Vì thế, việc lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Châu Phú, tỉnh An Giang” làm để nghiên cứu luận văn thạc sĩ là cấp thiết, đồng thời có
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN CHÍ THIỆN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN CHÍ THIỆN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8340402
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS LẠI LÂM ANH
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu cuộc sống của conngười ngày càng cao hơn Ngoài các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống về vậtchất như: ăn, mặc, ở, đi lại; nhu cầu về tinh thần như: vui chơi, giải trí, hưởngthụ các giá trị văn hóa tinh thần, thì nhu cầu về du lịch, nghỉ dưỡng ngàycàng được con người quan tâm và chứng minh được giá trị to lớn của nó trongphát triển kinh tế xã hội của quốc gia nói chung, từng địa phương nói riêng.Ngoài ra, dưới sức ép ngày càng lớn của cuộc sống trong thời kỳ hội nhập,của công việc đòi hỏi con người phải dồn hết thể lực, trí lực vào công việcnên từ đó, con người dễ rơi vào tình trạng stress Vì vậy, con người rất cầnđược giải trí, nghỉ dưỡng, thư giãn nhằm khôi phục lại sức khỏe, tinh thần đểtiếp tục tham gia lao động, sản xuất; nên du lịch là hoạt động được nhiềungười lựa chọn và ngày càng chứng minh được sự cần thiết trong đời sống xãhội
Nhiều quốc gia xem du lịch là một ngành công nghiệp không khói haycông nghiệp xanh Việt Nam cũng đã xác định được lợi thế, tầm quan trọngcủa phát triển du lịch trong phát triển kinh tế quốc gia Đảng ta cũng đã xác
định “Phát triển du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn” (Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, 2001) Ngành du lịch ở nước tađang phát triển nhanh, đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế của đất nước.Tuy nhiên, trước tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với môi trường đãảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có pháttriển du lịch Vì thế, xu hướng du lịch gần gũi, bảo tồn và gắn bó với thiênnhiên được phần lớn du khách ưu tiên lựa chọn
Châu Phú là huyện nằm giữa 02 thành phố Long Xuyên và tiếp giáp vớithành phố Châu Đốc, có 33 km quốc lộ 91 đi qua và 33 km tiếp giáp với sôngHậu, đất đai màu mỡ; với vị trí địa lý, điều kiện thổ nhưỡng rất phù hợp để
Trang 4phát triển vườn cây ăn quả, sản xuất rau màu, nuôi thủy sản trong ao, bè gắnvới phát triển du lịch sinh thái; đặc biệt Quốc lộ 91 đi qua huyện là trục giaothông chính (cửa ngõ) của du khách hành hương khu du lịch cấp Quốc giachùa Bà Chúa xứ Núi Sam và tham quan các danh lam thắng cảnh của vùngThất Sơn Tuy nhiên, thực tế trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh An Giangchủ yếu là khai thác du lịch tâm linh, chưa đa dạng những sản phẩm du lịch,dịch vụ du lịch để giữ chân du khách.
Để tranh thủ lợi thế từ diện tích khá lớn và đa dạng về cây ăn quả củahuyện và tiềm năng về du lịch do An Giang là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long,
có đường biên giới dài gần 100 km giáp tỉnh Takeo và Kandal vương quốcCampuchia, được thiên nhiên ưu đãi với nhiều danh lam, thắng cảnh Bêncạnh đó, là tỉnh đa dân tộc, tôn giáo với 04 dân tộc anh em là Kinh, Khmer,Chăm, Hoa cùng sinh sống lâu đời, cùng tạo ra những giá trị văn hóa dân tộcphong phú, đa dạng đã thu hút lượng khách du lịch trong và ngoài nước rấtlớn hằng năm, trong năm 2019 đón trên 9,2 triệu lượt khách (trong đó kháchquốc tế là 120 nghìn lượt), doanh thu từ hoạt động du lịch ước đạt 5.500 tỷđồng Châu Phú với những lợi thế đặc trưng, cần nghiên cứu, xây dựng chiếnlược phát triển kinh tế phù hợp để khai thác lợi thế, tiềm năng, tạo sự đột phá
để kinh tế phát tiển bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần chongười dân để diện mạo của huyện ngày càng khởi sắc Từ đó, yêu cầu đặt ra làcần phải có một công trình nghiên cứu khoa học đánh giá việc thực hiện chínhsách, đề ra giải pháp mang tính đột phá, phát huy lợi thế so sánh để Châu Phúphát triển nhanh và bền vững Vì thế, việc lựa chọn đề tài
“Thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Châu Phú, tỉnh An Giang” làm để nghiên cứu luận văn thạc sĩ là cấp thiết, đồng thời
có ý nghĩa cả về mặt khoa học và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trang 52.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Từ rất lâu hoạt động du lịch được hình thành và phát triển trong đờisống xã hội Du lịch là hình thức con người di chuyển từ nơi này sang nơikhác Thời kỳ đầu du lịch đi kèm với các hoạt động mua bán, thám hiểm cácvùng đất mới Trong những thập niên gần đây du lịch trên thế giới phát triểnrộng rãi và bắt đầu nảy sinh những ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình văn hóa,
xã hội và môi trường của nơi tiếp nhận khách du lịch Vì thế các nhà nghiêncứu về du lịch quan tâm đến việc đánh giá tác động tiêu cực của du lịch đếncác địa điểm du lịch, đặc biệt là tác động về môi trường thiên nhiên Nhiềuquốc gia trên thế giới đã quan tâm đến phát triển du lịch cộng đồng nói chung,DLST nói riêng, nên có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về du lịchsinh thái Các tác giả với các nghiên cứu của bản thân đều đi đến thống nhất làcần có một loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường đó là DLST
Loại hình DLST được bàn đến từ những năm đầu của thập kỷ 80 của thế
kỷ XX trên thế giới Một số nhà nghiên cứu điển hình về DLST là Ceaballos –Lascurain đưa ra định nghĩa đầu tiên về DLST (1987); TheBoo (1990); Bbuckley(1991,1994), và hàng loạt các nghiên cứu khác về lý luận và thực tiễn về DLSTcủa các nhà khoa học quan tâm đến lĩnh vực này như: Cater (1994); Honey
(1999) “du lịch sinh thái là du lịch hướng tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy
mô nhỏ nhất” Khái niệm bản chất của DLST, lợi ích và những vấn đề phát sinh
trong phát triển du lịch do không được quản lý chặt chẽ như trong các khu tựnhiên, trong khu cộng đồng văn hóa dân tộc là những vấn đề được quan tầmnhiều nhất Bên cạnh đó, những nghiên cứu về DLST của một số quốc gia khuvực Châu Á Thái Bình Dương của các tác giả như: Foster, Buckle, Dowling,Gunn, Ceballo – Lascurain, Linberg và Hawkins và các tổ chức quốc tế UNWTO(tổ chức du lịch thế giới), IUCN (tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế), WTO (Tổchức Thương mại Thế giới, 1992), WW (quỹ
Trang 6quốc tế về bảo vệ thiên nhiên); Tourism Concern (Sự quan tâm về Du lịch,1998).
Ngoài ra, có một số công trình nghiên cứu trực tiếp đến tuyến, điểm du
lịch và DLST như: “Nghiên cứu về sức chứa và sự ổn định của các điểm du
lịch” của Kadaxki (1972), Sepfer (1973); đây là những công trình nghiên cứu
đầu tiên đưa ra các khung đánh giá quy chuẩn về tiêu chí sức chứa của mộtđiểm du lịch, nó trở thành công cụ cơ sở cho việc xây dựng các tiêu chuẩn
đánh giá các tiềm năng các điểm du lịch về sau “Nghiên cứu xác định các
tuyến điểm du lịch giữa biên giới Ba Lan và Đức” (Tổ chức ICURP, 1994)
của tác giả Lechoslaw Czemic, Halina, Orlinska (Ba Lan) và Edfrank (HàLan), các nghiên cứu đã phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có tácđộng đến du lịch, phương pháp xác định các tuyến, điểm du lịch cũng nhưviệc bảo vệ môi trường trên quan điểm phát triển du lịch bền vững Nghiên
cứu “Du lịch sinh thái – Hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quản lý”
(Hiệp hội DLST – North Benning ton – Vermont, 1999)
Đây là những tài liệu rất quí giá trong nghiên cứu về DLST và áp dụngvào thực tiễn để khai thác, phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam nói chung,huyện Châu Phú, tỉnh An Giang nói riêng
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nước ta hiện đang trong giai đoạn hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộngtrên tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực du lịch và du lịch đã chứng minhđược vai trò trong phát triển kinh tế - xã hội, là ngành kinh tế mũi nhọn đượcĐảng và Nhà nước ta xác định Vì thế, việc nghiên cứu về du lịch, tiềm năng,lợi thế để phát triển du lịch của Việt Nam nói chung, du lịch ở các địa phươngnói riêng ngày càng được các nhà khoa học quan tâm; đặc biệt trong bối cảnhbiến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng rấtlớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội thì các nghiên cứu về DLST càng
Trang 7trong nghiên cứu là những nhà địa lý học chuyên nghiệp của quốc gia đã cónhững công trình nghiên cứu quí giá như:
Vũ Tuấn Cảnh, Đặng Duy Lợi, Nguyễn Minh Tuệ, Lê Thông (1991):
“Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam"; Viện nghiên cứu phát triển du lịch
(1994): “Quy hoạch tổng thể du lịch Việt Nam 1995 – 2000”; Nguyễn Minh Tuệ (2014): “Địa lý du lịch Việt Nam”.
Trong thời gian gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, ô nhiễmmôi trường và tác động tiêu cực của du lịch đến môi trường sinh thái ngàycàng nghiêm trọng đã tạo sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học Do đó,nhiều công trình khoa học nghiên cứu về DLST đã ra đời, điển hình như:
Phạm Trung Lương (1997) “Đánh giá tác động môi trường du lịch ở Việt
Nam”; Vũ Tuấn Cảnh (1997) “Quy hoạch tổng thể du lịch Việt Nam với chiến lược tổng thể quản lý tài nguyên và môi trường”, Điều này cho thấy sự quan
tâm đến môi trường trong khai thác và phát triển du lịch ngày càng trở nênbức thiết
Đặc biệt, công trình nghiên cứu của Phạm Trung Lương chủ biên
(2002) “Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt
Nam” là công trình nghiên cứu tiêu biểu và công phu về vấn đề phát triển du
lịch bền vững Nghiên cứu đã hệ thống cơ sở lý luận về phát triển bền vững(PTBV) du lịch và phân tích thực trạng phát triển du lịch từ năm 1992, đã xácđịnh những vấn đề thực tiễn đặt ra đối với phát triển du lịch nhìn từ góc độkhai thác sử dụng tài nguyên và hiện trạng môi trường du lịch; nghiên cứucũng đã tổng hợp những kinh nghiệm của các nước về phát triển du lịch bềnvững, đề xuất những giải pháp để phát triển du lịch bền vững trong điều kiện
cụ thể của Việt Nam và một số mô hình phát triển du lịch bền vững ở một số
khu vực cụ thể Đề tài do VNAT và FUNDESCO nghiên cứu “Du lịch và
phát triển bền vững (Tourism and Sustainable Development)” (Antonio
Machado, 2003) trong khuôn khổ dự án “Xây dựng năng lực cho phát triển
Trang 8du lịch ở Việt Nam” đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch PTBV, thực
trạng phát triển du lịch ở Việt Nam, những vấn đề đặt ra và nêu rõ những vấn
đề cần khắc phục để hướng du lịch đến PTBV
Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu của các luận án tiến sĩ, thạc
sĩ đề cập đến du lịch liên quan đến tự nhiên, sinh thái, môi trường như: Đặng
Duy Lợi (1992) “Đánh giá khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên
thiên nhiên huyện Ba Vì (Hà Tây)”; Nguyễn Trần Cầu (1993) “Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch biển Việt Nam”; Phạm Quang Anh (1996) “Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức du lịch xanh ở Việt Nam”; Phạm Việt Hưng (2008) “Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái tỉnh Cà Mau”; Vũ Thị Kim Luận (2012) “Định hướng phát triển các điểm, tuyến du lịch sinh thái của tỉnh Nghệ An”; Cao Quốc Tuân (2011) “Tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang theo hướng phát triển bền vững”; Lê Trịnh Hạ Ái
(2007) “Du lịch An Giang tiềm năng và định hướng”; Nguyễn Thị Hồng Vân (2007) “Tác động du lịch đến đời sống văn hóa – xã hội của người Thái ở
Mai Châu – Hòa Bình và các giải pháp phát triển”; Pham Văn Hoàng (2014)
“Nghiên cứu đánh giá tiềm năng, hiện trạng và định hướng phát triển du lịch sinh thái huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình”; nghiên cứu của Đại học Lâm
nghiệp (2018) “Đánh giá tác động của hoạt động du lịch sinh thái tới môi
trường tự nhiên và xã hội tại Bản Lác, xã Chiềng Châu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình”.
Năm 1999, đã diễn ra hội thảo “Xây dựng chiến lược quốc gia về phát
triển du lịch sinh thái tại Việt Nam” đã được tổ chức với sự phối hợp của tổng
cục du lịch Việt Nam, IUCN, UNEP, ESCAP với sự tài trợ của tổ chức SIDA,hội thảo đã có rất nhiều tham luận đóng góp những kinh nghiệm về phát triển
du lịch sinh thái ở nhiều nơi
Năm 2013, hội nghị khoa học “Phát triển du lịch sinh thái trong các
Trang 9Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Hội nghị đã thu hút đông đảo cácnhà khoa học, các địa phương và sự có mặt của các giảng viên đến từ thànhphố Toulouse và Pau của Pháp.
2.3 Đánh giá các công trình nghiên cứu
2.3.1 Những vấn đề mà các công trình nghiên cứu trước đã làm được
Có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển DLST, giảipháp phát triển DLST, đánh giá tác động môi trường du lịch ở Việt Nam, cơ
sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, nghiên cứuphát triển DLST ở một số địa phương, Các công trình nghiên cứu trên đãkhái quát một cách tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan; xác địnhcác cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển DLST; đề cập đến sự tác động của
du lịch đến môi trường sinh thái, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững củatừng địa phương nói riêng, phát triển bền vững của đất nước và toàn cầu nóichung; xác định sự tất yếu, phù hợp với quy luật phát triển đòi hỏi phải quantâm phát triển loại hình DLST để giảm thiểu sự tác động tiêu cực đến môitrường, góp phần giáo dục ý thức bảo vệ môi trường đối với người dân và dukhách, tạo điều kiện để cộng đồng hưởng lợi trong phát triển DLST
Như vậy, các công trình nghiên cứu đã đánh giá được hiệu quả thiếtthực của loại hình DLST, góp phần phát triển du lịch bền vững Từ đó, đềxuất các giải pháp để thúc đẩy loại hình DLST phát triển bền vững
2.3.2 Những vấn đề khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung
Các công trình nghiên cứu ở các địa phương cụ thể, đa số chỉ nghiêncứu trên các địa bàn mà DLST đã phát triển ở mức độ nhất định để tổng hợpđánh giá và đề xuất giải pháp phát triển bền vững trong thời gian tới Tuynhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về thực hiện chính sách phát triển
Trang 10DLST; đặc biệt chưa có công trình nghiên cứu về DLST và thực hiện chính sách phát triển DLST trên địa bàn huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ những vấn đề về lý luận và thực tiễnthực hiện chích sách phát triển DLST; luận văn đề xuất những giải pháp cơbản nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển DLST trên địabàn huyện Châu Phú, tỉnh An Giang trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu của luận văn, cần tập trungthực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Phân tích, đánh giá và làm rõ những vấn đề về lý luận và thực tiễn vềthực hiện chính sách phát triển DLST
- Phân tích, đánh giá việc thực hiện chính sách; thực trạng, tiềm năng,lợi thế và những hạn chế trong phát triển DLST của huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
- Đề xuất những giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển DLST trên địa bàn huyện Châu Phú trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về thực hiện chính sách phát triển DLST trên địa bàn huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung:
Trang 11Trên cơ sở những vấn đề về lý luận, thực tiễn về DLST và phát triểnDLST; luận văn tập trung nghiên cứu một cách tổng quan về thực hiện chínhsách phát triển DLST ở một số quốc gia, một số khu DLST trong và ngoàitỉnh Trên cơ sở đó, đánh giá những thuận lợi, khó khăn, thách thức trong pháttriển DLST ở những khu DLST nói trên để nghiên cứu áp dụng, định hướng,
đề xuất giải pháp cho chính sách phát triển DLST trên địa bàn huyện ChâuPhú trong thời gian tới
- Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu giai đoạn 2015 - 2020,
định hướng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh; các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và dựa trên cácnghiên cứu khoa học đã được công bố có liên quan đến DLST và thực hiệncác chính sách phát triển DLST
Từ đó đưa ra kết luận có căn cứ khoa học cho các giải pháp thực hiệnchính sách phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Châu Phú, tỉnh AnGiang
5.2 Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp phân tích tổng hợp
Luận văn tổng hợp và xử lý các tài liệu đã thu thập được để xây dựngcác nội dung nhiệm vụ, bao gồm một số các tài liệu sau: (1) Các bài báo, hộithảo liên quan đến lĩnh vực và địa bàn nghiên cứu; (2) Tài liệu về các chínhsách của Đảng và Nhà nước liên quan tới DLST nói chung và tài liệu về chínhsách phát triển DLST trên địa bàn huyện Châu Phú, tỉnh An Giang nói riêng;
…
b) Phương pháp thống kê, so sánh
Trang 12Luận văn sử dụng phương pháp thu thập các số liệu thống kê số trongcác hoạt động DLST trên địa bàn huyện Châu Phú, tỉnh An Giang Từ các sốliệu đó, luận văn tiến hành so sánh, đối chiếu các thông tin có liên quan vềcùng một vấn đề Qua đó, có sự đánh giá khách quan về DLST trên địa bànhuyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
c) Phương pháp khảo sát, điều tra tại thực địa
Phương pháp nghiên cứu tiến hành khảo sát, điều tra tại thực địa thôngqua thu thập thông tin qua trao đổi phỏng vấn trực tiếp với những người làmcông tác DLST trên địa bàn huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
d) Phương pháp chuyên gia
Phát triển DLST là lĩnh vực liên ngành có nhiều đối tượng tham gia Vìvậy, cần có những chuyên gia trong lĩnh vực quản lý ngành du lịch cũng nhưnhững người có kinh nghiệm thực tế làm trong ngành du lịch đánh giá Từ đó,đưa ra được các đánh giá phù hợp, phản ảnh đúng hiện trạng của hoạt động dulịch sinh thái trên địa bàn huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
e) Phương pháp dựa trên văn bản quy định từ các cơ quan chức năng
Tại Việt Nam, phát triển DLST không chỉ chịu sự quản lý của Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch mà còn chịu sự quản lý của nhiều bộ ngành khác vìđây là hoạt động không chỉ liên quan quan tới du lịch mà còn liên quan tớimôi trường, an toàn thực phẩm, y tế, bảo vệ chủ quyền đất liền và biểnđảo, Do đó, khi nghiên cứu đề tài này cần phải dựa vào các văn bản quy định
từ nhiều nguồn, nhiều cơ quan chức năng khác nhau
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải đánh giá được những tiềmnăng, lợi thế sẵn có của địa phương, đặt trong mối quan hệ liên kết với các địa
Trang 13phương khác và tranh thủ lợi thế đặc thù của vùng để khai thác Từ đó, thực hiện các chính sách phù hợp để phát triển.
- Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải đồng bộ, hài hòa với các lĩnh vực khác và đảm bảo môi trường sinh thái
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Trên cơ sở thực hiện chính sách, đề ra những giải pháp cụ thể, thiếtthực để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; tổ chức lại sản xuấttrên địa bàn gắn với phát triển DLST, tạo điều kiện thúc đẩy thương mại
- dịch vụ phát triển
- Tạo động lực mạnh mẽ để kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện pháttriển một cách đồng bộ, bền vững; góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinhthần cho người dân
- Từ thực tiễn phát triển DLST ở một số khu du lịch nước ngoài, trong
và ngoài tỉnh Từ đó, rút ra được những bài học kinh nghiệm để phát triển
DLST trên địa bàn huyện Châu Phú
- Luận văn còn có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động giáo dục và đàotạo, những người làm công tác nghiên cứu khoa học và các nhà hoạch địnhchính sách trong lĩnh vực du lịch
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, lời cam đoan, mục lục, danhmục chữ viết tắt, danh mục bảng, danh mục hình, tài liệu tham khảo, phụlục, Nội dung luận văn được chia làm 03 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách phát triển
du lịch sinh thái
- Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh tháitrên địa bàn huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
Trang 14- Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiệnchính sách phát triển du lịch sinh thái tại huyện Châu Phú đến năm 2025, tầmnhìn đến năm 2030.
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về DLST và thực hiện chính sáchphát triển DLST để làm rõ một số khái niệm quan trọng liên quan đến chủ đềcủa luận văn, xác định cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu Cụ thể, làm rõ nộihàm, các đặc trưng cơ bản, các nguyên tắc cơ bản của hoạt động DLST, đặcđiểm của các đối tượng tham gia hoạt động DLST, tài nguyên DLST, quan hệgiữa DLST với phát triển bền vững
1.1 Một số khái niệm có liên quan
1.1.1 Chính sách công
Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn
đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thứckhác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng (PGS.TS NguyễnKhắc Bình – Học viện Khoa học xã hội)
1.1.2 Thực hiện chính sách công
Thực hiện chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thựctiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự ánthực hiện chính sách công và tổ chức thực hiện chúng nhằm thực hiện hóamục tiêu chính sách công (Giáo trình lý luận chung về thực hiện chính sáchcông)
Trang 16Quốc tế Các tổ chức lữ hành chính thức (Internationl Union of Official Travel
Oragnization – IUOTO) khái niệm: “Du lịch được hiểu là hành động du hành
đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống, ”.
- Luật Du lịch Việt Nam (2017): “Du lịch là các hoạt động có liên
quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên không quá
1 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”.
Như vậy có thể hiểu du lịch là hoạt động của con người di chuyển rangoài nơi cư trú vì mục tiêu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khámphá, để thỏa mãn nhu cầu về tinh thần
1.1.4 Du lịch sinh thái
- Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đãnhanh chóng thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học và cộng đồng xã hội.Đây là một khái niệm rộng, được hiểu ở nhiều góc độ khác nhau Có nhiều cáchđặt vấn đề về DLST để đi đến sự thống nhất về bản chất của loại hình du lịch này
và hiện vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu trên nhiều diễn
đàn trong nước và quốc tế
Nhìn ở góc độ nghĩa hẹp, có thể hiểu DLST là sự kết hợp ý nghĩa của
2 từ ghép “du lịch” và “sinh thái” hay có thể hiểu là du lịch gắn với tự nhiên.Tuy nhiên, không nên xem DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, vì thuậtngữ này có thể sử dụng trong tất cả các hoạt động du lịch được thực hiện ngoàithiên nhiên (ví dụ trượt tuyết, bám vách đá leo núi, ) Những hoạt động du lịchnày có thể có mà có thể không thuộc hoạt động thân thiện với môi
trường sinh thái
Trang 17- Năm 1993, Lindberg và Hawkins đã đưa ra định nghĩa phản ánh khá
đầy đủ về nội dung và chức năng của DLST: “Du lịch sinh thái là du lịch có
trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là công cụ để bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương”.
- Tổ chức bảo vệ thiên nhiên thế giới (IUCN) xác định: “Du lịch sinh
thái là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự
nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hóa
đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra, và tạo ra lợi ích cho những người dân địa phương tham gia tích cực” (Ceballos-
Lascurain, 1996)
- Tại hội thảo về xây dựng chiến lược phát triển DLST ở Việt Nam
(9/1999) định nghĩa về DLST như sau: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch
dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho sự nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”.
- Năm 2000, Giáo sư – tiến sĩ khoa học Lê Huy Bá định nghĩa về DLST
là: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm
đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục truyền thống và bảo vệ, phát triển môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”.
- Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế định nghĩa: “Du lịch sinh thái là
việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi
trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương”.
Trang 18- Hội thảo về DLST với phát triển bền vững ở Việt Nam do viện nghiêncứu phát triển du lịch kết hợp với Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế tổ chức tại
Hà Nội vào năm 1998 cũng đã đưa ra quan điểm về DLST và xác định vị
trí của DLST trong hệ thống các loại hình du lịch như sau: “Du lịch sinh thái
là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa , đảm bảo mang lại lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”.
- Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về DLST được Hector
Ceballos-Lascurain đưa ra năm 1987: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực
tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá” Bên cạnh đó, một số định nghĩa về DLST được nhiều nhà khoa
học nghiên cứu, điển hình là: “Du lịch sinh thái là du lịch đến các khu vực
còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên
và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho người dân địa phương” (Wood, 1991); “Du lịch sinh thái được phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi trường và sinh thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề Du lịch sinh thái tạo ra mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức được giáo dục để biến bản thân khách
du lịch thành những người đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường Phát triển DLST sẽ làm giảm thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang lại và chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên” (Allen, 1993).
Trang 19Mặc dù có chung những quan điểm cơ bản về DLST, song căn cứ vàonhững đặc thù và mục tiêu phát triển, mỗi quốc gia, mỗi tổ chức quốc tế đềuđưa ra những định nghĩa riêng của mình về DLST Một số định nghĩa khátổng quát về DLST có thể nghiên cứu đến là:
- Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế định nghĩa như sau: “Du lịch sinh
thái là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương”.
- Tổng cục Du lịch Việt Nam phối hợp với nhiều tổ chức quốc tế như:ESCAP, WWF, IUCN, có sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa họcquốc tế và Việt Nam về DLST và các lĩnh vực liên quan, tổ chức hội thảo
quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển Du lịch sinh thái ở Việt
Nam”(1999) Lần đầu tiên tại hội thảo đã đưa ra định nghĩa về DLST ở Việt
Nam: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa
bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” Đây
được coi là sự mở đầu thuận lợi cho các bước tiếp theo trong quá trình pháttriển của DLST ở Việt Nam
- Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017: “Du lịch sinh thái là loại
hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương, có sự
tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường”.
1.1.5 Chính sách phát triển du lịch sinh thái
Khó có thể đưa ra một khái niệm chính xác về chính sách phát triểnDLST nhưng có thể khái quát chính sách phát triển DLST là gì thông qua hiểucác khái niệm khác
Chính sách phát triển du lịch sinh thái là một hình thức của chính sáchkinh tế - xã hội Do đó, có thể hiểu “chính sách phát triển du lịch sinh thái là
Trang 20tổng hòa các quan điểm, mục tiêu, định hướng, các công cụ, biện pháp mà nhànước sử dụng để phát triển hoạt động du lịch sinh thái trong một khoảng thờigian nhất định”.
1.2 Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái và các loại hình du lịch khác
DLST là loại hình du lịch gắn bó với thiên nhiên (Nature - Basedtourism) Tuy nhiên, trong hoạt động của loại hình DLST bao gồm cả tìmhiểu, nghiên cứu văn hóa bản địa của cộng đồng địa phương
Các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, nghỉ dưỡng, mạo hiểm, thamquan, chủ yếu đưa con người về với thiên nhiên, còn việc giáo dục, nâng caonhận thức cho khách du lịch về bảo vệ môi trường sinh thái, văn hóa cộngđồng địa phương là rất hạn chế Tuy nhiên, nếu như trong hoạt động của loạihình du lịch này có gắn với thực hiện các nguyên tắc của DLST, bao gồm việcnâng cao nhận thức để du khách có trách nhiệm với việc bảo tồn các giá trị tựnhiên và văn hóa cộng đồng, tạo việc làm và lợi ích cho người dân địa phươngthì đã chuyển hóa thành một dạng của DLST
Trang 21- Tham quan nghiên cứu
Nguồn: Phạm Trung Lương (2002), “Du lịch sinh thái - Những vấn đề lý luận
và thực tiễn phát triển ở Việt Nam”, NXB Giáo dục.
Hình 1.1 Vị trí của loại hình du lịch sinh thái
1.3 Các đặc trương cơ bản của du lịch sinh thái
Hoạt động phát triển du lịch nói chung, DLST nói riêng đều được thực hiện trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên, văn hóa, lịch sử kèm
Trang 22theo các điều kiện về kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch Kết quả là sự hìnhthành những sản phẩm du lịch từ các tiềm năng về tài nguyên, mang lại nhiềulợi ích cho xã hội Điều quan trọng là những lợi ích về kinh tế - xã hội, tạoviệc làm cho người lao động, nâng cao mưc sống cho cộng đồng địa phươngthông qua các dịch vụ du lịch, góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử và
sự đa dạng của thiên nhiên nơi có hoạt động DLST phát triển Sau đó lànhững lợi ích mang lại cho khách du lịch trong việc hưởng thụ các cảnh quanthiên nhiên mới lạ, độc đáo, các truyền thống văn hóa lịch sử, những đặctrưng của dân tộc, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm về bảo tồn sự toàn vẹncủa các giá trị thiên nhiên, văn hóa, lịch sử của nơi họ đến nói riêng và của thếgiới tự nhiên nói chung
* DLST là một lĩnh vực của hoạt động du lịch, vì vậy nó cũng bao gồm những đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung như:
- Tính đa ngành: tính đa ngành thể hiện ở đối tượng được khai thác đểphục vụ du lịch (sự hấp dẫn về cảnh quan thiên nhiên, các giá trị lịch sử, vănhóa, kết cấu hạ tầng và các dịch vụ kèm theo, ) Thu nhập từ du lịch cũngmang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau thông qua các sảnphẩm dịch vụ cung cấp cho khách du lịch (điện, nước, nông sản, hàng hóa, )
- Tính đa thành phần: thể hiện ở tính đa dạng, phong phú trong thànhphần khách du lịch, người phục vụ du lịch, cộng đồng địa phương, các tổ
chức trong dân tham gia vào hoạt động du lịch,
- Tính đa mục tiêu: thể hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiênnhiên, cảnh quan lịch sử - văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống của khách dulịch và người tham gia hoạt động dịch vụ du lịch, mở rộng sự giao lưu văn
hóa, kinh tế và nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi thành viên trong xã hội
Trang 23- Tính liên vùng: thể hiện thông qua sự kết nối các điểm du lịch trong một khu vực, một quốc gia hay nhiều quốc gia thành những tuyến dụ lịch.
- Tính mùa vụ: thể hiện ở thời gian diễn ra hoạt động du lịch ở từngthời điểm trong năm Tính mùa vụ thể hiện rõ nhất ở các loại hình du lịch biển, thểthao theo mùa, (theo diễn biến của khí hậu, thời tiết) hoặc loại hình du lịch nghỉcuối tuần, vui chơi giải trí, (theo tính chất công việc của những
- Góp phần bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì đa dạng sinh học,giáo dục con người bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, hình thành ý thứcbảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như thúc đẩy các hoạt
Trang 24điều này đòi hỏi cần có sự tham gia của cộng đồng địa phương tại khu vực đó,bởi vì chính những người dân địa phương tại đây hiểu rõ nhất về các nguồntài nguyên của mình Sự tham gia của cộng đồng địa phương có tác dụng tolớn trong việc giáo dục du khách bảo vệ môi trường sinh thái, đồng thời cũnggóp phần nâng cao hơn nữa nhận thức cho cộng đồng, tăng các nguồn thunhập cho cộng đồng.
1.4 Các nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái
Hoạt động DLST cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
1.4.1 Có hoạt động giáo dục nhằm nâng cao kiến thức về môi trường, góp phần tạo ý thức tham gia bảo tồn thiên nhiên
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng của hoạt động DLST, là
sự khác biệt giữa DLST với các loại hình du lịch dựa vào tự nhiên khác.Khách du lịch khi rời khỏi điểm tham quan phải có sự hiểu biết và ý thức caohơn về giá trị của môi trường tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu vực
và văn hóa nơi đến Từ đó, nhận thức và thái độ ứng xử của du khách sẽ thayđổi theo chiều hướng tích cực hơn
1.4.2 Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái
Cũng như các hoạt động của các loại hình du lịch khác, hoạt độngDLST tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với môi trường và tự nhiên Nếunhư đối với những loại hình du lịch khác, vấn đề bảo vệ môi trường, duy trì
hệ sinh thái chưa phải là những ưu tiên hàng đầu thì ngược lại, DLST xemđây là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng cần tuân thủ, bởi vì:
- Việc bảo vệ môi trường và bảo tồn các hệ sinh thái chính là mục tiêu hoạt động của DLST
Trang 25- Sự tồn tại và phát triển DLST gắn liền với môi trường tự nhiên và các
hệ sinh thái Ô nhiễm môi trường, suy thoái các hệ sinh thái sẽ tác động tiêu cựcđến hoạt động DLST
Vì thế, mọi hoạt động DLST phải được quản lý chặt chẽ để ít tác độngtới môi trường, đồng thời phải trích một phần thu nhập từ hoạt động DLST đểđầu tư thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường và duy trì sự phát triển cácthế hệ sinh thái
1.4.3 Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng
Đây là nguyên tắc quan trọng đối với DLST, bởi các giá trị văn hóa bảnđịa là một yếu tố không thể tách rời các giá trị môi trường của hệ sinh thái ởmột khu vực cụ thể Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục, sinh hoạt văn hóatruyền thống của cộng đồng địa phương sẽ làm mất đi sự cân bằng sinh thái tựnhiên vốn có của khu vực, sẽ làm thay đổi hệ sinh thái đó Hậu quả của quátrình này sẽ tác động trực tiếp đến DLST
Vì thế, việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng địa phương
có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của DLST
1.4.4 Tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho người dân bản địa
Đây là nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng tới của DLST Nếu như cácloại hình du lịch thiên nhiên khác ít quan tâm đến vấn đề này, phần lớn lợinhuận thuộc về các công ty điều hành thì ngược lại, DLST dành một phầnđáng kể lợi nhuận từ hoạt động của mình để đóng góp nhằm cải thiện môitrường sống của cộng đồng địa phương
Ngoài ra, DLST luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia củangười dân bản địa, như đảm nhiệm vai trò hướng dẫn viên, đáp ứng chỗ nghỉcho khách, cung ứng các nhu cầu về thực phẩm, hàng lưu niệm cho
Trang 26khách, thông qua đó sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địaphương Kết quả là cuộc sống của người dân sẽ ít bị phụ thuộc hơn vào việckhai thác tự nhiên, đồng thời họ sẽ nhận thấy lợi ích của việc bảo vệ cácnguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển DLST Sức ép của dân cư đối vớimôi trường sẽ giảm đi và chính cộng đồng địa phương sẽ là những người chủthật sự, những người bảo vệ các giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa của nơidiễn ra hoạt động DLST.
1.5 Nội dung thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái
1.5.1 Xây dựng kế hoạch thực hiện và ban hành các văn bản chính sách
Tổ chức thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái là một quátrình khá phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế cần phải được lập kếhoạch, lên chương trình để các cấp, các cơ quan nhà nước triển khai thực hiệnmột cách chủ động Các kế hoạch bao gồm kế hoạch tổ chức điều hành; kếhoạch cung cấp các nguồn lực; kế hoạch thời gian triển khai thực hiện; kếhoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách và dự kiến những nội quy, quychế
Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển DLST trước khitriển khai thực hiện phải đảm bảo các yêu cầu về tính khoa học, tính khả thi
và đúng thời gian Việc thực hiện chính sách phát triển DLST là quá trìnhphức tạp và lâu dài Trên cơ sở những chủ trương, nghị quyết của Đảng, chínhsách pháp luật của Nhà nước về phát triển DLST; hằng năm cấp ủy, chínhquyền các cấp phải ban hành nghị quyết, kế hoạch, quyết định để tổ chức thựchiện một cách chủ động
Trang 271.5.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách
Phổ biến, tuyên truyên chính sách giúp cho các đối tượng chính sách vàmọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách;
về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và vềtính khả thi của chính sách
Các chủ thể phổ biến tuyên truyền đó là chính quyền các cấp phối hợpvới Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị xã hội và cán
bộ, đảng viên trong toàn hệ thống chính trị Thực hiện công tác phổ biến,tuyên truyền thực hiện chính sách phát triển DLST phải xây dựng kế hoạch tổchức phổ biến tuyên truyền tại địa phương
Công tác phổ biến, tuyên truyền phải được thực hiện thường xuyên,liên tục, lâu dài dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú
1.5.3 Phân công, phối hợp thực hiện
Sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các phòng, ban chuyên môn,chính quyền các cấp góp phần để việc thực hiện chính sách hiệu quả hơn.Trong đó, UBND các cấp là cơ quan chủ trì; các cơ quan chuyên môn chịutrách nhiện tham mưu giúp UBND ban hành các quyết định, kế hoạch thựchiện Muốn thực hiện chính sách phát triển DLST có hiệu quả phải tiến hànhphân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền,các yếu tố tham gia thực thi chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thựchiện mục tiêu chính sách phát triển DLST
Phân công, phối hợp các đối tượng thực hiện: thực hiện chính sách pháttriển DLST có thể tác động đến lợi ích của một bộ phận dân cư theo cáchướng khác nhau, có bộ phận được hưởng lợi nhiều, có bộ phận hưởng lợi ít,
có bộ phận không được hưởng lợi, Vì thế, để việc thực hiện chính sách phát
Trang 28triển DLST thực hiện được mục tiêu cần phải phối hợp các yếu tố, bộ phận,đối tượng tác động có liên quan.
1.5.4 Duy trì chính sách
Duy trì chính sách là toàn bộ hoạt động đảm bảo cho chính sách pháthuy tác dụng trong đời sống chính trị xã hội Tính khả thi của chính sách sẽgóp phần to lớn cho chính sách được duy trì Để việc duy trì chính sách đạthiệu quả thì phải đảm bảo các công cụ, các biện pháp thực hiện phù hợp vớitình hình thực tế của địa phương
1.5.5 Điều chỉnh chín sách
Tất cả các chính sách trong quá trình triển khai thực hiện có khả năngbộc lộ những vấn đề chưa phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội hoặc bị tácđộng bởi các yếu tố khách quan mà chủ thể chính sách không thể lường hếtnhư: dịch bệnh, thiên tai, suy thoái kinh tế, biến đổi khí hậu, Vì thế, sau mộtthời gian triển khai đưa chính sách vào đời sống xã hội cần phải sơ kết đánhgiá để điều chỉnh chính sách cho phù hợp với điều kiện cụ thể thì chính sáchmới có thể được duy trì và phát huy hiệu quả Việc điều chỉnh chính sách phải
do cơ quan ban hành chính sách thực hiện một cách linh hoạt từ điều chỉnhbiện pháp, giải pháp, cơ chế thực hiện và các nội dung khác, nhưng khônglàm thay đổi mục tiêu chính sách, nếu thay đổi mục tiêu chính sách xem nhưchính sách thất bại
1.5.6 Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
Chính sách sau khi được được triển khai thực hiện không phải lúc nàocũng được các cơ quan, tổ chức thực hiện với tinh thần trách nhiệm cao nhất
để đảm bảo tiến độ, hiệu quả trong thực hiện Ví thế, công tác kiểm tra, giámsát, đôn đốc là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng cần phải thực hiện thườngxuyên trong quá trình thực hiện chính sách Công tác kiểm tra, đôn đốc là
Trang 29hoạt động của cơ quan có thẩm quyền nhằm kịp thời bổ sung hoàn thiện chínhsách; chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện chính sách, nâng cao hiệu quảthực hiện mục tiêu chính sách, phát hiện xử lý kịp thời các vi phạm chínhsách Căn cứ để kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách là kế hoạch triển khaithực hiện.
1.5.7 Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm
Định kỳ hằng quý, 6 tháng, năm và theo giai đoạn; chính quyền các cấp
tổ chức sơ kết để đánh giá việc thực hiện chính phát triển DLST của địaphương với những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân Từ đó, đề xuất các giảipháp để thực hiện hiệu quả trong thời gian tiếp theo nhằm kịp thời bổ sung,hoàn chỉnh chính sách Có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ, đánh giá giữakỳ; cơ sở để đánh giá tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sáchtrong các cơ quan nhà nước là kế hoạch được giao và những nội quy, qui chế
Đối tượng được xem xét, đánh giá kết quả thực hiện chính sách pháttriển DLST là cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các đơn vị phối hợp thựchiện và đánh giá việc thực thi của các đối tượng tham gia thực hiện chính sáchphát triển DLST bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và giántiếp từ chính sách, nghĩa là tất cả các thành viên xã hội trên địa bàn với tưcách là công dân
1.6 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái
1.6.1 Đối tượng thực hiện chính sách
Các đối tượng thực hiện chính sách phải có sự thống nhất từ các cơquan chuyên môn tại địa phương trong quá trình thực hiện mục tiêu chínhsách để không ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện
Trang 30Môi trường thực thi chính sách là các yếu tố liên quan đến các hoạtđộng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, môi trường tựnhiên của địa phương cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiệnchính sách.
Với tư cách là đối tượng tham gia thực hiện mục tiêu chính sách vàcũng là đối tượng thụ hưởng lợi ích mà chính sách mang lại; nên sự đồngthuận, ủng hộ của người dân trên địa bàn là một trong những yếu tố quantrọng quyết định sự thành công hay thất bại của chính sách Vì thế, mục tiêucủa chính sách phải đảm bảo giải quyết hài hòa lợi ích của các nhóm đốitượng
1.6.2 Chủ thể chính sách
Trong tổ chức thực hiện chính sách phát triển DLST ở địa phương, chủthể chính sách bao gồm: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các cơ quanchuyên môn tại địa phương là những đơn vị trực tiếp thực hiện chính sách;đội ngũ cán bộ, công chức tại địa phương, năng lực của đội ngũa cán bộ côngchức ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thực hiện chính sách phát triển DLSTtrên địa bàn Bên cạnh đó, người dân trên địa bàn với tư cách là đối tượngtham gia thực hiện chính sách cũng là chủ thể chính sách; nên phong tục, tậpquán sinh hoạt, trình độ dân trí, cách ứng sử của người dân trên địa bàn cũngảnh hưởng rất lớn đến thực hiện chính sách phát triển DLST ở địa phương
1.6.3 Nguồn lực tài chính thực hiện chính sách
Hiệu quả thực hiện chính sách bị ảnh hưởng rất lớn từ việc đảm bảonguồn lực tài chính cho thực hiện chính sách phát triển DLST Nguồn lực tàichính ngày càng có vị trí quan trọng để cùng nhân sự và các yếu tố khác thựchiện thắng lợi chính sách phát triển DLST tại địa phương
1.7 Các tiêu chí đánh giá thực hiện chính sách phát triển du lịch
Trang 31Có rất nhiều tiêu chí và cách đánh giá thực hiện chính sách phát triểnDLST vì DLST là hoạt động vừa chịu ảnh hưởng lại vừa có tác động rất đadạng tới các lĩnh vực khác Ngoài ra, mỗi phương pháp nghiên cứu lại có thểxây dựng một hệ thống tiêu chí đánh giá riêng Do cách tiếp cận của đề tài cóliên quan tới nội dung “phát triển” nên các tiêu chí đánh giá của đề tài sẽ đánhgiá trên cách tiếp cận về phát triển bền vững.
Đứng trên cách tiếp cận về “phát triển bền vững” của Liên hợp quốc đãđược Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy banBrundtland) đưa ra từ năm 1987 và đã được Liên hợp quốc xác nhận lại kháiniệm về phát triển bền vững tại Hội nghị về Môi trường và Phát triển tại Rio
de Janeiro Theo cách tiếp cận phát triển bền vững thì có thể hiểu “Thực hiện
chính sách phát triển DLST bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại về DLST mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu về DLST của các thế hệ tương lai”.
Theo đó, để Thực hiện chính sách phát triển DLST bền vững thì cácchính sách về phát triển DLST phải đảm bảo được 3 tiêu chí sau:
- Phát triển bền vững về kinh tế
- Phát triển bền vững về mặt xã hội
- Phát triển bền vững về mặt môi trường
Cụ thể các tiêu chí đánh giá việc thực hiện chính sách phát triển DLST nhưsau:
a) Tiêu chí phát triển bền vững về kinh tế
- Trường hợp nào thì đánh giá là phát triển kinh tế tốt?
Thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái chỉ được đánh giá làtốt khi nó đem lại nhiều lợi ích cho người dân, nó giúp giải quyết tạo công ănviệc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập của người dân, thậm trí nếu thu
Trang 32hút được khách du lịch nước ngoài thì hoạt động DLST còn giúp đẩy mạnhhoạt động xuất khẩu tại chỗ giúp tăng thu ngoại tệ cho đất nước.
Thực hiện chính sách phát triển DLST được đánh giá là tốt khi nókhông chỉ giúp phát triển kinh tế trong phạm vi một ngành mà nó còn có tínhchất lan tỏa về kinh tế giúp phát triển nhiều ngành nghề khác phục vụ du lịchnhư phát triển ngành vận tải, phát triển ẩm thực địa phương, phát triển cácngành sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ và các ngành nghề mang tíchchất đặc sản của địa phương
Ngoài việc thực hiện chính sách phát triển DLST giúp tạo ra tính lantỏa về phát triển các ngành nghề thì nó còn được đánh giá là tốt khi tạo ra tínhlan tỏa về phát triển cho cả một vùng miền thậm chí là cả quốc gia (nhưtrường hợp phát triển du lịch của đất nước Thái Lan)
- Trường hợp nào thì đánh giá là phát triển kinh tế chưa tốt?
Để đánh giá về mặt kinh tế là rất khó vì trong nhiều trường hợp thựchiện chính sách phát triển DLST có đem lại nhiều lợi ích về kinh tế nhưng vẫnkhông phát huy được hết nguồn tài nguyên DLST (hay nói cách khác là vẫn
có cách khác để đem lại lợi ích kinh tế cao hơn) thì cũng không thể đánh giá
là thực hiện chính sách DLST tốt được
Nếu việc thực hiện chính sách phát triển DLST đem lại nhiều lợi íchnhưng lợi ích kinh tế đó chỉ đem lại trước mắt mà không bền vững lâu dài thìkhông thể coi là phát triển tốt về mặt kinh tế được
Bên cạnh đó, nếu lợi ích kinh tế mang lại từ việc thực hiện chính sáchphát triển DLST chưa đồng đều mà chỉ mang tích cục bộ, mang tính lợi íchnhóm hay nói cách khác lợi ích kinh tế chỉ đem lại cho một nhóm người nào
đó thì cũng có thể đánh giá việc thực hiện chính sách phát triển DLST là chưatốt
- Trường hợp nào thì đánh giá là phát triển kinh tế ở mức trung bình?
Trang 33Nếu việc thực hiện chính sách phát triển DLST chỉ đem lại hiệu quảkinh tế ở mức vừa phải, nó không có tác động ảnh hưởng nhiều tới đời sốngcủa người dân và cũng không ở mức được đánh giá là tốt và cũng không ởmức bị đánh giá là chưa tốt thì có thể nói thực hiện chính sách phát triểnDLST đem lại lợi ích kinh tế ở mức trung bình.
- Các nội dung khác
Trong thời buổi của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với sự pháttriển của nền kinh tế tri thức thì việc đo lường các lợi ích kinh tế đem lại từthực hiện chính sách phát triển DLST còn thể hiện ở mức độ ứng dụng khoahọc công nghệ vào phát triển DLST Có thể đo lường mức độ ứng dụng khoahọc công nghệ vào hoạt động DLST thông qua việc khảo sát và tìm hiểu vềviệc: Khách du lịch có thể tra cứu các nội dung về DLST thông qua các trangmạng hay không, việc đến du lịch có thuận lợi hay tiện nghi không, mức độphủ sóng cũng như tốc độ truy cập internet có đáp ứng được cho du kháchcũng như các hoạt động khác có liên quan hay không, có tạo App hay các ứngdụng để khách du lịch có thể dễ dàng tham gia DLST không, ? Điều quantrọng nhất chính là hiệu quả kinh tế của việc ứng dụng khoa học công nghệvào thực hiện chính sách phát triển DLST
Việc đánh giá thực hiện chính sách phát triển DLST có tốt hay khôngcòn được thể hiện trong bối cảnh phát triển chung của các ngành nghề khác,tức là tốc độ tăng về mặt tỷ trọng trong tổng số các tương quan với các ngànhnghề khác Nếu tỷ trọng phát triển của DLST ngày càng tăng trong số cácngành nghề khác hoặc có sự dịch chuyển cơ cấu sang phát triển dịch vụ màđặc biệt là trong lĩnh vực liên quan tới dịch vụ DLST thì cũng có thể coi làviệc thực hiện chính sách phát triển DLST tốt nên đã phát huy được hiệu quả
về mặt kinh tế
Bên cạnh đó, cơ chế ban hành chính sách tới triển khai thực hiện chínhsách về phát triển DLST có đảm bảo được hiệu quả kinh tế và đảm bảo tính
Trang 34thực tế cao hay không hay các chính sách này được ban hành từ các nhà quản
lý chỉ ngồi phòng lạnh Khi xét đến mặt kinh tế thì chi phí cho việc thực hiệnchính sách phát triển DLST cũng là một yếu tố quan trọng để đánh giá việcthực hiện chính sách phát triển DLST là tốt hay chưa tốt
b) Tiêu chí phát triển bền vững về xã hội
Việc thực hiện chính sách phát triển DLST đem lại lợi ích về kinh tế làrất quan trọng nhưng chúng ta cũng không thể bỏ qua vấn đề về mặt xã hội
Đối với hoạt động du lịch nói chung và hoạt động du lịch sinh thái nóiriêng thường kéo theo hệ lụy về mặt xã hội Nguyên nhân chủ yếu dẫn đếncác vấn đề xã hội là do hoạt động DLST:
Một là, có sự di chuyển của người dân từ vùng này tới vùng khác(người dân ở đây không chỉ là khách du lịch mà còn là người làm nghề phục
vụ DLST), kéo theo đó là các văn hóa khác nhau, từ đó thường nảy sinh cácmâu thuẫn về văn hóa
Hai là, nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội nhằm mục tiêu tăng lợi nhuận như:mại dâm, karaoke “tay vịn”, cờ bạc, rượu chè và nhiều tệ nạn xã hội khác.Các tệ nạn xã hội này thường do nhu cầu của khách du lịch, sau đó là do sựphát triển về kinh tế dẫn tới sự phát triển lệch lạc về mặt xã hội
Ba là, làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo Một số người có lợi thếhơn trong phát triển DLST sẽ có cơ hội phát triển vượt lên còn những ngườikhông bắt kịp với sự phát triển của DLST có thể sẽ bị bỏ lại phía sau
Việc đánh giá thực hiện chính sách phát triển DLST có tốt hay khôngtheo tiêu chí bền vững về xã hội thì cần phải chú trọng vào sự công bằng và
xã hội luôn tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người, cố gắngcho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có mức sốngchấp nhận được
Tóm lại, đối với thực hiện chính sách phát triển DLST thì tiêu chí pháttriển bền vững về mặt xã hội được thể hiện thông qua việc các chính sách phát
Trang 35triển DLST có đem lại lợi ích cho người dân một cách đồng đều hay không,mức độ chênh lệch giàu nghèo như thế nào, tạo ra sự xung đột hay tạo ra sựđồng thuận của xã hội, phúc lợi xã hội có gia tăng hay không, người dân đượcthụ hưởng văn hóa văn minh hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc,
c) Tiêu chí phát triển bền vững về môi trường
Để đánh giá việc thực hiện chính sách phát triển DLST bền vững vềmôi trường hay không thì cần phải đánh giá mức độ khai thác và sử dụng hợp
lý tài nguyên DLST, bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng môi trườngsống Phát triển bền vững về môi trường yêu cầu đặt ra là phải duy trì sự cânbằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiênnhiên phục vụ DLST ở mức độ khai thác phù hợp, tạo điều kiện để môitrường tiếp tục tái tạo và phát triển
Đánh giá việc thực hiện chính sách phát triển DLST bền vững về môitrường hay không cần phải đánh giá ở những góc độ sau: Một là, sử dụng cóhiệu quả tài nguyên, đặc biệt đối với các tài nguyên không tái tạo được; Hai
là, phát triển DLST phải nằm trong giới hạn chịu tải của hệ sinh thái; Ba là,bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ tầng Ozon; Bốn là, kiểm soát và giảm thiểuphát thải khí nhà kính; Năm là, bảo vệ tốt các hệ sinh thái nhạy cảm; Sáu là,giảm thiểu xả thải, khắc phục ô nhiễm (nước, khí, đất, lương thực thực phẩm),cải thiện và khôi phục môi trường những khu vực ô nhiễm
Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 đang lây lan trên toàn thế giới thìviệc đánh giá phát triển DLST có bền vững về môi trường hay không cũngphải tính đến điều này Do đó, nếu đánh giá cao hơn nữa thì việc đánh giáthực hiện chính sách phát triển DLST có tốt hay không cần phải đánh giá cảvấn đề môi trường có dễ dẫn tới lây lan dịch bệnh hay không
Trang 36Tiểu kết Chương
Cơ sở lý luận và thực tiễn về DLST và chính sách phát triển DLST lànền tảng để vận dụng vào nghiên cứu việc thực hiện chính sách phát triểnDLST trên địa bàn huyện Châu Phú; là cơ sở để hoạch định chính sách, đề ragiải pháp phù hợp trong quá trình phát triển DLST trên địa bàn huyện trongthời gian tới Qua quá trình nghiên cứu Chương 1 cũng đã có một số phát hiệnmới cả về mặt lý luận và thực tiễn về phát triển DLST ở địa phương Về mặt
lý luận, luận văn đã hệ thống hóa và làm rõ được các khái niệm có liên quan,đưa ra được các nội dung và tiêu chí đánh giá việc thực hiện chính sách pháttriển DLST Luận văn đã chỉ ra muốn thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội thì việc hoàn thiện và thực hiện chính sách là một yếu tố vô cùng quantrọng để thực hiện mục tiêu đề ra Về mặt thực tiễn, trên nền tảng những tiềmnăng, lợi thế đã có để phát triển DLST một cách bền vững trên địa bàn huyệnChâu Phú, thì việc đề ra những giải pháp hoàn thiện chính sách phát triểnDLST là một yếu tố quyết định trong thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triểnDLST trên địa bàn huyện trong thời gian tới Bên cạnh đó, đã nêu các bướcqui trình thực hiện chính sách và các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến thực hiệnchính sách Từ đó, làm cơ sở nghiên cứu, phân tích thực trạng, những kết quảđạt được và những hạn chế trong thực hiện chính sách phát triển DLST trongChương 2 của luận văn
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG 2.1 Khái quát về huyện Châu Phú
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Huyện Châu Phú nằm ở khu vực trung tâm của tỉnh An Giang, bao gồm
1 thị trấn và 12 xã Đông giáp huyện Phú Tân ngăn cách bởi sông Hậu, Bắcgiáp thành phố Châu Đốc, Tây giáp huyện Tịnh Biên, Nam giáp huyện ChâuThành, với tổng chiều dài đường ranh giới là 63,89 km; là một trong ba huyệnđồng bằng thuộc vùng trũng tứ giác Long Xuyên, nằm phía tây sông Hậu.Huyện có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh,
có tuyến quốc lộ 91 và sông Hậu đi qua với chiều dài 33 km, là cầu nối quantrọng giữa thành phố Long Xuyên và thành phố Châu Đốc, là trục giao thôngchính của du khách tham quan chùa Bà Chúa Xứ Núi Sam và các danh lamthắng cảnh của vùng Thất Sơn Diện tích tự nhiên 456,93 km2, dân số trungbình 206.531 nhân khẩu, mật độ dân số 452 người/km2; là huyện đa dân tộc,tôn giáo với bốn dân tộc anh em là Kinh, Chăm, Khmer, Hoa cùng sinh sốnglâu đời, cùng tạo ra những giá trị văn hóa dân tộc phong phú, đa dạng Là mộthuyện có đặc thù sản xuất nông nghiệp với thế mạnh là sản xuất lúa, vườn cây
ăn quả, sản xuất rau màu và nuôi trồng thủy sản với hệ thống giao thôngthông suốt và hệ sinh thái khá đa dạng Vì thế, có điều kiện rất thuận lợi đểphát triển DLST và nghỉ dưỡng; là một địa điểm có thể giữ chân du khách đếnvới An Giang
Huyện Châu Phú hiện có 222 tuyến đường giao thông với tổng chiềudài trên 1.000 km, trong đó có 33 km quốc lộ 91, 02 đường tỉnh lộ 945, 947dài 32,1 km; có 46 tuyến đường đô thị của thị trấn Cái Dầu, dài hơn 23,8 km;
có hơn 300 cầu các loại, phần lớn đã được xây dựng mới kiên cố với trọng tải