1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng tại khu bảo tồn thiên nhiên pù luông, tỉnh thanh hóa​

63 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU (10)
    • 1.1. Phương thức quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng (10)
    • 1.2. Thế nào là mô hình tốt về quản lý rừng dựa vào cộng đồng? (11)
    • 1.3. Bài học thực tiễn trong quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng (12)
    • 1.4. Đặc điểm cơ bản của khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (15)
      • 1.4.1. Đặc điểm địa hình, địa chất (16)
      • 1.4.2. Đặc điểm khí hậu- thủy văn (17)
      • 1.4.3. Đặc điểm thảm thực vật rừng (18)
      • 1.4.4. Đặc điểm khu hệ động thực vật (20)
      • 1.4.5. Đặc điểm kinh tế- xã hội (20)
  • Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (22)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (22)
      • 2.1.1. Mục tiêu chung (22)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (22)
    • 2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (0)
      • 2.2.1. Đối tượng nghiên cứu (22)
      • 2.2.2. Phạm vi nghiên cứu (22)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (23)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (23)
      • 2.4.1. Các phương pháp điều tra thu thập số liệu (23)
      • 2.4.2. Các phương pháp xử lý số liệu (28)
  • Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (31)
    • 3.1. Một số đặc điểm cơ bản của cộng đồng bản Tân Sơn; (31)
      • 3.1.1. Lịch sử hình thành, dân sinh, kinh tế, văn hóa của bản Tân Sơn (31)
      • 3.1.2. Kiến thức bản địa trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng của cộng đồng người Thái ở bản Tân Sơn (36)
    • 3.2. Thực trạng mô hình QLR dựa vào CĐ tại bản Tân Sơn (41)
      • 3.2.1. Đánh giá quy trình vận hành mô hình QLR dựa vào CĐ (41)
      • 3.2.2. Đánh giá tác động về kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình QLR dựa vào CĐ (43)
      • 3.2.3. Đánh giá tác động của các yếu tố bên ngoài đối với mô hình (45)
    • 3.3. Thảo luận (49)
      • 3.3.1. Ảnh hưởng của thực thi chính sách QLR dựa vào CĐ đến văn hóa ứng xử của cộng đồng đối với môi trường (49)
      • 3.3.2. Định hướng giải pháp nâng cao hiệu quả công tác QLR dựa vào CĐ tại khu vực nghiên cứu (51)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (56)
  • PHỤ LỤC (60)

Nội dung

Mặt khác, chỉ khi cộng đồng dân địa phương thực sự tham gia vào các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học rừng và các hoạt động bảo tồn này thực sự mang lại những lợi ích kinh tế xã hội cho

MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Góp phần vào công tác quản lý bền vững tài nguyên rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông; đồng thời bổ sung cơ sở lý luận trong thực thi chính sách QLR dựa vào CĐ ở Việt Nam

(1) Đánh giá ảnh hưởng của thực thi chính sách QLR dựa vào CĐ đến văn hóa ứng xử của cộng đồng;

(2) Định hướng giải pháp nâng cao hiệu quả công tác QLTNR dựa vào

CĐ tại khu vực nghiên cứu

2.2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Mô hình QLR dựa vào CĐ tại bản Tân Sơn, xã Thanh Xuân, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Nghiên cứu này đặt ra ba nhóm câu hỏi nghiên cứu, liên quan đến ba tiêu chí chính trong đánh giá mô hình QLR dựa vào CĐ:

1 Quy trình : Quản lý rừng dựa vào cộng đồng diễn ra như thế nào ở bản Tân Sơn? Vai trò của các bên liên quan trong quá trình lập kế hoạch và thực hiện? Cộng đồng người Thái tại đây đã thích ứng như thế nào với quy trình vận hành như vậy?

2 Tác động : Những tác động đáng kể nhất đã đạt được về mặt kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình QLR dựa vào CĐ theo cảm nhận của các bên liên quan? Nguyên nhân dẫn đến suy giảm tính hiệu quả trong thực thi chính sách QLR dựa vào CĐ ở bản Tân Sơn?

3 Chính sách- “Luật chơi” : Những “luật chơi” cần phát huy, những chính sách cần xóa bỏ để nâng cao hiệu quả mô hình QLR dựa vào CĐ tại bản Tân Sơn?

Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Nghiên cứu một số đặc điểm cơ bản của cộng đồng bản Tân

- Nghiên cứu lịch sử hình thành, dân sinh, kinh tế, văn hóa của bản Tân Sơn;

- Nghiên cứu kiến thức bản địa trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng của cộng đồng người Thái bản Tân Sơn

Nội dung 2: Đánh giá thực trạng mô hình QLR dựa vào CĐ tại bản Tân

- Đánh giá cách vận hành mô hình QLR dựa vào CĐ tại bản Tân Sơn

- Đánh giá tác động về mặt kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình

- Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài đối với mô hình QLR dựa vào CĐ

Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Các phương pháp điều tra thu thập số liệu

2.4.1.1 Phỏng vấn người dân địa phương

Nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 35 hộ đại diện cho 142 hộ dân sống ở bản Tân Sơn để có được thông tin về cơ cấu nguồn thu nhập của hộ dân; cũng như ý kiến đánh giá của họ về mô hình QLR dựa vào CĐ đang triển khai tại bản

Có 12 câu hỏi (phân làm 3 nhóm) đưa ra để phỏng vấn 50 người đại diện cho 04 đối tượng (cán bộ Trạm kiểm lâm Thanh Xuân- 3 người, cán bộ UBND xã Thanh Xuân- 5 người, tổ bảo vệ rừng bản Tân Sơn- 7 người và, người dân bản Tân Sơn- 35 người), bao gồm: nhóm 1 (câu 1, câu 2, câu 3, câu

4), nhóm 2 (câu 5, câu 6, câu 7, câu 8, câu 9), nhóm 3 (câu 10, câu 11, câu 12) lần lượt để đánh giá mô hình về các mặt: quy trình quản lý; các tác động về kinh tế- xã hội- môi trường; các yếu tố bên ngoài tác động vào mô hình (mẫu phiếu ở phụ lục 2)

Ngoài ra, cuối mẫu phiếu đều thiết kế để lấy thông tin cá nhân của người được phỏng vấn; để sau này thống kê, đánh giá năng lực của các nhóm đối tượng Việc thiết kế thông tin cá nhân ở phần cuối là để người được phỏng vấn cảm thấy thoải mái khi điền các câu hỏi từ 1 đến hết; thông tin về họ tên người được phỏng vấn có thể không cung cấp- nếu không muốn

2.4.1.2 Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA)

Tiến hành họp dân với đầy đủ các thành phần, để tiến hành PRA với nội dung thảo luận liên quan chặt chẽ tới vấn đề QLR dựa vào CĐ (Michael và cộng sự, 2004) Cụ thể tiến hành 4 công cụ PRA sau:

Trình tự các bước như sau:

(1) Trước tiên cho họ xem Lược sử thôn bản (bản mẫu) và giải thích quá trình lập nên nó;

(2) Lập một bảng ma trận hai chiều (trục hoành; trục tung) Trong khi họp với cộng đồng để hỏi về những sự kiện lịch sử quan trọng có liên quan đến phương thức sử dụng tài nguyên, người thúc đẩy ghi những thông tin này vào trục hoành; đồng thời ghi thêm mốc tương lai 5 năm tới (để cộng đồng dự đoán sự biến động tài nguyên trong tương lai) Trên trục tung ghi những chỉ số sử dụng tài nguyên quan trọng đã thay đổi theo thời gian tại địa phương như: độ che phủ rừng, diện tích nương rẫy, diện tích đất bỏ hóa, số lượng cây gỗ lớn trong rừng, số lượng động vật hoang dã, lượng nước, chất lượng đất,…

(3) Cùng cộng đồng điểm qua từng ô (giao nhau giữa trung tung và trục hoành) và yêu cầu họ định lượng mỗi chỉ số sử dụng tài nguyên vào lúc xẩy ra từng sự kiện theo cách cho điểm từ 1 đến 10 (điểm 10 là thời điểm chỉ số môi trường đạt được cao nhất về chất hoặc lượng)

Trong quá trình tiến hành thảo luận, cho điểm có thể tiếp tục bổ sung/thay đổi những thời điểm/sự kiện lịch sử trên trục tung Bởi có thể lúc cho điểm cộng đồng mới nhận ra sự biến động tài nguyên rõ ràng ở thời điểm đó

Trình tự các bước như sau:

(1) Trước tiên cho họ xem Lịch thời vụ (bản mẫu) và giải thích quá trình lập nên nó;

(2) Ghi các tháng trong năm trên trục hoành (phía trên), và trên trục tung ghi những hoạt động sản xuất và các hoạt động mà cán bộ kiểm lâm khu bảo tồn cho là những mối đe dọa đến đa dạng sinh học Thảo luận với cộng đồng để thống nhất danh sách các hoạt động;

(3) Cùng với cộng đồng điểm qua từng hoạt động trên danh sách và yêu cầu họ đánh dấu những tháng họ thực hiện hoạt động đó;

(4) Đối với các hoạt động là mối đe dọa tiềm tàng, gây suy thoái tài nguyên thiên nhiên; hỏi sâu thêm: lý do lựa chọn thời điểm đó trong năm để tiến hành hoạt động;

Trình tự các bước như sau:

(1) Vẽ một vòng tròn lớn trên giấy A0 mô phỏng ranh giới của khu vực đang xem xét (ranh giới bản/làng + vùng rừng KBT gần bản);

(2) Yêu cầu người dân xác định những yếu tố tự nhiên, địa lý, công trình xã hội nổi bật (giông núi, suối, đường đi, nhà văn hóa, ) và đánh dấu lên sơ đồ Tiếp theo xác định những hệ sinh thái chủ yếu (rừng tự nhiên, rừng trồng, ruộng nước, nương rẫy, hoa màu, ) rồi đánh dấu lên sơ đồ Cuối cùng, đánh dấu vị trí cộng đồng đang ngồi trên sơ đồ Như vậy sơ đồ của khu vực xem như đã được phác thảo;

(3) Viết các hoạt động của cộng đồng đã xác định trong Lịch thời vụ lên thẻ màu (thẻ loại nhỏ), và yêu cầu người dân dán thẻ màu lên bản đồ- nơi hoạt động đó được thực hiện;

(4) Sau khi hoàn thành sơ đồ với các hoạt động; thảo luận với cộng đồng để chọn một tuyến đi sao cho tuyến này đi qua phần lớn những nơi diễn ra các hoạt động của cộng đồng (tuyến đi này thường bắt đầu từ một phía của bản đồ và kết thúc ở một phía khác);

(5) Vẽ bảng ma trận 2 chiều; một trục thể hiện các hoạt động của người dân, trục kia thể hiện sinh cảnh- nơi diễn ra hoạt động đó Có thể dùng hình vẽ minh họa các sinh cảnh trên ma trận để thông tin thêm hấp dẫn

(IV) Ma trận ra quyết định quản lý, sử dụng tài nguyên

Trình tự các bước như sau:

(1) Lập một bảng ma trận hai chiều (trục hoành, trục tung) Trên trục tung liệt kê những hoạt động liên quan đến tài nguyên đang được khai thác tại địa phương Trên trục hoành, liệt kê những người/các bên liên quan có vai trò ra quyết định cho đối tượng nào đó tiếp cận hay sử dụng các loại tài nguyên

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Một số đặc điểm cơ bản của cộng đồng bản Tân Sơn;

3.1.1 Lịch sử hình thành, dân sinh, kinh tế, văn hóa của bản Tân Sơn 3.1.1.1 Nguồn gốc, lịch sử hình thành

Năm 1960, một bộ phận người Thái sống tại huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình di cư đến vùng núi xã Phú Xuân, huyện Quan Hóa - ban đầu có 37 hộ được quy hoạch vào một xóm thuộc bản Éo Năm 1988, chia xã Phú Xuân thành 02 xã Phú Xuân và Thanh Xuân; trong đó cộng đồng người Thái di cư này tách thành 01 bản riêng thuộc xã Thanh Xuân, lấy tên là bản Tân Sơn

Bảng 3.1 Ma trận lịch sử bản Tân Sơn

(1999) Đầu tƣ trồng rừng Xoan

Thành lập Tổ bảo vệ rừng đầu tiên

Số lượng động vật hoang dã

Số lượng cây gỗ lớn

(1999) Đầu tƣ trồng rừng Xoan

Thành lập Tổ bảo vệ rừng đầu tiên

(2018) Độ che phủ của rừng

Kết quả thảo luận với cộng đồng để thực hiện công cụ PRA- Lược sử thôn bản (bảng 3.1) cho thấy: các loại tài nguyên rừng (động vật hoang dã, cây gỗ lớn, song mây) và môi trường (độ che phủ rừng, chất lượng- khối lượng nước) ở khu vực bản Tân Sơn đã càng ngày càng suy giảm so với thời điểm bản mới thành lập

(1960) Trong khi đó diện tích nương rẫy và diện tích ruộng nước lại biến động khác biệt hơn; nhiều nhất là giai đoạn 1977-1981 khi bản phát động phong trào khai hoang mở rộng đất canh tác; sau đó một phần diện tích nương rẫy bỏ hóa đã được thay thế bởi rừng trồng và rừng tái sinh (2010), một phần diện tích lúa nước được chuyển sang ao thả cá và đất thổ cư; đến nay diện tích nương rẫy chỉ nhiều hơn một chút so với khi bản mới thành lập

Người Thái ở bản Tân Sơn tìm nơi làm nhà và tìm đất canh tác dọc theo các dòng suối, hai bên bờ khe và triền núi thấp

Khe suối bắt nguồn từ rừng khu bảo tồn, chảy qua khu vực nương rẫy trồng lúa/ngô/sắn (với phương thức canh tác: phát, đốt, chọc, trỉa) hoặc trồng khoai sọ Khá nhiều hộ có rừng trồng Xoan ngay dưới nương rẫy và thấp hơn theo lưu vực suối là rừng Luồng Người dân trồng Keo, Lát hoa ngay trong vườn nhà; một số hộ làm lúa nước với diện tích nhỏ bên khe suối gần nhà

Hình 3.1 Sơ đồ lịch thời vụ bản Tân Sơn

Kết quả thảo luận với cộng đồng để thực hiện công cụ PRA - Lịch thời vụ (hình 3.2) cho thấy: Thời vụ nông nhàn của bản Tân Sơn vào các tháng 8, tháng 11 và tháng 12 (âm lịch) Việc canh tác lúa nước với diện tích nhỏ và chỉ một số hộ tiến hành; đo đó có thể tính thêm thời vụ nông nhàn của bản vào tháng 6 âm lịch Các tháng nông nhàn này; cũng là các tháng cao điểm người dân vào rừng khai thác lâm sản như: săn bắt động vật hoang dã, bắt ốc, thu hái lâm sản ngoài gỗ

3.1.1.3 Dân số và lao động

Bản Tân Sơn có 142 hộ, với 615 nhân khẩu Tổng số lao động chính là:

314 người; trong đó 172 nam và 142 nữ Có 52 hộ nghèo và cận nghèo (chiếm 52,11%)

3.1.1.4 Diện tích rừng được giao Đất rừng sản xuất, chính quyền địa phương đã giao cho các hộ là: 812,975 ha theo Quyết định số: 282/QĐ-UBND ngày 23/05/2013 của UBND huyện Quan Hóa KBTTN Pù Luông giao khoán cho cộng đồng khoanh nuôi bảo vệ là: 204,325ha

3.1.1.5 Thu nhập và cơ cấu nguồn thu nhập

Tổng thu nhập bình quân hàng năm của một hộ gia đình là 13,48 triệu đồng và bình quân đầu người là 3,12 triệu đồng Trong đó, thu nhập bình quân hàng năm của hộ gia đình từ sản xuất nông nghiệp đạt 7,65 triệu đồng (chiếm 56,75 % tổng thu nhập)

Nguồn thu của sản xuất lâm nghiệp chủ yếu là khai thác Luồng, Xoan, Lát hoa từ rừng trồng và khoán bảo vệ rừng; thu nhập bình quân 2,94 triệu đồng (chiếm 21,81% tổng thu nhập trung bình của hộ gia đình) Nguồn thu nhập từ săn bắt và khai thác lâm sản bình quân là 1,22 triệu đồng (chiếm 9,05 % tổng thu nhập bình quân của hộ)

Các nguồn thu khác có được từ; lương và dịch vụ buôn bán chiếm tới 12,39 % tổng thu nhập bình quân của hộ

Bảng 3.2 Nguồn thu nhập của các hộ gia đình ở bản Tân Sơn Đơn vị: triệu đồng/năm

Thu nhập bình quân hộ

Thu nhập bình quân đầu người

Tỉ lệ % tổng thu nhập

Sản bắt và khai thác lâm sản (c)

- Săn bắt động vật hoang dã

- Khai thác gỗ và lâm sản phụ

Nguồn: Số liệu điều tra năm 2018, 2019

Vũ trụ quan của người Thái ở đây gồm ba thế giới, một thế giới trên trời cao và hai thế giới cùng tồn tại ở mặt đất (trần gian); hai thế giới này gồm một bên là thế giới của những người sống và một bên là thế giới của ma Thế giới trên trời có Then Luông là đấng tối cao nhất cai quản trời đất, loài người và vạn vật, Then Luông được các quần thần giúp việc Dưới trần gian, bất cứ ở nơi nào cũng có các ma (phi) cai quản Muốn lập bản, khai phá ruộng, phát nương, đánh cá, săn thú đều phải xin phép các ma ruộng, ma nương, ma rừng, ma suối… Những vị thần trên trời, các ma dưới trần kể trên cùng với ma nhà (phi hươn), ma họ (phi đẳm), những ông, bà, cụ kỵ đã khuất (pú pầu) là những lực lượng phù hộ, bảo vệ người

Người Thái ở đây quan niệm, trên thân thể con người, những hồn (khuân) ở đầu người tập trung thành một ma (phi) và lên trời Trời là thế giới bên trên

- nơi ngự trị của Then Các hồn ở tứ chi tập trung thành ma nhà (phi hươn) và nương tựa nơi bàn thờ người chết trong nhà Ma nhà cũng tồn tại với người sống, trong thế giới của người sống Các hồn ở thân cây cũng họp lại thành một ma để về Mường Pú Pẩu ở trong rừng, nơi chôn người chết, Mường Pú Pẩu ứng với Mường Ma

Người Thái ở bản Tân Sơn còn thờ tông tộc, dòng họ và có nơi thờ riêng, có thể là một một hòn đá hay một gốc cây trong rừng thiêng Các họ hàng cùng thờ chung và liên kết với nhau qua việc thờ chung con ma của dòng họ, còn gia đình quần tụ nhau qua việc thờ chung ma nhà Tại bản Tân Sơn cũng có các ông mo làm thầy cúng và vai trò của những người này khá quan trọng; mo vừa là thầy cúng vừa là thầy chữa bệnh

3.1.1.7 Quan điểm và tập quán sử dụng tài nguyên rừng

Theo truyền thống; toàn bộ đất tự nhiên của bản Tân Sơn được chia thành 5 phần:

(1) Sông suối cung cấp nước sinh hoạt, nguồn tạo mương phai, lái lín (hệ thống thủy lợi), nguồn cung cấp thủy sản, nơi trú ngụ của ma suối và thần chủ nước;

(2) Khu rừng thiêng (đông căm) là nơi cúng tế thần chủ đất và ma dòng họ; nơi chôn cất người đã khuất;

(3) Rừng lấy cây (pá téng au mạy)/chính là đất rừng 02, dành cho việc trồng cây lấy gỗ, khai thác nguyên vật liệu xây dựng;

(4) Rừng bảo vệ môi trường (pá nó hẳm)/ chính là rừng bảo tồn, dành cho việc lấy măng, rau, cây thuốc, săn bắt, duy trì nguồn nước;

(5) Đất nương (đin hay), để làm nương rẫy trồng cây lương thực và hoa màu

Hình 3.2 Sơ đồ lát cắt bản Tân Sơn

3.1.2 Kiến thức bản địa trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng của cộng đồng người Thái ở bản Tân Sơn

3.1.2.1 Kiến thức bản địa trong sử dụng tài nguyên rừng

Rừng là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, nếu không có kinh nghiệm trong việc khai thác sử dụng thì sẽ nhanh chóng cạn kiệt, có tác động rất nguy hại đến cuộc sống của con người và muôn loài

Gỗ rất cần thiết trong đời sống hàng ngày, đối với người Thái ở đây gỗ chủ yếu dùng để làm nhà, đóng đồ gia dụng, đóng quan tài Để làm nhà, họ chọn gỗ sến, giổi, lim, chò, vù hương; còn gỗ bi (phay sừng), gỗ trám dùng làm quan tài Theo kinh nghiệm gỗ bi là loại gỗ chịu được nước và lâu bị mục rữa Theo kinh nghiệm, muốn gỗ tốt, bền thì phải khai thác vào mùa thu đông; nếu chặt vào mùa hè thì gỗ hay bị mọt do thời tiết nóng Không nên khai thác gỗ vào mùa xuân vì đây là mùa sinh trưởng của cây, các chất trong cây tập trung vào nuôi lá, cành dẫn đến gỗ kém bền Hơn nữa mùa xuân cũng là mùa đâm chồi của cây non, nếu đốn gỗ sẽ làm ảnh hưởng đến những mầm chồi của thảm thực vật và tầng tán thấp nhất của rừng

Thực trạng mô hình QLR dựa vào CĐ tại bản Tân Sơn

3.2.1 Đánh giá quy trình vận hành mô hình QLR dựa vào CĐ

Kết quả điều tra phỏng vấn cho thấy: người dân bản Tân Sơn tham gia vào công tác quản lý tài nguyên rừng dưới ba (03) hình thức: (1) Cộng đồng tự công nhận và quản lý theo truyền thống- đó chính là cách quản lý khu rừng thiêng gần bản; (2) Các hộ gia đình nhận đất rừng sản xuất do UBND huyện giao 50 năm; (3) Cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng đầu nguồn từ Ban quản lý KBTTN Pù Luông Tuy nhiên; việc đánh giá mô hình QLR dựa vào CĐ ở đây sẽ chỉ tập trung vào hình thức thứ 3; bởi nó gắn liền với công tác bảo tồn đa dạng sinh học của KBTTN Pù Luông

Cũng như nhiều bản/làng khác nằm trong vùng lõi và vùng đệm KBTTN

Pù Luông, bản Tân Sơn đã nhận khoán bảo vệ rừng bảo tồn ở khu vực gần bản Hằng năm, trưởng bản ký hợp đồng với ban quản lý khu bảo tồn về nhận khoán; sau đó về tiến hành họp dân để bầu chọn ra thành viên tổ bảo vệ rừng của bản; cộng đồng sẽ giám sát hoạt động của tổ bảo vệ rừng và tiến hành bầu lại theo định kỳ hằng năm Tiền công theo hợp đồng thu về sẽ trích % vào quỹ chung của bản; còn lại chia cho tổng số công đi làm của tổ bảo vệ rừng để ra định mức số tiền cho mỗi công Tổ trưởng tổ bảo vệ rừng cũng là trưởng bản, có trách nhiệm lập kế hoạch hoạt động cho tổ, có sổ theo dõi và bảng chấm công Kết quả thảo luận với người dân bản Tân Sơn để xây dựng Ma trận ra quyết định quản lý tài nguyên rừng (hình 04- phụ lục 1) cho thấy: có 05 nhóm người khác nhau (hay 05 bên gồm: Hộ gia đình trong bản; Tổ bảo vệ rừng bản; Ủy ban nhân dân xã Thanh Xuân; Ban quản lý KBTTN Pù Luông; Các Hội đoàn thể) đã tham gia vào công tác quản lý tài nguyên rừng tại khu vực

(bao gồm 06 hoạt động: Tuần tra rừng; Tuyên truyền; Ký cam kết bảo vệ rừng;

Cung cấp giống cây con; Tập huấn kỹ thuật nuôi trồng; Xử lý vi phạm) Trong các bên liên quan; thì Tổ bảo vệ rừng bản và UBND xã Thanh Xuân đã tham gia vào tất cả 06 hoạt động được triển khai tại bản Tân Sơn Ban quản lý KBTTN Pù Luông chỉ tham gia 5 hoạt động nhưng lại có vai trò quan trọng nhất; ban đã tham gia chủ động đồng thời còn dẫn dắt, thúc đẩy các bên liên quan khác tham gia Trong 06 hoạt động được triển khai tại bản Tân Sơn thì tuyên truyền bảo vệ rừng là hoạt động có sự tham gia đầy đủ của cả 5 bên liên quan

Kết quả đánh giá tính hợp lý trong quy trình vận hành mô hình QLR dựa vào CĐ ở bản Tân Sơn theo 03 chỉ số (vận hành, tài chính và thể chế) được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 3.3 Đánh giá tính hợp lý trong quy trình vận hành mô hình QLR dựa vào CĐ ở bản Tân Sơn Các chỉ số Cho điểm Diễn giải kết quả cho điểm

Chỉ số vận hành 6/10 Điểm cộng: tổ bảo vệ rừng có điều lệ hoạt động và quy định trình tự trong vận hành; Điểm trừ: sự tham gia của người dân sống gần rừng còn hạn chế, ở tình thế bị động

Chỉ số tài chính 4/10 Điểm trừ: toàn bộ kinh phí từ ngân sách nhà nước; chi phí vận hành mô hình rất cao (tiền khoán theo diện tích cho bản, lương cho cán bộ kiểm lâm địa bàn)

Chỉ số thể chế 6/10 Điểm cộng: thành lập tổ bảo vệ rừng, với trưởng bản là tổ trưởng; kiểm lâm địa bàn giám sát hoạt động của tổ và khâu nối với các bên liên quan Điểm trừ: quyền của người dân trong bản còn hạn chế Mới dừng lại ở biểu quyết thông qua thành viên tổ bảo vệ rừng do trưởng bản đề xuất

3.2.2 Đánh giá tác động về kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình QLR dựa vào CĐ

Hầu hết người dân trong bản được phỏng vấn (30/35) cho rằng họ phụ thuộc ở mức vừa phải đối với tài nguyên rừng; trong khi đó cả 8 cán bộ (Trạm Kiểm lâm địa bàn; UBND xã Thanh Xuân) được phỏng vấn cho rằng: người dân bản Tân Sơn ít phụ thuộc vào nguồn tài nguyên rừng Kết quả phỏng vấn sâu cũng cho thấy có sự khác biệt rõ ràng về quan điểm giữa người dân trong bản, thành viên tổ bảo vệ rừng và cán bộ trong đánh giá tác động đối với kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình QLR dựa vào CĐ tại bản Tân Sơn a) Tác động về kinh tế

Cán bộ và thành viên tổ bảo vệ rừng cho rằng thu thập của người dân đã tăng lên từ khi được tham gia vào quản lý rừng; bởi được nhận tiền khoán bảo vệ, được hỗ trợ sinh kế (cung cấp giống cây &tập huấn kỹ thuật) để trồng rừng Tuy nhiên hầu hết người dân cho rằng thu nhập của gia đình họ không thay đổi; bởi họ không tham gia vào tổ bảo vệ rừng nên không được nhận tiền khoán và rừng trên nương rẫy với sự hỗ trợ về giống&kỹ thuật của dự án cũng chưa được khai thác b) Tác động về xã hội

Các ưu điểm của việc giao khoán rừng cho cộng đồng quản lý được cán bộ kiểm lâm và cán bộ UBND xã chỉ ra gồm: (1) Có lực lượng bảo vệ rừng tại bản nên thông tin về tình hình an ninh rừng rất kịp thời; (2) Người dân được nâng cao năng lực thông qua các chương trình tập huấn kỹ thuật nuôi trồng; (3) Nhận thức của người dân được nâng cao, họ hiểu hơn tầm quan trọng của rừng và chủ động phát triển cây lâm nghiệp trên đất nương rẫy bỏ hóa Bên cạnh đó, họ cũng chỉ ra một số nhược điểm; đó là: (1) Phát sinh mâu thuẫn giữa lãnh đạo bản với người dân mỗi khi tiến hành bầu lại thành viên tổ bảo vệ rừng; (2) Thành viên tổ bảo vệ rừng không phải lực lượng chuyên trách (thỉnh thoảng có người đi làm ở miền Nam thì người nhà lại phụ trách thay)

Các thành viên tổ bảo vệ rừng và người dân trong bản thì chỉ ra các ưu điểm chính của việc giao khoán bảo vệ rừng là: (1) Hỗ trợ nguồn quỹ ổn định hằng năm để ban lãnh đạo bản hoạt động, cũng như hỗ trợ vật liệu cho xây dựng đường bê tông trong bản; (2) Người dân được hỗ trợ cây con giống; (3) Cán bộ giúp ban lãnh đạo bản xây dựng và hoàn thiện hương ước của cộng đồng Bên cạnh đó, họ cũng nói ra được một số nhược điểm; đó là: (1) Phát sinh mẫu thuẫn trong nội bộ cộng đồng (tổ bảo vệ rừng đôi khi vẫn bao che cho người thân đi khai thác rừng bảo tồn); (2) Khó thực hiện việc thế chấp (vì không có sổ đỏ) để vay vốn ngân hàng cũng như khó thực hiện các biện pháp kỹ thuật để phát triển tài nguyên rừng (rừng đầu nguồn, rừng thiêng) như các lâm phần giao cho từng hộ gia đình c) Tác động về môi trường

Cán bộ và thành viên tổ bảo vệ rừng cho rằng chất lượng rừng đã được tăng lên khi giao khoán cho cộng đồng quản lý; bởi từ thời điểm có tổ bảo vệ rừng, rừng đầu nguồn ở khu vực bản Tân Sơn rất ít xảy ra hiện tượng chặt phá, cháy rừng, bị xâm lấn bởi nương rẫy; điều này được minh chứng là số biên bản được lập để xử lý vi phạm ngày càng ít Tuy nhiên; hơn nửa số người dân được phỏng vấn (22 người) cho rằng chất lượng rừng không cải thiện khi giao khoán cho cộng đồng quản lý, thậm chí một số người (13 người) còn cho rằng chất lượng rừng giảm đi Người dân lý giải cho hiện tượng chất lượng rừng không được cải thiện/giảm đi là: nhiều đối tượng trong và ngoài bản vẫn lén lút đi khai thác rừng trong khi trách nhiệm và quyền hạn của tổ bảo vệ rừng còn hạn chế; họ chỉ báo lại tình hình cho kiểm lâm địa bàn xử lý, đôi khi còn không dám báo vì sợ bị đối tượng có máu mặt thù ghét

Kết quả đánh giá tính hiệu quả của mô hình QLR dựa vào CĐ ở bản Tân Sơn theo 03 chỉ số (kinh tế, xã hội và môi trường) được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 3.4 Đánh giá tính hiệu quả của mô hình QLR dựa vào CĐ ở bản

Tân Sơn Các chỉ số Cho điểm Diễn giải kết quả cho điểm

Chỉ số kinh tế 7/10 Điểm cộng: cộng đồng và thành viên tổ bảo vệ rừng có được lợi ích kinh tế mà không phải đóng góp tiền vốn Điểm trừ: chỉ cán bộ chủ chốt trong bản tham gia tổ bảo vệ rừng và được nhận các lợi ích kinh tế

Thảo luận

3.3.1 Ảnh hưởng của thực thi chính sách QLR dựa vào CĐ đến văn hóa ứng xử của cộng đồng đối với môi trường

Hành vi của mỗi cá nhân hoặc một nhóm người là cầu nối giữa hệ tự nhiên và hệ xã hội (Byers, 2000) Bởi lẽ đó giữa hành vi và môi trường (cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội) có những mối liên hệ qua lại, gắn bó mật thiết với nhau và chi phối lẫn nhau theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực Mọi nỗ lực bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng ở một địa phương cụ thể phải hướng đến duy trì và phát huy các hành vi đảm bảo cho hệ tự nhiên những tiền đề cho sự phát triển bền vững; đồng thời xóa bỏ các lối ứng xử không thân thiện với môi trường

Từ xa xưa, người Thái ở bản Tân Sơn có cuộc sống phụ thuộc vào canh tác nông nghiệp trên đất dốc và khai thác tài nguyên rừng; họ phải liên kết với nhau, dựa vào nhau mà sống; do đó tính cộng đồng rất cao Những kinh nghiệm tổ chức đời sống tập thể này được lưu truyền qua nhiều thế hệ đã tạo nên truyền thống văn hóa giúp cộng đồng tận dụng và ứng phó hiệu quả với môi trường của khu vực

Theo thời gian, dân số bản ngày một tăng, trong khi nguồn tài nguyên rừng ngày càng giảm, chính quyền sở tại thực thi chính sách bảo vệ rừng nghiêm ngặt mà đỉnh điểm là thành lập KBTTN Pù Luông vào năm 1996 (bảng 3.1) Lúc này văn hóa tổ chức đời sống của người Thái ở đây đã có những biến đổi căn bản nhằm thích nghi với đặc điểm tài nguyên và môi trường mới Bởi nhận thức rằng: sở hữu tài nguyên rừng & đất rừng đầu nguồn không phải là của cộng đồng, nếu không khai thác thì người bản khác cũng khai thác; người dân bản Tân Sơn đã chuyển từ hoạt động khai thác công khai sang khai thác lén lút, tận dụng tối đa tài nguyên (phỏng vấn trực tiếp anh Nguyễn Văn Thọ- hiện là Trạm trưởng trạm kiểm lâm Thanh Xuân, nguyên cán bộ kiểm lâm địa bàn bản Tân Sơn giai đoạn 1996-2000) Thực tế này cho thấy; người dân bản Tân Sơn có thể quyết định về quản lý sử dụng tài nguyên rừng ngay cả trong trường hợp nhà nước đã công bố quyền sở hữu (thành lập khu bảo tồn); tuy nhiên việc quyết định thực thi chính sách bảo vệ rừng nghiêm ngặt bằng lực lượng kiểm lâm có vũ trang đã làm mất đi động lực quản lý tài nguyên bền vững của cộng đồng

Từ năm 2012; chính sách quản lý tài nguyên rừng của chính phủ lại có sự thay đổi Cũng như nhiều bản/làng khác nằm trong vùng lõi và vùng đệm KBTTN Pù Luông, bản Tân Sơn đã nhận khoán bảo vệ rừng đặc dụng ở khu vực gần bản Tổ bảo vệ rừng của bản đã được thành lập, tổ đại diện cho cộng đồng triển khai công tác tuần tra bảo vệ rừng Văn hóa tổ chức đời sống của người Thái ở bản Tân Sơn lại tiếp tục “tiến hóa” để tận dụng hiệu quả chính sách mới; tuy nhiên cách tổ chức của họ không đồng thuận như giai đoạn thực thi chính sách bảo vệ rừng nghiêm ngặt, mà có sự phân hóa sâu sắc do nhận thức và mức độ hưởng lợi khác nhau Người dân nhận thức rằng; với chính sách này kiểm lâm địa bàn có thêm lực lượng hỗ trợ bảo vệ rừng tại chỗ, nên càng ít đi rừng mà chỉ nhận thông tin qua tổ bảo vệ rừng (mục 3.2.2b); bởi vậy họ coi tổ bảo vệ rừng như “bức bình phong”, nếu được tổ thông cảm cho khai thác để sử dụng trong gia đình thì không phải lo sợ kiểm lâm địa bàn (mục 3.2.2c) Với thành viên tổ bảo vệ rừng; động cơ họ tham gia vào tổ là để có thêm nguồn thu nhập từ tiền nhận khoán, đồng thời được ưu tiên nhận hỗ trợ cây con giống (mục 3.2.2a); nếu có việc bận có thể cử người nhà đi tuần tra thay (mục 3.2.2b) Sự phân hóa về văn hóa ứng xử của các bên liên quan càng thể hiện rõ khi tham vấn ý kiến của các bên về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài nguyên rừng (bảng 3.7)

Như vậy; tính hiệu quả trong thực thi chính sách QLR dựa vào CĐ ở bản Tân Sơn còn chưa cao Mặc dù đã tiến hành phân quyền, giao khoán bảo vệ rừng cho cộng đồng; nhưng vẫn không tránh khỏi lối mòn phục vụ lợi ích kinh tế của một nhóm ưu thế, chứ không hướng đến lợi ích chính đáng của số đông người dân dễ bị tổn thương bởi chính sách bảo tồn đa dạng sinh học rừng Nguyên nhân của vấn đề cũng đã được Colchester chỉ ra khi nghiên cứu quản lý rừng bền vững ở Đông Nam Á; đó là: khi quyền của cộng đồng bị suy giảm và quyền của từng cá nhân riêng rẽ được tăng cường thì việc quản lý tài nguyên rừng theo truyền thống bị ảnh hưởng tiêu cực (Colchester, 1995)

3.3.2 Định hướng giải pháp nâng cao hiệu quả công tác QLR dựa vào CĐ tại khu vực nghiên cứu

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực trạng mô hình QLR dựa vào CĐ ở bản Tân Sơn và tham khảo ý kiến của các bên liên quan, tôi xin đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài nguyên rừng tại đây

Cụ thể như sau: a) Nhóm giải pháp về cải cách thể chế và quy trình vận hành mô hình

Ban hành quy định về cơ cấu nhân sự thành viên tổ bảo vệ rừng, đảm bảo đại diện cho mỗi dòng tộc, đại diện cho ban quản lý bản, đại diện cho nhóm hộ dân có khu nương rẫy gần rừng, Vẫn tiến hành tổng kết công tác bảo tồn đa dạng sinh học rừng và bầu lại thành viên tổ bảo vệ rừng của bản hằng năm; tuy nhiên hợp đồng khoán bảo vệ rừng cần có thời gian dài hơn để kiểm chứng các kết quả cụ thể/sản phẩm đạt được khi mỗi bên thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình (đề xuất 5 năm);

Theo chu kỳ thực hiện hợp đồng khoán bảo vệ rừng (đề xuất 5 năm); kiểm lâm địa bàn (đại diện cho Ban quản lý KBTTN Pù Luông) hỗ trợ tổ bảo vệ rừng (đại diện cho cộng đồng) soạn thảo lại quy ước bảo vệ rừng của bản Tân Sơn để cập nhật các mối đe dọa tiềm tàng Các điều khoản đưa vào quy ước cần giúp cộng đồng nhận thức rõ ràng quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng khoán; đồng thời giải quyết được mâu thuẫn giữa nhu cầu sử dụng lâm sản của người dân và yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học rừng;

Hiện tại; nguồn kinh phí để vận hành mô hình hoàn toàn từ ngân sách nhà nước và lượng tiền chi trả tỉ lệ thuận với diện tích được khoán Để đa dạng hóa nguồn kinh phí, đồng thời theo đuổi mục tiêu bảo vệ chất lượng rừng, cần xúc tiến để triển khai chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng Hiện tại; tổ bảo vệ rừng bản Tân Sơn đã có kế hoạch hoạt động rõ ràng; tuy nhiên nhiệm vụ chủ yếu của tổ là tuần tra, kiểm soát để ngăn ngừa những vụ vi phạm của người ngoài cộng đồng Cần bổ sung các nhiệm vụ sử dụng bền vững tài nguyên rừng cho phát triển sinh kế vào kế hoạch hoạt động của tổ; tiến tới đổi tên thành Tổ bảo vệ và phát triển rừng bản Tân Sơn với thành viên có cả nữ giới;

Chủ hợp đồng (ban quản lý KBTTN Pù Luông) cần thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc thực hiện hợp đồng và cung cấp những hỗ trợ kỹ thuật cho dân, nhất là khi thực hiện các hợp đồng bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên rừng Ngoài ra, ban quản lý KBT cũng cần giám sát chặt chẽ việc thanh toán tiền khoán bảo vệ cho người dân; đảm bảo rõ ràng, kịp thời và tiền công bảo vệ rừng có tác dụng lớn đối với kinh tế gia đình b) Nhóm giải pháp về phát triển sinh kế cho người dân nhằm giảm áp lực lên tài nguyên rừng của khu bảo tồn

Các hoạt động phát triển sinh kế cho người dân cũng được thể hiện rõ trong hợp đồng khoán bảo vệ rừng (mục quyền lợi của cộng đồng) Phát triển các dịch vụ du lịch sinh thái (homestay, tham quan rừng, tìm hiểu văn hóa truyền thống) là một mô hình phát triển sinh kế khá phù hợp với bản Tân Sơn; có thể phát huy các nguồn lực sẵn có của cộng đồng

Cần tính đền nguồn lực của cộng đồng và tham khảo ý kiến của các hộ dân khi lựa chọn xây dựng mô hình sản xuất- dịch vụ để nâng cao thu nhập cho người dân; tuy nhiên, với mục tiêu phát triển sinh kế (bảo tồn chứ không phải phát triển) thì cần ưu tiên lựa chọn mô hình có tác động rõ rệt trong giảm áp lực lên tài nguyên rừng Tại bản Tân Sơn; đó là các mô hình sản xuất có thể thay thế sản phẩm khai thác từ rừng bảo tồn (gỗ, song mây, tre nứa, phong lan, cây thuốc, động vật hoang dã, ốc núi) hoặc thời kỳ hoạt động cao đỉnh trùng với thời vụ nông nhàn hiện tại của người dân bản Tân Sơn (tháng 6, 8,

11, 12 âm lịch) Để duy trì bền vững các mô hình này, cần ứng dụng các kiến thức bản địa liên quan cũng như thử nghiệm khả năng thích hợp của kỹ thuật bên ngoài (tập huấn kỹ thuật nuôi trồng cho người dân) c) Nhóm giải pháp về ứng dụng kiến thức bản địa trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng

Thực thi chính sách QLR dựa vào CĐ ở bản Tân Sơn còn tồn tại bất cập Một trong những nguyên nhân căn bản là quyền của cộng đồng bị suy giảm, trong khi quyền của từng cá nhân riêng rẽ được tăng cường Bởi vậy; cần thảo luận với người dân để soạn thảo ra quy ước sử dụng và bảo vệ rừng; quy ước này bản chất là hương ước của cộng đồng nhưng các điều khoản chỉ quy định riêng cho vấn đề quản lý tài nguyên rừng Các điều khoản đưa ra phải tham khảo kiến thức bản địa trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng (đã mô tả ở mục 3.1.2); bởi khi đó cộng đồng sẽ dễ dàng tiếp nhận và tự nguyện tuân thủ theo quy ước này; cá nhân nào không tuân thủ sẽ chịu áp lực của cả cộng đồng

Cách tiến hành phù hợp sẽ là; (1) Đầu tiên cần xác định các kiến thức bản địa có thể giải quyết được mâu thuẫn giữa nhu cầu sử dụng lâm sản và yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học rừng; (2) Tham khảo các kiến thức bản địa này để soạn thảo ra các quy định về chủng loại, số lượng, thời gian và địa điểm được khai thác tài nguyên, cũng như mức hình phạt bằng hiện vật nếu không tuân thủ So với các quy định hiện có trong hương ước, có lẽ cần điều chỉnh tăng mức hình phạt lên theo hướng: giá trị của hiện vật phải bằng bằng lớn hơn giá trị lâm sản khai thác; (3) Họp dân để thông qua quy ước bảo vệ và sử dụng rừng; (4) Phổ biến trên loa phát thanh để toàn dân bản Tân Sơn biết; ngoài ra; tiếp cận các ông mo (vừa là thầy cúng vừa là thầy chữa bệnh) vận động họ lồng ghép các quy định vào bài cúng, để nâng cao ý thức bảo vệ rừng cho người dân bản Tân Sơn

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ

Từ toàn bộ những kết quả và thảo luận trên, cho phép tôi rút ra một số kết luận sau:

Ngày đăng: 23/06/2021, 06:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (2013), Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng khu BTTN Pù Luông đến năm 2020, Tài liệu lưu hành nôi bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch bảo tồn và "phát triển bền vững rừng đặc dụng khu BTTN Pù Luông đến năm 2020
Tác giả: Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông
Năm: 2013
3. Đào Hữu Bính, Đoàn Đức Lân, Vũ Đức Toàn và Đặng Văn Công (2010), Hoạt động bảo vệ rừng của người Thái tại bản Nhộp, Tuyển tập Hội thảo quản lý rừng tự nhiên dựa trên quyền của người dân, Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động bảo vệ rừng của người Thái tại bản Nhộp
Tác giả: Đào Hữu Bính, Đoàn Đức Lân, Vũ Đức Toàn và Đặng Văn Công
Năm: 2010
4. Đặng Ngọc Cần (2004). Điều tra thú và đánh giá bảo tồn của một số khu vực chọn lọc ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hoá. Dự án Bảo tồn cảnh quan Pù Luông- Cúc Phương, Tổ chức bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế- Chương trình Việt Nam và Cục Kiểm lâm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thú và đánh giá bảo tồn của một số khu vực "chọn lọc ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hoá. Dự án Bảo tồn "cảnh quan Pù Luông- Cúc Phương
Tác giả: Đặng Ngọc Cần
Năm: 2004
5. Ngô Trí Dũng và Bùi Phước Chương (2010). Cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên rừng: Kinh nghiệm từ các dự án của Trung tâm nghiên cứu và tư vấn quản lý tài nguyên (CORENARM) triển khai ở Thừa Thiên Huế. Tuyển tập Hội thảo quản lý rừng tự nhiên dựa trên quyền của người dân. Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng tham gia quản lý tài "nguyên rừng: Kinh nghiệm từ các dự án của Trung tâm nghiên cứu và tư vấn "quản lý tài nguyên (CORENARM) triển khai ở Thừa Thiên Huế
Tác giả: Ngô Trí Dũng và Bùi Phước Chương
Năm: 2010
6. Furey, N. và Infield, M (2005). Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Các cuộc điều tra đa dạng sinh học tại các vùng trọng điểm nhằm bảo tồn dãy núi đá vôi Pù Luông- Cúc Phương. Dự án cảnh quan đá vôi Pù Luông- Cúc Phương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Các cuộc "điều tra đa dạng sinh học tại các vùng trọng điểm nhằm bảo tồn dãy núi đá "vôi Pù Luông- Cúc Phương
Tác giả: Furey, N. và Infield, M
Năm: 2005
7. Trịnh Văn Hạnh, Lưu Tường Bách và cộng sự (2013). Thành phần loài động vật, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển các loài động vật tại khu BTTN Pù Luông. Dự án điều tra lập danh lục khu hệ động thực vật rừng khu BTTN Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa- Liên danh Viện sinh thái & bảo vệ công trình và Trường Đại học khoa học tự nhiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Thành phần loài động "vật, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển các loài động vật tại khu "BTTN Pù Luông
Tác giả: Trịnh Văn Hạnh, Lưu Tường Bách và cộng sự
Năm: 2013
8. Bảo Huy (2009). Xây dựng cơ chế hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng. Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng cơ chế hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng
Tác giả: Bảo Huy
Năm: 2009
9. Lý Hòa Khương (2010). Đồng quản lý- một hướng đi mới cho rừng ngập mặn tỉnh Sóc Trăng. Tuyển tập Hội thảo quản lý rừng tự nhiên dựa trên quyền của người dân. Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng quản lý- một hướng đi mới cho rừng ngập mặn "tỉnh Sóc Trăng
Tác giả: Lý Hòa Khương
Năm: 2010
10. Đinh Văn Lâm, Nguyễn Trung Thành và cộng sự (2013). Thành phần loài thực vật, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển các loài thực vật tại khu BTTN Pù Luông. Dự án điều tra lập danh lục khu hệ động thực vật rừng khu BTTN Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa- Liên danh Viện sinh thái & bảo vệ công trình và Trường Đại học khoa học tự nhiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài "thực vật, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển các loài thực vật tại khu "BTTN Pù Luông
Tác giả: Đinh Văn Lâm, Nguyễn Trung Thành và cộng sự
Năm: 2013
11. Michael M, Maurits S, Irma A (2004). Giáo dục bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng. WWF Chương trình Đông Dương. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục bảo tồn có sự tham gia của "cộng đồng
Tác giả: Michael M, Maurits S, Irma A
Năm: 2004
12. Nguyễn Bá Ngãi (2009). Quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam: Thực trạng, Vấn đề và Giải pháp. Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam: Thực trạng, "Vấn đề và Giải pháp
Tác giả: Nguyễn Bá Ngãi
Năm: 2009
13. Hoàng Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Thj Hồng Nhung (2015). Quản lý dựa vào cộng đồng: lý luận và thực tiễn. Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia “Cơ sở lý luận và thực tiễn ứng dụng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”. Viện kinh tế và chính trị thế giới;tháng 5; tr. 1-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý dựa vào "cộng đồng: lý luận và thực tiễn". Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia “Cơ sở lý luận và thực tiễn ứng dụng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Hoàng Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Thj Hồng Nhung
Năm: 2015
14. Nguyễn Quang Tân, Trần Ngọc Thanh và Hoàng Huy Tuấn (2009). Lâm nghiệp cộng đồng trong tiến trình phát triển: Bài học từ dự án học hỏi quản trị rừng Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm "nghiệp cộng đồng trong tiến trình phát triển: Bài học từ dự án học hỏi quản "trị rừng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Tân, Trần Ngọc Thanh và Hoàng Huy Tuấn
Năm: 2009
15. Ủy ban nhân dân xã Thanh Xuân- Ban chỉ đạo bảo vệ và Phát triển rừng (2017). Báo cáo tổng kết công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng năm 2017.Tài liệu lưu hành nôi bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng năm 2017
Tác giả: Ủy ban nhân dân xã Thanh Xuân- Ban chỉ đạo bảo vệ và Phát triển rừng
Năm: 2017
16. Viện kinh tế sinh thái (2000). Sổ tay lưu giữ và sử dụng kiến thức bản địa. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà NộiTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay lưu giữ và sử dụng kiến thức bản địa
Tác giả: Viện kinh tế sinh thái
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Tiếng Anh
Năm: 2000
17. BirdLife International and FIPI (2001). Sourcebook of Existing and Proposed Protected Areas in Vietnam. BirdLife International and the Forest Inventory and Planning Institute, Hanoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sourcebook of Existing and Proposed "Protected Areas in Vietnam
Tác giả: BirdLife International and FIPI
Năm: 2001
19. Colchester (1995), M. Sustaining the Forests: The Community-based Approach in South and South-east Asia, Development and Change 25 (1): 69- 100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: M. Sustaining the Forests: The Community-based "Approach in South and South-east Asia
Tác giả: Colchester
Năm: 1995
20. Hardin, Garrett (1968), The Tragedy of the Commons, in Debating the Earth: The Environmental Politics Reader (ed. Dryzek, J.S., Oxford University Press, 2005, pp. 25-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Tragedy of the Commons
Tác giả: Hardin, Garrett
Năm: 1968
21. Lynch, Owen J. and Janis B. Alcorn (1994), Tenurial Rights and Community- based Conservation, in Western, David and R. Michael Wright (eds.), Natural Connections: Perspectives in community based conservation, Island Press, Washington, D.C, 1994, Chap. 16, pp. 373-392 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tenurial Rights and Community-"based Conservation
Tác giả: Lynch, Owen J. and Janis B. Alcorn
Năm: 1994
24. Vandergeest, Peter (2006), CBNRM communities in action, in Tyler, Stephen R. (ed.), Communities Livelihoods and Natural Resources: Action Research and Policy Change in Asia, Ottawa: International Development Research Centre, 2006, Chapter 16, pp. 321-346 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CBNRM communities in action
Tác giả: Vandergeest, Peter
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w