suối khu độ cao 600-700m Rừng tự nhiên và rừng thứ sinh Nói chung khu vực nghiên cứu bao gồm khu vực trên đỉnh núi Bà Nà ở

độ cao 1400-1450m, dọc đường nhựa hai bên rừng ở độ cao từ 600-1400m, rừng ven suối ở các độ cao khác nhau từ 600m đến 1350m, khu vực bãi trống, vườn hoa, cây bụi ở độ cao 1400m và 800m Thảm thực vật khu vực nghiên cứu là rừng tự nhiên, rừng thứ sinh, cây bụi, bãi cỏ, vườn hoa

Độ cao nghiên cứu ở Bà Nà – Núi Chúa từ 500-1500m

* Một số hình ảnh sinh cảnh nghiên cứu được trình bày ở phụ lục 1

3.5.2.2 Phương pháp điều tra theo tuyến

- Thu thập mẫu vật: bằng các phương pháp thông dụng là vợt côn trùng Mẫu được thu thập tại tất cả các sinh cảnh và độ cao khác nhau ở 3 khu vực

nghiên cứu phục vụ cho việc định loại

Thu mẫu bằng cách đưa vợt từ trái qua phải hay theo chiều ngược la ̣i

tù y theo tay thuâ ̣n là tay trái tay phải để bắt côn trùng, sau khi côn trùng đã

vào vơ ̣t cần gâ ̣p lưới vơ ̣t la ̣i để côn trùng không thoát ra ngoài

Ngay sau khi vợt được mẫu vật vào lưới, đưa vợt soi lên ánh sáng để xác định vị trí có bướm Nhẹ nhàng lựa cho cánh bướm xếp gọn lại phía lưng Dùng 2 ngón tay, ngón cái và ngón trỏ, bóp vào ngực bướm, bóp vừa phải sao cho chúng chết mà không bị nát Sau đó bắt ra khỏi vợt bằng tay hoă ̣c bằng

kẹpcho vào túi bướm Đố i với các loài bướm có kích thước nhỏ, bóp ngực có thể làm cho vâ ̣t mẫu dâ ̣p nát, thay vì bóp ngực, có thể giết bướm bằng cách cho vào lo ̣ đô ̣c chứa hóa chất ethyl acetat hoă ̣c hóa chất khác Lo ̣ đô ̣c có kích thước nhỏ để khi nhốt bướm vào lo ̣ đô ̣c, không có không gian để bướm bay

làm mất phấn Vài giây bướm chết, sau đó lấy bướm ra và bỏ vào túi bướm

vớ i râu đầu xếp song song với viền cánh trước ép sát ca ̣nh túi bướm nhằm ha ̣n chế râu đầu bị bẫy trong quá trình vâ ̣n chuyển, bảo quản

Trang 35

- Điều tra, ghi nhận sự có mặt của các loài bướm trên các tuyến theo phương pháp tuyến (Vu, 2007, 2009, 2013) Người điều tra đi với tốc độ vừa phải, quan sát và ghi nhận sự có mặt và mức độ phong phú của các loài dọc tuyến (với sự hướng dẫn và giúp đỡ của chuyên gia) Sách phân loại bướm có thể được sử dụng để xác định tên trên thực địa

3.5.3 Công tác nội nghiệp

- Kiểm tra số liệu, sắp xếp theo trình tự thời gian, theo mức độ trạng thái

- Xử lý và làm tiêu bản mẫu

- Quan sát, đo đếm và định tên loài

Định tên loài theo tác giả Chou (1994), D’Abrera (1982-1984), Corbet

& Pendlebury (1992), Osada et al (1999), Monastyrskii (2005, 2007), Monastyrskii & Devyatkin (2003), Ek-Amnuay (2012) và một số tác giả khác

- Thống kê và phân tích số liệu

- Lập bảng danh lục các loài bướm có trong khu vực nghiên cứu

- Xác định mức độ phong phú tương đối của các loài: dựa theo các tác giả nghiên cứu về bướm ở Việt Nam, loài bắt gặp từ 1-2 cá thể trong thời gian điều tra được coi là loài hiếm gặp; loài có số cá thể bắt gặp từ 3-5 là loài ít phổ biến; loài có trên 5 cá thể trong thời gian điều tra được coi là loài phổ biến (Vũ Văn Liên, 2005; Vũ Văn Liên & Trần Thị Thanh Bình, 2013) Cách tính này có thể phù hợp để xác định mức độ phổ biến của các loài mang tính chất tương đối nhằm so sánh mức độ phổ biến của các loài ở các khu vực trong thời gian nghiên cưu nhất định, phương pháp nghiên cứu như nhau

Trang 36

- Mức độ tương đồng về thành phần loài giữa hai khu vực nghiên cứu được tính theo công thức Sorensen:

B A

C SI

 2Trong đó:

SI: Mức độ tương đồng về thành phần loài ở hai khu vực nghiên cứu C: Số lượng loài xuất hiện ở cả hai khu vực A, B

A: Số lượng loài của khu vực A

B: Số lượng loài ở khu vực B

Chỉ số độ tương đồng về thành phần loài giữa 3 khu vực nghiên cứu được thể hiện bằng cây tương đồng, được tính toán bằng phần mềm Primer V.5 chạy trong Window XP

Trang 37

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Đa dạng về thành phần loài bướm

4.1.1 Thành phần loài bướm

Trong thời gian nghiên cứu đã ghi nhận được 188 loài bướm thuộc các

họ Papilionidae, Pieridae, Danaidae, Satyridae, Amathusiidae, Riodinidae, Nymphalidae, Lycaenidae và Hesperiidae Thành phần và mức độ phong phú của các loài được thể hiện ở bảng 4.1 Hình ảnh một số loài bướm được thể hiện ở phụ biểu 2

Trong số 188 loài ghi nhận được ở cả ba khu vực nghiên cứu, KBTTN Đắkrông có số loài bướm nhiều nhất (138 loài, chiếm 73,40% tổng số loài), tiếp theo là VQG Bạch Mã (104 loài, chiếm 55,32%), ít nhất là KBTTN Bà

Nà – Núi Chúa (62 loài, chiếm 32,98%)

Bảng 4.1: Thành phần loài và mức độ phong phú của các loài bướm tại 3

Họ bướm phượng Papilionidae

Trang 38

9 Papilio protenor (Cramer, 1775) ++

Họ bướm cải Pieridae

Trang 39

34 Appias paulina (Caremer, 1777) ++

Họ bướm đốm Danaidae

Họ bướm mắt rắn Satyridae

Trang 40

58 Melanitis leda (Linnaeus, 1758) ++ ++

Họ bướm rừng Amathusiidae

Họ bướm giáp Nymphalidae

Ngày đăng: 23/06/2021, 06:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w