1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn thành phố long xuyên, tỉnh an giang

77 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 568,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những thành tựu đạt được công tác giảm nghèo vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định như: chính sách còn chồng chéo, thiếu thống nhất đồng bộ, kết quá giảm nghèo chưa bền vững,

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN BẢO QUỐC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN,

TỈNH AN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, 2021

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN BẢO QUỐC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN,

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, nhằm hướng tới mục tiêu chăm lo đời sống nhân dân, bảo đảm tiến bộ công bằng xã hội, đây là một trong những chính sách xã hội hướng vào mục tiêu phát triển con người, tạo cơ hội cho người nghèo tham gia vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và được tiếp cận với các dịch vụ cơ bản như: giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, khoa học kỷ thuật… góp phần nâng cao đời sống vật chất và tin thần của nhân dân

Thành tựu công tác giảm nghèo của nước ta trong những năm qua đã góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững và thực hiện công bằng xã hội, được Liên hiệp Quốc tuyên dương là một trong những quốc gia về đích sớm trong thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ

Bên cạnh những thành tựu đạt được công tác giảm nghèo vẫn còn bộc lộ một

số hạn chế nhất định như: chính sách còn chồng chéo, thiếu thống nhất đồng bộ, kết quá giảm nghèo chưa bền vững, tốc độ giảm nghèo không đồng đều, nhận thức và

tổ chức thực hiện chương trình giảm nghèo ở địa phương, cơ sở chưa có sự thống nhất cao, sự phối hợp giữa các chương trình, dự án giảm nghèo chưa chặt chẽ… Nguyên nhân của thực trạng này là do công tác tổ chức thực hiện, cụ thể hóa chính sách còn hạn chế, phương thức thực hiện chính sách giảm nghèo chưa mang tính bền vững, người dân chưa thực sự nỗ lực giảm nghèo, còn trông chờ ỷ lại vào hỗ trợ của nhà nước, công tác đánh giá và giám sát thực thi chính sách còn hạn chế…

An Giang là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long có tiềm năng, lợi thế đa dạng về phát triển kinh tế nông nghiệp, tuy vậy nhiều vùng, địa phương trong tỉnh cũng còn khó khăn, nên công tác giảm nghèo luôn được coi trọng cùng với quá trình phát triển KT-XH của tỉnh Thành phố Long Xuyên là đô thị trực thuộc tỉnh

An Giang, là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của tỉnh, có thế mạnh về thương mại, dịch vụ, khoa học và công nghệ, kinh tế tăng trưởng khá ổn định và đạt được nhiều thành tựu đáng kể Công tác giảm nghèo luôn là mục tiêu then chốt trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, tuy nhiên tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo trở nên cao đột biến khi thành phố tiến hành điều tra, rà soát hộ nghèo theo

Trang 5

hướng tiếp cận đa chiều, năm 2016 toàn thành phố có 1.567 hộ nghèo với 5.474 nhân khẩu (chiếm 2,14% so với tổng số dân trên địa bàn), số hộ cận nghèo là 2.787

hộ với 10.163 nhân khẩu (chiếm 3,8% so với tổng số dân trên địa bàn) Bên cạnh đó thực hiện chính sách giảm nghèo ở thành phố vẫn còn một số bất cập như: Một số chương trình, chính sách còn thiếu đồng bộ, chưa có sự thống nhất cao về nhận thức

và hành động, công tác triển khai, thực hiện chính sách còn hạn chế, người nghèo trên địa bàn thành phố đã tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản, song thu nhập vẫn còn ở mức thấp, hộ nghèo hàng năm có giảm nhưng thiếu bền vững, tái nghèo và phát sinh nghèo còn nhiều, tỷ lệ hộ nghèo giảm chưa đồng đều, vẫn còn nhiều nơi tỷ lệ nghèo ở mức cao, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, kết quả giảm nghèo thiếu tính bền vững, bên cạnh đó chính sách giảm nghèo còn chồng chéo, phân tán, thiếu tính

hệ thống, nhiều chính sách chưa khuyến khích người nghèo tích cực vươn lên thoát nghèo, cơ chế phối hợp, chỉ đạo, điều hành ở các cấp còn nhiều hạn chế, chưa phát huy được vai trò tích cực của các tổ chức chính trị-xã hội trong việc tham gia tổ chức các hoạt động giảm nghèo ở cơ sở; chưa khơi dậy được tiềm năng thế mạnh của địa phương, sự tham gia chủ động, tích cực, sáng tạo của người dân, của cộng đồng cùng nhau vươn lên thoát nghèo… chưa tìm được những giải pháp thiết thực, phù hợp với

điều kiện kinh tế xã hội địa phương Đề tài: “Thực hiện chính sách giảm nghèo bền

vững trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang” được chọn làm đề tài

cho luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Chính sách công

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, nghị quyết, về công tác giảm nghèo, đạt được nhiều kết quả quan trọng Tuy nhiên, tình hình các hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ đặc biệt khó khăn vẫn còn nhiều Giảm đói nghèo là mục tiêu thiên niên kỷ, là chương trình quốc gia, là mối quan tâm lớn của các tổ chức quốc tế, đề tài nghiên cứu của nhiều học giả với các bài viết trên các tạp chí, các báo, luận văn, đề tài khoa học và các công trình nghiên cứu Do hạn chế về số trang, luận văn xin chọn lọc một số nghiên cứu liên quan:

Trang 6

Luận văn thạc sĩ quản lý công “Thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang” của Đinh Thị Hồng Thắm (2017) nghiên cứu thực trạng thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang, đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện An Minh

Luận văn thạc sĩ chính sách công “Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh” của Hồ Thụy Đình Khanh (2018) nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh, giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại Quận 6

Luận văn thạc sĩ triết học “Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng về công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang hiện nay” của Tô Thị Mai Thanh (2018) nghiên cứu, đánh giá thực tiễn về thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo, kinh nghiệm của một số huyện trên địa bàn tỉnh và đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng về công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn thành phố Long Xuyên hiện nay

Luận án tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện các chính sách giảm nghèo ở tỉnh Quảng Ninh” của Hoàng Thị Hảo (2017) nghiên cứu làm rõ những vấn đề cơ bản về nghèo

và chính sách giảm nghèo, phân tích đánh giá quá trình xây dựng và thực hiện các chính sách giảm nghèo ở tỉnh Quảng Ninh để từ đó đưa ra các quan điểm, định hướng, giải pháp hoàn thiện các chính sách giảm nghèo ở tỉnh Quảng Ninh

Bùi Sỹ Lợi (2011), với bài viết “Giải pháp giảm nghèo bền vững ở Việt Nam” giới thiệu những thành công nổi bật về giảm tỷ lệ nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn, tăng thu nhập bình quân đầu người…, sau 10 năm thực hiện chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo ở Việt Nam, giải pháp cần được thực thi như xây dựng chiến lược giảm nghèo toàn diện, đẩy mạnh phân cấp ngân sách cho địa phương, đổi mới cách tiếp cận đa dạng chính sách hỗ trợ…để kết quả giảm nghèo mang tính bền vững [24]

Phạm Tất Thắng với bài viết “Giảm nghèo đa chiều bền vững cho các tỉnh Tây Bắc” đăng trên Tập chí Cộng sản điện tử ngày 14/9/2016 [38] nhấn mạnh bên cạnh

Trang 7

mục tiêu GNBV, hạn chế tái nghèo, thực hiện tăng trưởng kinh tế, bảo đảm ASXH, cải thiện đời sống nhân dân, Chương trình MTQG GNBV giai đoạn 2016-2020 còn nhấn mạnh tới việc tạo điều kiện cho người nghèo được tiếp cận một cách tốt nhất các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là đối với người dân ở các địa bàn nghèo, trong

đó có các tỉnh Tây Bắc

Luận án Tiến sỹ kinh tế “Những giải pháp kinh tế xã-hội nhằm nâng cao thu nhập của nông dân nghèo vùng ĐBSCL” của Lê Thị Nghệ Trong Luận án đã nêu lên thực trạng mức thu nhập của nông dân vùng ĐBSCL và nguyên nhân, phân tích chỉ ra những nguyên nhân của bộ phận dân cư thu nhập thấp ở ĐBSCL, chỉ ra những giải pháp cơ bản để nâng cao thu nhập cho những nông dân nghèo vùng này Báo cáo của Ngân hàng thế giới (World Bank), “Bước tiến mới giảm nghèo và thịnh vượng chung ở Việt Nam (2018)”; báo cáo nghiên cứu và nêu những thành công đáng kể trong giảm nghèo, đánh giá tiến bộ của Việt Nam với những thành công nổi bật và thúc đẩy chia sẻ thịnh vượng chung, xác định những khó khăn chính

mà người nghèo đối mặt, đặt ra những thách thức đối với việc thúc đẩy chương trình giảm nghèo và thịnh vượng chung [48]

Báo cáo nghèo đa chiều ở Việt Nam, giảm nghèo ở tất cả các chiều cạnh để đảm bảo chất lượng cuộc sống cho mọi người do Bộ Lao động TB&XH phối hợp thực hiện cùng Trung tâm Phân tích và Dự báo-Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Tổng Cục Thống kê, Viện Nghiên cứu phát triển MêKông và Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc tại Việt Nam, Báo cáo nghiên cứu và đưa ra bức tranh tổng quan về giảm nghèo đa chiều ở Việt Nam, phân tích về xu hướng giảm nghèo

ở nhóm đồng bào DTTS và người khuyết tật và đưa ra một số khuyến nghị trong quá trình thực hiện Chương trình MTQG GNBV và các chính sách giảm nghèo nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống tốt cho mọi người, không để ai bị bỏ lại phía sau và đạt được “giảm nghèo ở mọi chiều cạnh và mọi nơi” [9]

Nhìn chung, các công trình nêu trên tiếp cận công tác xoá đói giảm nghèo và chương trình GNBV ở Việt Nam và các địa phương dưới nhiều góc độ khác nhau cả

về lý luận và thực tiễn Theo hiểu biết của cá nhân tôi, đến nay vẫn chưa có nghiên

Trang 8

cứu nào đề cập đến vấn đề thực trạng, giải pháp thực hiện chính sách GNBV trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tổng kết lý luận về thực hiện chính sách GNBV trên thế giới và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, luận văn đề xuất giải pháp nhằm tăng cường việc thực hiện chính sách giảm nghèo theo hướng bền vững ở thành phố Long Xuyên

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài xác định 03 nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách công trong công tác giảm nghèo bền vững ở Việt Nam;

- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo tại thành phố Long Xuyên;

- Trên cơ sở chỉ ra hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong thực hiện chính sách giảm nghèo tại thành phố Long Xuyên và quan điểm chính sách của Nhà nước

về xóa đói giảm nghèo, luận văn đề xuất một số giải pháp tăng cường thực hiện chính sách GNBV tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu về thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo theo chương trình giảm nghèo bền vững của thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang dưới góc độ chính sách công

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang Phạm vi thời gian: tập trung nghiên cứu thực trang thực hiện công tác giảm nghèo bền vững, chủ yếu trong giai đoạn 2015-2020

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Trang 9

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về chính sách giảm nghèo

Luận văn sử dụng cách tiếp cận đa ngành để đánh giá nghèo đa chiều và giảm nghèo bền vững, cách tiếp cận chính sách công để hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện chính sách giảm nghèo, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; trên cơ sở đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng chính sách, pháp luật của Nhà nước về chính sách giảm nghèo bền vững

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn có sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

Phương pháp tổng hợp, thu thập dữ liệu: để rà soát văn bản chính sách về công tác xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam từ 2015-2020 các cấp

Phương pháp phân tích: trên cơ sở số liệu thu thập được, luận văn sẽ phân tích theo ý tưởng nghiên cứu để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu

Phương pháp so sánh, đối chiếu: thực hiện việc so sánh chính sách, kết quả thực hiện xóa đói giảm nghèo ở địa bàn thành phố Long Xuyên giai đoạn hiện tại với những giai đoạn trước để đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo trên địa bàn nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận vân

6.1 Ý nghĩa lý luận

Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách GNBV và thực trạng thực hiện chính sách GNBV tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang Luận văn rút ra một số kết luận, đề xuất giải pháp về thực hiện chính sách giảm nghèo tại thành phố Long Xuyên theo hướng bền vững, dài hạn, hướng đến chất lượng thực thi của chính sách giảm nghèo

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Dựa trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng của công tác giảm nghèo trên địa bàn thành phố Long Xuyên Qua kết quả nghiên cứu thực trạng, luận văn chỉ rõ những

Trang 10

ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân, cho thấy những vấn đề thực tiễn triển khai chính sách giảm nghèo bền vững ở thành phố Long Xuyên Từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp thực hiện phù hợp và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả trong việc xác định vấn đề và chuẩn bị những giải pháp chính sách một cách cụ thể trong việc giảm nghèo bền vững

Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, học tập, cũng như giúp người đọc có thể hiểu thêm về những vấn đề lý luận, thực tiển trong thực hiện chính sách GNBV ở thành phố Long Xuyên Đồng thời luận văn cũng có thể là nguồn tài liệu giúp các nhà quản lý đưa ra những chính sách đúng đắn và hiệu quả trong quá trình thực hiện chính sách đối với công tác giảm nghèo bền vững

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương Cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn của thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

1.1 Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững

1.1.1 Về khái niệm nghèo

Khái niệm nghèo trên thế giới

Theo Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương: “Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển KT-XH phong tục tập quán của địa phương” [27]

Theo báo cáo tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô la (1$) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại” [27]

Theo nhóm nghiên cứu của UNDP (Chương trình phát triển liên hợp quốc), UNFPA (Quỹ dân số Liên hợp quốc), UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc) trong công trình “Xoá giảm nghèo ở Việt Nam-1995” đã đưa ra định nghĩa: “Nghèo

là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế” [20]

Theo báo cáo về tình hình phát triển Thế giới-Tấn công nghèo năm 2000, Ngân hàng Thế giới (WB) thừa nhận quan điểm truyền thống hiện nay về nghèo:

“Nghèo không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất được đo lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập và tiêu dùng mà còn là sự hưởng thụ thiếu thốn về y tế” [20] Báo cáo nêu bật “Nghèo có nghĩa là không có nhà cửa quần áo, ốm đau không

có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường” [20] Báo cáo chỉ ra “Người nghèo đặc biệt là dễ bị tổn thương trước những biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ Họ thường bị các thể chế của Nhà nước và xã hội đối xử tàn

tệ, bị gạt ra rìa và không có tiếng nói quyền lực trong các thể chế đó” [20]

Trang 12

Khái niệm nghèo ở Việt Nam

Quan niệm nghèo của Việt Nam là thừa nhận định nghĩa chung về nghèo do

Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tháng 9/1993 tại Bangkok Thái Lan, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao và cho rằng: “Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu

cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển KT-XH phong tục tập quán của địa phương” [27] Trên cơ sở quan niệm về nghèo, Việt Nam đưa ra các khái niệm tương xứng đó là hộ nghèo, xã nghèo, vùng nghèo…

Quan niệm về nghèo: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện” [16] Quan niệm về hộ nghèo: “Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thoả mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện” [16]

Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện như:

Thu nhập: Đa số những người nghèo thường làm những công việc đơn giản,

lao động chân tay, công việc cực nhọc nhưng thu nhập thấp, công việc bấp bênh, không ổn định, phụ thuộc vào thời vụ và có tính rủi ro cao do liên quan nhiều đến thời tiết Hầu hết các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con người như ăn, mặc, chỗ ở chỉ được đáp ứng với mức độ rất thấp, thậm chí còn không đủ Điều này đã kéo theo hàng loạt các vấn đề khác như làm giảm sức khoẻ của người nghèo, do đó giảm năng suất lao động, từ đó giảm thu nhập cứ như thế, nó tạo nên vòng luẩn quẩn

mà người nghèo rất khó thoát ra được

Y tế-giáo dục: Những người nghèo có nguy cơ mắc phải các bệnh thông

thường cao như ốm đau, các bệnh về đường giao tiếp, tình trạng sức khoẻ không được tốt do ăn uống không đảm bảo, lao động cực nhọc Người nghèo thường sống

ở những nơi có điều kiện vệ sinh, y tế thấp, chẳng hạn, họ không được sử dụng nguồn nước sạch, không có công trình phụ hợp vệ sinh Do người nghèo có thu

Trang 13

nhập thấp, không đủ trả khoản tiền viện phí lớn cũng như các chi phí thuốc men, nên tiếp cận các dịch vụ y tế của người nghèo rất thấp

Không có tiếng nói và quyền lực: Những người nghèo thường bị đối xử không

công bằng, họ thường không có tiếng nói quyết định trong các công việc chung của cộng đồng cũng như các công việc liên quan đến chính bản thân họ Trong cuộc sống những người nghèo chịu nhiều bất công do sự phân biệt đối xử Người nghèo luôn cảm thấy bị sống phụ thuộc, luôn nơm nớp lo sợ, trở nên tự ti, không kiểm soát được cuộc sống của mình

Tiêu chí xác định chuẩn nghèo:

Chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020 được áp dụng theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, quy định cụ thể như sau:

Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ đạp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu

nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ

số đo lường múc độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đạp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu

nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ

số đo lường múc độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

(các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: tiếp cận các dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế, trình độ giáo dục của người lớn, tình trạng đi học của trẻ em, chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người, nguồn nước sinh hoạt, hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh, sử dụng dịch vụ viễn thông, tài sản phục vụ tiếp cận thông tin) [44]

Khái niệm nghèo có thể thống nhất về mặt định tính song không thống nhất về mặt định lượng Mỗi quốc gia khác nhau, mỗi vùng miền khác nhau trong một quốc gia mức sống của người dân cũng có sự khác nhau Hơn nữa mặt định lượng của mức nghèo cũng biến động theo thời gian tương ứng với sự biến động về sự phát triển KT-XH của quốc gia đó

Trang 14

Trên cơ sở các quan niệm về nghèo, luận văn sử dụng khái niệm nghèo như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng” Cách tiếp cận này giúp chúng ta nâng cao nhận thức về các nguyên nhân gây ra nghèo đói nhằm có những phương hướng cách thức hành động đúng đắn để tấn công đẩy lùi nghèo đói, làm cho chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng tốt đẹp hơn

1.1.2 Chính sách giảm nghèo

Chính sách là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu và trên các phương tiện truyền thông, tuy nhiên đây là thuật ngữ khó có thể định nghĩa một cách cụ thể và rõ ràng

Chính sách là quá trình tác động của chủ thể nào đó vào khách thể nào đó để đạt tới mục tiêu mà chủ thể mong muốn Cách hiểu này tương tự như định nghĩa về

“Quản lý là một quá trình, trong đó chủ thể quản lý tác động lên khách thể quản lý

để đạt tới mục tiêu do chính chủ thể quản lý đưa ra”, khi đó chính sách được xem như một công cụ của quá trình quản lý mà chủ thể sử dụng để tác động lên khách thể nhằm đạt tới mục tiêu đã định Quá trình triển khai chính sách chính là quá trình tác động của người quản lý lên đối tượng bị quản lý [19]

Theo James Anderson (2003) cho rằng “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề” [21]

Theo Peter Boothroyd (2003) cho rằng “Chính sách là những quyết định, qui định của Nhà nước (tức là các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương) được cụ thể hoá thành các chương trình, dự án cùng các nguồn lực, vật lực, các thể thức, qui trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động vào đối tượng có liên quan, thay đổi trạng thái của đối tượng theo hướng mà Nhà nước mong muốn” [21]

Nhà kinh tế Franc Ellis cho rằng, không thể có định nghĩa duy nhất cho thuật ngữ “chính sách” vì lẽ chính sách có thể được hiểu là đường lối hành động ở nghĩa tầm vĩ mô và có thể được hiểu là các biện pháp tác động, can thiệp của chủ thể quản

lý lên đối tượng bị quản lý Ông cho rằng: “trên tầm vĩ mô, chính sách được xem

Trang 15

như đường lối hành động mà Chính phủ lựa chọn đối với quản lý Nhà nước về một lĩnh vực nào đó, có thể là kinh tế, xã hội và môi trường” [22]

Như vậy có thể thấy rằng: Chính sách là một phạm trù của khoa học quản lý, nó

đề cập rất rộng các giải pháp ảnh hưởng, tác động của chủ thể đến khách thể của hệ thống quản lý, có phạm vi rộng từ cấp vĩ mô (quốc gia, chính phủ) tới các cấp địa phương như Tỉnh, Huyện, Xã và tới từng đơn vị KT-XH trong một hệ thống KT-XH xác định Điểm chung nhất trong khái niệm về chính sách, dù ở cấp độ nào cũng đều phải hiểu rằng chính sách là một trong các công cụ của quản lý Trong hình thành và vận hành chính sách đều phải có 3 nhóm yếu tố, đó là: Chủ thể, khách thể và mục tiêu của chính sách

Mỗi chính sách đều phải phục vụ cho một hoặc một số mục tiêu nhất định, do một chủ thể nào đó đưa ra và tác động (ảnh hưởng) đến một hoặc một số khách thể (đối tượng hưởng lợi) nhằm đạt tới mục tiêu đã xác định Vì vậy, mỗi chính sách phải có: chủ thể, khách thể và mục tiêu của nó Chính sách sẽ là vô nghĩa hay không khả thi khi nó không xác định được 3 nhóm nhân tố nói trên, hay nói cách khác là chính sách bắt nguồn từ ý chí của chủ thể, không định được khách thể (đối tượng hưởng lợi) và không đưa ra được mục tiêu cần đạt tới [28]

Có nhiều khái niệm khác nhau về chính sách, tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách dùng để chỉ ý định của chính quyền các cấp Chính sách bao gồm những dự định lập kế hoạch, hướng dẫn, phát động, tài trợ hoặc thông qua các dự án, chương trình, hoặc những hoạt động đang được thực hiện của chính phủ”

Xuất phát từ cách tiếp cận trên thì, “Chính sách giảm nghèo” có thể hiểu là những quyết định, quy định của Nhà nước được cụ thể hóa trong các chương trình,

dự án cùng với nguồn lực, vật lực, các thể thức, quy trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động vào các đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với mục đích cuối cùng là giảm nghèo

1.1.3 Giảm nghèo bền vững

“Giảm nghèo bền vững” đã được một số nghiên cứu đề cập từ những năm trước 2000 Nhưng đến năm 2008 cụm từ “giảm nghèo bền vững” được sử dụng

Trang 16

chính thức trong văn bản hành chính ở Việt Nam tại Nghị quyết số 30a/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, tiếp đó là Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về Định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020 và Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020

Tính đến thời điểm này vẫn chưa có một định nghĩa hay khái niệm chính thức

về “giảm nghèo bền vững”, nhưng trong các báo cáo (Báo cáo giảm nghèo giai đoạn 2006-2010, báo cáo thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ, Báo cáo tổng kết đánh giá Chương trình mục tiêu giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020…) hay các văn bản hành chính thì tình trạng tái nghèo luôn được xem là “vấn đề cơ bản” đối với giảm nghèo bền vững

“Bền vững“ là không lay chuyển được, là vững chắc Như vậy nên hiểu bền vững là một yêu cầu về sự “chắc chắn” đối với kết quả giảm nghèo Mục đích rất rõ ràng của GNBV chính là đảm bảo hay duy trì thành quả giảm nghèo một cách lâu dài, bền vững Nếu hiểu “bền vững” với nghĩa là duy trì, là vững chắc thì có thể hiểu GNBV là tình trạng dân cư đạt được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập cao hơn chuẩn (nghèo) và duy trì được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập trên mức chuẩn đó ngay cả khi gặp phải rủi ro Giảm nghèo bền vững có thể được hiểu là quá trình thực hiện cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người nghèo hướng tới nâng cao năng lực tự thoát nghèo và không rơi trở lại trạng thái nghèo của người dân [45] Hay nói cách khác giảm nghèo bền vững có thể được hiểu với nghĩa đơn giản là thoát nghèo bền vững hay không tái nghèo

Về lý thuyết, nghèo là sự không thỏa mãn các nhu cầu cơ bản Nên GNBV được phản ánh thông qua sự cải thiện và duy trì mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản ở mức cao (cao hơn chuẩn), thông qua các tiêu chí phản ánh mức độ thỏa mãn nhu cầu

về dinh dưỡng, nhà ở, giáo dục, vệ sinh, sức khỏe,…

Trên thực tế, nghèo được phản ánh và đo lường thông qua thu nhập nên GNBV

có thể được phản ánh thông qua cải thiện thu nhập và duy trì mức thu nhập cao hơn

Trang 17

chuẩn nghèo trong một khoảng thời gian nhất định Mặt khác, theo cách tiếp cận sinh

kế, GNBV là kết quả sinh kế, gồm hai giai đoạn: thoát nghèo và không tái nghèo trong một thời gian nhất định Vì vậy, GNBV ở cấp hộ, có thể phản ánh đồng thời thông qua hai tiêu chí: thoát nghèo và không tái nghèo

Hình 1.1 Các tiêu chí phản ánh giảm nghèo bền vững [15]

1.1.4 Chính sách giảm nghèo bền vững

Nhìn dưới gốc độ giảm nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều là cách tiếp cận mới nhằm hạn chế việc bỏ sót những đối tượng tuy không nghèo về thu nhập nhưng lại nghèo về các chiều cạnh khác Thay vì xem xét nghèo thu nhập những ai không được khám chữa bệnh, không được đến trường, không được tiếp cận thông tin cũng được xác định là nghèo Cái nghèo không chỉ gắn liền với sự thiếu thốn thu nhập, chi tiêu mà còn là việc không được thỏa mãn các nhu cầu xã hội cơ bản khác Việc chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo theo cách tiếp cận đa chiều sẽ tạo điều kiện để nhận dạng đối tượng nghèo chính xác, cụ thể hơn, tăng cường tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân để có giải pháp hỗ trợ phù hợp hơn với nhu cầu và đặc tính của hộ nghèo, hộ cận nghèo, từ đó tạo cơ hội để các địa phương trong cả nước thực hiện bền vững hơn các chính sách giảm nghèo

Với mục đích tác động tốt hơn, toàn diện hơn đến người nghèo, việc chuyển đổi đánh giá nghèo từ đơn chiều sang đa chiều nhằm giúp đảm bảo mức sống tối thiểu, đồng thời đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, từng bước GNBV Thông tin về tình trạng nghèo đa chiều cũng giúp theo dõi tiến trình giảm nghèo và đánh giá tác động của các nhóm chính sách qua thời gian giữa các vùng, các nhóm dân cư để điều chỉnh cho phù hợp…

Giảm nghèo bền vững

Thỏa mãn các nhu

cầu cơ bản

Thu nhập tăng và duy trì ở mức cao

không tái nghèo

Trang 18

Chương trình MTQG GNBV, với mục tiêu tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu, giúp người nghèo tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và thoát nghèo bền vững Các chính sách giảm nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều ở nước ta trong giai đoạn hiện nay như sau:

Chính sách ưu đãi tín dụng cho người nghèo; chính sách hỗ trợ sản xuất, cung cấp dịch vụ khuyến nông, chính sách dạy nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động cho người nghèo, chính sách hỗ trợ về nhà ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt cho hộ nghèo Chính sách hỗ trợ người nghèo về y tế, về GD&ĐT, chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo, chính sách trợ giúp các đối tượng BTXH, chính sách

hỗ trợ giảm nghèo đặc thù (Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo nhất cả nước…)

Đặc thù của chính sách giảm nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều thể hiện rõ ở phương pháp đo lường nghèo theo cách tiếp cận đa chiều, bao gồm cả thu nhập và các chiều phi tiền tệ như nhà ở, tiếp cận nước sạch và vệ sinh, dịch vụ giáo dục, y tế, BHYT và BHXH đã được sử dụng trong thiết kế Chương trình MTQG GNBV giai đoạn 2016-2020 và trong quá trình rà soát hộ nghèo để xác định đối tượng hưởng lợi của Chương trình, cũng như các chính sách giảm nghèo và trợ giúp

xã hội nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống tốt cho mọi người, không để ai bị bỏ lại

phía sau và đạt được “giảm nghèo ở mọi chiều cạnh và mọi nơi” [26]

Như vậy, Chính sách giảm nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều có thể được xem như là chính sách giảm nghèo bền vững Chính sách giảm nghèo bền vững là một hệ thống các chính sách hỗ trợ giảm nghèo nói chung và các chính sách giảm nghèo đặc thù với các dự án thuộc Chương trình MTQG GNBV ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn

1.1.5 Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững

Thực hiện chính sách GNBV là quá trình biến các chủ trương, phương hướng

và biện pháp liên quan đến giảm nghèo thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước và sự tham gia rộng rãi của các tổ

Trang 19

chức, đơn vị, gia đình, cá nhân và toàn xã hội, nhằm hiện thực hoá những mục tiêu

mà chính sách đã đề ra

Đó là quá trình triển khai hệ thống chính sách giảm nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều (chính sách ưu đãi tín dụng cho người nghèo, chính sách hỗ trợ sản xuất, chính sách dạy nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động cho người nghèo, chính sách hỗ trợ về nhà ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt cho hộ nghèo, chính sách hỗ trợ người nghèo về y tế, về GD&ĐT, chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội, BHXH, BHYT, giải quyết việc làm ) vào thực tiễn bằng các công cụ, bộ máy của nhà nước nhằm hiện thực hóa mục tiêu

đã đề ra [25, tr.44] Việc thực thi chính sách giảm nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận

đa chiều như thế nào phụ thuộc vào các bộ phận (cơ quan nhà nước hoạch định chính sách, cơ quan chấp hành thực hiện chính sách, cộng đồng xã hội tham gia hoạt động, đối tượng thụ hưởng chính sách) và các bước cơ bản trong việc thực thi chính sách giảm nghèo Trên thực tế các bộ phận nói trên nhiều khi không tách biệt độc lập một cách tuyệt đối mà có sự đan xen, lồng ghép với nhau (như người hoạch định chính sách giảm nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều cũng là đối tượng thụ hưởng chính sách )

Việc thực hiện các bước trong thực thi chính sách giảm nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều phải được xem xét ở cấp độ chủ thể thực thi: Chính sách giảm nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều được cấp trung ương hoạch định (chính sách quốc gia) thì cấp thực thi chính sách giảm nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều đó là chính quyền địa phương các cấp Trên cơ sở chính sách quốc gia, chính quyền địa phương các cấp trên cơ sở điều kiện đặc thù của địa phương mình lại tiếp tục thể chế hóa chính sách quốc gia thông qua việc ban hành các quyết định,

kế hoạch, chương trình (chính sách địa phương) và tổ thức thực hiện để hiện thực hóa các chính sách nói trên Vì vậy, trong tính tương đối, vừa có thể coi việc thực thi chính sách giảm nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều của một tỉnh, thành phố chỉ là một khâu trong chu trình chính sách (hoạch định, thực thi, đánh giá kết quả) và vừa có thể coi việc thực thi đó hàm nghĩa cả chu trình chính sách (chính sách địa phương) với cả 3 bước (hoạch định, thực thi, đánh giá kết quả) [26]

Trang 20

1.2 Nội dung thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam

Chiến lược phát triển KT-XH 2011-2020 được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI định hướng: “Đẩy mạnh GNBV, nâng cao thu nhập, không ngừng cải thiện đời sống và chất lượng dân số của đồng bào các dân tộc thiểu số”,

“thực hiện có hiệu quả chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ bền vững;

đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để bảo đảm GNBV, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn” Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là “Chăm

lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần…; đảm bảo an ninh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và GNBV” [2]

Những chủ trương GNBV còn được thể hiện ở nhiều văn kiện khác của Đảng

và được cụ thể hóa bởi hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước: “Công dân có quyền được bảo đảm ASXH”, “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống ASXH, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác” [30]; miễn học phí cho học sinh cấp trung học cơ sở theo lộ trình; các nhóm đối tượng sinh viên, học sinh nghèo được miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập dạy nghề [31]; hỗ trợ hộ gia đình nghèo và cận nghèo tại khu vực nông thôn; hộ gia đình tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu; người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị [29]; mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin và Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin [32]

Giảm nghèo bền vững còn là cam kết của Việt Nam trong thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hiệp quốc Vì thế GNBV là nhiệm vụ, là giải pháp quan trọng, cấp bách để hướng đến mục tiêu chung “Dân giàu, nước mạnh” Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: tập trung triển khai

có hiệu quả các chương trình giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức xóa đói, giảm nghèo gắn với phát

Trang 21

triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển giáo dục, dạy nghề và giải quyết việc làm

để xóa đói, GNBV; tạo điều kiện và khuyến khích người đã thoát nghèo vương lên làm giàu và giúp đỡ người khác thoát nghèo [17,tr 224]

Từ những quan điểm, định hướng chính sách giảm nghèo bền vững nêu trên, Việt Nam đã thực hiện hàng loạt các chương trình, chính sách nhằm hướng tới giảm nghèo một cách bền vững thông qua các giải pháp chủ yếu bằng sự can thiệp, tác động trực tiếp đến người nghèo và tác động qua lợi ích kinh tế cụ thể, qua các nhóm chính sách hỗ trợ giảm nghèo chung, như:

Hỗ trợ về giáo dục và đào tạo: Thực hiện có hiệu quả chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ học bổng, trợ cấp xã hội và hỗ trợ học tập đối với học sinh nghèo ở các cấp học

Hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo: Tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận các nguồn vốn, gắn với việc hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất Thực hiện

có hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo

Hỗ trợ về nhà ở: Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở cho hộ nghèo khu vực nông thôn, miền núi để cải thiện nhà ở

Hỗ trợ về y tế và dinh dưỡng: Thực hiện có hiệu quả chính sách cấp thẻ BHYT cho người nghèo, hỗ trợ mua thẻ BHYT đối với người thuộc hộ cận nghèo, chính sách hỗ trợ người nghèo bệnh nặng, bệnh hiểm nghèo; ưu đải đầu tư để đạt chuẩn

cơ sở bệnh viện, trạm y tế các xã nghèo, huyện nghèo

Hỗ trợ người nghèo hưởng thụ văn hóa, thông tin: Tổ chức thực hiện tốt chương trình đưa văn hóa, thông tin về cơ sở, đa dạng hóa các hoạt động truyền thông, giúp người nghèo tiếp cận các chính sách giảm nghèo, phổ biến các mô hình giảm nghèo có hiệu quả, gương thoát nghèo

Hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ trợ giúp pháp lý: Thực hiện có hiệu quả chính sách trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo hiểu biết quyền và nghĩa vụ của mình, chủ động tiếp cận các chính sách trợ giúp của Nhà nước vươn lên thoát nghèo

Trang 22

Bên cạch nhóm chính sách hỗ trợ giảm nghèo chung, Nhà nước đã lựa chọn và thực hiện đồng bộ các giải pháp, cụ thể như:

Tăng nguồn lực đầu tư và cân đối nguồn lực trung hạn của nhà nước cho các chính sách, chương trình giảm nghèo, lựa chọn chính sách để ưu tiên phân bổ, sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn lực, bảo đảm lồng ghép chính sách và nguồn lực có hiệu quả Thúc đẩy kết nối phát triển KT-XH giữa các vùng khó khăn với các vùng phát triển Thực hiện chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hỗ trợ thị trường phù hợp đặc điểm vùng nhằm thu hút các nhà đầu tư, doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư, phát triển CSHT, sản xuất kinh doanh, đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động tại chổ, nâng cao khả năng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường tại các địa phương nghèo, địa bàn khó khăn, vùng đồng bào DTTS Kết hợp chặt chẽ giữa chính sách giảm nghèo với phát triển KT-XH với quốc phòng-an ninh

Thực hiện chính sách hỗ trợ có điều kiện gắn với đối tượng, địa bàn và thời hạn thụ hưởng nhằm tăng cơ hội tiếp cận chính sách và khuyến khích sự tích cực, chủ động tham gia của người nghèo Duy trì, bổ sung một số chính sách hỗ trợ phù hợp đối với hộ mới thoát nghèo và hộ cận nghèo

Tăng nguồn vốn ưu đãi cho hộ nghèo, cận nghèo, điều chỉnh đối tượng, mức vay, lãi suất, thời hạn cho vay phù hợp gắn với chính sách khuyến nông, chuyển giao khoa học kỷ thuật, xây dựng, nhân rộng mô hình thoát nghèo gắn với cộng đồng dân cư trên địa bàn

Ưu tiên đầu tư CSHT và phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho vùng đồng bào DTTS, huyện nghèo, xã nghèo, xã biên giới, vùng đặc biệt khó khăn Giải quyết cơ bản tình trạng hộ đồng bào DTTS không có đất ở và giải quyết đất sản xuất hoặc chuyển đổi nghề, kết hợp đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho hộ đồng bào DTTS nghèo chưa được hỗ trợ đất sản xuất, đồng thời có chính sách giải quyết tình trạng di dân không theo quy hoạch của một

số địa phương

Nâng cao tỷ lệ phổ cập giáo dục và tỷ lệ đào tạo nghề khu vực nông thôn, đồng bào DTTS, phân luồn giáo dục nghề hợp lý, hiệu quả, duy trì các chính sách

Trang 23

hỗ trợ cho học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đào tạo cử tuyển gắn với sử dụng

Điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và chính sách BHYT để đảm bảo tăng cơ hội tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, người cận nghèo

Tăng cường công tác quản lý nhà nước, hoàn thiện cơ chế điều hành, phân công đầu mối chịu trách nhiệm chính, phân cấp đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể cho địa phương, cải cách thủ tục hành chính và phương thức để người dân, cộng đồng tham gia và tiếp cận chính sách giảm nghèo, tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức tự vương lên thoát nghèo

1.3 Tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững

1.3.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững

Xây dựng kế hoạch, chương trình triển khai thực hiện chính sách là bước cần thiết, quan trọng để bảo đảm thực hiện đạt các mục tiêu chương trình đã đặt ra, kế hoạch này phải được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống và gồm các bước sau đây: Kế hoạch về tổ chức, điều hành như hệ thống các cơ quan tham gia, đội ngũ nhân sự, cơ chế thực thi, kế hoạch cung cấp nguồn vật lực như tài chính, trang thiết bị, kế hoach thời gian triển khai thực hiện, kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách, dự kiến về quy chế, nội quy về tổ chức và điều hành thực thi chính sách Việc lập kế hoạch, tổ chức điều hành cần đảm bảo những dự kiến về hệ thống các cơ quan chủ trì và cơ chế phối hợp giữa các cấp ủy, chính quyền với các

tổ chức chính trị-xã hội ở cơ sở (phường, xã) Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách GNBV cần xác định rõ cơ chế trách nhiệm, quyền hạn, nhiệm vụ của tổ chức, cán bộ, công chức trong việc triển khai và tổ chức thực hiện các chương trình,

dự án chính sách giảm nghèo tại địa phương, bên cạnh đó việc xây dựng chương trình kế hoạch thực hiện chương trình MTQG GNBV phải gắn với nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan và xem nhiệm vụ thực hiện chính sách GNBV là trách nhiệm chung của các cơ quan từ Trung ương đến địa phương

1.3.2 Phổ biến và tuyên truyền về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững

Trang 24

Đây là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách GNBV Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích yêu cầu của chính sách, về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách… để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của cơ quan nhà nước, đồng thời còn giúp cho mọi cán bộ, công chức

có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được đầy đủ tính chất, mức độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả

kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao

Tuyên truyền vận động thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cần được thực hiện thường xuyên liên tục, để mọi đối tượng cần được tuyên truyền luôn củng

cố lòng tin vào chính sách và tích cực thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách cần được thực hiện bằng nhiều hình thức như: trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng tiếp nhận, tuyên truyền, phổ biến gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng, các trang mạng xã hội… Tùy theo yêu cầu của các cơ quan quản lý, điều kiện cụ thể của từng địa phương, trình độ dân trí mà có thể lựa chọn các hình thức tuyên truyền, vận động thích hợp Tuyên truyền, phổ biến các chính sách giảm nghèo là một trong những khâu quan trọng để góp phần thực hiện tốt công tác giảm nghèo bền vững Với sự nổ lực của các cấp ủy, chính quyền địa phương, sự chung tay của cộng đồng và nổ lực tự vươn lên của chính người nghèo là hết sức quan trọng Chỉ khi nào người nghèo có nhận thức, ý chí vươn lên thì lúc đó các chính sách hỗ trợ của nhà nước, của xã hội mới thực sự hiệu quả, việc thoát nghèo mới thực sự bền vững

1.3.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững

Chính sách GNBV được thực thi trên phạm vi rộng lớn, vì thế số lượng cá nhân và tổ chức tham gia thực thi chính sách là rất lớn Số lượng tham gia bao gồm các đối tượng tác động của chính sách, nhân dân thực hiện và tổ chức bộ máy thực thi của nhà nước Không chỉ có vậy, các hoạt động thực hiện mục tiêu chính sách diễn ra rất phong phú và cũng hết sức phức tạp theo không gian và thời gian, chúng

Trang 25

đan xen nhau, thúc đẩy hoặc kìm hảm nhau theo quy luật… Để tổ chức thực hiện chính sách GNBV có hiệu quả cần phải tiến hành phân công phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yêu tố tham gia thực thi chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách Trong thực hiện chính sách có sự phân công cơ quan chủ trì và các cơ quan phối hợp Chính sách có thể tác động đến lợi ích của một bộ phận dân cư, nhưng kết quả tác động lại liên quan đến nhiều yếu tố, quá trình thuộc các bộ phận khác nhau, nên cần phải phối hợp chúng lại để đạt yêu cầu quản lý

Hoạt động phân công phối hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách GNBV một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách

1.3.4 Đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững

Đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sách GNBV là hoạt động của cơ quan, cán

bộ, công chức có thẩm quyền thực hiện thông qua các công cụ hữu ích nhằm làm cho các chủ thể thực thi nêu cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện các biện pháp theo định hướng chính sách, nhất là kiểm tra việc bình xét hộ nghèo, việc thực hiện các chính sách hỗ trợ để bảo đảm công bằng, khách quan, không để xảy ra tình trạng vụ lợi, trục lợi từ chính sách Trên thực tế, khi triển khai thực hiện chính sách, không phải bộ phận nào cũng làm tốt, làm nhanh như nhau, vì thế cần phải có hoạt động đôn đốc, theo dõi, kiểm tra để vừa thúc đẩy các chủ thể nỗ lực nhiều hơn để hoàn thành nhiệm vụ, vừa phòng, chống những hành vi vi phạm quy định trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững, thực hiện tốt công tác kiểm tra để kịp thời uốn nắn những hạn chế khuyết điểm và vi phạm trong thực hiện chính sách, đồng thời kịp thời điều chỉnh các vấn đề phát sinh, bất cập trong thực hiện chính sách cho phù hợp với thực tiển, cũng như phát huy những kết quả tích cực đã đạt được, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức trong quá trình được giao thực hiện chính sách giảm nghèo ở đơn vị, địa phương

1.3.5 Tổng kết thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững

Đánh giá tổng kết trong bước tổ chức thực thi chính sách GNBV được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính sách giảm

Trang 26

nghèo của các đối tượng thực thi chính sách Đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi chính sách là các cơ quan từ Trung ương đến

cơ sở, ngoài ra còn xem xét cả vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị-xã hội và xã hội trong việc tham gia thực hiện chính sách GNBV

Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo điều hành của các cơ quan nhà nước, còn xem xét, đánh giá việc thực thi của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách giảm nghèo bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách, nghĩa là tất cả các thành viên xã hội với tư cách là công dân Thước đo đánh giá kết quả thực thi của các đối tượng này là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách và ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện về không gian và thời gian

1.4 Đánh giá kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững

Hệ thống chương trình, chính sách giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn

2016-2020 bao gồm hai cấu phần chính: (1) Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững và (2) Các chính sách hỗ trợ cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo Hầu hết các chính sách trong giai đoạn 2016-2020 không phải là chính sách mới mà đã được kế thừa từ giai đoạn trước

Chương trình MTQG giảm nghèo giai đoạn 2016-2020 diễn ra trong bối cảnh mới gắn liền với việc thực hiện chiến lược phát triển KT-XH 10 năm (2011-2020)

và kế hoạch 5 năm phát triển KT-XH (2016-2020) đây là giai đoạn cuối nhằm thực hiện hoàn thành chiến lược phát triển KT-XH 10 năm

1.4.1 Về bố trí, huy động nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020

Ngân sách Trung ương đã bố trí cho Chương trình MTQG GNBV giai đoạn 2016-2020 là 42.334,618 tỷ đồng/kế hoạch 41.449 tỷ đồng (đạt 101,02%), vượt 1,02% Tổng nguồn lực đã được bố trí, huy động để thực hiện Chương trình trong giai đoạn 2016-2019 là khoảng 93.289,683 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn Trung ương bổ sung có mục tiêu (chiếm 45,3%) [8]

Trang 27

1.4.2 Kết quả thực hiện các dự án của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2019 (chương trình 30a, chương trình 135)

Hỗ trợ đầu tư xây dựng CSHT các huyện nghèo; các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn: Đầu tư 17.775 công trình giao thông liên

xã kết nối thị trường, giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, thủy lợi, công trình điện sinh hoạt, tưới, tiêu nước cho sản xuất, nuôi trồng thủy sản,… Kinh phí ngân sách Trung ương 32.118,698 tỷ đồng (trong đó ngân sách địa phương 2.992,163 tỷ đồng) Hơn 6.861 công trình được duy tu bảo dưỡng [7]

Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo trên địa bàn huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo: Thực hiện được 13.480 dự án, hợp tác xã phát triển sản xuất và nhân rộng

mô hình phát triển sản xuất các cây trồng, vật nuôi có lợi thế, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới, cơ giới hóa ở các địa phương cho khoảng 6.262 nghìn hộ tham gia, trên 1,6 triệu hộ hưởng lợi từ Chương trình với kinh phí 3.742 tỷ đồng, tạo đất sản xuất cho 3.912 hộ nghèo với diện tích 1.052 ha, với tổng kinh phí 4.459 tỷ đồng [7]

Hỗ trợ cho lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu

số đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài: Có 5.429 lao động được đào tạo và làm

việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó có 2.649 lao động xuất cảnh đi làm việc tại các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Algieria, Đài Loan, có 18 nghìn lượt cán bộ được tập huấn nâng cao năng lực về công tác tư vấn lao động và tuyên truyền viên cơ sở Với tổng kinh phí 368 tỷ đồng [8]

Nâng cao năng lực cho cộng đồng và cán bộ cơ sở các xã đặc biệt khó khăn,

xã biên giới, xã an toàn khu; thôn bản đặc biệt khó khăn: Qua báo cáo tổng kết của

Bộ lao động-TB&XH, từ năm 2016-2019 đã tổ chức 3.470 lớp với 234.294 lượt người tham gia, gồm: cán bộ xã: 43.662 lượt người, cán bộ thôn bản: 70.687 lượt người, người dân: 119.945 lượt người (trong đó có 39.502 lượt người tham gia là nữ giới) Các địa phương đã tổ chức 122 đoàn học tập, thăm quan các mô hình điển hình trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất với 5.572 lượt người

Trang 28

tham gia (cán bộ xã: 3.228 lượt người, cán bộ thôn bản: 1.037 lượt người, người dân: 1.307 lượt người) Ngân sách Chương trình đã bố trí 579 tỷ đồng [7]

Truyền thông và giảm nghèo về thông tin: Giai đoạn 2016-2020, ngân sách

trung ương đã bố trí 512,800 tỷ đồng (1) Truyền thông về giảm nghèo: biên soạn,

in và phát hành các tin bài, phim tài liệu, tuyên truyền về chính sách, chương trình giảm nghèo, về các gương hộ nghèo làm kinh tế giỏi vươn lên thoát nghèo, các tổ chức, đoàn thể, cá nhân thực hiện tốt công tác an sinh xã hội và giảm nghèo (2) Giảm nghèo về thông tin: Các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, gồm: Bộ Lao động-TB&XH, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban Dân tộc, Hội Nông dân Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã và Thông tấn xã Việt Nam đã thực hiện sản xuất nội dung thông tin cung cấp cho các đối tượng ở khu vực có điều kiện KT-XH khó khăn với các chủ đề, thể loại phù hợp với nội dung, mục tiêu của Dự án “Truyền thông và giảm nghèo về thông tin”, nhằm tuyên truyền về mục tiêu giảm nghèo bền vững đến người dân nghèo sinh sống ở các vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo [8]

1.4.3 Các chính sách hỗ trợ cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo

Nhóm chính sách về tín dụng: Chính sách tín dụng ưu đãi là một trong những

chính sách đòn bẩy kinh tế của Nhà nước nhằm giúp các đối tượng nghèo có điều kiện tiếp cận vốn vay ưu đãi của Nhà nước để phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống, vươn lên thoát nghèo Theo tổng hợp báo cáo hằng năm của Bộ Lao động-TB&XH có gần 2 triệu lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách được hỗ trợ vay vốn tín dụng ưu đãi, góp phần giúp các hộ nghèo thoát nghèo, thu hút tạo việc làm cho trên 100 nghìn lao động trong đó có hơn 1,5 nghìn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, hơn 20 nghìn học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập, xây dựng trên 800 nghìn công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, trên 10 nghìn ngôi nhà

ở cho hộ nghèo… Riêng năm 2016, đã thực hiện trên 2.297.000 lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo vay vốn và các đối tượng chính sách khác vay vốn, trong đó trên 74 nghìn học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vay vốn lần đầu trong năm; với doanh số cho vay hơn 55.150 tỷ đồng

Trang 29

Chính sách về đào tạo nghề, giải quyết việc làm: Đào tạo nghề trên 1,1 triệu

người, riêng giai đoạn 2016-2018, có trên 800 nghìn người DTTS được đào tạo nghề nghiệp các cấp trình độ, trong đó khoảng 412 nghìn lao động nông thôn là người DTTS được đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng theo chính sách của Đề án 1956/QĐ-TTg Về tạo việc làm: Trong giai đoạn 2014-2019, đã giải quyết việc làm cho 9,3 triệu lao động Thông qua Quỹ quốc gia về việc làm và các nguồn tín dụng khác đã tạo việc làm cho trên 715 nghìn lao động Về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài: Đến hết năm 2019, có 5.429 lao động thuộc các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo được đào tạo và làm các thủ tục đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Trong giai đoạn 2016-2018, Ngân hàng CSXH đã cho gần 01 nghìn lao động vay để đi làm việc ở nước ngoài, doanh số cho vay lũy kế đạt 75 tỷ đồng, bình quân 82,3 triệu

đồng/lao động [10]

Nhóm chính sách về GD&ĐT: Hiện nay chính sách GD&ĐT nhằm giải quyết

vấn đề chênh lệch giáo dục giữa các nhóm xã hội khác nhau đang đi theo hướng tiếp cận đa chiều Các nhóm chính sách chính có thể kể đến là: (1) hỗ trợ trực tiếp cho người đi học (ví dụ cấp học bổng, miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập, hỗ trợ bán trú, hỗ trợ gạo); (2) tín dụng giáo dục (cho vay học sinh, sinh viên); (3) cử tuyển; (4) thu hút giáo viên về các vùng khó khăn; (5) giáo dục song ngữ cho trẻ em DTTS; và (6) đầu tư CSHT cho giáo dục Hằng năm, tổng kinh phí thực hiện chính sách đối với trẻ em, học sinh vùng DTTS và miền núi ước khoảng 9.219 tỷ đồng, trong đó, chính sách đào tạo đối với người DTTS gồm: Chế độ cử tuyển, tuyển thẳng vào đại học, dự bị đại học, cộng điểm ưu tiên trong tuyển sinh, ưu tiên trong

tổ chức đào tạo, các chính sách hỗ trợ khác (học bổng; hỗ trợ chi phí học tập, miễn, giảm học phí, trợ cấp xã hội), kinh phí thực hiện chính sách đối với sinh viên DTTS ước khoảng 1.486 tỷ đồng, chính sách tín dụng hỗ trợ 16.443 học sinh sinh viên vay vốn với số dư nợ trên 11.000 tỷ đồng để phục vụ học tập Hàng năm, có hơn 540.000 học sinh đã nhận được gạo hỗ trợ theo quy định tại Nghị định 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 của Chính phủ [10]

Trang 30

Nhóm chính sách hỗ trợ y tế: Các thành viên hộ nghèo được cấp miễn phí thẻ

BHYT Việc triển khai chính sách này đã tạo điều kiện cho người nghèo được tiếp cận với dịch vụ y tế, khám chữa bệnh, chia sẻ một phần gánh nặng về chi phí khám chữa bệnh của người nghèo Từ năm 2018-2019 ngân sách chi sự nghiệp y tế khoảng 63.147 tỷ đồng (chiếm khoảng 35%) để hỗ trợ người nghèo, các đối tượng chính sách tham gia BHYT [10]

Nhóm chính sách về nhà ở: Thực hiện hỗ trợ theo phương thức Nhà nước hỗ

trợ cho vay vốn để xây dựng mới hoặc sửa chữa nhà ở với lãi suất ưu đãi, cộng đồng giúp đỡ, hộ gia đình tự tổ chức xây dựng nhà ở Sau khi được hỗ trợ, các hộ gia đình phải xây dựng được nhà ở mới hoặc sửa chữa, nâng cấp nhà ở đang có, đảm bảo diện tích sử dụng tối thiểu 24 m2 (đối với những hộ độc thân không nơi nương tựa, có thể xây dựng nhà ở có diện tích sử dụng nhỏ hơn nhưng không thấp hơn 18 m2) và “3 cứng” (nền cứng, khung - tường cứng, mái cứng) Theo ước tính, từ 2016-2020 có khoảng 311 nghìn hộ nghèo được hỗ trợ theo chính sách này Tóm lại, trong giai đoạn 2016-2020, Việt Nam thực hiện hàng loạt các chương trình, chính sách nhằm hướng tới giảm nghèo đa chiều một cách bền vững Cuối năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo là 15,10% (trong đó, có 2.338.569 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 9,88% và 1.235.784 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 5,22%); đến cuối năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn 3,75%, bình quân trong 4 năm giảm 1,53%/năm, vượt chỉ tiêu Quốc hội giao giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân của cả nước từ 1-1,5%/năm Ước đến cuối năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm còn khoảng 2,75% Như vậy sau 5 năm, tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm khoảng 1,43%/năm, đạt chỉ tiêu Quốc hội giao Thu nhập bình quân hộ nghèo đến cuối năm

2018 tăng khoảng 1,4 lần so với cuối năm 2015 [10]

Kết quả thực hiện các chính sách, chương trình giảm nghèo trong giai đoạn 2016-2020 đã góp phần ổn định xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, nhất là trong bối cảnh kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn Người nghèo

đã được cải thiện một bước về điều kiện sống, tiếp cận tốt hơn các chính sách và nguồn lực hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng cho phát triển kinh tế, tạo việc làm và tăng thu nhập Một số nhu cầu xã hội thiết yếu của người nghèo cơ bản được đáp

Trang 31

ứng (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin…) Thành tựu giảm nghèo của Việt Nam thể hiện sự quyết tâm cao của Chính phủ trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững trong đó có mục tiêu chấm dứt mọi hình thức nghèo ở mọi nơi, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao, là một trong các nước có tỷ lệ giảm nghèo nhanh nhất thế giới, đạt được tiến bộ ấn tượng nhất trong các mục tiêu phát triển bền vững mà Việt Nam cam kết thực hiện

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam

Theo một số nghiên cứu, những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách công là: Tính chất của vấn đề chính sách (đơn giản hay phức tạp, cấp bách, bức xúc hay bình thường), môi trường thực thi chính sách (điều kiện vật chất-

kỹ thuật trong nền kinh tế, bầu không khí chính trị, trật tự xã hội, nhóm lợi ích, quan

hệ quốc tế), mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách (thống nhất hay không thống nhất về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách công), tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách (trên các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội về cả quy mô và trình độ), đặc tính của đối tượng chính sách (tính tự giác, tính kỷ luật, tính sáng tạo, lòng quyết tâm, tính truyền thống), năng lực thực thi chính sách của cán bộ, công chức (tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật, năng lực thực tế, đạo đức công vụ), mức độ tuân thủ các bước trong chu trình chính sách, các điều kiện vật chất để thực thi chính sách (trang thiết bị kỹ thuật và phương tiện hiện đại hỗ trợ), sự đồng tình, ủng hộ của người dân (thiết thực với đời sống nhân dân, phù hợp với điều kiện và trình độ hiện có của nhân dân) [19, tr.137, 145]

Để đánh giá được thực tình trạng công tác GNBV điều đầu tiên cần xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách giảm nghèo, cần phải đánh giá đúng các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo ở từng vùng, từng khu vực có những yếu tố khác nhau Nhưng nhìn chung đối với người nghèo do các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo thường là: thiếu vốn, không có kinh nghiệm, thiếu việc làm, đất canh tác ít, trình độ văn hóa thấp, trình độ chuyên môn kém, sức khỏe kém… Đó là những yếu

tố ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân nghèo Cụ thể, những nhân tố

Trang 32

ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách giảm nghèo bền vững có thể kể đến như sau:

1.5.1 Tăng trưởng kinh tế

Sự tăng trưởng kinh tế có tác động rất lớn đến mục tiêu giảm nghèo của đất nước Kết quả tăng trưởng kinh tế thể hiện tình trạng sức khỏe của đất nước, đồng thời tăng trưởng kinh tế cũng quyết định mọi chủ trương, định hướng liên quan đến công tác giảm nghèo Vì thế, việc cân đối huy động nguồn lực để đáp ứng yêu cầu cũng trở nên khó khăn hơn Chuẩn nghèo được nâng lên thì nhiều hộ vừa thoát nghèo có khả năng tái nghèo cao Những hộ có thu nhập nằm ngay sát chuẩn nghèo thì lại rơi vào tình trạng nghèo theo chuẩn mới

Trình độ phát triển kinh tế của các địa phương, vùng, miền: Nếu địa phương nào có trình độ phát triển kinh tế cao, nguồn lực tài chính mạnh, thu nhập của người lao động ổn định, mức độ thất nghiệp thấp thì việc thực thi chính sách giảm nghèo thuận lợi và ngược lại Môi trường chính trị: Nơi nào đảm bảo giữ vững ổn định-xã hội trong quá trình phát triển thì việc thực thi chính sách giảm nghèo thuận lợi và nơi nào không giữ vững ổn định- xã hội thì việc thực thi chính sách giảm nghèo khó khăn Trong tăng trưởng kinh tế có thể thấy các yếu tố đầu vào hay còn gọi là nguồn lực, như vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ và các yếu tố khác như: quy mô sản xuất, các hình thức tổ chức kinh tế, mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành nghề, quan hệ cung cầu và thị trường tiêu thụ… Trong đó: (1) Vốn: là yếu tố vô cùng quan trọng đối với kết quả giảm nghèo, nó bao gồm cả vốn lưu động và vốn cố định như máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, kết cấu hạ tầng,

kỹ thuật…, nếu tăng số vốn trong điều kiện các yếu tố khác không đổi thì sẽ làm cho kết quả giảm nghèo có hiệu quả hơn (2) Lực lượng lao động: là một yếu tố đặc biệt quan trọng đối với kết quả giảm nghèo Chất lượng lao động sẽ quyết định đến kết quả và hiệu quả của quá trình giảm nghèo Nếu người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật kinh nghiệm và kỹ năng lao động thì sẽ tạo ra kết quả cao trong công tác giảm nghèo (3) Tài nguyên thiên nhiên: cụ thể là đất đai cũng là một trong những yếu tố về nguồn lực Đất đai là cố định và khó có thể mở rộng do đó muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai thì cần phải đầu tư thêm vốn và lao động

Trang 33

trên một đơn vị diện tích, đặc biệt trong đất đai còn chứa nhiều tài nguyên quý đối với quá trình giảm nghèo như khoáng sản, nước ngầm, tài nguyên rừng, tài nguyên biển… (4) Khoa học công nghệ: là một trong những yếu tố quyết định sự tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm dịch vụ; ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất sẽ làm giảm khả năng lao động nặng nhọc, độc hại cho con người đồng thời tạo ra tăng trưởng cao góp phần giảm nghèo và phát triển KT-XH

1.5.2 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa dẫn đến sự hình thành nhiều dự

án, khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng được đầu tư mở rộng, vì thế nhiều diện tích đất của người dân sẽ được thu hồi để phục vụ cho những dự án, công trình để phát triển kinh tế Chính đều này đã làm cho nhiều hộ dân, người dân ở những nơi này bị mất đất, phải di dời đến nơi ở mới không đáp ứng được các điều kiện phát triển kinh tế gia đình, không kịp chuyển đổi nghề nghiệp hoặc không có tay nghề, phải đi làm kinh tế ở những thành thị hoặc những vùng ven đô với mức thu nhập thấp, không ổn định, không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản và phải đối mặt với nhiều rủi ro về sức khỏe, việc làm, nguy cơ rơi vào tình trạng khó khăn của nhóm này rất cao

1.5.3 Năng lực tổ chức, quản lý của bộ máy nhà nước các cấp

Có thể thấy, bộ máy nhà nước các cấp còn nhiều hạn chế từ công tác xây dựng, thực thi, đánh giá chính sách Công tác tổ chức, quản lý quá cồng kềnh và chồng chéo giữa các cơ quan ngang cấp với nhau Đây cũng là nhân tố tác động đến mục tiêu GNBV của đất nước Tình trạng lãng phí ngày càng tăng trong quá trình đầu tư phát triển CSHT, quá trình triển khai thực hiện các dự án KT-XH Tình trạng tham nhũng, tiêu cực không chỉ tác động đến chất lượng và hiệu quả phát triển mà còn trực tiếp tác động đến đời sống vật chất và niềm tin của nhân dân

1.5.4 Các yếu tố khách quan

Thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu: Hiện nay, mức độ

tàn phá, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng Đó là những nhân tố trực tiếp làm tăng mức độ và phạm vi của đói nghèo ở Việt Nam Tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu đô thị, các khu công nghiệp ngày càng

Trang 34

nghiêm trọng là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân, làm tăng nguy cơ bệnh tật ảnh hưởng đến sức lao động, làm giảm thu nhập do sức khỏe yếu và kéo theo các chi phí cho sức khỏe, bệnh tật khiến người lao động càng nghèo thêm Tình trạng thiên tai liên tục xảy ra như: bão, lũ, biến đổi khí hậu, sâm nhập mặn… làm cho một bộ phận người dân bị ảnh hưởng trong nuôi, trồng phát triển kinh tế Các chính sách hỗ trợ vay vốn của Nhà nước cũng không phát huy hết hiệu quả cho các hộ sản xuất, kinh doanh tại những vùng thường xuyên bị thiên tai

Nhận thức của xã hội, sự tham gia của người dân và các tổ chức đoàn thể trong giảm nghèo: Người dân là đối tượng thụ hưởng chính sách, nếu họ tự giác,

tích cực, chủ động, tự nguyện tham gia thì việc thực thi các chính sách sẽ có hiệu quả, bền vững, ngược lại nếu họ thờ ơ, thụ động, ỷ lại và thậm chí vụ lợi thì việc thực thi các chính sách GNBV sẽ không hiệu quả Ở địa phương nếu mức độ tham gia của người dân càng cao thì hiệu quả của chính sách giảm nghèo càng rõ rệt và ngược lại hiệu quả của công tác giảm nghèo không đạt được mục tiêu của chương trình Để đạt được mục tiêu giảm nghèo bên cạnh sự tham gia của người dân còn có

sự đóng góp của các Hội, Đoàn thể Thực tiễn cho thấy các tổ chức đoàn, thể đã và đang tham gia thực hiện các chương trình, chính sách giảm nghèo một cách tích cực với các loại hình hoạt động “rất đa dạng và phong phú”, từ đó đã góp phần đáng kể vào việc huy động và tăng cường nguồn lực cho công tác giảm nghèo

Các yếu tố về dân tộc, tôn giáo, đặc điểm văn hóa: (1) Dân tộc: Mỗi một dân

tộc có tập quán khác nhau, nên sẽ có nhu cầu văn hóa, kinh tế, sản xuất khác nhau Muốn giảm nghèo được thì cần phải biết huy động và khai thác tiềm năng KT-XH của các dân tộc vào thực hiện mục tiêu chung của xã hội, để mỗi dân tộc đều được hưởng lợi ích từ đóng góp đó Nếu giảm nghèo chỉ đem lại lợi ích cho dân tộc này

mà gây ảnh hưởng tác hại đến dân tộc khác thì đó là nguyên nhân gây xung đột giữa các sắc tộc (2) Tôn giáo: Mỗi tôn giáo đều có quan niệm, triết lý, tư tưởng riêng và thường tạo ra một tâm lý xã hội biệt lập Nếu chính sách tôn trọng tín ngưỡng và phát triển tôn giáo đúng đắn thì sẽ tạo ra sự hòa hợp giữa các tôn giáo để nó trở thành nhân tố ảnh hưởng tích cực đến kết quả phát triển KT-XH và GNBV (3) Văn hóa: Trình độ văn hóa là nhân tố quan trọng quyết định tăng trưởng, phát triển kinh

Trang 35

tế cũng như góp phần làm tốt công tác giảm nghèo Văn hóa văn minh của một dân tộc tỷ lệ thuận với sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội Văn hóa dân tộc và tôn giáo là ba yếu tố có mối quan hệ gắn bó với nhau

Tiểu kết chương1

Chương 1, đã tập trung làm rõ các vấn đề lý luận về khái niệm nghèo, giảm nghèo bền vững, quan niệm về chính sách giảm nghèo bền vững, nội dung, quy trình tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững và đánh giá kết quả thực hiện chính sách, các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở nước ta hiện nay Với những vấn đề mang tính chất lý luận đó sẽ là cơ

sở cho việc đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững và đưa

ra một số giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, góp phần thực hiện đạt mục tiêu Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững trong giai đoạn mới

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO

BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

2.1 Tình hình nghèo trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

2.1.1 Yếu tố tác động đến tình trạng nghèo trên địa bàn thành phố Long Xuyên

- Điều kiện tự nhiên:

Long Xuyên có diện tích tự nhiên là 114,96 km2, trong đó đất nông nghiệp chiếm 62,39%, khí hậu nhiệt đới gió mùa, tạo 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa nắng từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, phía Bắc giáp huyện Châu Thành, phía Tây giáp huyện Thoại Sơn, phía Đông giáp huyện Chợ Mới (tỉnh An Giang), phía Nam giáp quận Thốt Nốt (thành phố Cần Thơ) Thành phố Long Xuyên có 13 đơn vị hành chính, gồm 11 phường, 02 xã với 96 khóm, ấp

Thành phố Long Xuyên có hệ thống sông ngòi chằng chịt, không những cung cấp nguồn nước ngọt dồi dào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt của đời sống người dân, mà còn là mạng lưới giao thông đường thủy rất thuận lợi cho việc

Trang 36

đi lại, vận chuyển hàng hóa Tạo hóa đã ưu đãi cho vùng đất thành phố Long Xuyên nằm bên hữu ngạn sông Hậu, đoạn chảy qua thành phố Long Xuyên dài khoảng 19,5 km2, sông Hậu là nguồn cung cấp thủy sản, nước tưới, phù sa cho hầu hết đất đai sản xuất của thành phố Bên cạnh đó Rạch Long Xuyên, con rạch lớn nhất so với các con rạch khác ở An Giang, bắt nguồn từ sông Hậu tại Thành phố Long Xuyên, chảy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam, nối với kênh Thoại Hà tại xã Vĩnh Trạch (huyện Thoại Sơn), chảy qua thành phố Long Xuyên khoảng 10 km và là tuyến giao thông đường thủy quan trọng nối sông Hậu với biển Rạch Giá, đây cũng

là một trong những con rạch cung cấp nước tưới tiêu cho các cánh đồng ruộng của vùng tứ giác Long Xuyên

- Điều kiện kinh tế-xã hôi:

Thành phố Long Xuyên là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh An Giang, với cơ cấu kinh tế là 80% thương mại - dịch vụ, 18% công nghiệp - xây dựng và gần 2% nông nghiệp, lợi thế của thành phố Long Xuyên là thương mại dịch

vụ, tỷ trọng nông nghiệp chiếm rất thấp trong cơ cấu nền kinh tế, với 7.172ha, chiếm 62,39% tổng diện tích chung của thành phố Thành phố Long Xuyên có dân

số trên 280.000 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,9%; dân số trong độ tuổi lao động là 178.055 người, chiếm tỷ lệ 63,59% dân số; trong đó lao động khu vực thành thị là 157.581, chiếm tỷ lệ 56,27%, nông thôn là 20.474, chiếm tỷ lệ 7,31% Dân tộc Kinh và Hoa sinh sống chủ yếu, trong đó người Kinh chiếm 98,82%, người Hoa chiếm 1,18% dân số của Thành phố Long Xuyên, còn lại là người Chăm, Khơme,… Cộng đồng dân cư Thành phố Long Xuyên có đến 85% dân số là tín đồ của các tôn giáo, trong đó đa số theo đạo Phật Ngoài ra, còn có các tôn giáo khác như Phật giáo Hòa Hảo, đạo Thiên Chúa, đạo Cao Đài, đạo Tin Lành

- Những thuận lợi và khó khăn trong công tác giảm nghèo bền vững ở thành phố Long Xuyên:

Thuận lợi: Trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, thành phố Long Xuyên vẫn luôn ưu tiên cho lĩnh vực ASXH, giảm nghèo, bố trí kinh phí để triển khai có hiệu quả các chính sách giảm nghèo, hỗ trợ cho hộ nghèo về nhà ở; để nâng cao mức sống cho hộ nghèo đang hưởng BTXH hàng tháng, Ban Thường vụ Thành

Trang 37

ủy Long Xuyên đã chỉ đạo các ngành, đoàn thể thành phố Long Xuyên đã phối hợp với các phường, xã thực hiện hỗ trợ cho hộ nghèo đang hưởng BTXH số tiền, hiện vật tương đương chuẩn hộ nghèo theo quy định Ngoài ra, thành phố còn tạo quỹ đất, vận động các mạnh thường quân hỗ trợ cất nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo, cận nghèo, khó khăn về chỗ ở

Nhìn chung, người nghèo của thành phố đã tiếp cận thuận lợi hơn các chính sách trợ giúp của Nhà nước; kết cấu hạ tầng nông thôn được tăng cường trên cơ sở triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới (02 xã: Mỹ Khánh và Mỹ Hòa Hưng);

tỷ lệ hộ nghèo của thành phố giảm nhanh, đời sống của người nghèo được từng bước cải thiện, ASXH, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững

Các chính sách được thực hiện đồng bộ, có hiệu quả góp phần nâng cao mặt bằng dân trí, đời sống vật chất, tinh thần; đảm bảo cho người dân được tiếp cận dịch

vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản; sản xuất nông nghiệp có nhiều hiệu quả… đã tạo ra

sự chuyển biến tích cực trong công tác giảm nghèo ở thành phố Long Xuyên

Việc áp dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều đã giúp các địa phương nhận dạng đối tượng hộ nghèo mang tính toàn diện hơn, không chỉ quan tâm hỗ trợ nâng cao thu nhập của người nghèo mà còn từng bước tạo điều kiện để người nghèo tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản, góp phần thực hiện bảo đảm ASXH của người dân Đo lường nghèo đa chiều đã được sử dụng để xây dựng chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020, quy trình xác định đối tượng thụ hưởng các chính sách giảm nghèo và ASXH, là cơ sở để xây dựng, thực hiện các chương trình, chính sách phát triển KT-XH, các địa phương đã có nhiều giải pháp tập trung chỉ đạo để cải thiện mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân

Khó Khăn: Bên cạnh những thuận lợi, việc triển khai các chính sách ASXH, công tác giảm nghèo trong thời gian qua vẫn còn một số khó khăn nhất định Kết quả giảm nghèo chưa thật sự bền vững, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo theo chuẩn mới còn khá cao so với địa bàn là đô thị trung tâm của Tỉnh, tốc độ giảm nghèo không đồng đều giữa các phường, xã

Do có quá nhiều chính sách giảm nghèo phải triển khai thực hiện nên nguồn lực của thành phố Long Xuyên bị phân tán, hiệu quả tác động đến đối tượng thụ

Trang 38

hưởng chưa cao, chưa rõ nét; các văn bản, chính sách được ban hành theo đề nghị của nhiều Bộ, ngành, nhiều cơ quan thực hiện nhưng thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, số lượng chính sách ban hành nhiều, khó kiểm soát, một đối tượng, địa bàn cùng lúc được hưởng nhiều chính sách… dẫn đến tình trạng trùng lặp chính sách, đối tượng và địa bàn Điều này dẫn đến phân tán nguồn lực, chi phí cho các khâu trung gian tăng lên, không hướng đúng vào cho mục tiêu giảm nghèo Các chương trình giảm nghèo có nhiều hợp phần tương tự nhau, nhưng lại có các quy trình, thủ tục, định mức và yêu cầu về hồ sơ thanh quyết toán khác nhau, việc chậm hướng dẫn, sửa đổi một số chính sách đã gây khó khăn cho các địa phương trong việc tổ chức thực hiện Bên cạnh đó sự chồng chéo chính sách cũng là yếu tố gây cản trở trong công tác giảm nghèo Chính sách giảm nghèo còn nặng nề về tính báo cấp, hỗ trợ nhiều tiền mặt và hiện vật bên cạnh đó can thiệp về giảm nghèo đôi khi còn đánh đồng giữa hỗ trợ và cứu trợ điều này làm cho công tác giảm nghèo thiếu tính bền vững, tạo ra tâm lý ỷ lại, không muốn thoát nghèo của không ít các

hộ nghèo

2.1.2 Thực trạng nghèo trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

Căn cứ Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo cho giai đoạn 2016 - 2020 theo hướng tiếp cận đa chiều Qua điều tra, thực trạng hộ nghèo trên toàn thành phố Long Xuyên, cụ thể như sau:

Hộ nghèo: có 1.567 hộ, tỷ lệ 2,23% (so với số hộ thống kê là 70.180 hộ), với

5.474 nhân khẩu; trong đó khu vực thành thị là 1.238 hộ, tỷ lệ 1,98% (so với số hộ Thống kê là 62.374 hộ), với 4.333 nhân khẩu; khu vực nông thôn là 329 hộ, tỷ lệ

4,28% (so với số hộ Thống kê là 7.806 hộ), với 1.141 nhân khẩu Hộ cận nghèo: có

2.787 hộ, tỷ lệ 3,97% (so với số hộ Thống kê), với 10.164 nhân khẩu; trong đó khu vực thành thị là 2.129 hộ, tỷ lệ 3,41% (so với số hộ Thống kê), với 7.751 nhân khẩu; khu vực nông thôn là 658 hộ, tỷ lệ 8,43% (so với số hộ Thống kê), với 2.413 nhân khẩu

Ngày đăng: 23/06/2021, 05:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w