1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Chuyen de 3 Mot so van de ve lich Su Van HoaViet Nam

13 42 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 17,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

*Như vậy, qua “Chương văn hóa tổ chức cộng đồng đời sống tập thể” trong “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc Thêm, ta có thể thấy được tác giả đã có gắng làm nổi rõ bả[r]

Trang 1

1 Quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

(Trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm)

Qua việc xem xét hệ thống văn hóa Việt Nam theo các thành tố đồng đại, mặc

dù tác giả đã cố gắng kết hợp giữa cách nhìn đồng đại và cách nhìn lịch đại, nhưng cách nhìn đồng đại vẫn xuyên suốt toàn bộ công trình nghiên cứu của tác giả Bắt đầu từ góc độ văn hóa, tác giả đã lấy khái niệm văn hóa để làm bộ khung cho toàn

bộ công trình nghiên cứu:“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”

[Trần Ngọc Thêm – Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam; 27], với những đặc trưng

là tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử Bằng việc phân định loại hình văn hóa, xác định tọa độ văn hóa Việt Nam và chọn bước đi theo tiến trình văn hóa Việt Nam Tác giả Trần Ngọc Thêm đã phân chia ra thành năm lĩnh vực chính: văn hóa nhận thức, được trình bày toàn bộ trong chương hai; văn hóa tổ chức cộng đồng đời sống tập thể, được trình bày toàn bộ trong chương ba; văn hóa

tổ chức cộng đồng đời sống cá nhân, được trình bày trong toàn bộ chương bốn; văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, được trình bày trong toàn bộ chương năm; và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội, được trình bày trong toàn bộ chương sáu

Từ “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, có thể rút ra nhận định về bản sắc văn hóa Việt Nam theo cách hiểu của cá nhân như sau:

Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là toàn bộ “hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người Việt Nam sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”, là cái riêng vốn có của dân tộc Việt Nam Hệ thống ấy không thể bị pha lẫn cũng không thể tìm thấy ở bất cứ một nền văn hóa nào khác, có thể nói đó

là cái riêng, cái duy nhất Dù nền văn hóa ấy qua các cuộc giao lưu – tiếp xúc với các nền văn hóa bên ngoài, dưới mọi hình thức từ tự nguyện cho đến cưỡng bức, rồi việc tiếp nhận và cải biến cái mới từ các nền văn hóa bên ngoài ấy du nhập vào

để làm phong phú thêm cho nền văn hóa dân tộc mình, thì cái cốt lõi, cái gốc riêng biệt ấy vẫn không bị thay đổi hay mất đi mà càng được củng cố thêm, và có phần còn đậm đà hơn Mặc dù trên trong khu vực vẫn có một vài nền văn hóa có một số đặc điểm tương đồng với nền văn hóa Việt Nam do bảo lưu được một số yếu tố nguyên thể của văn hóa Đông Nam Á cổ, làm người ta lầm tưởng có chung nguồn gốc với văn hóa Việt Nam nhưng thực chất đó chỉ là sự nhầm lẫn bắt nguồn từ việc xem xét cái hình thức bề ngoài Bởi vậy chúng ta có thể thấy được rất rõ ràng rằng,

Trang 2

dù giữa những nền văn hóa ấy có một số điểm tương đồng nhưng cái bản chất tức

là cái nội tại, cái nội dung, cái cốt lõi của mỗi nền văn hóa ấy lại khác nhau Trong

đó, nền văn hóa Việt Nam có những đặc trưng vốn có không thể pha lẫn được mà chỉ của Việt Nam mới có (hay còn gọi là cái hồn Việt Nam), đúng thương hiệu Việt Nam không thể có cái thứ hai Đó chính là cái làm nên bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

2 Bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện trong văn hóa tổ chức cộng đồng:

đời sống tập thể

Trong văn hóa tổ chức cộng đồng - đời sống tập thể, bản sắc văn hóa dân tộc được tác giả tập trung thể hiện và làm nổi bật thông qua ba lĩnh vực: tổ chức nông thôn; tổ chức quốc gia và tổ chức đô thị Theo tác giả Trần Ngọc Thêm, trong quốc gia có nông thôn và đô thị nhưng tổ chức quốc gia không phải là phép cộng của cách tổ chức nông thôn và đô thị, và vậy tác giả nhìn nhận ba vấn đề này vừa có mối liên hệ vừa có nét riêng biệt

Theo cách nhìn nhận của tác giả, mô hình tổ chức đô thị giữ vai trò quan trọng đối với các nền văn hóa gốc du mục Còn đối với Việt Nam, một nền văn hóa gốc nông nghiệp thì tổ chức nông thôn lại là lĩnh vực quan trọng nhất, nó chi phối

cả truyền thống tổ chức quốc gia lẫn truyền thống tổ chức đô thị, cả diện mạo xã hội lẫn tính cách con người Vì vậy theo tác giả Trần Ngọc Thêm, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam in đậm trong tổ chức nông thôn với đặc trưng cơ bản đó là cơ cấu làng Từ làng mở rộng ra nước Vì vậy sau tổ chức nông thôn rồi mới đến tổ chức quốc gia Còn đô thị đối với nền văn hóa Việt giữ vai trò mờ nhạt Nhưng chính tác giả cũng phải thừa nhận vai trò của đô thị đang ngày càng có vai trò quan trọng trong thời đại hội nhập mở cửa hiện nay của đất nước

Đi vào cụ thể, cái bản sắc văn hóa dân tộc được tác giả thể hiện qua các lĩnh vực như sau:

2 1 Tổ chức Nông thôn

Theo tác giả Trần Ngọc Thêm, Việt Nam là một nước nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, do vậy con người Việt Nam cần phải có sự liên kết hợp tác

hỗ trợ nhau , dựa vào nhau mà sống Cho nên nét đặc trưng số một của làng xã Việt Nam là tính cộng đồng và được tổ chức rất chặt chẽ đồng thời theo nhiều nguyên tắc khác nhau

2.1.1 Tổ chức nông thôn theo huyết thống: gia đình và gia tộc – dựa trên quan

hệ theo hàng dọc, theo thời gian

Trang 3

Tác giả Trần Ngọc Thêm vẫn thừa nhận rằng ở phương Đông, gia đình có vai trò quan trọng hơn nhiều so với ở phương Tây Nhưng tác giả lại lấy Trung Quốc làm đối tượng để so sánh với Việt Nam ở phương diện này Và từ đó mà khẳng định “gia tộc trở thành một cộng đồng gắn bó có vai trò hết sức quan trọng đối với người Việt Nam” Sở dĩ như vậy là vì “Việt Nam là một nền văn hóa nông nghiệp điển hình, nơi gia đình hạt nhân không đủ đối phó với môi trường tự nhiên, nên cần đến vai trò của gia tộc và cùng với nó là cộng đồng làng xã” Theo đó, làng và gia tộc nhiều khi đồng nhất với nhau Yếu tố bảo lưu rất rõ đó là những tên làng nhiều khi là tên của các gia tộc cư trú trên địa bàn đó như Đặng xá, Đỗ xá, Ngô xá, Trần xá, Nguyễn xá, Hồ xá… Nhờ yếu tố gia tộc mà tinh thần tương hỗ đùm bọc lẫn nhau ở người Việt Nam thể hiện rất cao Đồng thời việc tổ chức nông thôn theo huyết thống tạo ra “tính tôn ti”, thể hiện trong mối quan hệ thứ bậc trên dưới trong các gia đình người Việt bao gồm cả “tôn ti trực tiếp và tôn ti gián tiếp” Chính hệ thống tôn ti này được tác giả đặc biệt chú ý, bởi lẽ đây là cái riêng có của người Việt mà trên thế giới rất hiếm thấy

Nhưng chính hệ thống tôn ti này đã tạo nên tính gia trưởng, và nuôi dưỡng tính tư hữu mang đậm tính tự trị được tác giả thừa nhận

2.1.2 Tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú: Xóm và Làng – dựa trên quan hệ hàng ngang, theo không gian

Chính cách tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú: Xóm và Làng đã làm nên nét đặc trưng riêng của nông thôn Việt Nam đó là “tính dân chủ” và sự cố kết cộng đồng rất cao Nó xuất phát từ nhu cầu của nghề trồng lúa nước mang tính thời vụ cần đông người, cần đẻ nhiều và cần có sự liên kết chặt chẽ với nhau; nhu cầu hợp lại để bảo vệ làng chống nạn trộm cướp… điều đó đã làm nên tính khác biệt giữa nông thôn Việt Nam với nông thôn phương Tây được đánh giá như “cái bao tải khoai Tây” (theo K Marx) Cho nên tác giả khẳng định “người Việt Nam không thể thiếu được bà con hàng xóm (bán anh em xa mua láng giềng gần), nhưng đồng

thời cũng không thể thiếu được anh em họ hàng (một giọt máu đào hơn ao nước lã)”.

Cách tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú đã tạo ra tính dân chủ sơ khai, dân chủ làng mạc, dân chủ nông nghiệp, nó khác hẳn với nền dân chủ phương Tây coi trọng yếu tố dân chủ cá nhân Nhưng cũng chính tính dân chủ bình đẳng này đã tạo

ra hệ lụy không mong muốn và trở thành rào cản trong sự phát triển của nông thôn Việt Nam suốt hằng mấy thế kỷ đó là thói dựa dẫm ỷ lại và thói đố kị cào bằng

Trang 4

2.1.3 Tổ chức nông thôn theo nghề nghiệp và sở thích: Phường và Hội – dựa trên sự liên kết theo chiều ngang

“Tổ chức theo nghề nghiệp tạo thành đơn vị phường”, còn hội là “cách tổ chức nhằm liên kết những người có cùng sở thích thú vui, cùng đẳng cấp”, tuy nhiên, theo cách diễn giải của tác giả thì “phường và hội rất gần nhau, nhưng Phường mang tính chất chuyên môn sâu hơn và bao giờ cũng giới hạn trong quy

mô nhỏ” với đặc trưng nổi trội là tính dân chủ

2.1.4 Tổ chức nông thôn theo truyền thống nam giới: Giáp

Với cơ cấu tổ chức nông thôn này biểu hiện rõ lên trên tất cả đó là tính chất nam quyền và tinh thần trọng “Lão” Giáp là một tổ chức mang tính hai mặt – nó vừa được tổ chức theo chiều dọc (theo lớp tuổi), lại vừa được tổ chức theo chiều ngang (giữa những người cùng làng), nên Giáp vừa mang tính tôn ti vừa mang tính dân chủ Với đặc điểm cơ bản được tác giả phác họa ra: chỉ có đàn ông tham gia vào giáp; mang tính chất cha truyền con nối, cha ở giáp nào thì con cũng ở giáp ấy

2.1.5 Tổ chức nông thôn về mặt hành chính: Thôn và Xã

Điều này được thể hiện qua cách phân chia cơ cấu hành chính theo thành phần dân cư: dân chính cư – dân ngụ cư; đến việc phân chia thứ hạng của dân chính cư (chức sắc bao gồm những người đỗ đạt hoặc có phẩm hàm vua ban; chức dịch gồm những người đang giữ những chức vụ nhất định trong bộ máy hành chính

cơ sở; Lão gồm những người thuộc hạng lão trong giáp; Đinh gồm trai đinh trong các giáp; và Ti Ấu là hạng trẻ con trong các giáp) Điều đó đã được giải thích như

là một yếu tố không thể thiếu được trong việc góp phần làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam

2.1.6 Đặc trưng cơ bản của nông thôn Việt Nam: tính cộng đồng và tính tự trị

Theo tác giả, “tính cộng đồng là sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác” – nó là đặc trưng dương tính, hướng ngoại Biểu hiện qua những biểu tượng như: cái Đình làng (được xem là một trung tâm hành chính, văn hóa, tôn giáo, tình cảm của con người thôn quê Việt Nam; bên cạnh đó Nhà Rông của các dân tộc Tây Nguyên cũng có chức năng như cái Đình Làng; ngoài ra còn có Bến Nước, Giếng Nước, Cây Đa Những biểu tượng đó mang đậm tính cộng đồng bởi vì chúng đều được dùng làm nơi sinh hoạt chung cho những con người cùng chung sống trong làng xã đó, nó không chỉ là nơi gặp gỡ trò chuyện trao đổi thông tin mà đã ăn sâu vào tâm thức con người Việt đến mức đã trở thành cái hồn văn hóa Việt

Trang 5

Nhưng trong tính cộng đồng ấy là bao hàm cả tính tự trị: “tính tự trị khẳng định sự độc lập của làng xã, không liên hệ với bên ngoài, làng nào biết làng ấy, mỗi làng là một vương quốc khép kín – nó là đặc trưng âm tính, hướng nội Cái biểu tượng truyền thống của tính tự trị làng xã là Lũy Tre làng Lũy Tre theo tác giả là một đặc điểm quan trọng làm cho làng xóm phương Nam khác hẳn ấp lí Trung Hoa có thành quách đắp bằng đất bao bọc

Đồng thời tác giả khẳng định: “tính tự trị cao độ của làng xã Việt Nam là một thực tế hiển nhiên mà nhà nước phong kiến đành bất lực, làng xã Việt Nam như một thứ vương quốc nhỏ với pháp luật riêng (mà các làng gọi là hương ước) và tiểu triều đình riêng (trong đó hội đồng kỳ mục là cơ quan lập pháp, lý dịch là cơ quan hành pháp, nhiều làng tôn xưng bốn cụ cao tuổi nhất làng là tứ trụ)” Chính vì

vậy yếu tố truyền thống “phép vua thua lệ làng” chính là một quy luật thể hiện

quan hệ dân chủ đặc biệt giữa nhà nước phong kiến với làng xã ở Việt Nam Và cũng chính nhờ tính tự trị của làng xã Việt Nam mà chính quyền phong kiến Trung Hoa trong suốt hơn một nghìn năm Bắc Thuộc (179.TCN – 938 SCN) cũng như thực dân pháp trong thời gian đô hộ nước ta (1858 – 1884 đến 1945) dù bằng rất nhiều cách và rất cố gắng để với tay xuống tận chính quyền cơ sở (Thôn xã) nhưng đã thất bại, buộc phải tìm ra cách thức phù hợp trong việc khống chế làng

xã theo quỹ đạo của chính sách thực dân “chẳng hạn như việc áp đặt mức thuế suất chung cho từng làng xã rồi cứ thế mà thu…” mà không thể đụng chạm vào cơ cấu

tự trị vững bền lâu đời của làng xã Việt Nam

Tính cộng đồng và tính tự trị là hai đặc trưng gốc rễ, chúng chính là nguồn gốc sản sinh ra hàng loạt những ưu điểm và nhược điểm trong tính cách của con người Việt Nam

Tính cộng đồng nhấn mạnh vào sự đồng nhất: cùng họ là đồng tộc, cùng tuổi

là đồng niên, cùng nghề là đồng nghiệp, cùng làng là đồng hương… Điều đó tạo

nên sự đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”;

“Lá lành đùm lá rách”, do đó tạo ra nếp sống của con người gắn bó với tập thể,

hòa đồng vào cuộc sống chung của tập thể Chính điều đó tạo nên nếp sống dân chủ bình đẳng bộc lộ trong các nguyên tắc tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú, theo nghề nghiệp và theo giáp Tuy nhiên, do sự đồng nhất đã tạo nên thói dựa dẫm

ỷ lại vào tập thể “nước trôi bèo trôi, nước nổi thì thuyền thuyền nổi”; “cha chung không ai khóc; lắm sãi không ai đóng cửa chùa”… cùng với thói dựa dẫm ỷ lại là

tư tưởng cầu an và cả nể, làm gì cũng sợ “rút dây động rừng”, hay có chuyện gì cũng để “đóng cửa bảo nhau”… Đồng thời, tính cộng đồng còn tạo ra thói cào

Trang 6

bằng, đố kỵ không muốn ai hơn mình, “Xấu đều hơn tốt lỏi, khôn độc không bằng ngốc đàn, chết một đống còn hơn sống một người” … Do vậy ở Việt Nam, ý thức

về con người cá nhân bị thủ tiêu (theo tác giả)

Trong khi đó tính tự trị lại nhấn mạnh vào sự khác biệt: trước hết là sự khác biệt của cộng đồng làng này so với cộng đồng làng khác Sự khác biệt của tính tự trị tạo nên tinh thần tự lập, nếp sống tự cấp tự túc và óc gia trưởng - tôn ti Chính tính tự trị của làng xã Việt Nam đã đẻ ra vô số những thói xấu ăn sâu vào căn nguyên của mỗi con người làng quê mà đến nay vẫn còn lưu giữ, đó là óc tư hữu

ích kỷ “bè ai người nấy chống; ruộng ai người nấy đắp bờ; ai có thân người ấy lo; bò ai người ấy giữ…” Óc cục bộ, bè phái địa phương “trống làng nào làng ấy đánh; thánh làng nào làng ấy thờ; trâu ta ăn cỏ đồng ta; ta về ta tắm ao ta…”.

Bệnh gia đình chủ nghĩa vẫn đang còn hiện hữu trong xã hội Việt Nam hiện nay đã tạo nên lực cản cho sự phát triển xã hội

Như vậy, tính cộng đồng và tính tự trị được Trần Ngọc Thêm đánh giá như là một trong những đặc trưng cơ bản của bản sắc văn hóa Việt Nam

2.1.7 Trong hệ thống tổ chức nông thôn Việt Nam còn có làng Nam Bộ

Đây là một đặc trưng mở của nông thôn Việt Nam, vừa bảo lưu tính cộng đồng của làng Bắc Bộ và Trung Bộ vừa biểu hiện một nét riêng theo chiều hướng

mở do điều kiện tự nhiên chi phối Làng Nam Bộ trải dài men theo chiều dài các kênh rạch, cho nên biểu tượng Lũy Tre chỉ còn là một biểu tượng đánh dấu ranh giới các ấp thôn Điều đó không còn giống như làng Bắc Bộ và Trung Bộ đó là sự

co cụm bao bọc xung quanh bởi Lũy Tre làng mang tính tự trị cao độ Từ đó quy định nên tính cách con người Nam Bộ cũng phóng khoáng hơn, cởi mở hơn Nhưng không phải vì thế mà làng Nam Bộ đã mất đi cái gốc làng đích thực của nó, trên phương diện tổng thể làng Nam Bộ vẫn mang đậm tính cách làng quê Việt với thấp thoáng bóng Tre, với ngôi đình thờ Thành Hoàng Vì vậy, đặc trưng của làng vẫn là nổi trội

2.2 Bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện trong tổ chức Quốc gia

Theo tác giả, yếu tố quốc gia là một trong những yếu tố nổi trổi đối với người Việt Nam, trong khi đó với người phương Tây thì ngược lại Quốc Gia đối với người Việt Nam nông nghiệp trồng lúa nước gắn với hai yếu tố đất và nước, cũng chính vì thế mà quốc gia của người Việt Nam còn được gọi theo cách riêng đậm đà chất Việt Nam đó là Đất Nước Theo đó, thì “từ Làng ra đến Nước”, “tức Nước là

sự mở rộng của Làng” Sở dĩ như vậy là vì con người Việt Nam sống trong tập thể nhỏ là làng, nhưng làng không đủ khả năng giải quyết những việc lớn như chống lũ

Trang 7

và chống ngoại xâm, nên các làng phải tập hợp với nhau lại thành nước Bởi vậy, tác giả đã khẳng định quốc gia trở nên rất quan trọng đối với người Việt Nam Thông qua đó, ý thức quốc gia và tinh thần dân tộc nổi lên như những đặc trưng nổi trội nhất của người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng Như vậy, về chức năng giữa làng và nước tác giả đã có một sự đồng nhất, chỉ được phân biệt bằng quy mô mà thôi Thêm vào đó, “tính cộng đồng” của làng xã giờ đây được mang một diện mạo mới, đó là sự mở rộng ra quy mô quốc gia để hình thành nên tinh thần đoàn kết toàn dân với ý nghĩa toàn thể nhân dân trong phạm vi một quốc gia là “Đồng Bào” (sinh ra từ cùng một bọc trứng) Còn “tính tự trị” khép kín của làng xã giờ đây khi mở rộng quy mô ra phạm vi toàn quốc gia cũng được mở rộng theo không gian mà thôi Trên cơ sở đó, hình thành nên “ý thức độc lập dân tộc và lòng yêu nước”, tuy nhiên đi kèm với nó là những xu hướng quốc gia chủ nghĩa và dân tộc chủ nghĩa cực đoan

2.2.1 Sự khác biệt cơ bản của tổ chức quốc gia so với tổ chức làng xã là ở cách thức tổ chức và quản lý xã hội

Trong khuôn khổ làng, do mọi người quen biết nhau nên sống mang nặng cung cách tình cảm, còn khi đã mở rộng ra phạm vi quốc gia, những con người xa

lạ sống với nhau, do đó mà cách thức tổ chức và quản lý đòi hỏi phải chặt chẽ hơn Cũng chính vì thế, hệ thống tổ chức quản lý của một làng chỉ có tác dụng trong khuôn khổ một làng chứ không thể vươn ra các làng khác được, cũng theo đó, những Luật tục, Hương ước, những định chế của làng xã không thể đáp ứng yêu cầu tổ chức và quản lý trên một phạm vi rộng lớn – Quốc gia Đồng thời, không thể lấy cơ cấu tổ chức của một làng này hay của một làng khác để quản lý chung cho các làng được, và cũng không thế lấy hệ thống luật tục hay hương ước của một làng này hoặc của một làng khác để áp dặt chung cho toàn bộ các làng trên phạm

vi một nước được Tổ chức bộ máy nhà nước và luật pháp ra đời vì những lẽ đó

Về tổ chức bộ máy nhà nước theo tác giả, thời Hùng Vương đã được xây dựng, và luật pháp trong thời kỳ này cũng đã ra đời, nhưng thiên nhiều về yếu tố luật tục hay tập quán pháp Tác giả có trích dẫn lời của Mã Viện tâu với vua Hán Quang Vũ (trong sách Hậu Hán Thư) “Luật của dân Việt khác luật của người Hán đến hơn mười điều” để khẳng định Các mô hình tổ chức bộ máy nhà nước về sau

từ Vạn Xuân của Lý Bí (544) đến nhà Ngô (939 – 968); nhà Lý (1009 – 1225); nhà Trần (1225 – 1400); nhà Hồ (1400 – 1407); nhà Lê Sơ… đã được tổ chức quy củ hơn, tuy nhiên ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa khá rõ, mặc dù yếu tố Việt Nam trong các mô hình nhà nước đó có phần được ghi nhận đánh giá cao từ nhiều góc

Trang 8

độ Bên cạnh mô hình tổ chức, Luật pháp cũng được biên soạn công phu hơn, do

có sự tham khảo các bộ luật của các triều đại phong kiến Trung Hoa tương ứng Trong đó, tác giả Trần Ngọc Thêm và nhiều tác giả khác nhấn mạnh rất nhiều tới tinh thần trọng nữ giới trong các bộ luật Việt Nam (Luật Hồng Đức thời Lê Thánh Tông, Luật Gia Long thời Gia Long) nhưng sự ảnh hưởng của luật Trung Hoa khá đậm nét, được biểu hiện qua các điều khoản về hình sự về khung hình phạt dành cho các loại trọng tội như Thập ác… Hơn nữa do xuất phát từ ý đồ củng cố chế độ phong kiến tập quyền nên những bộ luật đó vẫn mang đậm tính chất phong kiến trong đó

2.2.2 Truyền thống dân chủ của văn hóa nông nghiệp

Đây chính là nét khác biệt của nhà nước phong kiến Việt Nam với nhà nước phong kiến Trung Hoa và các quốc gia phương Tây

- Trước hết, tác giả xem xét tính dân chủ của văn hóa nông nghiệp từ vị trí Quân (Vua) Ở đây tác giả đặt trong sự so sánh của ông vua gốc nông nghiệp Việt Nam và các ông vua có gốc là thủ lĩnh du mục, qua đó tác giả khẳng định tính chất chuyên chế của các ông vua có nguồn gốc là thủ lĩnh gốc du mục, còn với ông vua Trung Hoa, với một nền văn hóa hỗn hợp du mục – nông nghiệp, Vua đã giảm bớt thói chuyên quyền bằng cách tạo ra cho mình một vị trí cao xa và một ánh hào quang giả tạo của ông “con trời” (Thiên tử), ngược lại ông vua Việt Nam xuất thân

từ cái gốc nông nghiệp hoặc đi lên từ thủ lĩnh buôn làng, thì coi dân như con cháu mình Điều này thể hiện tính chất đặc biệt của chữ Quân trong lịch sử Việt Nam, vua không tách rời với nhân dân, cũng không xa vời khó thấy khó gặp như Vua của Trung Hoa hay của phương Tây mà vua Việt Nam như là một cái gì hiện hữu trong cuộc sống hằng ngày, từ tên gọi cho đến cách sống (Trong tiếng Việt, Từ Vua và

từ Bố xuất phát từ cùng một gốc; Thời Hùng Vương, từ “Bô” với các biến thể “Pô,

pò, bồ” vừa có nghĩa là “cha” vừa có nghĩa là “thủ lĩnh của dân làng – già làng”:

Pò chiêng trong tiếng Tày – Thái, Pô t’rinh trong các ngôn ngữ Tây Nguyên, người Hán phiên âm là Bồ Chính, Pô Inư Nagar trong tiếng Chàm… Một từ “bô” ban đầu, được phân hóa ra, một đằng chuyển thành “bố”, một đằng chuyển thành

“vua”… Vì vậy, thủ lĩnh Phùng Hưng được nhân dân tôn xưng là Bố cái đại vương…[Trích dẫn Trần Ngọc Thêm; 232]

Tính dân chủ này còn được ghi nhận như là một nét đặc thù của văn hóa Việt Nam, các ông vua không tự biến mình thành một vị thánh hay xa rời nhân dân mà trong các sinh hoạt văn hóa cộng đồng cho đến các sinh hoạt hằng ngày “vua xem mình chỉ là người đại diện của đất nước” [chữ dùng của PGS.TS Trần Viết Thụ]

Trang 9

Chính vì thế, yếu tố “thiên mệnh” của nho giáo Trung Hoa khi truyền bá vào Việt Nam đã bị mất đi cái “nguyên” của nó, điều đó làm cho ông vua Việt Nam khác với ông vua Trung Hoa hay bất cứ một ông vua nào khác trên thế giới Tác giả đã trích dẫn một số sử liệu qua sử sách Trung Hoa có ghi: năm 990 khi sứ thần sang Việt Nam “Lê Hoàn đi chân đất xuống nước và câu cá bằng một cần tre dài, mỗi lần vua câu được một con cá thì quần thần nhảy lên reo mừng…” [Trích dẫn Trần Ngọc Thêm; 234] Hơn thế nữa, lịch sử của tinh thần dân chủ Việt Nam cũng đã dành một phần ưu ái cho người dân Việt Nam thông qua việc ông vua đích thân cầm cày làm “Lễ tịch điền” (Thời Lý – Trần) Rồi việc vua đối xử nhân đạo đối với

tù nhân (Lý Thánh Tông)

Như vậy, ông vua đã luôn tự ý thức được mình như một “con người bằng xương bằng thịt”, biết dùng lao động để tự cải tạo mình, không để nhưng tư tưởng bên ngoài ảnh hưởng qúa nhiều làm mất đi tinh thần dân chủ vốn có của truyền thống dân tộc

- Tính dân chủ trong tổ chức quốc gia Việt Nam cũng được tác giả nhìn nhận đánh giá ở truyền thống lãnh đạo tập thể Khởi nguồn từ tổ chức làng xã với những hình thức Hội đồng già làng, Hội đồng kỳ mục, đi lên cấp quốc gia là những hình thái Vua chị - Vua em (Trưng Trắc – Trưng Nhị); Vua anh – Vua em (Ngô Xương Ngập – Ngô Xương Văn); Vua cha – Vua con (Thái Thượng Hoàng – Hoàng Thượng, thời Trần, Hồ, Mạc), giữa các loại hình trên có sự khác nhau về mức độ đồng đẳng và khổng đồng đẳng Tuy nhiên, đánh giá từ góc độ Lịch sử và tư duy biện chứng thì mối quan hệ này không thể xếp vào tinh thần dân chủ tập thể được,

mà chỉ là một hiện tượng đặc biệt của lịch sử mà thôi

- Tính dân chủ còn được thể hiện trong luật pháp Biểu hiện ở truyền thống trọng phụ nữ, khác xa so với các bộ luật Trung Hoa mang đậm tinh thần Nho Giáo khi đã tước đoạt hết quyền lợi của phụ nữ, thì ở Việt Nam các bộ luật đã phần nào chú ý hơn và đảm bảo cho phụ nữ được một số quyền lợi “tối thiểu” Sở dĩ Tôi dùng “tối thiểu” là vì dù thế nào đi nữa thì các bộ luật Việt Nam thời phong kiến với mục đích chính của nó vẫn là củng cố rường cột của chế độ phong kiến Việt Nam

- Truyền thống dân chủ nông nghiệp còn được thể hiện trong việc tuyển chọn người vào bộ máy quan lại Ở đây, tác giả đặt trong sự so sánh giữa phương Đông

và phương Tây chứ không phải của riêng Việt Nam nữa Và theo cách tiếp cận này, tác giả nhận định khoa cử là con đường duy nhất để con nhà nghèo “quý tộc hóa” Nếu như vậy thì con đường khoa cử không chỉ của riêng Việt Nam nữa

Trang 10

-Truyền thống văn hóa nông nghiệp trọng văn, trọng tình thể hiện ở cơ cấu thang bậc dân cư trong xã hội: Sĩ, Nông, Công , Thương Nghề công và nghề thương bị xếp ở cuối thang xuất phát từ cái gốc nông nghiệp tự cấp tự túc của nó

“dĩ nông vi bản, dĩ thương vi mạt”, ngoài ra còn xuất phát từ quan niệm thương nhân là lừa gạt để kiếm lời, là hạng người gian dối không đáng tin cậy do vậy khác hẳn với văn hóa phương Tây gốc văn hóa du mục trọng thương nhân và lấy nghề công – thương để kiếm sống như là một nguồn thu chủ yếu của quốc gia Còn ở Trung Hoa, không giống như ở Việt Nam “trọng nông ức thương”, mà ở đây các thương gia cũng được đề cao, cho nên các triều đình phong kiến Trung Hoa bên cạnh chính sách “trọng nông” tuy đôi lúc có “bế quan tỏa cảng” nhưng nhìn chung thương nghiệp khá phát triển Đây là một đặc điểm khá rõ trong lịch sử văn hóa Việt Nam mà chính tác giả thừa nhận

2.3 Bản sắc văn hóa Việt Nam thể hiện trong tổ chức đô thị

2.3.1 Tổ chức đô thị được tác giả xem xét trong mối quan hệ với quốc gia và nông thôn, từ đó tác giả nêu lên ba đặc điểm chủ yếu làm nên sự khác biệt so với đô thị phương Tây

- Đô thị Việt Nam do nhà nước sản sinh ra Từ nhu cầu thành lập trung tâm chính trị hành chính rồi mới đến kinh tế - văn hóa

- Do đó về chức năng, đô thị Việt Nam có hai chức năng – hành chính và kinh

tế, trong đó chức năng hành chính là chủ yếu, trong đó phần đô bao giờ cũng được hình thành trước, theo sau là phần thị nhưng yếu ớt

- Từ đó, đô thị Việt Nam cũng được nhà nước quản lý một cách chặt chẽ

Đô thị Viêt Nam bộc lộ một diện mạo khác hẳn so với đô thị phương Tây: Nếu đô thị phương Tây được hình thành một cách tự phát, cũng có nơi do nhà nước thành lập, nhưng chức năng kinh tế đóng vai trò chủ đạo và mang tính tự trị nhiều hơn Như vậy, phần Thị của phương Tây giữ vai trò chủ yếu trong khâu mắt xích đô Thị

Tác giả nhận định: Trong khi ở phương Tây, làng xã là “cái bao tải khoai tây” rời rạc, còn đô thị là một tổ chức tự trị vững mạnh thì ở Việt Nam, làng xã nông nghiệp lại là một tổ chức tự trị vững mạnh, còn đô thị lại còi cọc, yếu ớt lệ thuộc

Đó là một bức tranh chung mang tính quy luật tất yếu do chính sự khác biệt của hai loại hình văn hóa quy định: Ở nền văn hóa Việt Nam nông nghiệp trọng tĩnh, làng

xã là trung tâm là sức mạnh, là tất cả, cho nên làng xã có quyền tự trị Còn ở châu

Âu từ gốc du mục chuyển sang phát triển thương mại và công nghiệp, hiển nhiên

đô thị tự trị có uy quyền [trích dẫn Trần Ngọc Thêm; 250]

Ngày đăng: 23/06/2021, 01:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w