Tính cấp thiết của đề tài ASXH luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn mỗi Nhà nước, mỗi quốc gia, dântộc, nhất là của các đảng cầm quyền, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội và có
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
QUANG LÊ HỒNG CHUYÊN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC CHĂM TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
QUANG LÊ HỒNG CHUYÊN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC CHĂM TRÊN ĐỊA BÀN
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
ASXH luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn mỗi Nhà nước, mỗi quốc gia, dântộc, nhất là của các đảng cầm quyền, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội và
có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn định chính trị - xã hội, sự phát triển bềnvững của đất nước với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển.Đối với nước ta, việc bảo đảm ASXH ngày càng tốt hơn luôn được xem là chủtrương, là nhiệm vụ hết sức to lớn của Đảng và Nhà nước, vừa thể hiện bản chất tốtđẹp của chế độ ta, cũng đồng thời có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn định chínhtrị - xã hội và phát triển bền vững của nước ta Nhiều năm qua, song song với việcphát triển KT-XH, không ngừng cải tiến chế độ tiền lương, nâng cao thu nhập chongười lao động, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm chăm lo đến ASXH cho nhân
dân Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, Đảng ta đã xác định: “… Cải thiện thêm một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân lao động, làm cho nhân dân ta được ăn no mặc ấm, tăng thêm sức khỏe, có thêm nhà ở và được học tập, mở mang sự nghiệp phúc lợi công cộng, xây dựng đời sống mới ở nông thôn và thành thị” [31, tr.86] Đặc biệt, trong lịch sử phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo
của Đảng, các chính sách đối với vùng đồng bào DTTS luôn được Đảng và Nhànước ta hết sức quan tâm, nhất là các chính sách, chương trình ASXH
An Giang là tỉnh có đông đồng bào DTTS sinh sống, trong đó phải kể đếnđồng bào dân tộc Chăm, nhiều năm qua Đảng bộ, chính quyền các cấp trên địa bàntỉnh đã không ngừng quan tâm, chăm lo thực hiện tốt các chính sách ASXH chođồng bào Chăm tỉnh nhà, từng bước cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, lẫn tinhthần, thay đổi cách nghĩ, cách làm trong sản xuất làm ăn, nhằm phát triển kinh tế giađình, vươn lên ổn định cuộc sống,… qua đó, góp sức cùng chính quyền địa phươngxây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh hơn
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả to lớn đã đạt được trong quá trình thựchiện các chính sách ASXH cho đồng bào dân tộc Chăm vẫn còn tồn tại những vấn
đề đặt ra cần sớm được giải quyết
Trang 4Xuất phát từ tính cấp thiết về lý luận và thực tiễn, tác giả lựa chọn vấn đề
“Thực hiện chính sách an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc Chăm trên địa bàn
tỉnh An Giang” để làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ với mong muốn đóng góp,
bổ sung thêm lý luận, làm giàu kinh nghiệm thực tiễn trong thực hiện chính sáchASXH cho đồng bào dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang nói riêng và cácDTTS trên cả nước nói chung
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
ASXH, chính sách ASXH và thực hiện chính sách ASXH đã và đang được cácnhà khoa học quan tâm nghiên cứu Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu nhận thấy
đã có rất nhiều công trình, luận án, luận văn, bài viết nghiên cứu liên quan đến vấn
đề thực hiện chính sách ASXH cho đồng bào DTTS ở nhiều mức độ cũng như góc
độ khác nhau, một số công trình nghiên cứu đã được công bố như:
Công trình nghiên cứu “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện chính sách pháp luật về giảm nghèo cho đồng bào DTTS phù hợp với Hiến pháp”, đề tài cấp Bộ do
ông Danh Út, nguyên Phó Chủ nhiệm Hội đồng Dân tộc của Quốc hội làm chủnhiệm đã phân tích cơ sở lý luận và thực trạng chính sách, pháp luật về giảm nghèođối với DTTS; từ đó chỉ ra những thành quả đạt được và hạn chế, vướng mắc cầnđược khắc phục; đề xuất những giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về giảmnghèo đối với DTTS phù hợp với Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi)
Tác phẩm “ASXH ở Việt Nam hướng tới 2020” của tác giả Vũ Văn Phúc đã
phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về ASXH ở Việt Nam trong những nămđổi mới; chỉ ra những thành tựu, vai trò của ASXH đối với sự phát triển xã hội cũngnhư những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và định hướng xây dựng hệ thống ASXH ởViệt Nam đến năm 2020
Luận án tiến sĩ “Thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh Tây Bắc đến năm 2020”, của tác giả Nguyễn Đức Thắng đã làm nổi bật những vấn đề lý luận
và thực tiễn về quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh TâyBắc, từ đó nhằm đề ra các giải pháp nâng cao kết quả trong thực hiện chính sáchxóa đói giảm nghèo ở các tỉnh Tây Bắc trong thời gian tới
Trang 5Song song với các đề tài cấp Nhà nước thì có nhiều nghiên cứu khoa học liênquan đến vấn đề ASXH được đăng trên các tạp chí, diễn đàn khoa học,… có thể kểđến các chuyên đề nghiên cứu sau:
Nguyễn Trọng Đàm, Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội với
nghiên cứu “Hoàn thiện chính sách ASXH phù hợp với quá trình phát triển KT-XH của đất nước”, được đăng trên Tạp chí Cộng sản (2015).
Thạc sĩ Nguyễn Thị Bích Ngọc, Thạc sĩ Đặng Đỗ Quyên với nghiên cứu
“Đánh giá thực trạng chính sách ASXH đối với DTTS ở Việt Nam”.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Việt Hạnh, Phan Thị Sông Hương với nghiên cứu
“Chính sách ASXH gắn với định hướng phát triển kinh tế của tỉnh Ninh Thuận: Hiện trạng và giải pháp giai đoạn 2020 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030”, đăng trên
Tạp chí Nhân lực Khoa học Xã hội số 7/2020, qua đó đã xem xét và làm rõ thựctrạng chính sách ASXH gắn với định hướng phát triển kinh tế của tỉnh Ninh Thuận;nhằm góp phần đưa ra một số giải pháp cho những vấn đề đặt ra trong giai đoạn
2020 - 2030
Nghiên cứu “Người DTTS được hưởng lợi từ các chương trình giảm nghèo có
quy mô lớn? Bằng chứng từ Việt Nam” của nhóm tác giả Nguyễn Việt Cường, Phùng
Đức Tùng và Daniel Westbrook, đăng trên Tạp chí The Review of Economics andFinance, Elsevier, đã trực tiếp miêu tả những kết quả thực hiện chính sách giảm nghèobền vững cho đồng bào DTTS ở Việt Nam Nghiên cứu mang tính bao quát trên phạm
vi cả nước, nhưng được phân tích bằng những chứng cứ cụ thể, với kết quả đạt đượcchi tiết đã mang đến những giá trị thực tiễn lớn khi phản ánh những thay đổi về cuộcsống của người dân từ chính sách giảm nghèo bền vững
Các nghiên cứu trên đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận, thực tiễn thực hiệnchính sách ASXH và các nội dung liên quan đến ASXH Đồng thời, các nghiên cứunày đã tiến hành khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng, những kết quả đạt được vàhạn chế trong quá trình thực hiện chính sách ASXH tại địa bàn nghiên cứu Trên cơ
sở đó, các nghiên cứu này đã đề ra những giải pháp thiết thực để thực hiện chínhsách ASXH khá phù hợp với điều kiện KT-XH của từng địa phương Tuy nhiên, cácnghiên cứu đó mang tầm vĩ mô bao quát cả nước hoặc nghiên cứu ở các địa phương
Trang 6khác nên chưa thực sự phù hợp với đặc điểm của đồng bào dân tộc Chăm tỉnh AnGiang nên việc nghiên cứu thực hiện chính sách ASXH cho đồng bào dân tộc Chămtrên địa bàn tỉnh An Giang được xem như là một hệ thống độc lập vẫn chưa đượcgiải quyết.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách ASXHđối với đồng bào DTTS và làm rõ thực trạng thực hiện chính sách ASXH cho đồngbào dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang trong thời gian qua, luận văn luận giải
và đề xuất được một số giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện chínhsách ASXH cho đồng bào dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thực hiện chính sáchASXH đối với đồng bào DTTS ở nước ta hiện nay
Phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách ASXH cho đồng bàodân tộc Chăm tỉnh An Giang
Nghiên cứu, đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việcthực hiện chính sách ASXH cho đồng bào dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giangtrong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chính sách ASXH đối với đồng bàoDTTS ở nước ta hiện nay, hoạt động thực hiện chính sách ASXH cho đồng bào dântộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang
Trang 7Phạm vi nội dung: chính sách ASXH về việc làm, thu nhập, trợ cấp xã hội,BHXH,…
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng,duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Bên cạnh đó,luận văn còn được tiến hành nghiên cứu trên cơ sở các quan điểm của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước về chính sách ASXH cho DTTS nói chung và đồngbào dân tộc Chăm nói riêng
Ngoài ra, tác giả còn căn cứ trên cơ sở lý luận của chuyên ngành chính sáchcông để nghiên cứu đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:Phương pháp quan sát khoa học; Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp; Phươngpháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp điều tra xã hội học; Phương pháp tham vấnchuyên gia Các phương pháp được sử dụng phù hợp trong từng chương của luậnvăn cụ thể như sau:
Chương 1, với mục đích làm rõ các vấn đề lý luận, tác giả sử dụng phươngpháp: nghiên cứu tài liệu thứ cấp để làm rõ các khái niệm như chính sách công,chính sách ASXH, DTTS và thực hiện chính sách ASXH cho đồng bào DTTS.Ngoài ra, phương pháp phân tích, tổng hợp cũng được sử dụng nhằm làm rõ các vấn
đề lý luận khác của luận văn như các bước thực hiện, nội dung, chủ thể và các bênliên quan, kinh nghiệm của các địa phương
Chương 2, với mục đích làm rõ thực trạng thực hiện chính sách ASXH chođồng bào dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang, tác giả sử dụng một số phươngpháp như: Phương pháp quan sát khoa học nhằm tìm hiểu thực tiễn thực hiện cácbước trong quá trình thực hiện chính sách ASXH cho đồng bào dân tộc Chăm;Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu nhằm cho thấy kếtquả và mức độ hài lòng về kết quả thực hiện chính sách ASXH cho đồng bào dân
Trang 8tộc Chăm; Phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm làm rõ các hạn chế và nguyênnhân của hạn chế trong thực hiện chính sách ASXH cho đồng bào dân tộc Chăm.Chương 3, với mục đích đề xuất được các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng caohiệu quả thực hiện chính sách ASXH cho đồng bào dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh
An Giang, tác giả sử dụng một số các phương pháp sau: Phương pháp tham vấnchuyên gia bằng tham gia các hội thảo, tham vấn ý kiến các chuyên gia lý luận vàthực tiễn về vấn đề để xác định quan điểm xây dựng giải pháp; Phương pháp phântích, tổng hợp nhằm xây dựng và triển khai các giải pháp nâng cao hiệu quả thựchiện chính sách ASXH cho đồng bào dân tộc Chăm
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Thông qua kết quả nghiên cứu, luận văn góp phần thêm vào kho tàng khoa học
lý luận bằng những phát hiện mới trong nghiên cứu lý thuyết của mình về vấn đềthực hiện chính sách ASXH cho đồng bào DTTS nói chung và đồng bào dân tộcChăm nói riêng, tạo ra những gợi ý mới cho việc nghiên cứu lý luận về vấn đề thựchiện chính sách ASXH trong tương lai
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này Khái quát thực trạng việc thực hiện chính sách ASXH cho đồng bào dân tộcChăm trên địa bàn tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay, chỉ ra những thành tựu,hạn chế và nguyên nhân của hạn chế của việc thực hiện ASXH hiện hành đối vớiđồng bào dân tộc Chăm Làm rõ những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức để
từ đó đề xuất các phương án xây dựng và hoàn thiện chính sách ASXH cho đồngbào dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang trong giai đoạn tới Khuyến nghị cácgiải pháp xây dựng và thực hiện chính sách ASXH cho đồng bào dân tộc Chăm đảmbảo cho tính khả thi của các phương án chính sách đã đề xuất
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách ASXH cho đồng bào DTTS.
Trang 9Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách ASXH cho đồng bào dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang.
Chương 3 Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ASXH cho đồng bào dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH
XÃ HỘI CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1 An sinh xã hội và thực hiện chính sách an sinh xã hội
1.1.1 Khái niệm chính sách, chính sách công
Ở hầu hết các nước phát triển, với tư cách là một chuyên ngành chính củakhoa học chính trị, lý luận khoa học về chính sách thường được gọi với những cáitên ít nhiều khác nhau: chính sách công (Public policy), phân tích chính sách(Analize policy) hay khoa học về chính sách (Policy science) Ở các quốc gia này,khoa học chính sách đã có lịch sử và nội dung phát triển phong phú, nó thể hiện sựphản tư đầy trăn trở của bản thân quá trình hoạch định chính sách trong thực tế
Từ điển Bách khoa Việt Nam cho rằng: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó” [54, tr.475].
Còn tác giả Vũ Cao Đàm chỉ ra: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo
sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” [21, tr.29].
James E Anderson cho rằng chính sách là chuỗi những hoạt động mà chínhquyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến
người dân hoặc “Chính sách quá trình hành động của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của công dân” [21, tr.19].
Trang 11Hiểu một cách đơn giản thì chính sách là một chương trình hành động do cácnhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó, có thể coi chính sách là một công
cụ quản lý để điều hành các hoạt động KT-XH theo những mục tiêu nhất định
1.1.1.2 Khái niệm chính sách công
“Chính sách” khi xét với vai trò và chức năng của khu vực công thường đượcgọi là chính sách công
Thomas Dye đã từng đặc trưng hóa rằng: “Chính sách công là tất cả những gì Nhà nước chọn làm hoặc không làm” [36, tr.3].
Đến B Guy Peter đã khẳng định hoạt động của Nhà nước và tác động của
chính sách đối với toàn bộ các công dân thông qua khái niệm: “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước một cách trực tiếp hay gián tiếp đều có ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi công dân” [18, tr.97].
Theo quan điểm lý thuyết hệ thống, P.de Leon và G Brewer thống nhất:
“Chính sách công là những quyết định quan trọng nhất của xã hội, là những hành động có tính chức năng dựa trên sự đồng thuận hoặc phê chuẩn của toàn hệ thống” Guy Petter, năm 1996 cho rằng: “Chính sách công là chính sách phản ánh toàn bộ các hoạt động của Chính phủ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của người dân” [18, tr.97] Trong khi đó, chính sách “tư” chỉ là các quy chế
nội bộ nhằm giải quyết vấn đề nội bộ
William Jenkin cho rằng chính sách công là một tập hợp các quyết định có liênquan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền vớiviệc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó Như vậy, chínhsách công là tập hợp các biện pháp can thiệp được thể chế hóa mà Nhà nước đưa ranhằm đạt được mục tiêu quản lý của mình
Theo William N Dunn, 1992, chính sách công là một kết hợp phức tạp những
sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các
cơ quan Nhà nước hay các quan chức Nhà nước đề ra
Đối với nước ta, cũng có rất nhiều quan niệm, góc nhìn khác nhau về chính
sách công, như PGS.TS Hồ Việt Hạnh cho rằng: “Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích
Trang 12chung của cộng đồng” [36, tr.5]; còn PGS.TS Nguyễn Hữu Hải quan niệm rằng:
“Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [35, tr.51]; Viện Chính trị học thì lại cho rằng: “… chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng” [60, tr.235].
Như vậy, có thể hiểu chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nướcđược thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong
đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội
Ở Việt Nam, các chính sách công là do Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam đề ra Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của giai cấp công nhân dựatrên nền tảng liên minh với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Bản chất dân chủcủa Nhà nước ta được khẳng định qua tất cả các bản Hiến pháp trong suốt quá trình
lịch sử phát triển Theo khoản 2, Điều 2, Hiến pháp 2013 có ghi rõ: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo sâu sắc vàtoàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn dân xâydựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Đảngcũng là tổ chức đề xướng đường lối chiến lược phát triển KT-XH của đất nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, chính sách công ở Việt Nam là những bộ phậnhợp thành, là sự cụ thể hóa đường lối phát triển KT-XH của Đảng Cộng sản Việt Nam,nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
1.1.2 Khái niệm an sinh xã hội và chính sách an sinh xã hội
1.1.2.1 Khái niệm an sinh xã hội
ASXH thường trong tiếng Anh được gọi là Social Security và khi dịch ra tiếngViệt ngoài ASXH thì thuật ngữ này cũng được dịch là bảo đảm xã hội, bảo trợ xãhội, an ninh xã hội, an toàn xã hội… với những ý nghĩa không hoàn toàn tươngđồng nhau Social Security có thể hiểu là sự đảm bảo thực hiện các quyền
Trang 13của con người được sống hòa bình, được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật; được
tự do học tập, được có việc làm, có nhà ở, tự do cư trú, di chuyển, phát biểu chínhkiến trong khuôn khổ luật pháp cho phép; được đảm bảo thu nhập để thỏa mãnnhững nhu cầu thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già… Vì thế, ASXH có nội hàmrất rộng và ngày càng hoàn thiện về nhận thức và thực tiễn thực hiện trên phạm vitoàn thế giới
Theo Điều 25 của Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1948, Liên Hợp Quốc
tiếp cận ASXH trên cơ sở quyền của công dân: “…Mọi người dân và hộ gia đình đều có quyền có một mức sống tối thiểu về sức khỏe và các phúc lợi xã hội bao gồm
ăn, mặc, chăm sóc y tế (bao gồm cả thai sản), dịch vụ xã hội thiết yếu và có quyền được an sinh khi có các biến cố về việc làm, ốm đau, tàn tật, góa phụ, tuổi già… hoặc các trường hợp bất khả kháng khác…”.
Theo Ngân hàng thế giới (WB), thì “ASXH là những biện pháp của chính phủ nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập”.
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa rằng: “ASXH là một sự bảo vệ mà
xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong Cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em”.
Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cho rằng: “ASXH là các chính sách, chương trình giảm nghèo và giảm sự yếu thế bởi sự thúc đẩy có hiệu quả thị trường lao động giảm rủi ro của người dân và nâng cao năng lực của họ để đối phó với rủi
ro và suy giảm hoặc mất thu nhập” ASXH gồm có 05 hợp phần: Các chính sách xã
hội và chương trình thị trường lao động; BHXH; Trợ giúp xã hội; Quỹ hỗ trợ pháttriển cộng đồng; Bảo vệ trẻ em
Ở Việt Nam, thuật ngữ “ASXH” được đề cập trong một số cuốn sách nghiêncứu về pháp luật của một số học giả Sài Gòn vào những năm 70 Sau năm 1975,
Trang 14thuật ngữ này được dùng nhiều hơn và đặc biệt từ năm 1995 trở lại đây nó được sửdụng một cách rộng rãi.
Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng các quan niệm về ASXH đều
có những đặc điểm chung:
Là sự đảm bảo thu nhập ở mức tối thiểu thông qua các hệ thống chính sách canthiệp nhằm quản lý rủi ro tốt hơn, bao gồm các rủi ro liên quan đến nhu cầu cơ bảnnhất của con người đã được luật hóa hoặc quy định như rủi ro về sức khỏe, thiếuhoặc mất việc làm, trẻ em, tàn tật… dẫn đến tình trạng không có thu nhập tạm thờihoặc vĩnh viễn
Là các chính sách do Nhà nước tổ chức thực hiện là chính, ngoài ra còn có sựtham gia của các tổ chức xã hội, cộng đồng trong việc tổ chức thực hiện và cung cấpdịch vụ ASXH Các chính sách này hướng đến mọi thành viên trong xã hội, đảmbảo sự được bình đẳng về tiếp cận và chất lượng dịch vụ cho các thành viên, tuynhiên lý do chính để có sự tham gia của Nhà nước nhằm hướng đến nhóm đối tượngyếu thế
Là lưới an toàn cho mọi thành viên trong xã hội, cơ bản đáp ứng được nhu cầuASXH của người dân Do đó, phạm vi của ASXH là bao phủ toàn dân và toàn diện
1.1.2.2 Khái niệm chính sách an sinh xã hội
Chính sách ASXH được xem là những mạng lưới các chương trình, hệ thốngchính sách cụ thể của Nhà nước nhằm bảo vệ, phòng ngừa, hạn chế và khắc phụcnhững rủi ro cho các thành viên của mình khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do cácnguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, già
cả không còn sức lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác thông qua cácchính sách BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp, ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội; từ
đó bảo đảm mức sống tối thiểu, góp phần nâng cao đời sống của họ, thúc đẩy sựphát triển, tiến bộ và công bằng xã hội
Trang 15Có thể khái quát hệ thống ASXH của Việt Nam như sau:
HỆ THỐNG ASXH VIỆT NAM
THU NHẬP TỐI THIỂU BẢO HIỂM XÃ HỘI CHO CÁC NHÓM ĐẶC
Y TẾ (GỒM BHYT) NHÀ Ở NƯỚC SẠCH THÔNG TIN
1.1.3 Bản chất và tính tất yếu của an sinh xã hội
Từ việc xem chính sách ASXH là hệ thống các chính sách do Nhà nước banhành để thực hiện các mục tiêu ASXH, có thể thấy: ASXH trước hết đó là sự bảo vệcủa xã hội đối với các thành viên trong cộng đồng của mình Mục đích của sự bảo
vệ nhằm hướng đến việc giúp đỡ các thành viên của xã hội trước những biến cố vàrủi ro xã hội dẫn đến bị giảm hoặc mất thu nhập
Như vậy, bản chất sâu xa của ASXH là nhằm góp phần đảm bảo thu nhập vàđời sống cho các thành viên trong xã hội bằng phương thức sử dụng các biện phápcông cộng, nhằm tạo ra sự “an sinh” cho tất cả mọi người trong xã hội và vì vậy
Trang 16mang tính xã hội, tính nhân văn hết sức sâu sắc Bản chất của ASXH có thể nhậnthấy từ những phương diện sau:
ASXH là biểu hiện một cách rõ nét của quyền con người đã được Liên Hợp Quốcthừa nhận Để thấy rõ hơn về bản chất của ASXH, cần hiểu rõ mục tiêu của nó là tạo ramột lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp nhằm bảo vệ cho tất cả mọi thành viêntrong cộng đồng khi đứng trước những trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặcphải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia đình do ảnh hưởng từ nhiều nguyênnhân khác nhau như thương tật, già cả ốm đau,… mà chúng ta gọi chung là những biến
cố và những “rủi ro xã hội” Nhằm thực hiện công bằng xã hội, ASXH căn cứ trênnguyên tắc chia sẻ trách nhiệm được thực hiện thông qua nhiều phương thức, biện phápkhác nhau để thiết kế ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp
Tuy ASXH có nội dung rất rộng lớn, nhưng chủ yếu tập trung vào ba vấn đề
cơ bản sau:
Thứ nhất, hết sức cần thiết cho sự bảo đảm, chính là BHXH được xem là trụcột cơ bản Có thể nói BHXH là xương sống của hệ thống ASXH Khi mà hệ thốngBHXH hoạt động thực sự có hiệu quả thì mới có thể tạo nên một nền ASXH vữngmạnh Bằng việc trợ cấp BHXH, người lao động có được khoản thu nhập bù đắphoặc thay thế cho những khoản thu nhập bị giảm hoặc mất trong trường hợp ngườilao động bị giảm, mất khả năng lao động hoặc mất việc làm BHXH dựa trên sựđóng góp của các bên tham gia, gồm người lao động, người sử dụng lao động vàNhà nước trong một số trường hợp
Thứ hai, nhằm bảo đảm cho người lao động tái tạo được sức lao động, duy trì
và phát triển nền sản xuất xã hội cần có sự cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe chongười lao động và gia đình họ; đồng thời phát triển mọi mặt cuộc sống của conngười và cả việc phát triển bản thân con người
Thứ ba, thực hiện các loại trợ giúp xã hội như trao tiền, hiện vật cho nhữngngười có rất ít hoặc không có tài sản như những người nghèo khó, những người cần
sự giúp đỡ đặc biệt, bên cạnh đó ASXH cũng khuyến khích và thực hiện gồm cảnhững loại trợ giúp khác như miễn giảm thuế, trợ cấp về dịch vụ, ăn, ở và đi lại
Trang 17Hệ thống ASXH hiện đại không chỉ là những cơ chế đơn giản nhằm thay thế thunhập mà đã trở thành những véctơ hỗn hợp của cái gọi là “những chuyển giao xã hội”,tức là những công cụ, những phương thức phân phối lại tiền bạc, của cải và các dịch vụ
xã hội có lợi cho những nhóm người “yếu thế” hơn trong cộng đồng xã hội
Như vậy, có thể thấy rõ bản chất của ASXH là nhằm che chắn, bảo vệ cho cácthành viên của xã hội trước mọi “biến cố xã hội” bất lợi
ASXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp Trong xã hội, tuy mỗi người đềukhông giống nhau về địa vị, tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc… tức hệ thống giá trị xãhội chắc chắn khác nhau nhưng vượt lên trên tất cả, với tư cách là một công dân aicũng được bảo đảm về mọi mặt để phát huy đầy đủ những khả năng của mình,không có sự kì thị hay phân biệt địa vị, tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc ASXH manglại cho những người kém may mắn hơn người bình thường khác được thêm điềukiện, những tác động, đòn bẩy để vượt qua những biến cố và rủi ro, từ đó có cơ hội
để phát triển bản thân, hòa nhập vào cộng đồng ASXH thúc đẩy, phát huy được tínhtích cực xã hội trong mỗi người, cả người giàu lẫn người nghèo; người may mắn vàngười kém may mắn, làm cho mỗi người hướng tới những giá trị của Chân - Thiện -
Mỹ Bởi lẽ đó mới có thể đẩy lùi thói ỷ lại vào cộng đồng, cũng là để phá tan suynghĩ ai cũng phải vì mình, ai cũng tìm cách thủ thân… chính ASXH là yếu tố làmnên sự hòa đồng, mọi người không ai phân biệt hay kì thị dù khía cạnh nào Đồngthời, AXSH cũng giúp con người hướng tới một xã hội nhân ái, góp phần kiến tạonên đời sống phồn thịnh và công bằng
Chính từ ASXH giúp chúng ta thấy được tinh thần đoàn kết, lá lành đùm lárách, “tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhautrong cộng đồng là một trong những nhân tố để ổn định và phát triển xã hội Việcgiúp đỡ những người kém may mắn cũng chính là để hoàn thiện bản thân mỗingười, hướng đến một xã hội phát triển tốt đẹp
Một là, ASXH góp phần thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội Trong mỗi xãhội, ASXH là một công cụ để cải thiện các điều kiện sống của các tầng lớp nhândân, nhất là đối với những người nghèo khó, những nhóm người yếu thế trong xãhội Ở góc độ kinh tế, ASXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành
Trang 18viên trong xã hội, được thực hiện theo hai chiều ngang và dọc Thường thì sự phânphối lại theo chiều ngang chỉ xảy ra trong nội bộ những nhóm người được quyềnhưởng trợ cấp, chẳng hạn sự phân phối lại thu nhập theo chiều ngang là sự phânphối lại giữa những người khỏe mạnh và người bệnh tật, giữa người đang làm việc
và người đã nghỉ việc, giữa người chưa có con và những người đang có gánh nặnggia đình Bên này là những người đóng góp đều đặn vào các loại quỹ ASXH hoặcđóng thế, còn lại bên kia là những người được hưởng trong các trường hợp với cácđiều kiện xác định
Còn việc phân phối lại theo chiều dọc có ý nghĩa xã hội rất lớn, sự phân phốilại thu nhập theo chiều dọc là sự chuyển giao tài sản và sức mua của những người
có thu nhập cao cho những người có thu nhập quá thấp, cho những nhóm người yếuthế Phân phối lại theo chiều dọc được thực hiện bằng nhiều phương thức, như trựctiếp thu thuế, kiểm soát giá cả, thu nhập và lợi nhuận…, hoặc gián tiếp như trợ cấpthực phẩm, cung cấp các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế, nhà ở, giúp đỡ vàbảo vệ trẻ em
Trên thực tế, việc thực hiện phân phối lại theo chiều dọc vẫn còn gặp nhiềukhó khăn Nhưng có thể thông qua hệ thống đóng góp và hệ thống trợ cấp để thựchiện một số chế độ nhất định cho những người có thu nhập thấp Có thể được miễn,giảm chế độ đóng hoặc được người chủ sử dụng lao động, kể cả Nhà nước đóng chohoàn toàn đối với những người có thu nhập thấp Hệ thống trợ cấp cũng đặc biệtnhấn mạnh tới những người có thu nhập thấp Sự phân phối theo chiều ngang lẫntheo chiều dọc đã thực sự tạo ra một lưới ASXH
Hai là, ASXH góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội Ngày nay con người đã
ý thức được rằng, sự phát triển của xã hội là một quá trình, mà trong đó các nhân tốkinh tế và nhân tố xã hội có sự tác động qua lại thường xuyên lẫn nhau Với sự pháttriển của mình, thế giới hiện đại đã đặt ra mục tiêu cần phải có những cải thiện nhấtđịnh để mang lại hạnh phúc cho mỗi người và đem lại lợi ích thiết thực cho mọingười; hướng đến công bằng xã hội bằng cách bảo đảm phân phối công bằng hơn vềthu nhập và của cải; đạt được hiệu quả sản xuất, bảo đảm việc làm, mở rộng và cảithiện về thu nhập, giáo dục và y tế cộng đồng; giữ gìn và bảo vệ môi
Trang 19trường… Sự phát triển của những lưới ASXH đã làm nên sự đa dạng trong ASXH,giải quyết được những nhu cầu khác nhau của nhiều nhóm người trong những hoàncảnh gặp rủi ro Tuy nhiên, phải khẳng định, ASXH không hoàn toàn loại trừ được
sự nghèo túng mà chỉ có tác dụng góp phần hạn chế, thúc đẩy quá trình tiến bộ xãhội thông qua việc đáp ứng những nhu cầu thiết yếu nhất cho những người kém maymắn là vấn đề được ưu tiên trong chiến lược phát triển của thế giới Những hệ thốnglưới đầu tiên của ASXH đã bảo vệ, giảm bớt sự khó khăn cho họ
Ba là, ASXH là một tất yếu khách quan trong cuộc sống xã hội loài người Ở
xã hội nào cũng vậy, ở bất cứ giai đoạn phát triển nào cũng đều có những nhómngười, những đối tượng không thể tự xoay sở, lo liệu được cho bản thân, cho cuộcsống hoặc có biến cố nào đó trở thành những người “yếu thế” trong xã hội Hệthống ASXH hình thành và phát triển trên cơ sở trong xã hội đó xuất hiện nhữngngười yếu thế, những người kém may mắn thì cũng chính trong xã hội đó tự sinh ranhững cơ chế hoặc tự phát, hoặc tự giác, thích ứng để giúp đỡ họ Tất nhiên, ASXH
là một quá trình phát triển từ giản đơn đến phức tạp, ngày càng phong phú, đa dạng
và hoàn thiện
1.1.4 Cấu trúc, nội dung của hệ thống chính sách an sinh xã hội
Trong quá trình tìm hiểu, phân tích về cấu trúc của hệ thống chính sách ASXH,hiện vẫn còn nhiều cách tiếp cận và quan điểm khác nhau Một hệ thống ASXH theoquan điểm của quốc tế hiện nay thì bao giờ trong cấu trúc nội dung cũng phải có ítnhất 03 hợp phần sau:
Thứ nhất, tầng trên cùng của hệ thống ASXH là những chương trình, chínhsách mang tính phòng ngừa rủi ro Tầng này có vai trò là hướng tới sự can thiệp vàbao phủ toàn dân, giúp cho mọi người ai cũng có được việc làm, có thu nhập cơbản, có được năng lực vật chất cần thiết để ứng phó một cách tốt nhất với rủi ro.Các chương trình, chính sách về thị trường lao động như đào tạo nghề, hỗ trợ tìmviệc làm, tự tạo việc làm hoặc đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động đượcxem là trụ sở cơ bản nhất của hợp phần này
Thứ hai, tầng kế tiếp của hệ thống ASXH là những chương trình, chính sáchmang tính chất giảm thiểu rủi ro là, tầng này có vị trí đặc biệt quan trọng với các
Trang 20chiến lược giảm thiểu thiệt hại do rủi ro Chính sách thuộc tầng này rất nhạy cảm,nếu thực sự phù hợp thì sẽ là đòn bẩy cho sự tham gia tích cực của người dân, tiếtkiệm nguồn lực của Nhà nước, tăng độ bao phủ hệ thống Trái lại, người dân sẽkhông tham gia nếu chính sách không phù hợp hoặc chính sách sẽ bị lạm dụng Cáchình thức bảo hiểm, dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng như: BHXH, BHYT, bảohiểm thất nghiệp… được xem là nội dung quan trọng nhất trong tầng này.
Thứ ba, tầng cuối cùng của hệ thống ASXH nhằm bảo vệ an toàn cho cácthành viên trong xã hội khi gặp phải rủi ro mà bản thân không tự mình khắc phụcđược như: thất nghiệp, thiếu việc làm, người có thu nhập thấp, người già, ngườikhuyết tật, trẻ em mồ côi, người nghèo Tầng này là những chương trình, chính sáchnhằm khắc phục những rủi ro, trong đó cứu trợ xã hội và trợ giúp xã hội thường lànhững chương trình chủ yếu trong hợp phần này
Hệ thống ASXH của nước ta được xây dựng trên nền tảng quản lý những rủi
ro, đồng thời chú ý đặc biệt đến việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản cho cáctầng lớp nhân dân thông qua các chính sách cơ bản thuộc 04 nhóm sau:
Nhóm 1 - Là các chính sách việc làm đảm bảo thu nhập tối thiểu và giảm nghèo,hướng đến việc hỗ trợ người dân chủ động phòng ngừa các rủi ro bằng cách tham giathị trường lao động để có việc làm, có thu nhập tối thiểu và giảm nghèo bền vững.Nhóm 2 - Là các chính sách BHXH, nhằm hỗ trợ người dân giảm thiểu rủi rokhi bị bệnh tật, tai nạn lao động, tuổi già… bằng việc tham gia vào hệ thống BHXH
để chủ động bù đắp phần thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất bởi các rủi ro trên.Nhóm chính sách này được xem như một trong những tầng trụ cột quan trọng của
hệ thống ASXH
Nhóm 3 - Là các chính sách trợ giúp xã hội như chính sách thường xuyên vàđột xuất nhằm hỗ trợ người dân khắc phục các rủi ro không lường trước hoặc vượtquá khả năng kiểm soát Tầng này đảm bảo được ít nhất mức sống tối thiểu cho cácđối tượng thuộc nhóm yếu thế cần trợ giúp xã hội có cuộc sống ổn định và có điềukiện hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng
Trang 21Nhóm 4 - Là các chính sách dịch vụ xã hội cơ bản nhằm tăng cường cho ngườidân tiếp cận hệ thống dịch vụ cơ bản ở mức tối thiểu, bao gồm giáo dục, y tế, nhà ở,nước sạch và thông tin truyền thông.
1.1.5 Thực hiện chính sách an sinh xã hội và quy trình tổ chức thực hiện chính
sách an sinh xã hội
1.1.5.1 Thực hiện chính sách an sinh xã hội
Thực hiện chính sách ASXH được xem là một khâu hợp thành chu trình chínhsách, đó là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thànhhiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã xác định từ trước
Như vậy, thực hiện chính sách ASXH là việc đưa các chính sách ASXH vào ápdụng trong thực tiễn, hoạt động này chủ yếu do các cơ quan Nhà nước thực hiện.Trong quá trình thực hiện các bước của chính sách ASXH cần phải có sự phốihợp, gắn kết chặt chẽ Đồng thời cần tạo sự linh hoạt, tránh cứng nhắc trong từnggiai đoạn thực hiện nhằm đảm bảo sự phù hợp với từng vùng miền, từng địaphương Đảm bảo chính sách ASXH đó đạt được mục tiêu cao nhất, đồng thời phùhợp với điều kiện kinh tế, phong tục tập quán của từng nơi, từng dân tộc
1.1.5.2 Quy trình tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội
Bước 1: xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách Những cơ quan,đơn vị thực thi chính sách từ cấp trung ương đến cơ sở đều phải xây dựng kế hoạch
và chương trình thực hiện Kế hoạch triển khai thực thi chính sách có những nộidung chủ yếu sau: kế hoạch tổ chức; xác định nguồn lực; xác định thời gian triểnkhai; kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách; dự kiến những nội quy, quychế về tổ chức; về nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quanNhà nước tham gia: tổ chức điều hành chính sách; các biện pháp khen thưởng, kỷluật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực hiện chính sách Kế hoạch do cấp nào thựchiện thì sẽ do lãnh đạo ở cấp đó xem xét thông qua Sau khi được quyết định thôngqua, kế hoạch thực hiện chính sách mang tính pháp lý, được mọi người chấp hànhthực hiện Nếu điều chỉnh kế hoạch thực hiện cũng do cấp có thẩm quyền thông quaquyết định
Bước 2: phân công, phối hợp trong việc thực hiện chính sách Nếu muốn tổchức thực hiện chính sách một cách hiệu quả phải có sự phân công, phối hợp giữa
Trang 22các cơ quan các cấp, các ngành, các yếu tố có mặt trong việc thực hiện chính sách
và các quá trình tác động đến thực hiện mục tiêu của chính sách Thường hay phâncông cơ quan chủ trì phối hợp cùng các cơ quan để thực hiện một chính sách nào đó
cụ thể Việc phân công và phối hợp thực hiện phải đảm bảo đúng theo tiến trình, chủđộng trong xây dựng kế hoạch, linh hoạt để nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách,đảm bảo ổn định thực hiện chính sách đó Các chính sách có thể ảnh hưởng đến lợiích của một nhóm người dân, nhưng kết quả ảnh hưởng sẽ liên quan đến nhiều yếu
tố, quá trình khác nhau, do đó phải kết hợp chúng lại để đạt được yêu cầu quản lý.Bước 3: phổ biến, tuyên truyền chính sách được xem là một công tác đóng vaitrò lớn lao và quan trọng đối với các cơ quan Nhà nước và cả bộ phận thực hiệnchính sách Để một chương trình chính sách đạt hiệu quả như mục tiêu đã đưa ra thìmột yêu cầu tất yếu đó là phải phổ biến, tuyên truyền nội dung, mục đích, yêu cầu,đối tượng thụ hưởng… cho tất cả các chủ thể trong chính sách hiểu rõ về mục đích,yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnhnhất định và về tính khả thi của chính sách để họ tự giác thực hiện theo yêu cầuquản lý của Nhà nước Việc tuyên truyền, phổ biến nội dung chính sách góp phầnlàm cho cán bộ nhận thức đầy đủ về chính sách với đời sống xã hội thông qua tínhchất, trình độ, quy mô, từ đó nâng cao trách nhiệm tranh thủ đề xuất các cách làmthích hợp nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu chính sách và tổ chức triển khai có hiệuquả kế hoạch tổ chức thực hiện các chính sách
Bước 4: theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách Do có sự khác biệt vềtrình độ, năng lực của cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước về khả năng điềuhành và tổ chức nên các cơ quan Nhà nước có chức năng cần thực hiện việc theo dõikiểm tra, nhắc nhở việc thực thi chính sách Bằng việc đôn đốc và kiểm tra các mụctiêu, biện pháp chủ yếu của chính sách để thường xuyên nhắc nhở những người, những
bộ phận thực thi chính sách lưu ý đặc biệt đến nội dung quan trọng trong quá trình tổchức thực thi Kiểm tra, theo dõi sâu sát tình hình tổ chức thực thi chính sách để bổsung kịp lúc, hoàn thiện chính sách, chỉnh đốn công tác tổ chức thực thi chính sách,góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách
20
Trang 23Bước 5: đánh giá, tổng kết kinh nghiệm trong bước tổ chức thực thi chính sáchxác định là quá trình xem xét, kết luận về công tác chỉ đạo, điều hành và chấp hànhchính sách của những người thực thi chính sách Đánh giá, tổng kết về công tác chỉđạo tổ chức thực thi chính sách đối với các cơ quan Nhà nước từ trung ương đến cơ
sở và cả vai trò của các tổ chức đoàn thể, chính trị - xã hội trong quá trình tham giathực thi chính sách Có thể nói, kế hoạch và những nội quy, quy chế được xây dựng
ở bước 2 của phần này chính là cơ sở để xem xét, đánh giá và tổng kết công tác chỉđạo, điều hành thực thi chính sách trong các cơ quan Nhà nước Mặt khác, phải kếthợp sử dụng các văn bản phối hợp, liên ngành giữa cơ quan Nhà nước với các tổchức đoàn thể, chính trị - xã hội cùng các văn bản quy phạm khác để xem xét tìnhhình phối hợp chỉ đạo, tổ chức thực thi chính sách của các tổ chức đoàn thể, chínhtrị - xã hội với Nhà nước
Song song với công tác sơ, tổng kết và đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành đốivới cơ quan Nhà nước, chúng ta còn đánh giá việc thực thi của các đối tượng thụhưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách, tức là với tư cách là công dân đốivới tất cả các thành viên trong xã hội Thái độ hưởng ứng chính sách và ý thức chấphành những nội dung quy định về cơ chế, phương pháp do cơ quan chức năng banhành nhằm hiện thực hoá mục tiêu chính sách trong khoảng không gian và thời giannhất định chính là thước đo đánh giá kết quả thực thi chính sách
Bước 6: là hoạt động nhằm làm cho chính sách tồn tại và phát huy được tácdụng trong thực tiễn đời sống, đó chính là việc duy trì chính sách Cần có sự đồnglòng của bộ phận tiến hành tổ chức, người thực thi và cả không gian tồn tại củachính sách Những người trực tiếp tổ chức thực thi chính sách, tức trong các cơquan Nhà nước phải luôn luôn bám sát việc tuyên truyền, vận động toàn dân và đốitượng chính sách tích cực tham gia thực thi chính sách Quá trình thực thi chínhsách nếu có phát sinh những vướng mắc cần tháo gỡ thì các cơ quan Nhà nước dùng
hệ thống công cụ quản lý để tác động lên nhằm làm cho môi trường thuận lợi hơncho việc thực thi chính sách Ở mức độ nào đó nhằm làm cho lợi ích chung toàndân, các cơ quan Nhà nước có thể dùng đến biện pháp hành chính để duy trì chính
Trang 24sách Tất cả những cách làm đó, nếu thực hiện một cách đồng bộ sẽ góp phần tíchcực vào việc duy trì chính sách trong đời sống xã hội.
1.2 Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về an sinh
xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số
1.2.1 Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
ASXH là hệ thống các chính sách và chương trình do Nhà nước và các lựclượng xã hội thực hiện nhằm bảo đảm cho mọi người dân có được mức tối thiểu vềthu nhập, có cơ hội tiếp cận ở mức tối thiểu về các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếunhư giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin, bằng việc làm cho người dân cókhả năng tự an sinh và sự hỗ trợ của Nhà nước Xây dựng hệ thống ASXH đa dạng,toàn diện, từng bước mở rộng diện bao phủ, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội
và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ đang làmục tiêu hướng đến của các quốc gia trên toàn thế giới Bởi lẽ đó, chính sách ASXHcần tập trung vào 04 nội dung chính như sau:
Một là, tạo được việc làm, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giảm nghèomột cách bền vững cho người lao động yếu thế bằng các hỗ trợ cá nhân và hộ giađình trong sản xuất, hỗ trợ tín dụng, giải quyết việc làm và cung cấp thông tin về thịtrường lao động
Hai là, tăng cường cho người lao động có thêm cơ hội tham gia BHXH, bảohiểm thất nghiệp để sẵn sàng ứng phó nếu nguồn thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất
do các rủi ro gây ra như ốm đau, già cả hay bị tai nạn lao động
Ba là, thường xuyên quan tâm hỗ trợ cho người có hoàn cảnh đặc thù và kịpthời giúp đỡ đột xuất cho những người dân khi họ gặp các rủi ro không lường trướcđược hoặc vượt quá khả năng kiểm soát như mất mùa, đói kém, thiên tai, dịchbệnh…, bằng các khoản tiền mặt và hiện vật do Nhà nước bảo đảm bằng nguồnngân sách
Bốn là, giúp người dân tiếp cận nhiều hơn đối với hệ thống dịch vụ xã hội cơbản như giáo dục, nhà ở, nước sạch, y tế, vệ sinh môi trường và thông tin
Đảng và Nhà nước đã sớm coi nhiệm vụ diệt giặc đói, giặc dốt như diệt giặcngoại xâm ngay sau khi Cách mạng tháng Tám (1945) thành công, khi đó ứng phó
Trang 25với giặc đói đã được đặt lên hàng đầu Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn mong
muốn “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [44, tr.187].
Đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(năm 1991) khẳng định: “Chính sách xã hội bảo đảm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất Có chính sách bảo trợ và điều tiết hợp lý thu nhập giữa các bộ phận dân cư, các ngành và các vùng” [30, tr.143-145].
Cương lĩnh xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (được bổ sung, phát triển năm 2011), lần đầu tiên đặc biệt đã nhấn mạnh
tuyên bố cần phải: “Hoàn thiện hệ thống ASXH”.
Cụm từ “ASXH” được chính thức sử dụng trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX của Đảng vào tháng 4 năm 2001: “Khẩn trương mở rộng hệ thống
BHXH và ASXH Sớm xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp”.
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng năm 2006 đã đưa ra tư
tưởng chỉ đạo có tính chất định hướng chiến lược: “Thực hiện tốt chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi với nghĩa vụ, cống hiến với hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ hơn cho phát triển KT-XH” Đặt ra mục tiêu đưa nước ta cơ
bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, giải quyết tốt các vấn đề xãhội có ý nghĩa chiến lược, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thịtrường, nhất là vấn đề việc làm, giảm thất nghiệp, ưu đãi người có công, xóa đóigiảm nghèo, bảo trợ xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội vào năm 2020
Và Nghị quyết Đại hội X của Đảng đề ra rằng: “Xây dựng hệ thống ASXH đa
dạng, phát triển mạnh hệ thống BHXH, BHYT, tiến tới BHYT toàn dân…; đa dạng hóa các loại hình cứu trợ xã hội” Đến Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương
Đảng lần thứ 6 (Khóa X) một lần nữa lại nhấn mạnh nội dung: “Từng bước mở rộng và
cải thiện hệ thống ASXH để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, nhất là của nhóm đối tượng chính sách, đối tượng nghèo”.
Nhận thức về vai trò hệ thống chính sách ASXH không ngừng được hoànthiện, nâng lên tầm chiến lược về phát triển hệ thống chính sách ASXH trong giai
Trang 26đoạn mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập sâurộng vào nền kinh tế thế giới được thể hiện tại các văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ XI của Đảng năm 2011, trong đó Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đề
ra cần phải: “Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ASXH, giảm tỷ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sóc sức khỏe nhân dân”
[28, tr.105]
Đại hội XI lại phát triển thêm những quan điểm, định hướng, nội dung cho
mỗi chính sách ASXH, làm rõ việc: “Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống Tăng tỷ lệ người lao động tham gia các hình thức bảo hiểm Đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ BHXH, chuyển các loại hình trợ giúp, cứu trợ sang cung cấp dịch vụ bảo trợ xã hội dựa vào cộng đồng Bảo đảm cho các đối tượng bảo trợ xã hội có cuộc sống ổn định, hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng, có cơ hội tiếp cận nguồn lực kinh tế, dịch vụ công thiết yếu Thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật BHXH, bảo đảm thực hiện đúng, đầy đủ chế độ quy định đối với mọi đối tượng”.
Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011 - 2020 nhấn mạnh: “Phát triển
hệ thống ASXH đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả Phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm như BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếp cận và tham gia các loại hình bảo hiểm Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi và không ngừng nâng cao mức sống đối với người có công Mở rộng các hình thức cứu trợ xã hội, nhất là đối với các đối tượng khó khăn”.
Ngày 01/6/2012, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số
15-NQ/TW chỉ ra rằng “Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển
và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ ”, bảo đảm mức sống tối thiểu, quan tâm
có trọng tâm, trọng điểm và hỗ trợ kịp thời đối với những hoàn cảnh khó khăn trongquá trình thực hiện; xem việc bảo đảm ASXH là nhiệm vụ thường xuyên, quantrọng không của riêng cá nhân hay tổ chức nào, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hình
Trang 27thành hệ thống ASXH bao phủ toàn dân với các yêu cầu: bảo đảm người dân có việclàm, thu nhập tối thiểu; tham gia BHXH; bảo đảm hỗ trợ kịp thời cho những người
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổithu nhập thấp, người khuyết tật nặng, người nghèo,…; bảo đảm cho người dân tiếpcận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu như y tế, giáo dục, nhà ở, nướcsạch, thông tin, nhằmgóp phần nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bìnhđẳng và hạnh phúc cho nhân dân
1.2.2 Một số thành tựu quan trọng và những thách thức mới về an sinh xã hội hiện nay
Công cuộc tiến hành đổi mới ở Việt Nam suốt thời gian hơn 35 năm qua vớinhững cải biến cách mạng toàn diện, triệt để và sâu sắc đã góp phần làm nên nhữngthay đổi mạnh mẽ ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Cùng với những thànhtựu nổi bật trong quá trình đổi mới kinh tế, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia, ViệtNam cũng đã không ngừng có những nỗ lực to lớn, đầu tư nguồn lực và đổi mớichính sách, cơ chế để thực hiện ASXH, chăm lo cải thiện, từng bước nâng cao cuộcsống của người dân Cụ thể:
Thứ nhất, việc bảo đảm ASXH phải đi đôi với sự tiến bộ và phát triển xã hội,gắn với thành tựu phát triển kinh tế trong nền kinh tế thị trường Dù nền kinh tế thếgiới và trong nước xảy ra nhiều biến động và có ảnh hưởng to lớn, tất nhiên nguồnlực của đất nước ta còn vô cùng hạn hẹp nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn ưutiên cho công tác ASXH, xem việc phát triển cuộc sống người dân trong mối tươngquan với việc phát triển kinh tế một cách hài hòa và gắn kết, chú ý đầu tư phát triểnkinh tế với đầu tư bảo đảm phúc lợi và ASXH Đối với miền núi, nơi có đồng bàoDTTS, các huyện nghèo, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, xã bãi ngang ven biển, hảiđảo, cần được quan tâm đầu tư nhiều hơn và ban hành nhiều chính sách về ASXH.Các chương trình xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam ở tầm quốc gia đã gặt háiđược những kết quả rất tốt đẹp, đã được dư luận quốc tế thừa nhận và đánh giá cao,nhất là công tác xóa đói, giảm nghèo cho nông dân ở miền núi, vùng đồng bàoDTTS Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong giai đoạn 2016 - 2018, tỷ lệnghèo theo chuẩn nghèo đa chiều đã giảm nhanh với mức giảm trung bình 1,1%
Trang 28mỗi năm Năm 2019, tỷ lệ nghèo tiếp cận đa chiều ước khoảng 5,7%, giảm 1,1 điểmphần trăm so với năm 2018.
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia đã hoàn thành sớm cácmục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và trong vấn đề giải quyết các vấn đề xã hội vàthực hiện các chính sách ASXH cho người dân, từ đó nhận được những đánh giátích cực của cộng đồng quốc tế Dù vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập so với yêu cầuphát triển nhanh và bền vững nhưng với những kết quả, thành tích mà Việt Nam đãthu được về phát triển giáo dục, chăm lo sức khỏe cộng đồng, thực hiện BHYT chongười dân, khám, chữa bệnh cho người nghèo, chăm sóc các bà mẹ và trẻ em, cũngnhư những nỗ lực giải quyết việc làm, cải thiện mức sống và điều kiện sống cho dân
cư, quan tâm tới các đối tượng yếu thế, cứu trợ xã hội và thực hiện phúc lợi xã hội
là những minh chứng về những tiến bộ đáng kể thực hiện ASXH
Thứ hai, hệ thống pháp luật không ngừng được hoàn thiện nhằm bảo đảmquyền ASXH cho mọi người dân Tại Điều 34, Hiến pháp (2013) lần đầu tiên quyềnASXH cơ bản cho người dân đã được khẳng định: “Công dân có quyền được bảođảm ASXH” và Điều 59: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởngphúc lợi xã hội, phát triển hệ thống ASXH” Bộ Luật Lao động (sửa đổi năm 2012)tiếp tục phát triển thị trường lao động, tăng cường điều kiện hoạt động của các đốitác tham gia thị trường lao động (Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức môi giớitrung gian và người lao động); tăng cường hỗ trợ của Nhà nước đối với người laođộng yếu thế trên thị trường thông qua các chính sách hỗ trợ tạo việc làm Luật Việclàm số 38/2013/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 16/11/2013 là một dấu mốcđánh dấu lần đầu tiên Việt Nam có bộ luật hướng đến khu vực kinh tế phi chínhthức; tiếp tục mở rộng cơ hội cho người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp(mọi lao động làm việc trong các doanh nghiệp có hợp đồng lao động từ 3 tháng trởlên đều bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp) Luật BHYT sửa đổi (năm 2013)chuyển từ bao phủ toàn dân sang BHYT bắt buộc đối với toàn bộ dân cư; mở rộng
sự tham gia của người dân vào BHYT (hoàn thiện chế độ đóng, chế độ hưởng vàđiều kiện hưởng BHYT); mở rộng đối tượng được Nhà nước bảo hộ một phần vàtoàn phần để tham gia BHYT Luật BHXH sửa đổi (năm 2014) mở rộng diện tham
Trang 29gia BHXH bắt buộc đối với người lao động làm việc có hợp đồng từ 1 tháng trở lên;tăng cường chế tài đối với việc trốn đóng BHXH; hoàn thiện chế độ BHXH tựnguyện theo hướng linh hoạt và phù hợp với điều kiện về việc làm, thu nhập của laođộng trong khu vực phi chính thức; đề xuất giải pháp khuyến khích người lao độngkhu vực phi chính thức tham gia BHXH; hiện đại hóa công tác quản lý đối tượngtham gia BHXH.
Thứ ba, nguồn kinh phí đầu tư của Nhà nước cho ASXH ngày càng tăng Theo
số liệu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, giai đoạn 2013 - 2015, ngân sáchNhà nước đã bố trí 33.836 tỷ đồng chi trợ giúp xã hội thường xuyên (bình quân gần11.280 tỷ đồng mỗi năm) và giai đoạn 2016 - 2018 là 47.268 tỷ đồng (năm 2016 là15.293 tỷ đồng, 2017: 15.752 tỷ đồng và 2018: 16.223 tỷ đồng); trong đó chi chothực hiện chính sách trợ giúp đối với người cao tuổi các năm 2016, 2017 và 2018tương ứng là 5.511 tỷ đồng; 5.677 tỷ đồng và 5.847 tỷ đồng/năm Như vậy, số tiềntrợ giúp thường xuyên có xu hướng tăng lên Hơn nữa, bình quân kinh phí cho việcthực hiện chính sách trợ giúp thường xuyên đối với người cao tuổi chiếm khoảng36% tổng chi ngân sách hàng năm cho thực hiện chính sách trợ giúp đối với các đốitượng thuộc diện bảo trợ xã hội
Thêm vào đó, nếu như từ 2011 - 2015, ngân sách Nhà nước chi cho trợ cấp xãhội đột xuất tính ra tiền là 2.689 tỷ đồng, bình quân gần 538 tỷ/năm, thì trong 3 năm(2016 - 2018), con số này là 730 tỷ đồng (năm 2016), 3.210 tỷ đồng (năm 2017) và1.480 tỷ đồng (2018); tăng đáng kể so với giai đoạn trước đó Mặc dù trong điềukiện kinh tế khó khăn, nhưng Đảng và Nhà nước không giảm đi bất cứ một chínhsách, khoản chi nào dành cho ASXH mà còn tăng lên; thực hiện hiệu quả các chínhsách xã hội từ nhiều nguồn lực, trong đó các nguồn lực chính là nguồn lực Nhànước, nguồn lực từ bên ngoài như khuyến khích, tạo môi trường thuận lợi để pháttriển đa dạng các mô hình ASXH, các hoạt động từ thiện, tình nguyện dựa vào sựtham gia của cộng đồng Đồng thời, mở rộng quan hệ quốc tế để tranh thủ vậnđộng nguồn lực, cũng như học tập các nước về kinh nghiệm trong xây dựng và thựchiện các chính sách ASXH
Trang 30Thứ tư, Việt Nam đã đạt và vượt thời gian hoàn thành nhiều mục tiêu pháttriển Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc Theo Báo cáo của Bộ Lao động - Thươngbinh và Xã hội, trong 10 năm qua, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm liên tục trên phạm vi cảnước và các vùng miền.
Nếu như năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo cả nước lên tới 14,2%, thì đến năm 2015 tỷ
lệ hộ nghèo đã giảm còn 4,25% Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu Thiên niên kỷ vềxóa đói giảm nghèo trước 10 năm và được cộng đồng quốc tế đánh giá là hình mẫugiảm nghèo hiệu quả
Đến cuối năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo cả nước chỉ còn 3,75%, tính bình quân giaiđoạn 2015 - 2019 mỗi năm giảm 1,53% và ước đến cuối năm 2020 cả nước chỉ còn2,75% hộ nghèo
Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2016 - 2019, Việt Nam đã giảm trên 58% số hộnghèo so với tổng số hộ nghèo đầu giai đoạn Sau 5 năm đã có 6 triệu người thoátnghèo và 2 triệu người thoát khỏi cận nghèo Tỷ lệ nghèo giảm nhanh ở xã đặc biệtkhó khăn và vùng đồng bào các DTTS
Chính sách việc làm đảm bảo thu nhập tối thiểu thông qua công tác đào tạonghề cho lao động nông thôn, nhất là lao động người DTTS cũng đang mang lạihiệu quả tích cực Theo Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, trung bình mỗi năm có
1 triệu lao động nông thôn được đào tạo nghề và hiện đã có trên 9,2 triệu lao độngnông thôn được học nghề; trong đó 80% lao động nông thôn có việc làm sau họcnghề, 350 nghìn hộ nghèo tham gia học nghề đã có việc làm và thoát nghèo Đa sốngười lao động đã tiếp cận được y tế cơ sở, tỷ lệ tham gia BHYT trên 71,6%;khoảng 3% người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được hỗ trợ tiền mặt hằng tháng
và các hình thức khác; cơ bản hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi,cấp tiểu học và trung học cơ sở; tình trạng nhà ở, nước sạch và thông tin được cảithiện đáng kể
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, song vẫn còn những hạn chế, tồn tại trong việc thực hiện các chính sách xã hội
Việc huy động vốn để thực hiện chính sách giảm nghèo vẫn còn nhiều hạn chế.Việc khai thác, huy động được các nguồn vốn sẵn có của từng địa phương còn
ít, quan điểm trông chờ ỷ lại vào nguồn vốn ngân sách vẫn còn tồn tại Hằng năm,
Trang 31ngân sách Nhà nước tăng trung bình từ 15 đến 20% nhưng lại phải đảm bảo cơ cấungân sách do Quốc hội quy định giữa đầu tư, thường xuyên, đảm bảo cơ cấu chi chomột số lĩnh vực như giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ, môi trường; trong chithường xuyên phải giải quyết những chính sách lớn như chi tiền lương, chính sáchđối với người có công, chính sách bảo trợ xã hội Vả lại, bắt đầu từ năm 2012, nước
ta đứng vào ngưỡng các nước có thu nhập trung bình (thấp), do đó hầu như cáckhoản viện trợ quốc tế không hoàn lại đã bị cắt giảm đáng kể
Mặc dù chiến tranh đã kết thúc từ hơn 40 năm trước, nhưng hậu quả của nó đểlại vẫn còn nặng nề, đối tượng trợ giúp xã hội còn nhiều, chưa giải quyết hết được.Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á chịu ảnh hưởng mạnh mã của biến đổi khíhậu như tình trạng nước biển dâng, mưa bão thường xuyên, lũ lụt nặng nề,… mỗinăm gây ra thiệt hại trên 1% GDP Bên cạnh đó, tình trạng dân số già nhanh hơn dựkiến khiến chúng ta rơi vào những thử thách về chi phí liên quan đến chăm sóc sứckhỏe người cao tuổi và chính sách ASXH Năm 2009, Việt Nam đã bước vào thời
kỳ già hóa (tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm 10% tổng số dân số), dự kiến đếnnăm 2050, tỷ lệ người già ở Việt Nam chiếm trên 20% dân số)
Hiện nay, có thể nói hệ thống chính sách ASXH thiếu sự gắn kết, còn rải rác,vụn vặt chưa thu hút được người dân tham gia, hiệu quả chính sách còn hạn chế.Các chương trình dạy nghề cho lao động nông thôn chưa gắn với nhu cầu thị trườnglao động và nhu cầu sản xuất; năm 2019, tỷ lệ lao động đã được đào tạo có bằng,chứng chỉ thấp, chỉ đạt 23,1%, người lao động làm việc trong các nghề đòi hỏi trình
độ kỹ năng cao chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, khoảng 11% lao động có trình độ cao; laođộng phổ thông và lao động giản đơn chiếm tỷ trọng lớn Kết quả giảm nghèo chưathực sự bền vững, chưa đồng đều Nghèo đói tập trung chủ yếu ở những vùng khókhăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng bãi ngang ven biển, hải đảo, nơi có đôngđồng bào DTTS sinh sống, nhiều nơi tỷ lệ nghèo vẫn còn trên 50%, cá biệt còn trên
60 - 70%; tỷ lệ tái nghèo trong 4 năm 2016 - 2019 bình quân 4,09%/năm so với tổng
số hộ thoát nghèo (giai đoạn trước tỷ lệ tái nghèo khoảng 12%/năm); tỷ lệ hộ nghèophát sinh tương đối lớn, trung bình giai đoạn 2016 - 2019 bằng 21,8% so với tổng
số hộ thoát nghèo; chênh lệch giàu - nghèo về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xãhội giữa các vùng, nhóm dân cư có xu hướng gia tăng, nhất là giữa khu vực miền
Trang 32núi phía Bắc và Tây Nguyên với các vùng còn lại; thu nhập bình quân của hộ đồngbào DTTS chỉ bằng 1/6 mức thu nhập bình quân của cả nước, chênh lệch giàu -nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, nhất là khu vực miền núiphía Bắc và Tây Nguyên.
Mặt bằng giáo dục, trình độ dân trí của đồng bào các DTTS vẫn còn khoảngcách đáng kể với người Kinh, Hoa; tình trạng trẻ em bỏ học, nhất là trẻ em ngườiDTTS ở vùng đặc biệt khó khăn còn cao, tỷ lệ trẻ em DTTS đi học thấp hơn mứcbình quân cả nước ở mọi cấp học Mức hỗ trợ cho trẻ em, học sinh, sinh viên ngườiDTTS và một số nhóm khác còn thấp so với nhu cầu thực tế
Mức độ thụ hưởng dịch vụ và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe củangười nghèo, vùng nghèo nói chung và đồng bào DTTS nói riêng vẫn còn thấp hơnđáng kể so với các nhóm dân số khác, vùng khác: tỷ lệ phụ nữ mang thai được khámđịnh kỳ mới đạt 71%, tỷ lệ sinh con tại nhà là 36%, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng là32%
Đến nay, vẫn còn 4.800 hộ gia đình chưa có nhà ở và 1,4 triệu hộ sống trongnhà đơn sơ, trong đó 465 ngàn hộ DTTS đang ở nhà tạm, dột nát cần hỗ trợ (chiếm15,3% tổng số hộ DTTS); có trên 375 ngàn hộ DTTS chưa được sử dụng nước sinhhoạt hợp vệ sinh, trong đó có 11 nhóm dân tộc dưới 50% số hộ được sử dụng nướcsinh hoạt hợp vệ sinh hàng ngày
Chính sách bảo đảm thông tin cho người nghèo, vùng nghèo mới dừng ở mức cácchương trình mang tính ngắn hạn (3 - 5 năm), nguồn lực còn hạn chế và bố trí chậm
1.2.3 Những vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội hiện nay
Thứ nhất, hệ thống văn bản pháp luật về ASXH chưa theo kịp tốc độ phát triểncủa nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tiến trình hội nhập quốctế; quá trình phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần đã tác động đếnASXH nhiều vấn đề bức xúc, các vấn đề phát sinh chưa được giải quyết một cáchtoàn diện cả về lý luận lẫn thực tiễn
Thứ hai, sự già hóa dân số xuất hiện từ khi áp dụng chính sách kế hoạch hóagia đình đã tác động không nhỏ đến ASXH ở nước ta như lực lượng lao động, chămsóc y tế người già, các dịch vụ chăm sóc xã hội cho người già
Trang 33Thứ ba, khả năng ứng dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật của nước tađang còn thấp, năng lực ứng phó với các tác động bên ngoài như khủng hoảng kinh
tế, thiên tai, dịch bệnh còn nhiều hạn chế; các nguồn lực hỗ trợ cho việc ứng phónày còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn
Thứ tư, mức đóng, hưởng BHXH còn chưa hợp lý, chưa đảm bảo được cuộcsống cho các đối tượng thụ hưởng Các chế độ thực hiện chính sách ASXH cònnhiều bất cập, rời rạc, thiếu chặt chẽ
Thứ năm, sự chênh lệch mức sống giữa các vùng, miền, các địa phương diễn
ra ngày càng sâu sắc đã làm cho các đối tượng yếu thế trở nên yếu kém hơn và dễ bịtổn thương hơn do hạn chế về khả năng cạnh tranh, khả năng phòng ngừa rủi ro.Như vậy, các nhóm đối tượng ASXH ngày càng phức tạp, đa dạng đòi hỏi phải cómột hệ thống chính sách ASXH đa tầng, đa lớp, thật sự linh hoạt và đủ khả năngthực hiện được các mục tiêu ASXH đề ra
1.3 Dân tộc Chăm và hệ thống an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc Chăm
1.3.1 Khái niệm dân tộc thiểu số
Hiện nay, trong các văn kiện quốc tế của Liên Hợp Quốc vẫn chưa có sự chínhthức xác nhận nào về khái niệm về “dân tộc” và “người thiểu số” Thiểu số về dântộc, tôn giáo, ngôn ngữ và chủng tộc là những nhóm thiểu số hay được đề cập đến.Theo Tòa án Công lý quốc tế thường trực (PCIJ) khi đề cập đến DTTS đã đưa
ra định nghĩa: “Cộng đồng thiểu số là một nhóm người sống trên một quốc gia hoặc một địa phương nhất định, có những đặc điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngưỡng, ngôn ngữ và truyền thống, có sự giúp đỡ lẫn nhau và có quan điểm thống nhất trong việc bảo lưu những yếu tố truyền thống, duy trì tôn giáo, tín ngưỡng và hướng dẫn, giáo dục trẻ em trong cộng đồng theo tinh thần và truyền thống của chủng tộc họ” [55, tr.105].
Một cách tiếp cận khái niệm khác về “người thiểu số” cho rằng: người thiểu số
là một nhóm người, xét về mặt số lượng, ít hơn so với phần dân cư còn lại của quốcgia, có vị thế yếu trong xã hội, những thành viên của nhóm - mà đang là công dâncủa một nước
Trang 34Hoặc có ý kiến cho rằng, người thiểu số là một nhóm công dân của một quốcgia, ít về mặt số lượng và yếu về vị thế trong quốc gia đó, mang những đặc trưng vềchủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ mà tạo sự khác biệt so với nhóm dân cư đa số, cómột ý thức thống nhất, một động cơ rõ rệt trong việc sử dụng ý chí tập thể để tồn tại
và đạt được mục tiêu bình đẳng với nhóm dân cư đa số, cả trên phương diện phápluật và thực tiễn
Theo cách tiếp cận chính thống của Chính phủ Việt Nam thì DTTS được địnhnghĩa tại Khoản 2, Điều 4, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc nhưsau: “DTTS” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vilãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Theo đó, vùng DTTS là nơi có đông các DTTS cùng sinh sống ổn định thànhcộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.3.2 Hệ thống an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc Chăm
Hệ thống ASXH đối với đồng bào dân tộc Chăm được xây dựng trên cơ sở hệthống ASXH chung của cả nước và bao gồm 05 nội dung chủ yếu đó là:
Thứ nhất, chính sách ưu đãi người có công Đây là loại hình chính sách đặcthù của nước ta và một số nước trên thế giới Đất nước ta đã trải qua hai cuộc khángchiến trường kỳ, sau hai cuộc chiến tranh hậu quả để lại cho cả nước và nhân dân làrất lớn Để bù đắp một phần xương máu, sự hy sinh cao cả đó Đảng, Nhà nước tarất quan tâm đến chế độ ưu đãi người có công hướng tới các đối tượng chủ yếu nhưsau: người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945; người hoạt động cáchmạng từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; liệt sĩ; Bà mẹViệt Nam anh hùng; Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng lao động thời
kỳ kháng chiến; thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; bệnh binh;người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; người hoạt động cáchmạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tù đày; người hoạt động kháng chiến giảiphóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; người có công giúp đỡ cáchmạng
Thứ hai, chính sách bảo trợ xã hội, đó là sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồngthông qua nhiều hình thức đa dạng và khác nhau đối với các đối tượng rơi vào cảnhrủi ro, kém may mắn… bởi những lý do không giống nhau làm cho họ không cónăng lực tự gánh vác được cho cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình, giúp họ
Trang 35vượt qua những khó khăn, giúp họ ổn định cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng,đồng thời hỗ trợ họ thoát khỏi những túng thiếu cuộc sống hằng ngày.
Chính sách bảo trợ xã hội hướng tới các đối tượng sau: trẻ em mồ côi cả cha
và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưngngười còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật Dân sựhoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ
em có cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tạitrại giam, không còn người nuôi dưỡng; trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đìnhnghèo; người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa,học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêu trên; người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ giađình nghèo; người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu,người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo theo chuẩn nghèo đượcChính phủ quy định cho từng thời kỳ; người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưuhoặc trợ cấp BHXH; người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không cókhả năng tự phục vụ, thuộc hộ gia đình nghèo; người mắc bệnh tâm thần thuộc cácloại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâmthần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm và có kết luận bệnh mãn tính, sốngđộc thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện hộ nghèo; người nhiễmHIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộ gia đình nghèo; gia đình, cánhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi; hộ gia đình có từ 02 ngườitrở lên tàn tật nặng, không có khả năng tự phục vụ; người đơn thân thuộc diện hộnghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi; trường hợp con đang đi học văn hoá, họcnghề được áp dụng đến dưới 18 tuổi
Thứ ba, chính sách xóa đói giảm nghèo đối với DTTS Nghèo có thể hiểu là sựthiếu thốn trên nhiều khía cạnh như nguồn thu nhập thấp hoặc không có khả nănglàm ra thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo chi tiêu trong hoàn cảnh có vấn đề, dễ bịtổn thương trước những biến cố, hạn chế về cơ hội thể hiện những nhu cầu và khókhăn của mình đến cơ quan có thẩm quyền, ít được tham gia vào quá trình ra quyếtđịnh, cảm giác không được người khác tôn trọng trên phương diện đạo đức Đó là
Trang 36biểu hiện cùng cực nhất của nghèo khó và người ta có thể cho rằng đó là điều kiệnkhông thể chấp nhận.
Xóa đói giảm nghèo tạo điều kiện cho người dân thoát khỏi cảnh nghèo, tựđảm bảo được cuộc sống một cách lâu dài và bền vững Khi số người nghèo giảmxuống, gánh nặng trợ cấp sẽ giảm xuống, thêm vào đó người nông dân có thêm thunhập, có tiền để tham gia các chương trình BHYT, BHXH tự nguyện Quỹ ASXH sẽdồi dào hơn góp phần củng cố mạng lưới ASXH của Việt Nam
Thứ tư, chính sách BHXH BHXH theo quan điểm của Tổ chức Lao độngquốc tế (ILO), là hình thức bảo trợ mà xã hội dành cho các thành viên của mìnhthông qua một loạt các biện pháp công bằng nhằm tránh tình trạng khốn khó về kinh
tế và xã hội do bị mất hoặc giảm thu nhập đáng kể về bệnh tật, tai nạn lao động, mấtsức lao động và tử vong
Theo Luật BHXH số 58/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam thông qua ngày 20/11/2014 thì: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc
bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao độnghoặc chết trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH
Chế độ BHXH bao gồm năm vấn đề sau: chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ trợcấp tai nạn và bệnh nghề nghiệp; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp hưu trí; chế
độ trợ cấp tử tuất
Thứ năm, chính sách BHYT đối với DTTS Con người ai cũng muốn khỏemạnh, ấm no, hạnh phúc nhưng trong đời người những rủi ro bất ngờ về sức khỏe,bệnh tật luôn có thể xảy ra Để khắc phục khó khăn cũng như có thể chủ động về tàichính khi phải đối mặt với những rủi ro, bất ngờ về sức khỏe thì con người có thiênhướng tham gia vào loại hình BHYT Đối với DTTS thì loại hình BHYT được Nhànước hỗ trợ 100% kinh phí mua thẻ BHYT
Trang 371.4 Những yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số
1.4.1 Chất lượng của chính sách
Chất lượng của chính sách tác động vô cùng to lớn đến hiệu quả quá trình thựchiện chính sách công Sự ảnh hưởng đó thể hiện ở hai điểm chủ yếu:
Một là, tính đúng đắn của chính sách Tính đúng đắn của chính sách là tiền đề
cơ bản cho việc thực hiện có hiệu quả chính sách Chính sách đúng đắn, phù hợpvới quy luật khách quan và sự phát triển xã hội, thể hiện lợi ích công, thúc đẩy sựphát triển xã hội, mang lại lợi ích thiết thực cho đối tượng chính sách thì sẽ có được
sự thừa nhận, ủng hộ của đối tượng chính sách, người thực hiện và xã hội, từ đó gópphần nâng cao hiệu quả thực thi Trái lại, sẽ không có được sự thừa nhận, ủng hộcủa đối tượng chính sách Chính sách đúng đắn thể hiện ở sự đúng đắn về nội dung,phương hướng cũng như việc hoạch định chính sách dựa trên cơ sở lý luận và thựctiễn đầy đủ
Hai là, tính rõ ràng, cụ thể của chính sách Tính rõ ràng, cụ thể của chính sách
là yếu tố then chốt để thực hiện chính sách có hiệu quả, là căn cứ cho hoạt độngthực hiện chính sách của chủ thể thực hiện chính sách và cũng là cơ sở để tiến hànhđánh giá và giám sát quá trình thực hiện chính sách Trong thực hiện chính sách, sựthiếu rõ ràng, cụ thể của chính sách sẽ dẫn đến sự khó khăn trong thực hiện, từ đóảnh hưởng không tốt đến hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách
1.4.2 Chủ thể thực hiện chính sách
Mỗi chính sách bất kỳ đều phải dựa vào chủ thể thực hiện chính sách Việcngười thực hiện chính sách am hiểu, nắm vững chính sách, luôn có tinh thần đổimới, sáng tạo, trách nhiệm với công việc và có trình độ quản lý tương đối cao làđiều kiện quan trọng để thực hiện chính sách có hiệu quả Trong thực tế, nếu ngườithực hiện chính sách thiếu tri thức và năng lực cần thiết, không nắm vững chínhsách, không nắm được yêu cầu cơ bản của chính sách sẽ dẫn đến sự sai sót, thậm chí
là sai lầm trong tuyên truyền và thực hiện chính sách
1.4.3 Đối tượng hưởng thụ chính sách
Đối tượng hưởng thụ chính sách ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thực hiệnchính sách Chính sách có đạt được mục đích đề ra hay không, không chỉ phụ thuộcvào chất lượng chính sách và năng lực của chủ thể thực hiện chính sách mà còn phụ
Trang 38thuộc vào thái độ của đối tượng hưởng thụ chính sách Rõ ràng, nếu đối tượnghưởng thụ chính sách tiếp nhận và ủng hộ chính sách thì việc thực hiện chính sách
sẽ vô cùng thuận lợi, còn nếu đối tượng hưởng thụ chính sách không tiếp nhậnchính sách, không ủng hộ chính sách thì việc thực hiện sẽ gặp nhiều khó khăn, làmtăng chi phí thực hiện chính sách
1.4.4 Điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cụ thể
Một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện chínhsách đó là điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Nếu các điều kiện thíchhợp sẽ có lợi cho việc thực hiện chính sách và ngược lại nếu không thích hợp sẽ cảntrở việc thực hiện chính sách Cụ thể, nếu trình độ kinh tế phát triển, nhất là kinh tếthị trường phát triển thì cơ quan thực hiện chính sách càng có điều kiện để thu hútnguồn lực cho thực hiện chính sách; trình độ văn hóa và sự hiểu biết của người dân
sẽ tạo thuận lợi cho việc thực hiện chính sách và ngược lại
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, tác giả đã trình bày tổng quan cơ sở lý luận về chính sáchASXH nói chung và chính sách ASXH đối với đồng bào DTTS, đồng bào dân tộcChăm nói riêng Trong đó đề cập đến các khái niệm ASXH, chính sách ASXH, thựchiện chính sách ASXH, DTTS, tính tất yếu, vai trò, tính chất của ASXH Đồng thờitrong chương 1 đề cập đến cấu trúc, nội dung và quy trình thực hiện chính sáchASXH, các đối tượng của ASXH và vai trò phương pháp đánh giá việc thực hiệnchính sách ASXH
Ngoài ra, trong chương 1 còn trình bày lý luận về DTTS, quan điểm chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các thành tựu quan trọng về ASXH ởnước ta hiện nay Một số vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới hoàn thiện hệ thốngASXH ở Việt Nam Qua đó, có cơ sở để đánh giá thực trạng thực hiện chính sáchASXH đối với đồng bào dân tộc Chăm trên địa bàn tỉnh An Giang (sẽ được trìnhbày ở chương 2)