1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bai chuyen de 3 mot so van de ve lich su vanhoa Viet Nam

19 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 23,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đầu thế kỉ XIX, dưới triều Nguyễn, thì hình như nghệ thuật nước ta đã hoàn toàn tìm được những hình thức riêng, khiến chúng ta có thể khẳng định rằng, nghệ thuật Việt Nam nhờ ảnh hưởng c[r]

Trang 1

1 Quan niệm của GS.Đào Duy Anh về cấu trúc văn hóa

“Đào Duy Anh là một tên tuổi lớn trong các nhà Bách khoa thư hiện đại” ( Từ

điển Bách khoa Larousse) Ở Việt Nam, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định một điều rằng các nhà nghiên cứu, các học giả không chỉ cùng thời mà cả những thế hệ học trò nối tiếp sau này không thể không nhắc đến GS Đào Duy Anh - một cây đại thụ trong giới học giả nghiên cứu về lịch sử, văn học

cổ kim và đặc biệt là văn hoá sử Việt Nam Ông là tác giả của rất nhiều

những tác phẩm nổi tiếng như Hán Việt từ điển (1932), Pháp - Việt từ điển (1935), Khảo luận về Kim Vân Kiều (1943), Khổng giáo phê bình tiểu luận (1943), Trung Hoa sử cương (1944), Cổ sử Việt Nam (1955) , Lịch sử Việt

Nam (1955)…, và trong đó không thể không kể đến công trình “Việt Nam văn hoá sử cương”

Tác phẩm “Việt Nam văn hoá sử cương” được xuất bản lần đầu tiên vào

năm 1938 tại Quan Hải tùng thư, trải qua nhiều năm tháng thăng trầm của đất nước nhiều giá trị khoa học của tác phẩm dường như vẫn còn mới mẻ và phù hợp với những vấn đề xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21

Trang 2

Tác phẩm “Việt Nam văn hoá sử cương” là một tác phẩm có giá trị cao

cả về lý luận và thực tiễn Với hơn 400 trang viết, dưới bút pháp trong sáng, giản dị, lối miêu tả rõ ràng, thuần nhã, nhưng bố cục khoa học, chặt chẽ đã khiến người đọc hứng thú ngay từ những trang viết đầu Tác phẩm của ông được hoàn thành trên cơ sở một khối lượng lớn có hệ thống các tài liệu ghi chép về văn hoá, lịch sử, dân tộc học, nhân chủng học, xã hội học của người Việt Nam và đây thực sự là một tài liệu tham khảo có giá trị Thông qua những nhận xét, đánh giá của tác giả cũng phần nào cho người đọc cảm nhận được đâu là lẽ phải cần phát huy, đầu là những thói hư tật xấu đáng phê phán

và hạn chế phát triển, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi mà xu thế

“Toàn cầu hoá” đang diễn ra ngày một nhanh và khốc liệt “Sự xâm lăng và đồng hoá về văn hoá, hoà tan văn hoá” là một hệ quả nguy hiểm hơn bất kỳ

hệ quả nào khác của “Toàn cầu hoá”, tuy nhiên “Toàn cầu hoá” là một xu

thế không thể đảo ngược trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, do

vậy việc “giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc” là một điều hết sức quan trọng

bên cạnh đó chúng ta cũng phải chấp nhận sự mạo hiểm khi “mở cửa” để đón

chào các luồng văn hoá của Phương Tây và của thế giới trên cơ sở “tiếp thu

có chọn lọc” và “cải biến” các giá trị đó trên nền tảng của “một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”.

Biên soạn sách “Việt Nam văn hóa sử cương”, GS Đào Duy Anh cũng dựa theo

giới thuyết của Félix Sartiaux, quan niệm về cấu trúc văn hóa gồm có:

- Sinh hoạt kinh tế

- Sinh hoạt xã hội

- Sinh hoạt tinh thần

Cấu trúc văn hóa là một khái niệm của văn hóa học, dùng để chỉ một hệ thống các yếu tố, các thành tố có liên quan chặt chẽ với nhau, tạo thành một bộ khung chung của văn hóa

Trang 3

Việc xác định cấu trúc văn hóa nói chung, cấu trúc văn hóa Việt Nam nói riêng là một vấn đề phức tạp Hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau trong việc xác định cấu trúc văn hóa Đào Duy Anh dựa trên cơ sở là các dạng thức hoạt động của con người để xác định cấu trúc văn hóa

Cụ thể, như sau:

Về Sinh hoạt kinh tế: gồm có: nông nghiệp; công nghiệp; thương mại; cảnh sinh hoạt ở thôn quê; các thành thị; đường giao thông; sưu thuế; tiền tệ

Sinh hoạt xã hội và chính trị: gồm có: gia tộc; xã thôn; quốc gia; cứu tế và tương tế; phong tục; tín ngưỡng và tế tự

Sinh hoạt tinh thần: gồm có: đời thượng cổ; thời đại Phật học độc thịnh; thời đại Tam giáo; thời đại Nho học độc tôn; nho học; phật học; lão học; giáo dục; ngôn ngữ; văn học; nghệ thuật; khoa học; phương thuật

2.Tóm tắt thiên “Trí thức sinh hoạt” trong “Việt Nam Văn Hóa Sử Cương” của GS.Đào Duy Anh

Trí thức sinh hoạt, tức chỉ tư tưởng, tôn giáo, chính trị Nó có quan hệ mật thiết với tình trạng kinh tế và xã hội cho nên kinh tế xã hội phát triển chừng nào thì học thuật tư tưởng cũng phát triển chừng ấy Do đó tất yếu phải nghiên cứu học thuật tư tưởng sau khi đã nghiên cứu kinh tế, xã hội

I Đời thượng cổ:

Ở đời thượng cổ, nước ta đang ở trong trạng thái mông muội, chưa có gì có thể gọi là học thuật tư tưởng Đến thời Bắc thuộc, nước ta mới bắt đầu có Hán học Hiện nay chúng ta không thể dựa vào đâu đê biết đích thực cách tổ chức việc học và trình độ học thức đời ấy, song có thể đoán việc học bấy giờ chỉ trong phạm vi luân lý và thực dụng tầm thường Sử chép lại một số tên tuổi được học ở Tàu và bổ làm quan như: Lý Tiến, Sĩ Nhiếp, Lý Cầm, Trương Trọng…

II Thời đại Phật học độc thịnh

Trang 4

Thời Bắc thuộc, mặc dù xã hội ta chịu ảnh hưởng của Nho giáo, song trong dân gian sự học Nho còn sơ sài Từ thế kỉ thứ ba, Phật học Ấn Độ từ Trung Quốc truyền vào nước ta và thịnh hành hơn Nho giáo Đến thời kì độc lập, nhà Đinh, Tiền Lê vẫn coi trọng Phật học Phật học xuất hiện những nhân tài giỏi, trong khi Nho học chưa thấy được người nào xuất sắc Như vậy có thể nói rằng, trong lịch sử học thuật nước ta, thời đại ấy là thời đại Phật học độc thịnh

III Thời đại Tam giáo

Ở thời Lý, Phật giáo thịnh hành hơn trước, xuất hiện nhiều vị sư có tiếng như: Bảo Thịnh, Minh Tâm, Vạn Hạnh, Đạo Hạnh, Minh Không… Triều Trần, Phật giáo vẫn thịnh, có ba vị hòa thượng tiếng tăm lừng lẫy, tục gọi là tam tổ là vua Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang; lại có nhiều vị cao tăng chủ trương những học thuyết riêng hoặc trứ tác để bàn đạo lí, trong đó có cả vua Trần Thái Tông

Đồng thời với Phật học, thời Lý – Trần, Nho học cũng thịnh hành Vua Lý Thánh Tông cô lập Văn miếu và đúc tượng Chu Công, Khổng Tử và thất thập nhị hiền để thờ, đánh dấu bắt đầu tôn Khổng của triều đình 1075, khoa thi Tam trường được mở, tức khoa thi Nho học đầu tiên ở nước ta Đến năm 1076, lập trường Quốc Tử Giám Sang thời Trần, Nho học lại càng thịnh hơn, Vua Trần Thái Tôn cho mở khoa thi Thái học sinh, khoa Tam khôi và lập Quốc học Các nhà Nho học ở triều Trần có nhiều người lỗi lạc, có tiếng nhất là Chu Văn An

Bên cạnh sự thịnh hành của Nho học và Phật học, thì Lão học cũng không bị bài xích Biểu hiện rõ tiêu biểu là việc triều đình đặt khoa thi Tam giáo Ở thời Lý – Trần,

có một hiện tượng đặc biệt đó là cả ba giáo Nho, Phật, Lão đều được tôn trọng Như vậy, ở thời ấy, có thể gọi là thời đại tam giáo đồng tồn

IV Thời đại Nho học độc tôn

Trang 5

Ở đời Lê, đời Nguyễn, Nho học chiếm địa vị độc tôn Hai triều ấy đều có pháp luật nghiêm khắc với những người theo Phật giáo và đạo giáo Nho học bấy giờ chỉ bó hẹp trong phạm vi cử nghiệp và nằm ép dưới quyền uy của Tống Nho Cũng có những nhà nho lỗi lạc như Lê Quý Đôn, Nguyễn Bá Nghi, Nguyễn Hữu Tạo… Tuy nhiên, phần nhiều các nhà nho có tiếng thời ấy là những người giỏi từ chương, lập lại tư tưởng của Chu Trình, chứ không có biệt sáng Do vậy, Nho học không phát triển được đến trình độ rực rỡ mà dần lụi tàn Đến khi nước ta tiếp xúc với phương Tây, Nho học nhường chỗ cho các học thuật mới Năm 1918, chế độ khoa cử cũng cáo chung để nhường chỗ cho chế độ học đường theo Tây học

V Nho học

Người sáng lập ra Nho giáo là Khổng Khâu, thường gọi là Khổng Tử (551 – 479 TCN), người nước Lỗ Khổng Tử vốn là nhà chính trị và luân lí nên học thuyết của ngài trọng về sự thực hành Về chính trị thì tư tưởng của ngài chủ yếu là thuyết chính

danh và coi đó là trọng yếu để “thiên hạ hữu đạo”, tức là từ vua quan cho đến thứ dân

đều phải làm đúng danh phận của mình

Về luân lí thì tư tưởng Khổng Tử có tập trung ở: Nhân, hiếu, đễ, trung, thứ và lễ

nhạc Tổng hợp tất cả câu nói của Khổng Tử, ta thấy “nhân” là quan trọng hơn cả và ở

đây, nhân là lòng thương người Ngoài ra, nhân còn bao hàm các nội dung khác như cung kính, nghiêm túc, thành thật, dũng cảm, rộng lượng… Như vậy, nhân là một phạm trù rất rộng, hầu như đồng nghĩa với đạo đức Và theo Khổng Tử, người đạt được nhân cách mô phạm đó là quân tử Khổng Tử tuy chủ trương đức trị chủ nghĩa, nhưng cũng nhận ra rằng lễ là cẩn thiết

Trong các môn đồ Khổng giáo, lỗi lạc nhất thì có Tử Tư là cháu nội Khổng tử, Mạnh Tử là học trò Tử Tư, và Tuân Tử là học trò của Mạnh Tử Tử Tư phát triển học thuyết trung dung của Khổng Tử, tức là đạo trung bình, bất thiên bất ỷ, không xu về

cực đoan, không thái quá, không bất cập Mạnh Tử chủ trương thuyết “tính thiện”, còn Tuân Tử thì đề xướng thuyết “tính ác”.

Trang 6

VI Phật học

Thủy tổ của Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni (hoàng tử Tất Đạt Đa), sinh vào khoảng thế kỉ sáu TCN ở Ấn Độ Tinh túy của Phật giáo theo lời truyền dạy của Thích

Ca là thuyết tứ diệu đề Bốn đại đề ấy là: khổ đề (nói về các nỗi khổ); diệt đề (nguyên nhân của sự khổ); tạp đề (cách chấm dứt sự khổ đau); ngạo đề (con đường diệt khổ) Sau khi Thích Ca viên tịch thì cao đệ hơn năm trăm người đã biên soạn kinh điển gọi

là tam tạng

Riêng ở nước ta, xưa nay vẫn theo Phật giáo đại thừa Giáo lý đại thừa, về tôn

giáo thì thờ cái toàn thể gồm cả vật chất và tinh thần; về triết lí là “vô ngã”, “sắc không”; còn về luân lí thì trọng nhất là từ bi.

VII Lão học

Người khai sáng Đạo gia là Lão Tử , người nước Sở, họ là Lí, tên là Nhĩ, tự là Đam Nội dung của Lão học chủ yếu là thiên luận và vô vi luận Lão Tử nêu ra

“Đạo”, là nguồn gốc của vạn vật Từ đó, ông sinh ra thuyết “vô vi” (tuy vẫn có hàm ý

vị xử thế) Mặt khác, Lão Tử chủ trương thực hiện “nước nhỏ dân ít” và chủ trương thi hành chính sách “ngu dân”.

Đến Trang Tử, cũng ảnh hưởng vô vi của Lão Tử nhưng chủ trương xuất thế Đây là một thứ triết học cao siêu kì diệu, do vậy nó được mượn làm những mối an ủi những nỗi khổ ở đời Đến cuối đời Hán, đạo giáo thành phép tu tiên rồi sinh ra vô số những phương thuật và mê tín khác

VIII Giáo dục

Ngay từ buổi đầu Bắc thuộc, tổ tiên ta đã bắt đầu học chữ Hán, song việc giáo dục bắt đầu có tổ chức thì từ đời Sĩ Nhiếp tuy còn sơ sài và trình độ chưa cao Đến triều Ngô và Đinh, do chưa có điều kiện quan tâm mà việc học chỉ có trong chùa chiền

Trang 7

Đến triều Lý, giáo dục bắt đầu được quan tâm Nhà nước cho lập Văn Miếu, thờ Chu Công, Khổng Tử và thất thập nhị hiền, mở khoa thi Tam trường và khoa thi Tam giáo Sang triều Trần, việc giáo dục và khoa cử được tổ chức chu đáo hơn 1232, mở thêm khoa thi Thái học sinh, chia làm Tam giáp để phân biệt cao thấp Đến 1247 lại đặt ra Tam khôi và có khoa thi Tam giáo Thời Trần, việc giáo dục không chỉ trọng trí dục mà trọng cả thể dục Đến thời Lê Quí Ly cải cách phép thi thêm chặt chẽ và đưa việc học xuống tận các Châu các Phủ những Lộ

Sau khi Lê Thái Tổ lên ngôi liền chỉnh đốn việc học: mở lại trường Quốc tử giám, mở khoa thi Minh kinh Vua Lê Thánh Tôn dựa theo nhà Trần mà định lại phép thi Hương, thi Hội, thi Đình Lệ xướng danh và vinh quy bái tổ cũng bắt đầu từ thời

ấy Sang triều Nguyễn, vẫn theo nhà Lê mà định phép thi, tuy mỗi đời có thay đổi ít nhiều Sau khi có cuộc bảo hộ, chương trình khoa cử sửa đổi lại đôi chút và dùng cả chữa quốc ngữ và chữa Pháp

Trong dân gian thì xưa nay việc học vẫn hoàn toàn tự do, từ bậc tiểu học đến đại học, nhân dân tự lo liệu lấy Việc dạy học được tôn là một chức vụ tôn nghiêm Tuy nhiên, theo lối Nho học, việc giáo huấn lại rơi vào khuôn sáo, vụng về, chật hẹp Cái thói trọng từ chương, ưa hư văn đã thành một thứ nhiên tính của dân tộc ta

Đến thời chính phủ thuộc địa cũng có cải cách việc học Ở Nam Bộ sau khi thành nhượng địa thì chính phủ đã bãi khoa thi và các trường học chữ Hán mà đặt chế

độ học đường Pháp – Việt Ở Bắc Bộ và trung bộ thì cải cách chậm hơn, đến năm 1908 mới sửa lại chương trình học gồm có 3 bậc: bậc Ấu, bậc Tiểu và bậc Trung học Năm

1915 và 1918 cả nước ta bỏ hẳn phép học cũ và chế độ khoa cử để theo chế độ Pháp – Việt giáo dục

IX Ngôn ngữ

Trang 8

Thuyết đáng tin hơn cả cho rằng đời xưa người Lạc Việt là tổ tiên của ta có một thứ thổ âm cùng một dòng với tiếng Thái Tuy nhiên khi càng xuôi xuống phía nam nước ta thì tiếng Việt xưa đã thành một thứ tiếng phức tạp hỗn hợp nhiều thứ tiếng, trong đó tiếng Tàu là nhiều hơn cả Những từ Hán Việt ấy thường dùng nhiều khi cần biểu đạt nghĩa trang trọng hay biểu diễn nghĩa trừu tượng Khi chúng ta tiếp xúc với người Pháp thì ngôn ngữ lại mượn thêm nhiều tiếng trong Pháp ngữ Ngoài tiếng Pháp

và chữ Hán, Việt ngữ còn mượn thêm của tiếng Chàm, tiếng Mọi, tiếng Cao Miên, tiếng Ai Lao và tiếng Ấn Độ

Chữ Nôm

Theo sử chép thì chữ Nôm do Hàn Thuyên đặt ra, nhưng lại có ý kiến chính Sĩ Nhiếp là người đặt ra thứ chữ ấy Theo dấu tích còn lại, mãi đến Hàn Thuyên mới lấy chữ Nôm làm bài văn tế cá sấu Từ đó, các nhà nho nước ta thi thoảng mới lấy chữ Nôm để làm văn chương Triều Hồ là triều đại đầu tiên có tư tưởng chấn hưng Việt ngữ, với việc dùng chữ Nôm để làm sách dạy học, thảo sắc chiếu … Tiếp đó, nhà Tây Sơn cũng đề cao chữ Nôm Nhưng đến triều Nguyễn nổi lên thì Hán tự lại độc tôn

Chữ Quốc ngữ

Thứ chữ này do các nhà Gia Tô truyền giáo đặt ra Các lối chữ riêng dùng để truyền đạo, sau được hai nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, rồi đến A.de Rhodes người Pháp, tổ chức lại thành một thứ chữ thông dụng chung trong truyền giáo hội, tức

là thủy tổ của chữ quốc ngữ ngày nay Vị giáo sĩ này đã đem thứ chứ ấy biên thành một bộ từ điển được các thế hệ sau sửa sang lại Công lao tạo ra thể thức chữ quốc ngữ ngày nay phải kể tới đó là hai giám mục D’Adran và Tabert

Buổi đầu chỉ có các nhà truyền giáo dùng chữ quốc ngữ đó Đến năm 1867, Chính phủ đem chữ quốc ngữ dạy ở các trường học Năm 1906 và 1908 chính phủ Bắc

bộ và Trung bộ bắt đầu dùng Việt ngữ làm một môn giáo khoa phụ Đến năm 1915 và

1919, Việt ngữ có địa vị trọng yếu trong chương trình học vụ mà dần dần thông dụng khắp ba xứ

Trang 9

X Văn học

Ở thời thượng cổ và thời Bắc thuộc chỉ có văn chương truyền khẩu hay chính là văn học dân gian Kho tài liệu văn học ấy rất dồi dào Tuy nhiên, văn chương thành văn thì đến thời kì độc lập mới có lưu tích Về Hán văn, có lẽ rằng hai bài văn cổ nhất nước ta là của sư Lạc Thuận và sư Ngô Chân Lưu khi đón tiếp sứ nhà Tống Sang thời

Lý, Hán học đã thịnh hành nhưng về dấu vết văn chương để lại thì chỉ có bài thơ của

Lý Thường Kiệt Qua triều Trần thì Nho học mới thực sự thịnh, xuất hiện những tác

phẩm để đời như: “Đại Việt sử” (Lê Văn Hưu), “Đoạt sáo” (Trần Quang Khải), “Trứ thư thuyết ước” và sớ thất trảm của Chu Văn An.

Thời Lê, nổi lên nhiều thể loại văn học sử, thi văn, tạp bút với nhiều tác gia lớn như : Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đoàn Thị Điểm, Ngô Sĩ Liên… Ở triều Nguyễn, thi ca, tản văn, sử chí đều phát triển với dấu ấn của những tên tuổi như: Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Phạm Đình Hổ, Phạm Huy Chú…

Về Việt văn, bắt đầu từ Hàn Thuyên dùng làm văn tế và Nguyễn Sĩ Cố dùng để làm phú, thì chữ Nôm mới được các nhà Nho để ý và bắt chước là văn Nôm Song văn chương Việt ngữ ở đời Trần hiện chỉ có truyền lại mấy bài về Huyền Trân công chúa

và bài “bán than” của Trần Khánh Dư Sang thời Lê, thì tác phẩm văn Nôm có nhiều

hơn, nhưng chủ yếu là thi ca của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đoàn Thị Điểm và Nguyễn Lê Thiều Đến triều Nguyễn, các tác gia như Nguyễn Khuyến, Cao Chu Thần, Hồ Xuân Hương… tuy mỗi người một vẻ song so với trước thì góp phần làm văn Nôm phong phú hơn Ngoài ra, thêm mấy lối văn mới như: văn tế tướng sĩ trận vong, văn truyện…

đặc biệt là áng văn toàn bích “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.

Tóm lại, kể cả Hán Văn và Việt văn nước ta đều chịu ảnh hưởng lớn thể cách và

tư tưởng của Trung Quốc Cảm tình trong văn thì đều biểu dương những quan niệm Nho giáo trung hiếu tiết nghĩa Tư tưởng trong văn thì đều hỗn tạp cả Nho, Phật, Lão

Trang 10

Về văn học hiện đại, có hai điều mới là chữ quốc ngữ và tản văn Người có công đầu tiên là Trương Vĩnh Ký, dùng chữ quốc ngữ để chuyển tả văn Nôm hay, dịch sách Tàu, sách Tây Tiếp đó, nhiều nhà tân học đầu thế kỉ XX cũng tiếp nối công cuộc xây diện mạo mới cho văn học nước nhà, đáng kể nhất là Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh

Tiếp đó, các phái chính trị cũng dùng Việt ngữ để cảnh tỉnh quốc dân Những văn chương cổ súy và nghị luận xã hội xuất hiện Các tạp chí Việt ngữ cũng xuất hiện

như “Nam Phong tạp chí”, “Đông Dương tạp chí”… Từ năm 1925, do ảnh hưởng của

phong trào chính trị và xã hội mà văn chương văn chương ít được chăm chút về nghệ thuật Đến khoảng những năm 1930, văn học lại chăm chỉ trích những phong tục đồi bại và chế độ cổ hủ Về thể văn thì lối tiểu thuyết thịnh hành hơn lối nghị luận ở thời kì trước Nhưng đến năm 1936, văn học một lần nữa lại tham gia vào chính trị xã hội

Như vậy, điểm tiến bộ quan trọng của văn học hiện đại là dần dần rời xa ảnh hưởng của Hán học mà ngày càng chịu ảnh hưởng sâu sắc của Tây học Chúng ta bắt chước phương Tây cả về văn thể, ngôn ngữ, cú pháp và cả tư tưởng Văn học hiện đại

đã gặt hái được nhiều thành tích trên nhiều phương diện: thi ca, tiểu thuyết, luận thuyết, sử học, kịch bản, phê bình và sự thống nhất Việt ngữ bằng việc ra đời các cuốn

từ điển của Đào Duy Anh

XI Nghệ thuật

Ngày đăng: 23/06/2021, 01:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w