Danh sách các loài động vật hoang dã được nhân nuôi trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ .... Đề xuất một số định hướng,giải pháp quản lý và phát triển hoạt động nhân nuôi động vật hoang
Trang 1LÒ THỊ THI
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ NHÂN NUÔI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ,
TỈNH ĐIỆN BIÊN
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 8620201
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐỒNG THANH HẢI
Hà Nội, 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, luận văn “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản
lý bảo vệ động vật hoang dã nhân nuôi trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết
quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng Khoa học
Hà Nội, ngày … tháng 5 năm 2020
Người cam đoan
Lò Thị Thi
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập,thực hiện làm Luận văn tốt nghiệp trong chương trình đào tạo Thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, chuyên ngành Lâm học tại Phòngđào tạo sau đại học trường Đại học Lâm nghiệp, tôi luôn nhận được
sự ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tình quý báu của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè
Nhân dịp này cho tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cơ quan, tổ chức và cá nhân:
- Phòng Đào tạo sau đại học, Ban giám hiệu và toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành khoá đào tạo;-
PGS.TS Đồng Thanh Hải, giáo viên hướng dẫn khoa học của luận văn đã định hướng và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn;
Do còn nhiều hạn chế về thời gian, nhân lực, tài chính và điều kiện nghiên cứu nên chắc chắn luận văn còn nhiều thiếu sót Tôi mong muốn nhận được những đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II MỤC LỤC III DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VI DANH MỤC BẢNG VII DANH MỤC HÌNH VIII
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Trên thế giới 4
1.2 Ở Việt Nam 5
1.2.2 Hệ thống các chính sách liên quan đến phát triển động vật hoang dã 8 1.2.3 Tình hình nhân nuôi động vật hoang dã tại Điện Biên 16
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 21
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 21
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 21
2.3 Nội dung nghiên cứu 21
2.4 Phương pháp nghiên cứu 22
2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 22
2.4.2 Phương pháp phỏng vấn 23
2.4.3 Phương pháp quan sát trực tiếp 23
2.4.4 Công cụ SWOT 24
CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 25
3.1 Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu 25
3.1.1 Vị trí địa lý 25
Trang 53.1.2 Địa hình địa thế 26
3.1.3 Khí hậu 27
3.1.4 Thủy văn 28
3.1.5 Địa chất, thổ nhưỡng 29
3.1.6 Hiện trạng sử dụng đất 30
3.1.7 Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng 31
3.1.8 Tình hình tái sinh phục hồi rừng tự nhiên 36
3.1.9 Đánh giá về điều kiện tự nhiên 37
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 38
3.2.1 Dân tộc, dân số và lao động 38
3.2.2 Thực trạng kinh tế 39
3.2.3 Giao thông 40
3.2.4 Tình hình an ninh - quốc phòng 41
3.2.5 Đánh giá về điều kiện kinh tế - xã hội 41
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
4.1 Hiện trạng động vật hoang dã nhân nuôi trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ 43
4.1.1 Danh sách các loài động vật hoang dã được nhân nuôi trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ 43
4.1.2 Cơ cấu hộ nuôi động vật hoang dã 45
4.1.3 Mục đích của các hộ nhân nuôi động vật hoang dã 47
4.1.4 Quy mô của các hộ nhân nuôi động vật hoang dã 48
4.1.5 Việc áp dụng các quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo quản, lưu giữ động vật hoang dã 48
4.1.6 Nguồn nhân lực và nguồn tài chính để nhân nuôi động vật hoang dã 48 4.1.7 Phân bố hoạt động nhân nuôi động vật hoang dã 48
4.1.8 Thực trạng công tác quản lý hoạt động nhân nuôi và buôn bán động vật hoang dã tại thành phố Điện Biên Phủ 50
4.2 Thực trạng về kỹ thuật, chính sách động vật hoang dãnhân nuôi 54
Trang 64.2.1 Thực trạng về kỹ thuật nhân nuôi 54
4.2.2 Nhu cầu và hình thức phổ biến kỹ thuật nhân nuôi 56
4.2.3 Thực trạng về chính sách nhân nuôi động vật hoang dã 57
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nhân nuôi động vật hoang dã trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ 58
4.3.1 Vốn đầu tư 59
4.3.2 Thị trường tiêu thụ 59
4.3.3 Kỹ thuật nhân nuôi 60
4.3.4 Dịch bệnh 60
4.4 Hiệu quả nhân nuôi một số loài động vật hoang dã trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ 61
4.4.1 Chi phí cho hoạt động nhân nuôi động vật hoang dã 61
4.4.2 Hiệu quả kinh tế trong nhân nuôi động vật hoang dã 63
4.5 Phân tích SWOT về hoạt động nhân nuôi động vật hoang dã ở thành phố Điện Biên Phủ 64
4.6 Thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân 68
4.6.1 Thuận lợi 68
4.6.2 Khó khăn 68
4.6.3 Nguyên nhân của khó khăn trong công tác quản lý việc nhân nuôi động vật hoang dã nhân nuôi 69
4.7 Đề xuất một số định hướng,giải pháp quản lý và phát triển hoạt động nhân nuôi động vật hoang dã trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ 71
4.7.1 Một số định hướng 71
4.7.2 Một số giải pháp phát triển động vật hoang dã nhân nuôi 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 BTTN Bảo tồn thiên nhiên
5 NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
6 ST, SS Sinh trưởng, sinh sản
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Hiện trạng diện tích các loại đất đai 31
Bảng 3.2 Thống kê hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp 32
Bảng 3.3 Trữ lượng các loại rừng 33
Bảng 3.4 Tình hình tái sinh phục hồi rừng tự nhiên 36
Bảng 4.1 Danh sách các loài động vật hoang dã được nhân nuôi trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ 43
Bảng 4.2 Cơ cấu hộ nhân nuôi động vật hoang dã tại thành phố Điện Biên Phủ46 Bảng 4.3 Phân bố số hộ nhân nuôi ĐVHDtrên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ 49
Bảng 4.4 Tổng hợp tình hình vi phạm về buôn bán, vận chuyển trái phép ĐVHD từ năm 2017 - 2019 trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ 53
Bảng 4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt độngnhân nuôi động vật hoang dã trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ 59
Bảng 4.6 Chi phí nhân nuôi động vật hoang dã bình quân một hộ 62
Bảng 4.7 Giá trị sản xuất và thu nhập của các hộ nhân nuôi động vật hoang dã 63
Trang 9tại phường Noong Bua 52
Trang 10Hiện nay, nhân nuôi động vật hoang (ĐVHD) dã xuất hiện ở hầu hết các tỉnh trong cả nước, đặc biệt là vùng đồng bằng Sông Hồng, Miền Trung, Tây Nguyên và vùng đồng bằng Sông Cửu Long Các địa phương có tiềm năng chăn nuôi động vật hoang dã tiêu biểu như: Vĩnh Phúc, Hà Nội, Lạng Sơn, An Giang, Một số loài động vật hoang dã được nuôi phổ biến có thể
kể đến là: Nhím, Lợn rừng, Cá sấu nước ngọt, Rắn, Hươu sao, Cầy, (Phạm Nhật và Nguyễn Xuân Đặng, 2005) Nghề nhân nuôi động vật hoang
dã đã mang lại nguồn lợi kinh tế và tạo thêm công ăn việc làm cho một phần lao động nhàn rỗi ở vùng nông thôn Số lượng loài, số lượng các hộ gia đình,
cơ sở nhân nuôi và quy mô nhân nuôi có sự tăng lên đáng kể song những khó khăn gặp phải trong quá trình chăn nuôi đã khiến hiệu quả hoạt động này chưa thực sự cao Mặt khác, việc phát triển các cơ cở chăn nuôi còn mang tính tự phát, kỹ thuật chăn nuôi hạn chế khiến sản phẩm chưa có tính
Trang 11cạnh tranh cao, chưa đáp ứng được các thị trường tiêu dùng khó tính, đặc biệt là thị trường ngoài nước
Nhân nuôi động vật hoang dã không chỉ được coi là một nghề để phát triển kinh tế mà còn có ý nghĩa lớn về mặt bảo tồn đa dạng sinh học cũng như bảo vệ các loài động vật hoang dã ngoài tự nhiên Hoạt động gián tiếp làm giảm áp lực của việc săn bắt, khai thác tài nguyên động vật ngoài tự nhiên đồng thời có thể bảo tồn được các loài nguy cấp, quý hiếm đặc biệt tại các cơ sởnhân nuôi với mục đích bảo tồn
Hoạt động nhân nuôi ĐVHD tại tỉnh Điện Biên được phát triển khá sớm, xuất hiện từ khoảng năm 2001, là một trong những tỉnh đi đầu khu vực phía Tây Bắc, phát triển mạnh về số lượng cơ sở nuôi, số lượng cá thể ĐVHD cũng như đa dạng về thành phần loài nhân nuôi; đặc biệt từ 2008 - 2010, số lượng cá nhân, hộ gia đình làm thủ tục đăng ký nhân nuôi sinh trưởng, sinh sản ĐVHD tăng mạnh, đã có hàng chục cơ sở nuôi ĐVHD được cấp giấy phép trong khoảng thời gian này, loài nuôi chủ yếu lúc này là loài Nhím
(Hystrix brachyura) và Lợn rừng(Sus scrofa) (theo báo cáo 2008, 2009, 2010 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Điện Biên) Nhu cầu nuôi lúc này chỉ chạy theo thị
trường, sản phẩm ĐVHD rất được ưa chuộng để xuất khẩu, đặc biệt là thị trường Trung Quốc Từ nhu cầu của thị trường, nhiều cá nhân, hộ gia đình đã đầu tư khá lớn nguồn kinh phí vào hoạt động nhân nuôi ĐVHD, nhiều cơ sở, trại nuôi được hình thành nhưng không khai báo với chính quyền địa phương,
cơ quan chức năng trên địa bàn Nhiều cơ sở nuôi lợi dụng cơ chế, chính sách khuyến khích của nhà nước, lợi dụng những lỗ hổng trong công tác quản lý để đưa các cá thể, loài nuôi từ tự nhiên vào cơ sở nhân nuôi Vì những nguyên nhân khách quan, chủ quan mà công tác quản lý một số thời điểm đang còn những tồn tại và hạn chế nhất định
Trang 12Thành phố Điện Biên Phủ là một trong những địa phương đã đang đứng trước những khó khăn về mặt quản lý nhân nuôi ĐVHD, bởi nếu việc quản lý không chặt sẽ dẫn đến tình trạng đưa những cá thể ĐVHD ngoài tự nhiên vào, mặt khác nếu quá cứng nhắc trong khâu quản lý thì lại hạn chế cho việc nhân nuôi, phát triển Do vậy, nghiên cứu thực trạng, phân tích hiệu quả và phương hướng phát triển nhân nuôi ĐVHD ở địa phương, từ đó đề xuất giải pháp cụ thể về công tác quản lý, về điều kiện, trình tự thủ tục đăng ký cấp mã sốnhân nuôi cũng như vận chuyển, xuất bán sản phẩm nhằm phát triển và quản lý việc nhân nuôi theo hướng bền vững, gắn phát triển kinh tế với mục tiêu bảo tồn ĐVHD trong điều kiện đặc thù của địa phương Đó chính là hướng nghiên
cứu của đề tài "Đánh giá hiện trạng, đề xuất các giải pháp quản lý và bảo
vệ động vật hoang dã nhân nuôi trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên" là rất cần thiết từ đó định hướng các giải pháp thích hợp, có
hiệu quả nhằm quản lý và bảo vệ động vật hoang dã nhân nuôi trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ một cách bền vững
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
Do nhu cầu của xã hội ngày càng tăng về các sản phẩm có nguồn gốc từ rừng, con người đã khai thác, săn bắn quá mức các loài động vật hoang dã làm cho nguồn tài nguyên này đang ngày càng trở nên cạn kiệt, hầu hết các loài quý hiếm, có giá trị cao đều đứng trước nguy cơ tuyệt chủng hoặc không còn khả năng khai thác
Trước thực tế đó nghề nhân nuôi, thuần dưỡng các loài động vật hoang
dã đã phát triển mạnh ở nhiều quốc gia trên thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, đồng thời giảm áp lực săn bắt động vật hoang dã và bảo tồn đa dạng sinh học
Chăn nuôi động vật hoang dã không những mang lại hiệu quả kinh tế cao
mà nó còn là giải pháp quan trọng nhằm bảo tồn hoặc cứu nguy các nguồn gen đang có nguy cơ bị tiệt chủngHiện nay, tại các Vườn động vật trên thế giới đang nuôi khoảng 500.000 động vật có xương sống ở cạn, đại diện cho
3000 loài (Chim, Thú, Bò sát, Ếch nhái) Mục đích phần lớn của các Vườn động vật hiện nay là nhân nuôi các loài động vật quý hiếm, đang có nguy cơ
bị tuyệt chủng và phục vụ thăm quan du lịch giải trí và bảo tồn đa dạng sinh họcConway (1998) Việc nghiên cứu trong các vườn động vật cũng đang được chú trọng Các nhà khoa học đã đang tìm các giải pháp tối ưu để nhân giống, phát triển số lượng Tuy nhiên, về kỹ thuật nhân nuôinhân nuôi, nghiên cứu sinh thái và tập tính của loài cũng như việc thả chúng về tự nhiên
có nhiều vấn đề đặt ra nhân nuôicần phải giải quyết
Ở Trung Quốc, Ấn Độ, Đức và Thái Lan là các quốc gia có nghề nhân nuôi động vật hoang dã phát triển Tuy nhiên, tài liệu nước ngoài về nhân nuôi động vật hoang dã rất ít Một số công trình ngoài nước có thể kể đến như:
Trang 14- Từ Phổ Hữu (Quảng Đông -Trung Quốc, năm 2001), Kỹ thuật nhân nuôi rắn độc, trình bày đặc điểm hình thái, sinh học kỹ thuật chăn nuôi (chuồng trại, thức ăn, chăm sóc, bệnh tật và cách phòng tránh,…) cho 10 loài rắn độc có giá trị kinh tế
- Cao Dực (Trung Quốc, 2002) trong cuốn Kỹ thuật thực hành nuôi dưỡng động vật kinh tế, trình bầy những yêu cầu kỹ thuật cơ bản chăn nuôi
nhiều loài thú, chim, bò sát, ếch nhái, bọ cạp, giun đất…
- Liang W and Zhang Z (2011), Gà tiền hải nam (Polyplectronkastumatae): Loài chim rừng nhiệt đới nguy cấp và quý hiếm
Nhóm tác giảcho rằng, Gà tiền hải nam thường sống đôi vào mùa sinh sản từ tháng 2 đến tháng 5 Tổ của chúng thường làm trên mặt đất, dựa vào gốc cây hoặc dưới các tảng đá với vật liệu làm tổ là lá khô và cỏ Gà tiền hải nam đẻ mỗi lứa từ 1 đến 2 trứng và thời gian ấp từ 20- 22 ngày
1.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Các nghiên cứu về nhân nuôi động vật hoang dã
Theo báo cáo của Cục Kiểm lâm từ năm 2011 cho biết, Việt Nam có hơn 10.000 cơ sở nuôi động vật hoang dã đã đăng ký với cơ quan chức năng ở 63 tỉnh thành trên cả nước Có 3 triệu động vật hoang dã thuộc 70 loài đang được nuôi, trong đó có bốn nhómchính gồm:(Trăn, Cá sấu, Khỉ đuôi dài và Rắn các loại) Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ là hai khu vực nhân nuôi động vật hoang dã lớn nhất trong cả nước (chiếm 70%), tiếp theo là đồng
bằng sông Hồng (20%), còn lại là các khu vực khác.(nguồn: www.tuoitre.vn/nuoi-dong-vat-hoang-da-nhieu-rui-ro-kho-quan-ly)
Hiện nay, phần lớn ĐVHD được nhân nuôi là các loài quý hiếm, có giá trị bảo tồn, và các loài có giá trị kinh tế cao như: Cá sấu nước ngọt, Rắn hổ mang,
Ba ba, Kỳ đà, Tắc kè, Trăn, Hươu, Nai, Lợn rừng, Rùa câm, Nhím, Cày, Một
số khu vực có thể kể đến là Vườn thú thuộc khu du lịch sinh thái Mường Thanh vừa nuôi, vừa nhân nuôi các loài thú quý hiếm, trong đó có các loài thú dữ, với
Trang 15hình thức nuôi bảo tồn bán hoang dã (nguồn: hoi/201610/can-quan-chat-viec-nuoi-nhot-gay-nuoi-dong-vat-hoang-da)
www.truyenhinh.vn/xa-Ngoài ra còn các nơi nhân nuôi động vật hoang dã nổi tiếng khác là Thảo Cầm Viên Sài Gòn, Đầm Sen, Suối Tiên, Vườn thú Đại Nam, Vinpearl Phú Quốc, Safari Củ Chi Bên cạnh đó, một số Trung tâm cứu hộ cũng đã thực hiện nhân nuôi thành công một số loài ĐVHD, như: tại Trung tâm cứu hộ ĐVHD Sóc Sơn, Hà Nội năm 2010, 03 cá thể Hổ đông dương đầu tiên được sinh sản thành công, tạo đột phá trong công tác nhân nuôi sinh sản ĐVHD nói chung và loài hổ nói riêng Sau 8 năm thực hiện, Trung tâm đã nhân nuôi sinh sản thành công 92 cá thể ĐVHD các loại Riêng năm 2017, Trung tâm đã nhân nuôi sinh sản được 4 cá thể ĐVHD, trong đó, 3 cá thể hổ, 1 cá thể Vượn đen má trắng Hiện 3 cá thể hổ sinh trưởng phát triển tốt, đã được nhập đàn
dong-vat-hoang-da/)
(www.thiennhien.net/2018/01/28/nhan-nuoi-sinh-san-thanh-cong-92-ca-Tại Trung tâm Bảo tồn và Phát triển sinh vật Cúc Phương đang nghiên cứu, thuần dưỡng và nhân nuôi sinh sản nhiều cá thể của một số loài có giá trị kinh tế cao như Hươu sao, Rùa, Cầy, Gà rừng, Gà lôi trắng Toàn bộ số động vật này đều có nguồn gốc từ các vụ buôn bán trái phép hoặc được sinh ra trong quá trình nghiên cứu Đáng chú ý trong số đó có một số loài đã sinh sản
rất thành công như Gà rừng (Gallus gallus); Công ấn độ (Pavo cristatatus); Hươu sao (Cervus nippon) và Nai (Cervus unicolor)
(nguồn:http://cucphuongtourism.com.vn/index.php/vi/conservation/trung -tam-bao-ton-va-phat-trien-sinh-vat.html)
Bên cạnh đó, còn nhân nuôi động vật hoang dã ở các hộ gia đình: Nuôi Hươu sao ở Quỳnh Lưu (Nghệ An), Hương Sơn (Hà Tĩnh), Thạch Thành (Thanh Hóa), nuôi Nai ở (Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng), nuôi Rùa câm ở (Thiệu Hóa, Thanh Hóa), làng nghề Cá sấu ở TP.HCM, nuôi rắn (ở
Trang 16Vĩnh Sơn, Phú Thọ), nuôi Ếch, Ba ba ở đồng bằng sông Cửu Long và Sông Hồng, nuôi Voi ở Bản Đôn, nuôi Rắn hổ mang ở Lệ Mật - Gia Lâm (Hà Nội), Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) Tuy nhiên, so với các nước, việc nhân nuôi ĐVHD ở nước ta còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, chưa phải là ngành sản xuất hàng hóa để có thể trở thành một ngành kinh tế nông nghiệp mũi nhọn, kết hợp nhân nuôi, kinh doanh, bảo tồn với phát triển du lịch
Tài liệu chuyên khảo và các công trình nghiên cứu về kỹ thuật nhân nuôi động vật hoang dã ở nước ta còn tương đối ít Một số các công trình nghiên cứu chính có thể kể đến là:
Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (1975) công trình nghiên cứu “Động vật kinh tế - tỉnh Hòa Bình”, đã giới thiệu sơ bộ về hình thái phân bố, nơi sống,
tập tính, thức ăn, đặc điểm sinh sản, giá trị của các loài động vật có giá trị kinh tế cao của tỉnh Hòa Bình, như Hươu sao, Nai, Khỉ vàng, Cầy mốc, Cầy vòi hương, Nhím, Don…
Đặng Huy Huỳnh (1986) Nghiên cứu sinh học và sinh thái các loài thú Móng Guốc ở Việt Nam Trình bày khái quát đặc điểm sinh học,sinh thái của
các loài thú móng guốc có giá trị kinh tế cao của Việt Nam, trong đó có một
số loài đang được chăn nuôi
Phạm Nhật, Nguyễn Xuân Đặng, Đỗ Quang Huy (2000, 2001, 2005) Nhân nuôi động vật hoang dã, quản lý động vật rừng Giới thiệu một số nét cơ bản
trong kỹ thuật chăn nuôi Cầy hương, Cầy vòi mốc, Cầy mực, Cầy vằn bắc như: Cách kiến tạo chuồng nuôi, chọn giống, thức ăn, chăm sóc, ghép đôi và chăm sóc Cầy con mới sinh
Lê Thị Biên, Võ Văn Sự, Phạm Sỹ Tiệp (2000), Kỹ thuật chăn nuôi mộtsố động vật quý hiếm bao gồm các thông tin về nguồn gốc xuất xứ, đặc
điểm sinh học, khả năng sản xuất, giá trị kinh tế của một số loài như: Lợn ỉ,
Gà lôi, Trĩ đỏ
Trang 171.2.2 Hệ thống các chính sách liên quan đến phát triển động vật hoang dã
Tổng hợp các tài liệu liên quan đến phát triển động vật hoang dã cho thấy Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp lý nhằm quản lý và bảo vệ động vật hoang dã, một số văn bản quan trọng như:
1.2.2.1 Các quy định về quản lý
* Luật Đa dạng Sinh học (2008) Luật đa dạng sinh học của Quốc hội khóa XII, kỳ thứ tư số 20/2008/QH12 qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 Luật dành riêng Chương IV với 18 Điều quy định về bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật Theo đó, các loài ĐVHD sẽ được xem xét đưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ nhằm bảo vệ những vật nuôi đặc hữu hoặc có giá trị đang bị đe dọa tuyệt chủng, quy định loài hoang dã bị cấm khai thác và loài hoang dã được khai thác có điều kiện trong tự nhiên Luật cũng quy định về khu bảo tồn, phân cấp khu bảo tồn và những hành vi bị cấm trong khu bảo tồn
* Luật Lâm nghiệp (2017)
Luật này được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 15 tháng
11 năm 2017 Luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2019
Theo đó, những hành vi săn, bắn, bắt, bẫy, nhân nuôi, giết mổ động vật rừng trái phép bị nghiêm cấm Đồng thời Luật cũng quy định việc khai thác, động vật rừng phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tuân theo các quy định của pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã Việc Kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh thực vật rừng, động vật rừng phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia
* Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp
Trang 18Nghị định quy định hoạt động săn, bắn, bắt, khai thác, nuôi, nhốt, giết, tàng trữ, chế biến, vận chuyển, buôn bán các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm không được ảnh hưởng tiêu cực đến sự tồn tại, sinh trưởng, phát triển của loài đó trong tự nhiên
Nghị định đã phân chia động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thành 02 nhóm tùy theo mức độ nguy cấp và sự bảo vệ của pháp luật đối với các loài
đó Trong đó:
Nhóm IB: Nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại
Nhóm IIB: Hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại
Mọi hoạt động săn, bắn, bắt, khai thác, nuôi, nhốt, giết, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, chế biến, quảng cáo, trưng bày, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm phải được quản lý, đảm bảo nguồn gốc hợp pháp
* Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ
Nghị định quy định hệ thống các tiêu chí để đánh giá và xác định loài ĐVHD đưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Theo
đó, loài được đưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ nếu số lượng cá thể còn ít hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng và là loài đặc hữu có một trong các giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế; sinh thái, cảnh quan, môi trường và văn hóa – lịch sử
Nghị định cũng quy định nguyên tắc bảo tồn các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và cơ chế chặt chẽ để quản lý việc khai thác; trao đổi, mua bán, tặng cho, thuê, lưu giữ, vận chuyển mẫu vật; nuôi trồng và cứu hộ loài thuộc Danh mục loài được ưu tiên bảo vệ
Nghị định này chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2014
Trang 19* Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 sửa đổi Điều 7 Nghị định
số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được
ưu tiên bảo vệ
Theo đó, về loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, Nghị định cũng bổ sung thêm một số loài như: Voọc bạc, Vượn má vàng trung bộ, Vượn siki, Công, Trĩ sao, Rẽ mỏ thìa, Choắt mỏ vàng, Tắc kè đuôi vàng, Thằn lằn cá sấu đưa tổng số loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ
từ 83 loài lên 99 loài
Định kỳ 3 năm một lần hoặc khi cần thiết, Chính phủ quyết định điều chỉnh, bổ sung Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trên cơ
sở đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 5/9/2019
* Thông tư số 04/2017/TT-BNNPTNT, ngày 24/02/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Thông tư ban hành danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các phụ lục của công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp
Theo đó, Danh mục động vật thực vật hoang dã nguy cấp ban hành kèm theo Thông tư gồm các phần sau:
- Ngành động vật có dây sống gồm các lớp động vật có vú, lớp chim, lớp
bò sát, lớp lưỡng cư, lớp cá sụn, lớp cá, lớp cá phổi Thông tư BNNPTNT bổ sung thêm lớp cá vây tay gồm họ cá Latimeri và các loài cá Latimeri vào động vật hoang dã danh mục nguy cấp
Trang 20- Ngành ruột khoang gồm lớp san hô và lớp thủy tức
- Thực vật
* Chỉ thị 28/CT-TTg ngày 17/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ giải pháp cấp bách phòng ngừa, đấu tranh với hành vi xâm hại các loài ĐVHD trái pháp luật
Chỉ thị kêu gọi các bên liên quan phòng ngừa và đấu tranh các hành vi vi phạm đối với sản phẩm của ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm, đặc biệt là các sản phẩm mà tình trạng buôn bán đang có nhiều diễn biến phức tạp như ngà voi và sừng tê giác Qua đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiếp tục thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 03/CT-TTg trong công tác quản lý và bảo vệ ĐVHD nguy cấp
* Văn bản số 463/UBND-KTN ngày 25/02/2019 của UBND tỉnh Điện Biên về việc các vấn đề cấp bách nâng cao hiệu quả ngăn chặn, phòng ngừa và triệt tiêu tình trạng săn bắt, buôn bán và tiêu thụ động vật hoang dã Qua đó UBND tỉnh Điện Biên yêu cầu các ở ban ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị liên quan thực hiện các nội dung tại văn bản số 87/2019/ENV ngày 15/02/2019 của Trung tâm giáo dục thiên nhiên về việc 10 vấn đề cấp bách cần thực hiện nhằm bảo vệ động vật hoang dã
* Văn bản số 860/UBND-KTN ngày 02/4/2019 của UBND tỉnh Điện Biên
về việc quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu các Sở, ngành tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố thực hiện nghiêm túc việc quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp Tập trung triển khai thực hiện quyết liệt một số nhiệm vụ trọng tâm: Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến từng thôn, bản, nhằm nâng cao nhận thức về trách nhiệm của người dân trong công tác quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước
về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp
Trang 21* Văn bản số 279/CCKL-QLBVR ngày 12/04/2019 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Điện Biên về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp
Qua đó Chi cục Kiểm lâm tỉnh Điện Biên yếu cầu các đơn vị trực thuộc tăng cường công tác phổ biến quán triệt tới nhân dân trên địa bàn thực hiện công tác quản lý và bảo vệ động vật hoang dã nguy cấp, qúy hiếm; các Hạt Kiểm lâm chỉ đạo công chức kiểm lâm địa bàn hướng dân nhân dân làm thủ tục nhân nuôi động vật hoang dã, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm về động vật rừng, ngăn chặn tình trạng lợi dụng hình thức nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng để hợp thúc hóa động vật hoang dã không có nguồn gốc hợp pháp
1.2.2.2 Các quy định về xử lý vi phạm
* Bộ Luật Hình Sự (2015, sửa đổi bổ sung năm 2017)
Bộ Luật Hình sự có hiệu lực từ ngày 01/01/2018
Theo Bộ Luật Hình sự năm 2015 đã có hai điều luật điều chỉnh tội phạm này Điều 234 quy định về tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã với các hành vi săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, tàng trữ, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật nguy cấp, quý động vật nguy cấp, quý, hiếm… thì bị phạt từ từ 7 năm -12 năm; phạt tiền đến 3
tỉ đồng Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm
Điều 244, quy định về tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm, với các hành vi săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật nguy cấp, quý hiếm… có thể bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm; phạt tiền đến 15 tỉ đồng; pháp nhân thương mại còn có thể bị cấm
Trang 22kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm
* Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Nghị định 155 thay thế cho Nghị định 179 kể từ ngày 01/02/2017, quy định các hình thức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi khai thác trái phép ĐVHD trong khu vực cấm và hành vi vi phạm quy định về quản lý cơ sở bảo tồn
đa dạng sinh học Nghị định 155/2016/NĐ-CP hiện không quy định các hành vi
xử phạt liên quan đến loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ do tất cả những hành vi vi phạm liên quan đến loài này đã được điều chỉnh bởi Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017
* Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2016 của Chính phủ quy định
xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/6/2019 và thay thế Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 41/2017/NĐ-CP ngày 05/04/2017 về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về xử phạt VPHC trong hoạt động thủy sản; lĩnh vực thú y, giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Theo đó, căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà các hành vi săn, bắn, bẫy, bắt; nuôi, nhốt, lấy dẫn xuất từ động vật rừng; giết động vật rừng; vận chuyển lâm sản trái pháp luật hoặc mua, bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản không có hồ sơ hợp pháp hoặc có hồ sơ hợp pháp nhưng lâm sản không đúng nội dung hồ sơ … sẽ bị xử phạt đến 500 triệu đồng đối với cá nhân và 1 tỉ đồng đối với tổ chức
Những quy định nổi bật về về quản lý, bảo vệ và hoạt động xử lý các hành
vi vi phạm liên quan đến động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm được quy định
Trang 23tại Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ sẽ góp phần đảm bảo tạo hành lang pháp lý chặt chẽ cho các cơ quan quản lý Nhà nước trong công tác thực thi pháp luật, phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các hành
vi vi phạm đối với động vật hoang dã trong giai đoạn hiện nay
1.2.2.3 Quy định xử lý tang vật ĐVHD sau khi tịch thu
* Thông tư số 29/2019/TT-BNNPTNT, ngày 31/12/2019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định xử lý động vật rừng tang vật, vật chứng, động vật rừng do tổ chức, cá nhân tự nguyện giao nộp nhà nước
Những tang vật là động vật rừng thu được trong các vụ vi phạm sẽ được xử
lý lần lượt theo trình tự quy định tại thông tư này căn cứ mức độ nguy cấp, quý hiếm của từng nhóm (IB, IIB, Phụ lục I CITES, Phụ lục II CITES hay động vật rừng thông thường)
Việc xử lý cũng căn cứ vào loại tang vật là động vật rừng còn sống, đã chết hay bộ phận, sản phẩm của chúng, là loài trong nước hay nhập khẩu
1.2.2.4 Hiệp ước Quốc tế
Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp
(Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora – CITES) là bản hiệp ước giữa các quốc gia thành viên về việc kiểm soát
việc buôn bán, trao đổi các loài động thực vật hoang dã để tránh tình trạng khai thác quá mức dẫn đến tình trạng tuyệt chủng CITES bao gồm: khoảng 5.000 loài động vật và 25.000 loài thực vật, chia làm 3 phụ lục:
* Phụ lục I bao gồm những loài nguy cấp bị đe doạ tuyệt chủng Việc buôn bán, trao đổi những loài trong phụ lục này cần phải có cả Giấy phép uất khẩu và Giấy phép Nhập khẩu cấp bởi Cơ quan quản lý CITES của nước xuất khẩu và nước nhập khẩu
* Phụ lục II bao gồm: Tất cả những loài mặc dù hiện chưa bị nguy cấp nhưng có thể dẫn đến tuyệt chủng nếu không khai thác hợp lý Việc buôn bán những loài này giữa các quốc gia cần có Giấy phép Xuất khẩu do Cơ quan quản
lý CITES nước xuất khẩu cấp
Trang 24* Phụ lục III bao gồm tất cả các loài mà mỗi nước thành viên quy định theo luật pháp của họ nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế việc khai thác và cần thiết phải
có sự hợp tác với các nước thành viên khác để kiểm soát việc buôn bán Việc buôn bán những loài này cần có Giấy phép Xuất khẩu do Cơ quan quản lý CITES nước xuất khẩu cấp
* Sự ảnh hưởng của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tới việc phát triển ĐVHD nhân nuôi:
Các quy định của pháp luật đã có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động nhân nuôi ĐVHD trong toàn quốc Tuy nhiên mới tập trung nhiều vào quản
lý, bảo vệ hoặc ngăn chặn việc săn bắt và buôn bán, chưa chú ý đến việc khuyến khích nhân nuôi, thuần dưỡng ĐVHD để trở thành hàng hóa sử dụng trong nước và xuất khẩu
Mặc dù các văn bản được hướng dẫn khá chi tiết về các thủ tục cần thiết, xin phép thành lập trại nuôi, nhưng một số nội dung hướng dẫn nặng về các tiêu chuẩn khoa học, chưa phù hợp với đại đa số trình độ của người nông dân Các trang trại nhân nuôi rất muốn các cơ quan khoa học giúp đỡ đánh dấu sản phẩm để tránh những đầu nậu trà trộn giữa ĐVHD nhân nuôi với ĐVHD khai thác ngoài tự nhiên
Các chính sách của Nhà nước chưa đề cập đến việc hỗ trợ các hộ nhân nuôi ĐVHD về kinh phí nhằm mở rộng sản xuất, nhằm mục đích sản xuất ra nhiều con giống đáp ứng nhu cầu của các hộ nhân nuôi ĐVHD thương phẩm
Từ đó có nhiều sản phẩm cung cấp cho thị trường tiêu dùng, đồng thời góp phần hạn chế khai thác bừa bãi trong tự nhiên
Khi sản xuất ra lượng giống đáp ứng nhu cầu thị trường, thì việc các đầu nậu sẽ quay sang mua của nhà chăn nuôi, mà không thể mua ĐVHD khai thác ngoài tự nhiên nữa vì giá cả cao người buôn không có lãi
Nhà nước chưa đề cập đến vấn đề chính sách giao cho các cơ quan nghiên cứu khoa học, nghiên cứu cụ thể tập tính, đặc tính sinh học cũng như
Trang 25quy trình nuôi sinh sản những ĐVHD quý, hiếm Để từ đó chuyển giao cho các hộ nhân nuôi, nhằm giải quyết việc làm đang dư thừa rất lớn trong khu vực nông thôn
Chính sách của Nhà nước chưa cụ thể về việc thưởng cho những người cung cấp thông tin về việc khai thác ĐVHD trong tự nhiên Vì vậy chưa khuyến khích được cộng đồng dân cư giám sát, phát hiện cung cấp tin cho cơ quan chức năng ngăn chặn kịp thời tệ nạn khai thác tùy tiện động vật, thực vật trong môi trường hoang dã
1.2.3 Tình hình nhân nuôi động vật hoang dã tại Điện Biên
Tỉnh Điện Biên thuộc vùng núi Tây Bắc cách Thủ đô Hà Nội 504 km về phía Tây.Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía Tây và Tây Nam giáp CHDCND Lào Là tỉnh duy nhất có chung đường biên giới với 2 quốc gia Lào và Trung hơn 455 km, trong đó: Đường biên giới tiếp giáp với Lào là 414,712 km; với Trung Quốc là 40,86 km; có đường giao thông đi các tỉnh Bắc Lào và tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, có đường hàng không từ Điện Biên Phủ đi Hà Nội Tỉnh có 10 đơn vị hành chính cấp huyện với 130 xã, phường, thị trấn (trong số đó có 29 xã biên giới); dân số gần 55 vạn người, gồm 19 dân tộc Trên tuyến biên giới Việt – Lào, ngoài 2 cửa khẩu đã được
mở là Huổi Puốc và Tây Trang, còn 3 cửa khẩu phụ khác sắp tới sẽ được mở Trên tuyến biên giới Việt - Trung có cửa khẩu A Pa Chải - Long Phú Đặc biệt, cửa khẩu Tây Trang từ lâu đã là cửa khẩu quan trọng của vùng Tây Bắc
và cả nước, được Chính phủ hai nước Việt Nam - Lào thỏa thuận nâng cấp thành cửa khẩu quốc tế và Khu kinh tế cửa khẩu đang được xây dựng Đây là điều kiện, cơ hội rất lớn để Điện Biên đẩy mạnh thương mại quốc tế, tiến tới xây dựng khu vực này thành địa bàn trung chuyển chính trên tuyến đường xuyên á phía Bắc, nối liền vùng Tây Bắc Việt Nam với khu vực Bắc Lào - Tây Nam Trung Quốc và Đông Bắc Mianma
(Nguồn: http://dienbien.gov.vn/portal/Pages/Tong-quan-ve-Dien-Bien.aspx)
Trang 26Các hoạt động kinh tế phát triển đa dạng, từ các hoạt động truyền thống
về nông, lâm, ngư nghiệp đến các hoạt động công nghiệp, thương mại, dịch
vụ Sự phát triển này đã đem lại những thu nhập cao cho nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, sự phát triển này không đồng đều giữa các huyện vùng thấp và vùng cao Các huyện vùng cao, người dân chủ yếu vẫn sinh sống dựa trên các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, thu nhập thấp, không ổn định Do đó, để phát triển kinh tế tại các địa phương này cần tìm ra một nghề mới, phù hợp với điều kiện của địa phương, đặc biệt tận dụng được ưu thế về diện tích tự nhiên lớn và nguồn lao động dồi dào Tỉnh Điện Biên được thiên nhiên ưu đãi cho nguồn tài nguyên rừng phong phú, đa dạng trong đó có tài nguyên động vật hoang dã (ĐVHD) Giá trị to lớn cung cấp các sản phẩm của ĐVHD góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Trong những năm qua bên cạnh biện pháp bảo vệ tại chỗ các hệ sinh thái, nơi cư trú của các loài trong môi trường tự nhiên của chúng thông qua việc thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé và Ban quản lý rừng cảnh quan môi trường Mường Phăng Hiện nay, các ngành, các cấp trên địa bàn tỉnh luôn quan tâm, hỗ trợ, tạo mọi điều kiện cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình thực hiện biện pháp bảo tồn chuyển vị thông qua các hình thức di thực, nhân nuôi các giống loài nuôi nhằm duy trì nguồn gen quý hiếm cho nghiên cứu khoa học, nâng cao dân trí và giáo dục thiên nhiên
Mặc dù có lịch sử hình thành và phát triển chưa lâu nhưng nghề nhân nuôi động vật hoang dã tại Điện Biên đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong một vài năm trở lại đây Cũng như nhiều địa phương khác trên cả nước, các đối tượng động vật hoang dã được đưa vào nhân nuôi ban đầu là các loại phổ biến, đã được nuôi nhiều ở các địa phương khác như Hươu Sao, Rắn, Lợn rừng, Nhím, theo thời gian, nhiều đối tượng vật nuôi khác được đưa vào thử nghiệm tại nhiều hộ gia đình của nhiều địa bàn khác nhau
Trang 27Trên địa bàn tỉnh Điện Biên hiện nay, chủng loại loài nuôi tương đối đa dạng, số lượng trại nuôi tuy đã giảm đáng kể, song vẫn còn phân bố khá rộng trên địa bàn tỉnh.Các trại nuôi được lực lượng Kiểm lâm, chính quyền địa phương quản lý cơ bản chặt chẽ, hàng tháng đều có kiểm tra, theo dõi biến động của trại nuôi Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: Có nhiều
cơ sở, lực lượng chức năng chỉ thống kê thông qua báo cáo của chủ trại nuôi
mà không kiểm tra được hiện trạng thực tế trại nuôi, do vậy có sự chênh lệch giữa hồ sơ quản lý và số liệu thực tế; một số trại nuôi tăng đàn do sinh sản, hoặc mua từ nơi khác nhưng không kịp thời khai báo với cơ quan chức năng; một số trại nuôi lợi dụng hoạt động nhập, xuất để đưa ĐVHD không rõ nguồn gốc vào trại nuôi để hợp thức hóa; một số trại nuôi phát sinh, tồn tại từ lâu nhưng không chủ động khai báo, chính quyền địa phương cũng như cơ quan chức năng không nắm bắt kịp thời; một số nhà hàng có hoạt động kinh doanh, chế biến ĐVHD và sản phẩm của chúng có dấu hiệu lợi dụng để kinh doanh, chế biến ĐVHD từ tự nhiên nhưng chưa được kiểm tra, giám sát kịp thời
Có thể nói rằng, sản phẩm nhân nuôi ĐVHD bước đầu đáp ứng không chỉ nhu cầu tiêu dùng xã hội mà còn là sản phẩm phục vụ xuất khẩu, nhất là xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc Sản phẩm ĐVHD là loại thực phẩm sạch đang được thịnh hành và được người tiêu dùng có thu nhập cao ưa chuộng Chính vì vậy mà nhu cầu chăn nuôi ĐVHD phục vụ nhà hàng đặc sản
là lĩnh vực có vị trí quan trọng đáp ứng kịp thời cho cầu về đặc sản ĐVHD nhưng góp phần giảm áp lực trong săn bắt, buôn bán động vật hoang dã và sản phẩm của chúng một cách bất hợp pháp Nuôi ĐVHD tạo thêm công ăn việc làm cho lao động ở nông thôn; các trại nuôi, cơ sở nuôi sinh trưởng, nuôi sinh sản ĐVHD chăn nuôi góp phần đáng kể làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo việc làm cho người lao động (môi trường thức ăn phục vụ chăn nuôi, lao động trong các trang trại, các nhà hàng, tham gia vào quá trình vận chuyển đi tiêu thụ và xuất khẩu ) Bên cạnh đó nhân nuôi ĐVHD ngoài tác dụng gián tiếp
Trang 28bảo vệ nguồn lợi thiên nhiên mà còn góp phần xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và một số loài động vật có vai trò quan trọng trong các phòng thí nghiệm, nghiên cứu khoa học nhằm tìm ra các nguyên lý, cơ chế sinh học, sinh lý học phục vụ cho việc phòng,chữa bệnh và nâng cao sức khoẻ cộng đồng
Tuy nhiên, trong những năm qua việc nhân nuôi ĐVHD trên địa bàn tỉnh còn mang tính tự phát, manh mún, nhỏ lẻ, chạy theo thị trường do đó khi nhu cầu của thị trường bão hoà, thì sản phẩm sản xuất không có đầu ra, rất nhiều trang trại, cơ sở nuôi phá sản hoặc giảm đàn, cá thể ĐVHD nuôi; nhiều hộ duy trì công tác nhân nuôi cầm chừng Vấn đề đảm bảo an toàn sinh học ở các cơ sở nhân nuôi chưa được quan tâm, chú trọng, nhất là các loài động vật có thể gây bệnh cho người nuôi hay nuôi tập trung một số loài ĐVHD hung dữ nguy hiểm trong khu dân cư như Rắn hổ mang… đã làm khó khăn trong công tác quản lý, bảo tồn, phát triển ĐVHD hiện nay
Bên cạnh những bước phát triển và hiệu quả bước đầu của nghề chăn nuôi động vật hoang dã tại các địa phương trên địa bàn tỉnh Điện Biên thì còn tồn tại không ít vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của hoạt động này trong tương lai, trong đó những vấn đề chính có thể kể đến như:
- Các đối tượng vật nuôi được đưa vào nhân nuôi phần lớn do tính tự phát tự tìm hiểu của người dân Điều này đã dẫn đến việc phát triển đối tượng nuôi một cách tràn lan, thiếu quy hoạch Nhiều loài có giá trị cao khi mới đưa vào nhân nuôi nhưng giá trị kinh tế lại rất biến động khiến nhiều hộ bị thua lỗ, nhiều loài không phù hợp điều kiện tại địa phương Việc quy hoạch hoạt động nhân nuôi cũng chưa được địa phương thực sự quan tâm do thiếu các thông tin điều tra, đánh giá và thiếu những định hướng cho sự phát triển
- Hiệu quả nhân nuôi còn thấp do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó thiếu hướng dẫn kỹ thuật và thị trường tiêu thụ không ổn định là các nguyên nhân chủ yếu Hầu hết các hộ gia đình và cơ sở nhân nuôi tự học tập, tích lũy
Trang 29kinh nghiệm nhân nuôi mà chưa được tham gia các lớp bồi dưỡng, hướng dẫn
kỹ thuật một cách đầy đủ Nhiều loài được nhân nuôi chủ yếu phục vụ trong nước, thiếu ổn định dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp, nhiều cơ sở bị thua lỗ Thực trạng này đã dẫn đến tâm lý chán nản của một số hộ gia đình và các cơ
sở nhân nuôi Nếu không có những giải pháp, định hướng kịp thời của các cơ quan quản lý, cơ quan chức năng thì sẽ rất khó khăn cho sự phát triển bền vững của hoạt động này
- Hoạt động nhân nuôi động vật hoang dã chủ yếu tập trung số lượng lớn tại một số địa phương khu vực đồng bằng, chưa có sự phân bố đều tại các địa phương khác trên địa bàn tỉnh mặc dù đây là các địa phương có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển hoạt động này, đặc biệt là về nguồn nhân lực, lao động và điều kiện đất đai, địa hình Điều này một mặt tạo nên sự mất cân đối trong nghề chăn nuôi động vật hoang dã, mặt khác không phát huy được các thế mạnh của các địa phương miền núi
Trang 30Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được hiện trạng nhân nuôi ĐVHD về các mặt kinh tế, xã hội, môi trường
- Đề xuất được một số giải pháp, cơ chế quản lý mang tính hiệu quả, thiết thực đối với các cơ quan chức năng, trên cơ sở đảm bảo việc chấp hành các quy định của pháp luật hiện hành, tạo điều kiện phát triển nhân nuôi ĐVHD
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu với đối tượng là các loài ĐVHD hiện đang được nuôi sinh trưởng, sinh sản và có đăng ký Giấy chứng nhận trại nuôi với cơ quan Kiểm lâm; Công tác quản lý trại nuôi ĐVHD của các cơ quan chức năng
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn các
xã, phường nơi có trại nuôi ĐVHD thuộc thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
* Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu được triển khai thực hiện từ tháng
11/2019 đến tháng 5 năm 2020 Một số nội dung, thông tin được thu thập trong giai đoạn các năm từ 2015 đến 2020
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra, đánh giá hiện trạng các trại nuôi, các loài ĐVHD đang được nuôi sinh trưởng, sinh sản trên địa bàn thành phố; các nhân tố ảnh hưởng
- Đánh giá thực trạng, hiệu quả công tác quản lý trại nuôi ĐVHD của các
cơ quan chức năng trong bối cảnh hiện tại; thực trạng quy trình quản lý
Trang 31- Đánh giá khó khăn, thuận lợi, cơ hội, thách thức của ĐVHD nhân nuôi trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý các loại ĐVHD nhân nuôi trên địa bàn
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Để bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên động vật hoang dã của tỉnh Điện Biên nói chung và thành phố Điện Biên Phủ nói riêng, song song với vấn đề bảo vệ và phục hồi vốn rừng, việc làm cấp bách hiện nay là tạo điều kiện đẩy mạnh việc nhân nuôi có kiểm soát các loài động vật hoang dã quý hiếm, các loài có giá trị kinh tế cao, các loài thế mạnh của địa phương, đồng thời tăng cường quản lý hoạt động kinh tế này Bằng cách xây dựng một mạng lưới các cơ sở chăn nuôi với nhiều hình thức, đảm bảo cung cấp đủ nguồn giống về số lượng và chất lượng; từ đó đáp ứng nhu cầu của thị trường
về các sản phẩm từ động vật rừng và giảm áp lực săn bắt/ khai thác từ tự nhiên Để tìm hiểu hiện trạng nhân nuôi các loài ĐVHD của các hộ gia đình ở thành phố Điện Biên Phủ, đề tài sử dụng các phương pháp sau:
2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Tiến hành thu thập các tài liệu về điều tra, đánh giá hiện trạng ĐVHD; các báo cáo của các cơ quan quản lý, của chính quyền địa phương về quản lý hoạt động nhân nuôi ĐVHD
Kế thừa có chọn lọc các tài liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu của
đề tài như các báo cáo tại Chi cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm thành phố, UBND các xã, phường trên địa bàn thành phố nhằm thống kê số hộ nuôi, loài động vật nuôi, số lượng cá thể, hiệu quả kinh tế
Ngoài ra, các tài liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại khu vực cũng được thu thập phục vụ cho quá trình thực hiện đề tài
Trang 322.4.2 Phương pháp phỏng vấn
Đề tài đã tiến hành phỏng vấn 40 người để thu thập các thông tin liên quan, các đối tượng phỏng vấn bao gồm cán bộ quản lý, chủ các cơ sở nhân nuôi, cán bộ, người dân tại các cơ sở nhân nuôi Các đối tượng phỏng vấn được phỏng vấn trực tiếp dựa trên bộ câu hỏi phỏng vấn
- Thông qua phỏng vấn các chủ trại nuôi, người dân xung quanh khu vực nhân nuôi (15 người), để thu thập các thông tin như:
+ Số lượng trại nuôi hiện có trên địa bàn
+ Số lượng cá thể ĐVHD hiện có tại các trại nuôi
+ Chủng loại loài ĐVHD được nhân nuôi, xác định cơ cấu thành phần loài Bên cạnh công tác phỏng vấn, kết hợp tiến hành kiểm tra, khảo sát thực
tế trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao, thông qua đó đánh giá được năng lực của trại nuôi, năng lực thực thi pháp luật và quy trình quản lý của một số cơ quan quản lý;
- Thông qua phỏng vấn các cơ quan quản lý có liên quan (25 người, gồm đại diện: Hạt Kiểm lâm thành phố, Kiểm lâm địa bàn, Công an thành phố, phòng Tài nguyên và Môi trường, UBND xã, phường, trưởng bản để thu thập thông tin như:
+ Hiện trạng công tác quản lý;
+ Những tồn tại, bất cập, lỗ hổng trong công tác quản lý;
+ Những giải pháp nhằm khắc phục tồn tại, hạn chế;
+ Đề xuất, kiến nghị (nếu có) nhằm thực hiện hiệu quả công tác quản lý các trại nuôi ĐVHD trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ
2.4.3 Phương pháp quan sát trực tiếp
Đề tài đã tiến hành khảo sát 13 cơ sở nhân nuôi động vật hoang dã để thu thập các thông tin liên quan đến các nội dung nghiên cứu như: cách cho ăn, phòng trị bệnh, kích thước chuồng trại, những bất cập trong cơ chế quản lý và
so sánh thực tế với quá trình phỏng vấn
Trang 33Chiến lược phát huy điểm mạnh để giành lấy cơ hội (S/0)
Chiến lược phát huy thế mạnh để vượt qua thử thách (S/T)
Chiến lược không để điểm yếu làm mất cơ hội (W/O)
Chiến lược không để thử thách làm lộ điểm yếu (T/W)
- Tích hợp các chiến lược, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên
Cách thức:
Căn cứ vào các số liệu về hoạt động nhân nuôi động vật hoang dã trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ, các chính sách và chiến lược phát triển của thành phố, của tỉnh và các kết quả điều tra phỏng vấn bảng câu hỏi và phân tích tổng hợp để làm cơ sở của SWOT
Trang 34Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu
3.1.1 Vị trí địa lý
Hình 3.1 Bản đồ hành chính thành phố Điện Biên Phủ
Trang 35Thành phố Điện Biên Phủ là Trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế - văn hóa của tỉnh Điện Biên Tổng diện tích 6.444,10 ha Tọa độ địa lý: từ
21024'52'' vĩ độ đến1030 02'31'' kinh độ Đông Về địa giới hành chính:
- Phía Bắc giáp xã Thanh Nưa, Nà Nhạn và xã Pá Khoang của huyện Điện Biên
- Phía Nam giáp xã Thanh Xương huyện Điện Biên
- Phía Đông giáp xã Pá Khoang huyện Điện Biên và xã Pú Nhi huyện Điện Biên Đông
- Phía Tây giáp xã Thanh Nưa, Thanh Hưng và Thanh Luông huyện Điện Biên Như vậy thành phố Điện Biên Phủ về cơ bản nằm trong lòng huyện Điện Biên
Là thành phố miền núi có các tuyến Quốc lộ6 và Quốc lộ 279 chạy qua thông suốt với tỉnh Sơn La và tỉnh Lai Châu Có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng về cả kinh tế, Quốc phòng - An ninh, là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng giao thông giữa các huyện và tỉnh lân cận
3.1.2 Địa hình địa thế
Thành phố Điện Biên Phủ chủ yếu là dạng địa hình đồi núi và đồng bằng nghiêng dần theo hướng Bắc Nam, Đông Tây Do ảnh hưởng của kiến tạo địa chất nên địa hình bị chia cắt, cấu trúc núi cao, đồi và đồng bằng Độ cao trung bình từ 488 - 1.130 m so với mực nước biển
Núi ở đây bị bào mòn mạnh thành những thung lũng và đồng bằng: địa hình của thành phố Điện Biên Phủ rất thoải dọc theo hướng Bắc Nam, Đông Tây, địa hình thành phố có 2 dạng chính:
- Địa hình đồi núi cao trên 600 m; Đây là kiểu địa hình đặc trưng của thành phố Điện Biên Phủ, chiếm đến 70 % diện tích tự nhiên, phân bố hầu hết
ở các xã, phường trên địa bàn thành phố Đỉnh cao nhất là 1.137m nằm ở dãy
Trang 36núi phía Đông Bắc khu vực giáp ranh giữa xã Thanh Minh và xã Tà Lèng Nhìn chung địa hình này phức tạp, gây khó khăn trong việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và phát triển sản xuất nông nghiệp
- Địa hình thung lũng và đồng bằng; Đây là loại địa hình nằm dọc theo sông Nậm Rốn ở phía Tây Nam thành phố, có tiềm năng về sản xuất Nông nghiệp Đặc biệt có cánh đồng bằng phẳng có quy mô từ 50 - 100 ha thuộc địa bàn các phường Nam Thanh và Thanh Trường Đây là nơi tập trung dân cư và sản xuất lương thực (lúa nước) của toàn thành phố
Với địa hình như vậy, việc xây dựng và phát triển rừng trên địa bàn tương đối thuận lợi và có ý nghĩa hết sức to lớn cho việc phòng hộ, môi trường, tạo cảnh quan thiên nhiên đẹp cho thành phố, đồng thời góp phần phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn
3.1.3 Khí hậu
Nằm ở lòng chảo Điện Biên thuộc vùng Tây Bắc nên khí hậu của Thành phố Điện Biên Phủ chịu ảnh hưởng rõ rệt của chế độ gió mùa Tây Bắc, mang sắc thái riêng của khí hậu nhiệt đới núi cao, ít mưa, mùa đông lạnh mưa ít mùa hè nóng mưa nhiều một năm có hai mùa rõ rệt
3.1.3.1 Chế độ nhiệt
Nhiệt độ không khí bình quân năm là 230C, nhiệt độ không khí bình quân cao nhất vào tháng 6 là 260C và thấp nhất vào tháng 1 là 110C Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối là 40,90C (tháng 5) Nhiệt độ không khí thấp nhất tuyệt đối là 3,90C (tháng 1) Trong năm có khoảng 170 ngày nóng và 100 ngày lạnh Tổng tích ôn cả năm là 8.0210C Chênh lệch giữa ngày và đêm khoảng 9 - 100C ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của con người cũng như cây trồng và vật nuôi
Trang 373.1.3.2 Chế độ mưa
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 Lượng mưa bình quân năm
1800 mm phân bố không đều, vùng núi lượng mưa có thể lên đến 1.900 mm/năm Lượng mưa tập trung vào tháng 6 đến tháng 10 Các tháng khô hạn bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau
Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm 96% Đầu mùa đông độ ẩm rất thấp, cuối mùa đông độ ẩm xấp xỉ các tháng mùa hạ, thậm chí còn lớn hơn Thấp nhất vào các tháng 12 và tháng 1
3.1.3.3 Chế độ gió
Trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ chủ yếu có 3 hướng gió chính:
- Gió Bắc và Đông Bắc: là gió thịnh hành về mùa khô, xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Đặc điểm gió này thường kéo theo không khí lạnh và khô hanh Tuy nhiên khi gặp gió Tây Nam thường hay xẩy ra mưa phùn
- Gió Đông Nam: Là gió chính về mùa hè, xuất hiện từ tháng 3,4 và 5 loại gió này có đặc điểm rất nóng, khô đó là nguyên nhân làm cho khí hậu thành phố Điện Biên Phủ thay đổi thất thường, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông lâm nghiệp
- Gió Lào: Thường xuất hiện từ tháng 3,4 và tháng 5, loại gió này có đặc điểm rất nóng, khô đó là nguyên nhân làm cho khí hậu thành phố Điện Biên Phủ thay đổi thất thường, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông lâm nghiệp
3.1.3.4 Chế độ sương muối
Thường xuất hiện trong các tháng 12 năm trước và tháng 1 năm sau gây
ra nhiều tác hại đến cây trồng nông lâm nghiệp
3.1.4 Thủy văn
Thành phố Điện Biên Phủ có sông Nậm Rốm chảy qua theo hướng Bắc - Nam, khu vực phía Bắc thuộc xã Thanh Minh chảy theo hướng Đông Bắc -
Trang 38Tây Nam Dòng chính sông Nậm Rốm nhận được rất nhiều dòng chảy của các con suối lớn nhỏ hợp thành… các con suối chính này được hợp thủy từ rất nhiều những con suối nhỏ ở khắp các xã, phường trong thành phố Đây là những nguồn nước chủ yếu phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân vùng lòng chảo Điện Biên Tuy lượng nước ở suối nhiều nhưng do độ dốc lớn nên lượng nước bị dốc kiệt khá nhanh Chình vì vậy, các sông suối trên địa bàn chỉ có giá trị cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, không có khả năng vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy
3.1.5 Địa chất, thổ nhưỡng
3.1.5.1 Địa chất
Nền địa chất trên địa bàn được hình thành cách đây hàng trăm triệu năm
và trải qua quá trình phong hóa, biến đổi địa chất… đã hình thành nhiều nhóm đá mẹ sau:
- Nhóm đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt thô, đá hỗn hợp thành phần chủ yếu là khoáng thạch anh Ngoài ra còn có các loại như: Sa thạch, sỏi kết, sạn kết (ký hiệu q,h)
- Đá mácma axit tính chua (ký hiệu a)
- Nhóm đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn thành phần chủ yếu
là sét, Grai, rất ít thạch anh (ký hiệu s)
- Nhóm đá mắc ma kiềm và trung tính (ký hiệu k)
3.1.5.2 Thổ nhưỡng
Trên cơ sở của nền vật chất với các nhóm đá mẹ như nêu trên, cùng với kết quả điều tra lập địa cho thấy trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ có các nhóm đất chính sau:
- Đất Feralit mùn vàng đỏ phát triển trên núi trung bình: Diện tích 321
ha, chiếm 5% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố, phân bố ở trên độ cao
Trang 39700 m, đất có tầng mỏng đến trung bình Loại đất tương đối tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp
- Đất Feralit vàng đỏ trên núi thấp: Diện tích 3.342 ha, chiếm 52% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở độ cao < 700 m Tầng đất từ trung bình đến dày Loại đất tương đối tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp
- Đất đen trên sản xuất bồi tụ các của cacbonat: Diện tích 129 ha, chiếm 2% tổng diện tích tự nhiên Đất này được hình thành ở địa hình sườn dốc, bằng hoặc thung lũng thấp; thành phần cơ giới đất thịt nặng, thích hợp cho cây trồng công nghiệp ngắn ngày và cây công nghiệp dài ngày
- Đất dốc tụ, đất đỏ vàng do biến đổi trồng lúa, đất phù sa sông suối: Diện tích 2.635 ha, chiếm 41% tổng diện tích tự nhiên Đây là loại đất có độ phì tự nhiên thấp, vì vậy muốn đạt năng suất cây trồng cao thì phải thâm canh cải tạo đất bằng chế độ bón phân thích hợp trong đó phân lân,phân hữu cơ được coi trọng hàng đầu
Nhìn chung đất đai trên địa bàn thành phố tương đối tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng lâm nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả… tạo cho thành phố có lợi thế về tập đoàn cây trồng phong phú Song, do thành phố nằm trong vùng mưa nhiều, lượng mưa tập trung, trong khi đất đồi núi của thành phố có địa hình cao dốc, chia cắt phức tạp, độ che phủ của thực vật chưa đảm bảo, nên đất đai rất dễ bị xói mòn, rửa trôi Vì vậy cần phải có biện pháp hữu hiệu để bảo vệ và phát triển rừng
3.1.6 Hiện trạng sử dụng đất
Kết quả thu nhập và thống kê diện tích các loại đất đai trên địa bàn thành phố được lập tập hợp ở bảng sau:
Trang 40Bảng 3.1 Hiện trạng diện tích các loại đất đai
3 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 16,43 1,22
4 Đất sông suối và mặt nước
5 Đất phi nông nghiệp khác 0,34 0,03
III Nhóm đất chưa sử dụng 50,53 0,79
Nguồn: UBND Thành phố Điện Biên, năm 2019
Với kết quả trên cho thấy diện tích đất lâm nghiệp chỉ chiếm 42,44% tổng diện tích tự nhiên Tuy nhiên, rừng và đất lâm nghiệp giữ vai trò rất quan trọng trong phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ quan cảnh quan môi trường… cho thành phố trẻ đang được đầu tư phát triển, mở rộng và đi lên của vùng Tây Bắc của đất nước
3.1.7 Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng
3.1.7.1 Diện tích các loại đất, loại rừng (Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp)
Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố được thống kê
ở bảng sau: