Năm 2006, trong cuốn TG và chính sách TG ở Việt Nam của Ban Tôn giáo Chính phủ đã trình bày khái quát về quá trình hình thành các TG ở Việt Nam, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng Sản
Trang 1NGUYỄN THỊ XUÂN LAN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO HÒA HẢO TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2021
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ XUÂN LAN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO HÒA HẢO TRÊN ĐỊA BÀN
Trang 4MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
TG là một thực thể xã hội xuất hiện sớm trong lịch sử loài người, trong quá trình hình thành và phát triển, các TG đã ảnh hưởng đến đời sống chính trị, văn hoá, xã hội khác nhau trong mỗi quốc gia và trên toàn thế giới Tự do TG là một trong những quyền tự nhiên của con người được pháp luật bảo vệ, đồng thời đó cũng
là một mặt của giá trị dân chủ trên thế giới hiện nay
Nước ta là một quốc gia có nhiều tôn giáo, với trên 20 triệu người theo các tôn giáo khác nhau Tín đồ các TG đa số là nhân dân lao động nên có tinh thần yêu nước, có ý thức gắn bó cùng dân tộc, dễ gần và đi theo cách mạng, nhiều chức sắc
đã tích cực cùng khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc, cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tuy nhiên, trong từng thời kỳ lịch sử, có lúc, có nơi do nhiều nguyên nhân và
sự tác động nhiều mặt của tình hình thế giới, cũng như chiến lược “diễn biến hoà
bình” của các thế lực thù địch càng làm cho các hoạt động TG, tín ngưỡng trở
nên đa dạng và phức tạp hơn, có một số ít TG đã bị kẻ xấu lôi kéo, kích động đi ngược lại lợi ích của dân tộc và tổ quốc, cũng như lợi ích của đại đa số tín đồ Trong các TG ở Việt Nam, PGHH là một TG nội sinh, ra đời ở tỉnh AG và ảnh hưởng chủ yếu ở các tỉnh Đồng Bằng sông Cửu Long, có nhiều đặc điểm mang đậm tính văn hóa, tính cách của người dân Nam bộ Dưới thời kỳ Việt Nam
bị đế quốc xâm chiếm, PGHH với giáo lý dễ hiểu, lễ nghi đơn giản dễ thực hành,
tỏ ra rất phù hợp với tâm lý của người dân vốn có trình độ văn hóa không cao, nên
đã nhanh chóng được đông đảo quần chúng nhân dân tiếp nhận, không ngừng tăng nhanh Tuy nhiên, PGHH, cũng như các TG khác, đã bị chính trị hóa, bị các thế lực thù địch lợi dụng, chi phối nhằm thực hiện các hoạt động chống phá cách mạng Mặt khác, nội bộ PGHH cũng nảy sinh mâu thuẫn, chia rẽ sâu sắc
Năm 1999, PGHH được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân, sự kiện này
đã kịp thời động viên tinh thần, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của đông đảo quần chúng có đạo Từ khi được công nhận tư cách pháp nhân đến nay,
Trang 5với tinh thần khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, tín đồ PGHH luôn phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc, tích cực phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, làm tốt công tác từ thiện nhân đạo,… đóng góp nhất định, thiết thực vào công cuộc xây dựng, phát triển quê hương đất nước theo định hướng Xã hội chủ
nghĩa, tu hành theo phương châm “Vì đạo pháp, vì dân tộc”
Tuy nhiên, ở một vài địa điểm vẫn còn một số tín đồ PGHH tham gia sinh
hoạt, hoạt động TG chưa đúng tinh thần “Vì dân tộc”, chưa “Tuỳ tài, tuỳ sức, nỗ
lực hy sinh cho xứ sở” như lời dạy của Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ Trên thực tế, vẫn
còn nhiều vụ án, vụ việc liên quan đến PGHH gây không ít khó khăn trong công tác quản lý nhà nước của chính quyền, trong đó có một số đối tượng cực đoan ở
An Phú gây mất an ninh trật tự trong nhiều năm qua Các vấn đề như xây dựng cơ
sở thờ tự không phép; xin lại, đòi lại, phục hồi lại cơ sở thờ tự; lợi dụng hoạt động
từ thiện xã hội chính quyền chưa kiểm soát được,… đòi hỏi phải được giải quyết
từ phương diện quản lý nhà nước đối với hoạt động của Giáo hội PGHH
AG là tỉnh có đông tín đồ PGHH và cũng là nơi ra đời của đạo PGHH, nên các chính sách liên quan đến PGHH lại càng được xem trọng Bên cạnh những thành quả đã đạt được thì quá trình thực hiện CSTG đối với PGHH vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định Với mong muốn đánh giá khách quan và trung thực kết quả cũng như quá trình thực hiện CSTG đối với PGHH trên địa bàn tỉnh nên tôi chọn đề tài:
“Thực hiện chính sách tôn giáo đối với Phật giáo Hòa Hảo trên địa bàn tỉnh AG”
làm luận văn thạc sĩ cho chuyên ngành CSC của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Như chúng ta đã biết TG và CSTG là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt coi trọng và đây cũng là lĩnh vực thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Tại Việt Nam, từ trước tới nay đã có nhiều tài liệu và công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến TG, công tác quản lý nhà nước về TG, chính sách về TG ở nhiều góc độ, phạm vi rộng, hẹp khác nhau Để làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu, trong phần tổng quan về tình hình nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xin điểm qua các tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài theo 2 nhóm chính như sau:
Trang 62.1 Nhóm những công trình nghiên cứu liên quan đến TG và chính sách TG
Từ trước tới nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn
đề TG và CSTG Song trong luận văn này, chúng tôi chỉ điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Năm 2005, trong cuốn Một số TG ở Việt Nam tác giả Nguyễn Thanh Xuân đã
đề cập đến các TG lớn ở Việt Nam như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, PGHH, Hồi Giáo Riêng về PGHH, tác giả đã dành nhiều trang nói về quá trình hình thành và phát triển; về giáo lý, giáo luật; về sự phân hóa nội bộ dẫn đến sự thành các phái khác nhau và hoạt động liên quan đến lĩnh vực chính trị của TG này
Năm 2006, trong cuốn TG và chính sách TG ở Việt Nam của Ban Tôn giáo
Chính phủ đã trình bày khái quát về quá trình hình thành các TG ở Việt Nam, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng Sản Việt Nam đối với tín ngưỡng, TG, kết quả việc thực hiện chính sách và pháp luật của Nhà nước Việt Nam đối với tín ngưỡng, TG
Năm 2009, trong cuốn Tôn giáo - Quan điểm, chính sách đối với tôn giáo
của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay, tác giả Nguyễn Đức Lữ đã trình bày một cách hệ thống về quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về TG; nhận thức, quan điểm của Đảng về TG từ năm 1930 đến năm 1986; nhận thức, quan điểm và chính sách đối với TG của Đảng và Nhà Nước ta trong thời kỳ đổi mới và đặc biệt là trong chương cuối của cuốn sách, tác giả đã tập trung trình bày về công tác quản lý Nhà nước đối với tôn giáo của Nhà nước Việt Nam hiện nay
Năm 2011, trong cuốn Tìm hiểu về Tôn giáo và chính sách đối với Tôn giáo
của Đảng, Nhà nước Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn Đức Lữ, tác giả đã
nhìn nhận CSTG là “phương tiện, công cụ” của quản lý Nhà nước đối với hoạt động TG
Năm 2016, trong cuốn kỷ yếu Hội thảo Khoa học Chính sách, pháp luật về
Tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam: 25 năm nhìn lại của Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh do Nxb Lý luận Chính trị xuất bản Cuốn sách là kết quả của cuộc hội thảo lớn do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức nhằm đánh
Trang 7giá, làm rõ thành tựu và hạn chế của chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, TG của nước ta từ 1990 đến nay Trong đó có nhiều bài viết đề cập đến quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề TG và công tác TG; chủ nghĩa xã hội và TG ở Việt Nam; nhà nước pháp quyền và TG; quyền tự do tín ngưỡng, TG trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; chính sách pháp luật của Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, TG ở Việt Nam hiện nay; những điểm mới trong dự thảo Luật tín ngưỡng, TG; vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc phản biện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng; phát huy nguồn lực - sức mạnh mềm của các TG trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Năm 2017, để đáp ứng nhu cầu của công tác TG và công tác quản lý TG Nhà nước đối với TG cũng như nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu của đồng bào theo TG và những người quan tâm đến các vấn đề về TG, Ban Tôn giáo Chính phủ đã xuất
bản cuốn Tài liệu giới thiệu luật tín ngưỡng, tôn giáo Tài liệu đã trích dẫn đầy đủ
nội dung của Luật tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 18/11/2016 và Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 01/12/2016 Ngoài
ra, cuốn tài liệu này cũng phân tích sâu về sự cần thiết phải ban hành luật tín ngưỡng, tôn giáo, mục tiêu, quan điểm chỉ đạo xây dựng luật, những điểm mới cơ bản của Luật tín ngưỡng, tôn giáo
Đặc biệt là năm 2019, trong cuốn giáo trình Tôn giáo và tín ngưỡng của Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh do tác giả Đỗ Lan Hiền chủ biên đã cập nhật,
bổ sung một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đời sống TG trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, nhất là nhưng nội dung về TG được đề cập trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị định của Chính phủ về TG và công tác TG những năm qua
Gần đây nhất là năm 2020 trong cuốn Quản lý Nhà nước đối với hoạt động
tôn giáo ở Việt Nam hiện nay do tác giả Hà Ngọc Anh chủ biên đã tập trung
nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý Nhà nước đối với hoạt động TG ở Việt Nam; phân tích thực tiễn quản lý Nhà Nước đối với hoạt động TG ở Việt Nam và đặc biệt là tác giả đã giành trọn vẹn một chương sách để trình bày các quan điểm,
Trang 8phương hướng và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý Nhà Nước đối với hoạt động TG ở Việt Nam trong thời gian tới
Tóm lại, tuy những công trình nghiên cứu trên không đi sâu nghiên cứu về PGHH nhưng đó là những kiến thức nền tảng cung cấp cho chúng tôi một bức tranh khái quát về công tác TG và CSTG, góp phần định hướng cơ sở lý luận và đánh giá một cách toàn diện đối với vấn đề nghiên cứu của luận văn
2.2 Nhóm những công trình nghiên cứu liên quan đến PGHH và chính sách TG đối với PGHH
PGHH là đề tài luôn thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học và quản lý Do vậy từ trước tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu từ sách, các đề tài, các luận án, luận văn Điển hình như:
Về sách,
Trước năm 1975, người ta biết đến PGHH thông qua một số tác giả trong
giới lý luận của Hoà Hảo như: “Nguyễn Văn Hầu với các tác phẩm: “Nhận thức
Phật giáo Hoà Hảo”, “Năm cuộc đối thoại về Phật giáo Hoà Hảo”, “Thất Sơn mầu nhiệm”, “Muốn về cõi Phật”,…các tác phẩm này nhằm giới thiệu cho người
đọc hiểu khái lược về giáo lý, giáo luật, lễ nghi và việc “Tu Nhân - Học Phật”
của Phật giáo Hoà Hảo
Sau năm 1975, hoạt động nghiên cứu về Phật giáo Hoà Hảo đạt được nhiều
kết quả khá quan trọng như công trình: “Một số Tôn giáo ở Việt Nam” của Ban
Tôn giáo Chính phủ (1993)
Phạm Bích Hợp (2007), Người Nam bộ và Tôn giáo bản địa, Nxb TG, Hà
Nội Cuốn sách này vốn là kết quả nghiên cứu của một đề tài khoa học cấp Nhà nước, chỉ giới hạn ở việc khảo sát và kiến giải về đạo Cao Đài, Bửu Sơn Kỳ Hương và PGHH từ góc độ tâm lý Tác giả đã dành một số trang nói về PGHH, song cũng chỉ là những miêu tả tóm tắt về Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, khảo sát không nhiều về ảnh hưởng của nó trong đời sống tinh thần ở Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 9Đoàn Nô (2007), PGHH ở Miền Tây Nam bộ, Nxb Văn hóa Sài Gòn Công
trình này bàn về lịch sử hình thành, phát triển của PGHH và ảnh hưởng ở miền Tây Nam bộ, còn ở An Giang tác giả hầu như chưa luận bàn
Về đề tài nghiên cứu,
Năm 2001, Vụ Các Tôn giáo khác - Ban Tôn giáo Chính phủ có Báo cáo
tổng quan đề tài “Khảo sát thực trạng Phật giáo Hoà Hảo - kiến nghị và chủ trương, chính sách”; Năm 2001, đề tài nhánh, “Thực trạng, xu hướng phát triển PGHH ở nước ta hiện nay” thuộc đề tài cấp Nhà nước “Xu hướng phát triển Tôn giáo ở nước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra đối với công tác lãnh đạo, quản lý” do Ts Nguyễn Thị Nga - Trung tâm khoa học về tín ngưỡng và Tôn giáo
thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm đề tài Đề tài đi sâu, phân tích thực trạng chung của PGHH trong giai đoạn hiện nay, phân tích những xu hướng vận động chủ yếu, trên cơ sở đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của Đảng và Nhà nước đối với TG này
Năm 2012, đề tài khoa học Tổng kết lịch sử đấu tranh chống các thế lực thù
địch phản động lợi dụng PGHH (1975 - 2010) do Cục A88 - Bộ Công an chủ trì
thực hiện Đề tài có nhiệm vụ: Khái quát lịch sử đấu tranh chống các thế lực phản động lợi dụng PGHH và rút ra các bài học kinh nghiệm từ công tác này
Viện Nghiên cứu khoa học - Bộ Công an có đề tài nghiên cứu về Phật giáo Hoà Hảo ở cấp độ nghiệp vụ và kết quả nghiên cứu của công trình này nhận diện
rõ nét hơn về tính chính trị và tính TG của PGHH từ khi ra đời đến khi có Nghị
quyết số 24 (1990) của Bộ Chính trị Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình
hình mới
Về luận án,
Phạm Bích Hợp với luận án Đời sống xã hội và tâm lý nông dân người Việt ở
làng Hoà Hảo tại AG trước và sau 1975 đã tổng quan về PGHH với tư cách là một
tổ chức TG (có giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tín đồ), đời sống tâm lý của tín đồ PGHH và người dân không có đạo ở làng Hòa Hảo
Nguyễn Hoàng Sa với Luận án Tiến sĩ “Đạo Hòa Hảo và ảnh hưởng của nó ở Đồng bằng sông Cửu Long” đã tập trung làm rõ sự ra đời, nét đặc trưng và xu
Trang 10hướng phát triển của TG Hòa Hảo ở Đồng bằng sông Cửu Long Nêu lên một số giải pháp cấp bách nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của công tác TG trong vùng Hòa Hảo trong giai đoạn cách mạng lúc đó
Về luận văn,
Bùi Văn Hải với luận văn Thạc sĩ Triết học về công tác tôn giáo đối với Phật
giáo Hoà Hảo hiện nay đã phản ánh thực trạng PGHH, đề xuất chủ trương đối với
việc công nhận PGHH với tư cách là một tổ chức TG độc lập, quá trình thực hiện chính sách đối với PGHH của các địa phương, dự báo xu hướng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đối với PGHH
Nguyễn Hồng Điệp với luận văn Thạc sĩ ngành quan hệ xã hội về Công tác
quản lý nhà nước đối với hoạt động của Phật giáo Hoà Hảo ở Việt Nam hiện nay
đã làm rõ thực trạng của công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của Phật giáo Hoà Hảo, luận văn đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước đối với hoạt động của Phật giáo Hoà Hảo ở Việt Nam hiện nay
Bùi Thị Thu Hà với luận văn Thạc sĩ bàn về “Đảng bộ An Giang vận động
quần chúng tín đồ Phật giáo Hoà Hảo tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước
từ năm 1954-1975”
Phan Bá Tài với khóa luận tốt nghiệp đại học về Phật giáo Hoà Hảo ở Đồng
Tháp thực trạng và chính sách
Nhìn lại các công trình nghiên cứu trên, chúng ta có thể thấy vấn đề PGHH
đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện nay
vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào đi sâu phân tích, đánh giá việc thực hiện CSTG đối với PGHH trên địa bàn tỉnh An Giang dưới góc độ của
chuyên ngành CSC Do đó, đề tài nghiên cứu sẽ là một hướng tiếp cận mới, tác giả
hy vọng công trình nghiên cứu này sẽ là tài liệu bổ ích cho những ai quan tâm Chúng tôi xem các công trình của những tác giả đi trước như một nguồn tư liệu tham khảo quý giá và cần thiết, đồng thời kế thừa các thành tựu mà giới nghiên cứu đã đóng góp để có những định hướng thiết thực, những giải pháp cụ thể cho việc tiếp cận đề tài nghiên cứu của mình
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng tới hai mục đích chính đó là đánh giá thực trạng thực hiện CSTG đối với PGHH trên địa bàn tỉnh An Giang và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện CSTG đối với PGHH
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về CSTG đối với PGHH ở Việt Nam hiện nay
Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện CSTG đối với PGHH trên địa bàn tỉnh
An Giang, chỉ ra ưu điểm, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế, bất cập đó
Đề xuất, các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách đối với PGHH trên địa bàn tỉnh An Giang
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc thực hiện CSTG đối với PGHH từ thực tiễn tại An Giang
Về thời gian: Các số liệu thu thập để phục vụ cho việc phân tích, đánh giá thực trạng sẽ được lấy từ năm 2015 - 2020 Dựa trên cơ sở thực trạng, luận văn sẽ đưa ra
hệ thống các giải pháp có giá trị đến năm 2030
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận:
- Nghiên cứu quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về TG và công tác TG
Trang 12- Nghiên cứu quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước về TG và việc thực hiện CSTG
- Nghiên cứu các lý thuyết về CSC, về vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong các quá trình CSC
5.2 Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu, tác giả
sử dụng những phương pháp như: phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; sử dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành chính sách công và các phương pháp phân tích, tổng hợp từ các tài liệu liên quan đến tôn giáo và chính sách tôn giáo trên địa bàn tỉnh An Giang
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn làm phong phú thêm những vấn đề lý luận có liên quan đến TG và
CSTG, góp phần làm rõ những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về các CSTG mà cụ thể là các chính sách liên quan đến PGHH trên địa bàn tỉnh An Giang
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Về mặt thực tiễn, căn cứ trên kết quả đánh giá thực trạng việc thực hiện CSTG đối với PGHH trên địa bàn tỉnh An Giang, luận văn sẽ đưa ra hệ thống giải pháp phù hợp có thể áp dụng trong công tác quản lý nhà nước về TG đối với PGHH trên địa bàn tỉnh An Giang
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn có kết cấu chủ yếu gồm có 3 chương và 10 tiết
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO 1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm TG
TG, theo tiếng Latinh (Religare) có nghĩa là sự nối liền của cái tột cùng, như
sự gắn bó với Chúa, với Thượng đế hoặc được hiểu là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người và thần thánh; giữa thế giới vô hình với thế giới hữu hình; giữa cái linh thiêng với cái trần tục Trong tiếng anh, TG là religion, có nghĩa là sự tồn tại của một quyền lực bên ngoài mà con người phải tuân theo; cảm giác mộ đạo và tuân theo quyền lực đó Theo tiếng Hy Lạp thì TG là regere - ràng buộc hay mối liên hệ giữa con người và thần linh
Theo từ điển tiếng việt: “TG là một hình thái ý thức xã hội hình thành nhờ vào lòng tin và sùng bái thượng đế, thần linh” [50, tr.239],
Tại điều 2, Luật tín ngưỡng, tôn giáo có ghi rõ: TG là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về TG, nhưng chúng ta có thể hiểu TG theo định nghĩa như sau: TG là niềm tin của con người vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào từng thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng TG, được vận hành bằng những nghi lễ, giáo lý những hành vi TG khác nhau của từng cộng đồng
xã hội TG khác nhau
1.1.2 Khái niệm chính sách TG
CSTG là chính sách đặc thù của Nhà nước ta Từ trước tới nay đã có nhiều quan niệm hay cách tiếp cận khác nhau về CSTG, trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi xin điểm qua một số quan niệm cũng như cách hiểu về CSTG như sau: Theo tác giả Nguyễn Đức Lữ, CSTG là "phương tiện, công cụ" của quản lý
Trang 14nhà nước đối với hoạt động TG, trong đó quản lý nhà nước với hoạt động TG được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, là quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp) của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh hướng các quy trình TG và hành vi hoạt động TG của
tổ chức, cá nhân TG diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu cụ thể quản
lý Theo nghĩa hẹp, là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ và UBND các cấp) để điều chỉnh các quá trình TG và mọi hành vi hoạt động TG của tổ chức, cá nhân TG diễn
ra theo quy định của pháp luật [28, tr.103, tr.270 - 271]
Tác giả Hà Ngọc Anh cho rằng: Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của Chính phủ, bao gồm các mục tiêu mà Chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó Chính sách đối với hoạt động TG là hệ thống những quan điểm, chủ trương về nguyên tắc cho những hoạt động của các TG như: Các TG của Việt Nam được hoạt động tự do trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam; mọi công dân của Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước Việt Nam xử lý bằng pháp luật đối với bất cứ công dân Việt Nam nào vi phạm pháp luật, không phân biệt tôn giáo [1, tr 33]
Tác giả Nguyễn Văn Thanh thì nêu quan điểm về CSTG theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp Cụ thể là, theo nghĩa rộng: CSTG ở Việt Nam là tổng thể các quy định, quy tắc xử sự chung, các biện pháp trên các lĩnh vực do Đảng, Nhà nước ban hành nhằm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, TG, đoàn kết toàn dân tộc, làm cho đồng bào có đạo được đảm bảo an sinh, sống tốt đời đẹp đạo, các hoạt động TG được quản lý, nhằm góp phần ổn định chính trị - xã hội, phát triển đất nước, hội nhập quốc tế Còn theo nghĩa hẹp thì: CSTG của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tổng thể những quy phạm pháp luật, các chương trình hành động, các biện pháp chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… của Nhà nước, nhằm thực hiện quyền tự
do tín ngưỡng, TG, đoàn kết toàn dân tộc, làm cho đồng bào có tín ngưỡng, TG được đảm bảo an sinh, sống tốt đời đẹp đạo, các hoạt động tín ngưỡng, TG được quản lý, nhằm góp phần ổn định chính trị - xã hội, phát triển đất nước, hội nhập quốc tế
Trang 15Tác giả Trương Ngọc Tuấn cho rằng: CSTG là CSC về lĩnh vực xã hội, được biểu hiện bằng hệ thống các hành vi mà nhà nước ứng xử (làm hoặc không làm) với
TG, nhằm bảo vệ quyền và những lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi người trong hoạt động tín ngưỡng, [39, tr 80]
Trong phạm vi của luận văn này, CSTG được hiểu là những quy phạm pháp luật, các chương trình hành động, các biện pháp chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… của Nhà nước nhằm tác động điều chỉnh, hướng dẫn các quá trình TG và hành vi hoạt động TG của tổ chức, cá nhân TG diễn ra phù hợp theo quy định của pháp luật, nhằm góp phần ổn định chính trị - xã hội, phát triển đất nước
1.1.3 Khái niệm thực hiện chính sách TG
Thực hiện chính sách là một khâu quan trọng, là toàn bộ quá trình chuyển hóa
ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định Thực hiện chính sách nói chung, CSTG nói riêng là khâu, là bước đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách, có nhiệm vụ hiện thực hóa chính sách, đưa chính sách vào cuộc sống
CSTG ở Việt Nam chủ yếu thực hiện nguyên tắc, đường lối, quan điểm của Đảng ta và nguyên tắc Hiến định: Mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, TG; có quyền theo hay không theo tín ngưỡng, TG Vì vậy, việc thực hiện CSTG của Việt Nam phải đảm bảo và bảo hộ quyền tự do TG, tín ngưỡng của mọi người; phải bình đẳng trước pháp luật giữa người theo TG và không theo TG; Đồng bào các TG là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Đoàn kết đồng bào có TG với đồng bào không theo TG xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Trong quá trình thực hiện CSTG cần phải chú ý đến những đặc điểm của CSTG riêng của Việt Nam như: CSTG của Việt Nam chịu sự tác động, chi phối bởi các điều kiện kinh tế - văn hóa -
xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Việt Nam; Đối tượng thụ hưởng CSTG là đồng bào có đạo, là những nhóm xã hội đặc thù, liên kết với nhau trên cơ
sở niềm tin TG; Việc thực hiện CSTG của Việt Nam cũng phải vừa có tính phổ quát, hội nhập, tương thích với các quy tắc, thông lệ chung của thế giới, vừa phải có những quy định, quy tắc riêng mang tính dân tộc Có chính sách ban hành áp dụng chung đối với tất cả các TG, có chính sách áp dụng đối với một TG cụ thể, có loại
Trang 16chính sách không áp dụng đối với các tổ chức và cơ sở TG; Việc thực hiện chính sách phải chịu sự tác động, chi phối bởi đặc trưng của hệ thống chính trị nước ta, trong đó công tác TG được xác định là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới
sự lãnh đạo của Đảng Ngoài việc các cơ quan lãnh đạo của Đảng (Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư) ban hành các chủ trương, đường lối, nghị quyết, kết luận, thông báo về TG và CSTG để các cơ quan Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật, nhiều văn bản của Đảng, cơ quan lãnh đạo của Đảng hoặc những tổ chức đảng được cấp có thẩm quyền ủy quyền có thể chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp giải quyết trực tiếp vấn đề TG
ở Trung ương, địa phương; có chính sách, văn bản chính sách mang tính nội bộ, không phổ biến rộng hoặc ở chế độ Mật với các cấp độ khác nhau; Quá trình thực hiện CSTG của Việt Nam phải có sự kế thừa những truyền thống lịch sử tốt đẹp của cha ông, phát huy vai trò, tư tưởng và các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các
TG, tín ngưỡng trong xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng nền văn hóa Việt Nam nhân nghĩa, khoan dung
1.2 Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với TG
1.2.1 Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về TG
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về việc thực hiện các chính sách TG được Đảng khẳng định trên rất nhiều văn bản, đặc biệt là các nghị quyết chuyên đề
về TG và công tác TG; văn kiện các Đại hội Đảng, từ khóa VI đến nay
Trong các Nghị quyết chuyên đề, trước hết phải kể đến Nghị quyết số NQ/TW ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác TG trong tình hình mới Tại Nghị quyết này, nhiều quan điểm về TG và chỉ đạo công tác TG của Đảng lần đầu tiên được đưa ra với nhiều nội dung đổi mới và mang tính “đột phá”
24-Đó là các quan điểm: TG là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và là vấn
đề còn tồn tại lâu dài; đạo đức TG có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng
xã hội mới, nội dung cốt lõi của công tác TG là công tác vận động quần chúng và kiên quyết đấu tranh chống các thế lực phản động và lợi dụng TG chống phá cách mạng
Trang 17Như vậy có thể thấy, quan điểm của Đảng về TG và công tác TG đã chuyển từ nhận thức TG là chính trị, là nhạy cảm, tiêu cực, là địch lợi dụng TG sang TG là nhu cầu của nhân dân, là lực lượng quần chúng của Đảng và TG có những giá trị tích cực Nhận thức của Đảng về TG như vậy là khách quan và toàn diện hơn so với trước đây
Đến Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12-3-2003 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác TG, Đảng ta một lần nữa lại thể hiện sự khẳng định nhất quán cao độ với quan điểm: hoạt động TG và công tác TG phải nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các TG trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Nghị quyết số 25-NQ/TW còn đi sâu, nhấn mạnh 5 quan điểm chính sách đối với TG, đó là:
- Tín ngưỡng, TG là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đồng bào các TG là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
- Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc
- Nội dung cốt lõi của công tác TG là công tác vận động quần chúng
- Công tác TG là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị
- Vấn đề theo đạo và truyền đạo
Các quan điểm trên đòi hỏi công tác TG phải luôn quán triệt từ nhận thức đến thực tiễn Đó cũng là cơ sở trực tiếp để Đảng, Nhà nước tiếp tục đề ra chủ trương, chính sách cụ thể đối với TG nói chung và đối với các hình thức TG cụ thể nói riêng
Có thể thấy từ những văn kiện Đại hội Đảng các khóa, Đảng ta đã đưa ra các quan điểm nhận thức về TG và định hướng chính sách, pháp luật đối với TG mang tầm chiến lược
Đại hội lần thứ VI của Đảng đã mở ra thời kỳ đổi mới đất nước, trong đó vấn
đề TG và công tác TG được Đảng khẳng định trên một số quan điểm định hướng có
ý nghĩa căn cốt đối với chính sách, pháp luật về TG Đó là: Lãnh đạo và giúp đỡ
Trang 18đồng bào theo TG đoàn kết xây dựng cuộc sống mới và hăng hái tham gia bảo vệ
Tổ quốc Cảnh giác, kiên quyết và kịp thời chống lại âm mưu, thủ đoạn của bọn đế quốc và phản động chia rẽ đồng bào có đạo với đồng bào không có đạo, giữa đồng bào theo đạo này với đồng bào theo đạo khác
Trên cơ sở đó, đến các Đại hội Đảng VII, VIII, IX, X, XI và XII, các quan điểm định hướng của Đại hội VI tiếp tục được Đảng ta khẳng định với sự mở rộng, làm sâu sắc hơn và đặc biệt là đã nhấn mạnh tới quan điểm “phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức của các TG và đại đoàn kết toàn dân tộc”
Về nội dung này, Đại hội lần thứ XII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, TG, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các TG Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức TG sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức TG đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, TG để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, TG trái quy định của pháp luật” [46, tr 165]
Chính sách đối với TG của Đảng và Nhà nước ta một mặt được xây dựng dựa trên quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vể vấn
đề tín ngưỡng, TG; mặt khác, căn cứ vào tình hình quốc tế, đặc điểm tín ngưỡng,
TG ở Việt Nam và nhu cầu của cách mạng trong từng thời kỳ lịch sử Tuy nhiên, tư
tưởng nhất quán xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín
ngưỡng của nhân dân, đoàn kết TG, hoà hợp dân tộc Mặt khác, mọi người - kể cả
có hay không có tín ngưỡng cũng như có tín ngưỡng, TG khác nhau - cần đề cao
cảnh giác chống mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng TG chống phá cách mạng
Chính sách đối với hoạt động TG là hệ thống những quan điểm, chủ trương về nguyên tắc cho những hoạt động của các TG như: Các TG của Việt Nam được hoạt động tự do trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam; mọi công dân của Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước Việt Nam xử lý bằng pháp luật đối với bất cứ công dân Việt Nam nào vi phạm pháp luật, không phân biệt TG nào
Trang 19Thể chế hóa quan điểm, chính sách đối với TG của Đảng, năm 2004, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, TG và sau đó, Chính phủ
ra Nghị định số 22/2005/NĐ-CP, sau đó thay thế bằng Nghị định số
92/2012/NĐ-CP ngày 08-11-2012 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo Tiếp đó, đến ngày 18-11-2016, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XIV, kỳ họp thứ 2, đã thông qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo Luật này đã quy định những nội dung cụ thể của chính sách đối với tín ngưỡng, TG tại Hiến pháp năm 2013 và đồng thời làm cơ sở trực tiếp cho công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, TG
1.2.2 Quan điểm, chủ trương, chính sách của tỉnh An Giang về TG
Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành những văn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện chính sách pháp luật về tín ngưỡng, TG như: Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác tôn giáo; Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; Nghị định số 92/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định số 162/2017/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/12/2017 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo…
Trên cơ sở đó, UBND tỉnh An Giang đã xây dựng và ban hành các văn bản nhằm thể chế hóa và hướng dẫn thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo như Quyết định số 43/2006/QĐ-UBND ngày 13/11/2006 quy định thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong thực hiện quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; Quyết định số 06/2013/QĐ-UBND ngày 18/3/2013 về việc ban hành quy định thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong thực hiện quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh; Kế hoạch số 196/KH-UBND ngày 11/4/2017 của UBND tỉnh về việc triển khai thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo
Song song với việc ban hành các văn bản chỉ đạo, Ban Tôn giáo - Sở Nội vụ tỉnh An Giang và chính quyền các địa phương thường xuyên tổ chức các khóa tập huấn, tuyên truyền phổ biến pháp luật về tín ngưỡng, TG với nhiều hoạt động đa dạng (lồng ghép với các buổi báo cáo tại các lớp bồi dưỡng giáo lý do các tổ chức
TG, các cuộc họp, hội nghị thường niên của các tổ chức TG…) Việc phổ biến pháp
Trang 20luật về tín ngưỡng, TG đã nâng cao nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật của chức sắc, chức việc, tín đồ các TG; tạo sự đồng thuận, niềm tin của chức sắc, chức việc, tín đồ các TG vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Để thực hiện có hiệu quả công tác TG của tỉnh, Ban Tôn giáo - Sở Nội vụ tỉnh
An Giang đã tích cực, chủ động tham mưu và thực hiện kết luận của Ban Chỉ đạo công tác TG tỉnh đối với những vấn đề nổi cộm, nảy sinh liên quan đến tín ngưỡng,
TG trên địa bàn thông qua các phiên họp định kỳ hoặc đột xuất
Các ngành liên quan và Ban Tôn giáo - Sở Nội vụ tỉnh An Giang đã có sự phối hợp chặt chẽ trong việc xem xét cho phép thành lập cơ sở TG, tổ chức TG cơ sở trên địa bàn tỉnh Phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, chính quyền cấp huyện thu hồi, giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các cơ sở TG… Phối hợp với Sở Ngoại vụ và các địa phương về các đoàn công tác của Đại sứ quán, Tổng lãnh sự các nước… đến thăm và làm việc tại AG Trong đó có, Lãnh sự quán Mỹ, Đại sứ quán Pháp, Đài phát thanh BBC, các đoàn sinh viên Mỹ, đoàn phóng viên của các nước In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a… đến tìm hiểu và nghiên cứu
về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của một số tôn giáo, trong đó có Phật giáo Hòa Hảo
Đối với người nước ngoài sinh hoạt TG tại AG, tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài sinh hoạt tín ngưỡng, TG theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam Đây là vấn đề hết sức nhạy cảm, dễ bị các thế lực chống phá lợi dụng để xuyên tạc, vu cáo Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, các ngành chức năng của tỉnh và chính quyền địa phương đã chủ động tạo điều kiện mở rộng đối ngoại TG trên nguyên tắc tôn trọng, phù hợp với pháp luật mỗi bên và thông lệ quốc tế
UBND tỉnh cũng tạo điều kiện cho các chức sắc, chức việc, tín đồ Hồi giáo Islam đi hành hương Mecca theo nguồn tài trợ hằng năm của Tổng lãnh sự quán các nước Hồi giáo…
Với sự nỗ lực, cố gắng của Ban Tôn giáo - Sở Nội vụ tỉnh An Giang và chính quyền các cấp, tình hình hoạt động của các tổ chức TG trên địa bàn những năm gần đây khá ổn định Hằng năm các tổ chức TG đều đăng ký sinh hoạt, lễ hội TG với
Trang 21chính quyền địa phương; các thủ tục liên quan đến thành lập, chia tách, sáp nhập các tổ chức TG đều được chính quyền các cấp tạo điều kiện thuận lợi
Là địa phương có đông chức sắc, nhà tu hành nên UBND tỉnh đã chủ động ban hành các quy định hướng dẫn hoạt động phong phẩm, phong chức, bầu cử, suy cử, cách chức, bãi nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, nhà tu hành, vì vậy, việc quản lý khá thuận lợi, được các TG ủng hộ Tính từ năm 2015 đến nay, chính quyền các cấp trong tỉnh đã tạo điều kiện cho việc thuyên chuyển công tác cho chức sắc trên địa bàn gần
300 trường hợp, chấp thuận việc phong phẩm, bổ nhiệm gần 400 trường hợp
Tỉnh cũng tạo điều kiện cho các tổ chức TG mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng những người chuyên hoạt động TG, bao gồm: thuyết giảng đạo, bồi dưỡng giáo lý căn bản, lớp đạo sự hành chính, bồi dưỡng trụ trì… cho các chức sắc, chức việc UBND tỉnh cũng tạo điều kiện cho các TG cử các tu sỹ, tăng, ni trẻ tham dự các khóa đào tạo TG tại các trường của các tổ chức TG như: Học viện Phật giáo, Viện Thánh kinh Thần học, Đại Chủng viện…, kể cả đi đào tạo ở nước ngoài thông qua con đường nhận tài trợ để nâng cao trình độ
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số hạn chế như sau:
- Việc quy định về phân cấp thẩm quyền chưa gắn với trách nhiệm và các chế tài xử lý Chẳng hạn, cấp phép xây mới, cải tạo lại, nâng cấp các công trình kiến trúc tín ngưỡng, TG vẫn chưa phân cấp cho Sở Xây dựng và UBND cấp huyện; công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh; quản lý công trình kiến trúc TG được công nhận di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh chưa phân cấp cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch… Quy định về phân cấp thẩm quyền chưa gắn với trách nhiệm và các chế tài xử lý vì hiện nay không có chế tài xử phạt hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, TG
- Việc áp dụng pháp luật trong quản lý hoạt động TG của cơ quan có thẩm quyền chưa thống nhất Tình trạng xây dựng cơ sở thờ tự không xin cấp phép vẫn diễn ra, chưa có biện pháp chế tài, chỉ lập biên bản Một số tu sĩ đi nước ngoài với
lý do du lịch, thăm thân nhân, chữa bệnh… nhưng thực chất là hoạt động TG, hiện chưa được kiểm soát chặt chẽ
1.3 Bối cảnh và điều kiện ra đời của Phật giáo Hòa Hảo
Trang 22Về vị trí địa lý: Là nơi giáp biên giới Việt Nam - Campuchia, làng Hoà Hảo
là một địa danh mới được hình thành từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Từ xa
xưa, nơi đây cùng với vùng núi Thất Sơn hợp thành "Châu Đốc Tân Cương" được
coi là nơi biên viễn xa xôi hiểm trở của miền Tây Nam Bộ Làng Hoà Hảo - nơi sinh ra và là trung tâm Phật giáo Hoà Hảo thuộc quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc trước đây, ngày nay thuộc huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
Về kinh tế: Đầu những năm 1930, bắt nguồn từ chính sách “đại khai thác”
của thực dân Pháp sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Việt Nam bước vào cuộc khủng hoảng kinh tế nặng nề và kéo dài, cuộc sống nhân dân đói khổ cùng cực Nam bộ, nhất là đồng bằng sông Cửu Long là trọng điểm cho chúng vơ vét, bóc lột nhân dân đến mức kiệt quệ; thiên tai, dịch bệnh, nạn đói hoành hành… càng làm tăng thêm nỗi thống khổ của nhân dân lao động Làng Hòa Hỏa cũng trong tình trạng chung đó, song có lẽ là vùng xa xôi nên ở đây không bị ảnh hưởng quá nặng nề Như nhiều vùng khác của miền Tây Nam bộ, làng Hòa Hảo vốn là một làng thuần nông Tuy nhiên, do đất chật, người đông, ở đây dần hình thành một vùng dân cư sầm uất
Về chính trị - xã hội: Trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, Pháp - Nhật
tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau ở Việt Nam, làm cho tình hình nước Việt Nam thuộc địa vốn đã căng thẳng lại càng căng thẳng thêm Trong khi đó, Nhà nước phong kiến Việt Nam và hệ tư tưởng của nó đang suy tàn, thì sự phản động của Nhà nước bảo hộ và bản chất kẻ xâm lược ngày càng lộ rõ Hệ tư tưởng tư sản đã
tỏ ra bất lực, một số trí thức yêu nước vốn là học trò cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu cũng thực sự tỏ ra bế tắc về đường lối Niềm hy vọng và chỗ dựa vững chắc của nhân dân lao động lúc bấy giờ là Đảng Cộng sản Song, vào thời kỳ này thực dân Pháp và triều đình Huế tích cực đàn áp nên các hoạt động bị hạn chế, phong trào yêu nước tạm thời đi vào thoái trào
Trong hoàn cảnh đó, mâu thuẫn giữa nhân dân ta với thực dân phong kiến tay sai càng trở nên sâu sắc Khi các phong trào cách mạng bị đàn áp và chịu tổn thất nặng nề thì một bộ phận quần chúng, trong đó phần lớn là nông dân mất
Trang 23phương hướng, khủng hoảng niềm tin, cộng thêm trình độ dân trí thấp kém, đời sống cùng cực, quần chúng đã tìm đến tín ngưỡng, tôn giáo, cầu mong có được chỗ dựa tinh thần Trong bối cảnh khủng hoảng đó quần chúng nảy sinh nhu cầu khao khát tìm cho mình một chỗ dựa tinh thần Vì vậy, khi ông Huỳnh Phú Sổ đứng ra khai đạo thì những người nông dân vốn thuần phác nơi miền Tây Nam bộ
xa xôi đã nhanh chóng tìm đến, tự nguyện làm tín đồ
Về tiền đề tư tưởng: Sự suy thoái của các tín ngưỡng, tôn giáo đương thời ở
Nam bộ Trước hết là sự suy vi của Phật giáo Bắc tông truyền thống kéo dài từ mấy thế kỷ trước nhưng đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX càng thêm trầm trọng; thứ đến là Nho giáo - chỗ dựa của chế độ phong kiến tỏ ra không thích hợp với thay đổi về kinh tế, văn hoá, xã hội của Nam bộ Còn các tôn giáo khác mới du nhập như Công giáo và Tin lành cũng không phát triển được vì một mặt gắn với
thực dân đế quốc, mặt khác nó khác lạ về văn hoá, lối sống
Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, đặc biệt là sự mở rộng và củng cố lãnh thổ phía nam Tổ quốc, các tộc người Chăm, Hoa, Khơme đã cùng người Việt khai hoang lập ấp Chính trong quá trình chung sống và hợp tác của các tộc người này
đã sớm hình thành mối quan hệ gắn bó trong các lĩnh vực khác nhau, hình thành những nét đặc trưng văn hoá của một vùng vừa phong phú về nội dung vừa đa dạng về hình thức Đây còn là nơi có nhiều tôn giáo: Hồi giáo, Công giáo, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài; sự du nhập các yếu tố văn hoá bên ngoài làm nảy sinh quá trình hỗn dung văn hoá (những tôn giáo mang sắc thái địa phương có tính hỗn hợp bởi giáo lý được lấy từ nhiều tôn giáo khác nhau) Trong bối cảnh như vậy, những yếu tố thiên nhiên đa dạng, phức tạp, trình độ dân trí có hạn được giải thích một cách huyền bí cũng là nguyên nhân dẫn đến việc xuất hiện nhiều đạo mang tính cứu thế suốt thế kỷ XIX và rộ lên vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với hai địa điểm là miền Thất Sơn và núi Bà Đen (đạo Nằm, đạo Ngồi, đạo Chuối, đạo Dừa, Bửu sơn kỳ hương, Tứ ân hiếu nghĩa…), những đạo này đã
có ảnh hưởng nhất định đến sự xuất hiện hai tôn giáo bản địa là đạo Cao Đài và Phật giáo Hoà Hảo
Trang 24Những năm 30 của thế kỷ XX Ở Việt Nam xuất hiện “phong trào chấn
hưng Phật giáo” Cuộc vận động chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX không phải
chỉ có mục tiêu là chấn chỉnh tổ chức, chấn chỉnh tín ngưỡng Phật giáo, làm cho
nó thích hợp với xã hội đương thời, mà còn để nâng cao nhận thức đối với giáo lý, nâng cao tư duy lý luận của Phật tử, nâng cao sự hiểu biết của con người lúc bấy giờ đối với Phật giáo.Thông qua phong trào này, Phật giáo Việt Nam có sự phát triển mới về nội dung và mục đích hành đạo
Kết quả của Phong trào Chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX là một tiến bộ lớn trong lịch sử tư tưởng Phật giáo Việt Nam Có ý nghĩa mở đường cho Phật giáo canh tân, ảnh hưởng đến tư tưởng của các "Ông Đạo" ở Nam bộ, tạo điều kiện cho các phái Phật giáo biến dạng ra đời Ông Đoàn Minh Huyên (1807-1856), người sáng lập ra Bửu Sơn Kỳ Hương đã có ảnh hưởng to lớn đến người sáng lập cũng như đến toàn bộ nội dung của Phật giáo Hoà Hảo
1.4 Các bước tổ chức thực hiện chính sách TG
Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
Việc xây dựng kế hoạch triển khai thực thi CSTG là bước đầu tiên và rất quan trọng, quyết định rất nhiều tới hiệu quả triển khai chính sách Việc xây dựng kế hoạch nếu chi tiết, chặt chẽ thì việc triển khai mới thuận lợi và đạt hiệu quả cao Trong bản kế hoạch triển khai thực thi CSTG phải có đầy đủ tên các cơ quan chủ trì
và phối hợp ở các cấp; nguồn kinh phí, trang thiết bị phục vụ cho việc thực thi CSTG; Thời gian, lộ trình thực hiện đối với từng CSTG cụ thể, các mốc thời gian thực hiện chính sách đều được xây dựng căn cứ trên văn bản của Trung ương và địa phương; các cơ quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát
Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách
Sau khi kế hoạch được phê duyệt thì các tổ chức và cá nhân được giao nhiệm
vụ phải tiến hành phổ biến, tuyên truyền CSTG tốt giúp cho người tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách Công tác tuyên truyền phổ biến không chỉ giúp cho người thực thi nắm rõ để thực hiện công tác TG mà còn giúp cho các đồng bào TG nắm và tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước
Công tác tuyên truyền, vận động thực thi CSTG cần được thực hiện thường
Trang 25xuyên, liên tục, kể cả khi chính sách đang được thi hành, để mọi đối tượng tuyên
truyền luôn đặt lòng tin vào chính sách và tích cực thực thi chính sách
Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách
Chính sách về TG rất phong phú và đa dạng, liên quan trực tiếp và gián tiếp tới nhiều đối tượng và đơn vị từ Trung ương đến cấp tỉnh, thành phố và các huyện, thị, xã, phường… Chính vì vậy để việc thực thi CSTG đạt hiệu quả thì nhất định phải có sự phân công cơ quan chủ trì và các cơ quan phối hợp thực hiện
Bước 4: Theo dõi, kiểm tra và đôn đốc thực hiện chính sách
Theo dõi, kiểm tra và đôn đốc thực hiện CSTG giúp cho nhà quản lý nắm chắc được tình hình thực thi chính sách, từ đó đánh giá khách quan những điểm mạnh, điểm yếu của công tác tổ chức thực thi chính sách Ngoài ra việc theo dõi, kiểm tra đôn đốc thực hiện chính sách còn giúp các đối tượng thực thi chính sách biết được những hạn chế của mình để điều chỉnh bổ sung, hoàn thiện chính sách, vừa chấn chỉnh công tác tổ chức thực thi chính sách
Bước 5: Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm thực hiện chính sách
Đánh giá, tổng kết trong bước tổ chức thực thi chính sách được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo - điều hành và chấp hành CSTG của các đối tượng thực thi chính sách
Đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi CSTG là các cơ quan nhà nước Ngoài ra, còn xem xét cả vai trò, chức năng của các
tổ chức chính trị - xã hội trong việc tham gia thực thi CSTG Đồng thời còn phải xem xét, đánh giá việc thực thi CSTG của chính đối tượng hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách
1.5 Sự cần thiết phải tăng cường thực hiện chính sách TG
Như chúng ta đã biết, Việt Nam là đất nước có nhiều TG và ngày càng phát triển về số lượng Do tính đa dạng của các TG, tín ngưỡng nên đồng bào có đạo cũng rất đa dạng về niềm tin và sinh hoạt TG Để giúp cho đồng bào các TG được
tự do sinh hoạt tín ngưỡng theo đúng quy định của pháp luật đồng thời phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản và quy định nhằm thực hiện nhất quán chính sách về TG
Trang 26Tăng cường thực hiện tốt CSTG chính là chăm lo nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho quần chúng có đạo, tạo điều kiện cho họ được tham gia sinh hoạt
TG bình thường theo đúng pháp luật
Như chúng ta cũng biết, nhiều TG có nguồn gốc từ nước ngoài đã du nhập vào Việt Nam nên đồng bào các TG có mối quan hệ rất rộng rãi, không chỉ trong phạm
vi địa phương, Quốc gia mà còn có cả quan hệ quốc tế, chịu sự chi phối không chỉ của pháp luật Việt Nam mà còn chịu sự chi phối về giáo luật, giáo hội có tính quốc
tế, có những giáo luật và sinh hoạt TG khác biệt với đời sống thế tục nói chung của Nhà nước Việt Nam Do đó tăng cường thực hiện tốt chính sách về TG sẽ giúp cho đồng bào các TG luôn đảm bảo quyền tự do sinh hoạt tín ngưỡng theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam
Đặc biệt là nhiều vấn đề TG, dân tộc, sắc tộc luôn được các thế lực thù địch lợi dụng để kích động một số ít phần tử xấu, cuồng tín, lạc hậu trong các TG làm đơn tố cáo, xuyên tạc CSTG của Đảng, Nhà nước ta nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
Do đó tăng cường thực hiện CSTG sẽ góp phần giải quyết thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, TG chính đáng của quần chúng, làm cho đồng bào có đạo yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng TG của các thế lực thù địch để họ cảnh giác và đấu tranh chống lại chúng bảo vệ quyền
tự do tín ngưỡng chính đáng của mình, bảo vệ an ninh của Tổ quốc
Ngoài ra, thực tiễn cũng đã cho thấy những vụ việc va chạm, khúc mắc giữa tổ chức TG, chức sắc và tín đồ với chính quyền còn nảy sinh ở các địa phương Do vậy, điều quan trọng nhất hiện nay là khâu thực hiện chính sách, đây là lĩnh vực thuộc trách nhiệm của Chính phủ, các Bộ, các cấp chính quyền địa phương Khâu thực hiện chính sách bao hàm việc ban hành các văn bản pháp quy dưới luật (như nghị định của Chính phủ, Chỉ thị, quyết định của Thủ tướng; thông tư của Bộ, các văn bản pháp quy khác của chính quyền địa phương) và các hành vi thực tế của công chức và cơ quan hành chính, các tổ chức và cá nhân công dân liên quan tới tín ngưỡng, TG Những văn bản pháp lý của Chính phủ, Thủ tướng, Bộ Nội vụ được ban hành trong những năm gần đây để thực hiện CSTG đã tạo hành lang pháp lý và
Trang 27chỉ dẫn cần thiết cho các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương trong đối xử với các
tổ chức TG, các chức sắc và tín đồ TG ở địa phương
Chính vì vậy việc tăng cường xây dựng và thực hiện các chính sách về TG có
ý nghĩa quan trọng, không chỉ giúp cho công tác quản lý các hoạt động tín ngưỡng
TG đạt hiệu quả mà nó còn tạo môi trường sinh hoạt TG lành mạnh, giúp cho đồng bào các TG nắm vững những quy định của pháp luật để sống tốt đời, đẹp đạo
Tiểu Kết Chương
Từ trước tới nay, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định xây dựng và thực hiện các CSTG đối với đồng bào các TG là một trong những mục tiêu và nhiệm vụ quan trọng, góp phần nâng cao dân trí và đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các
TG trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến các TG, tuy nhiên, việc nghiên cứu về vấn đề thực hiện CSTG đối với đồng bào các TG nói chung và đồng bào TG PGHH nói riêng vẫn còn là một vấn đề mới cần thiết và có giá trị thực tiễn cao
Việc đánh giá kết quả thực hiện CSTG sẽ thiếu cơ sở nếu như không có nền tảng lý luận Do đó luận văn đã hệ thống hóa lại các khái niệm công cụ có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: TG, CSTG, công tác quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh
AG Đặc biệt luận văn đã hệ thống lại các văn bản liên quan đến việc thực hiện CSTG đối với PGHH Đây được coi là nền tảng lý luận vững chắc và là cơ sở để tác giả luận văn dựa vào đó đánh giá thực trạng thực hiện CSTG đối với PGHH trên địa bàn tỉnh AG ở các chương sau
Trang 28Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI VỚI
PHẬT GIÁO HÒA HẢO Ở TỈNH AN GIANG
2.1 Khái quát về PGHH
2.1.1 Đặc điểm tình hình địa phương
AG là tỉnh nông nghiệp với diện tích tự nhiên trên 3.536 km2, trong đó, có hơn 80% diện tích đất sản xuất nông nghiệp và hơn 65% dân số là lao động nông thôn; dân số trên 2,16 triệu người (đứng thứ 06 trên cả nước và đứng đầu đồng bằng Sông Cửu Long), với 04 dân tộc chủ yếu là Kinh, Hoa, Khmer và Chăm cùng sinh sống lâu đời Tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính, gồm 02 thành phố, 01 thị xã và 08 huyện, với 156 xã, phường, thị trấn (trong đó có 18 xã, thị trấn biên giới) Do có gần 100 km đường biên giới giáp 02 tỉnh Kandal và Tàkeo (Vương quốc Campuchia) nên AG có vị trí chiến lược về quốc phòng - an ninh ở biên giới Tây Nam và là 01 trong 04 tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Toàn tỉnh có 11 tổ chức TG được Nhà nước công nhận1, với 1.290 chức sắc, 3.359 chức việc và có khoảng 02 triệu tín đồ (chiếm trên 90% dân số toàn tỉnh); có
507 cơ sở thờ tự hợp pháp; ngoài ra, còn có một số cơ sở thờ tự có nguồn gốc TG chưa được Nhà nước công nhận và trên 300 cơ sở tín ngưỡng dân gian Tỉnh có các trung tâm TG, như: Văn phòng Ban Trị sự Trung ương Giáo hội PGHH, trụ sở Tòa Giám mục Giáo phận Long Xuyên, Văn phòng trung ương Đạo hội Tứ ân Hiếu nghĩa
Những năm qua, trên lĩnh vực an ninh chính trị, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, triệt để lợi dụng các vấn đề TG, dân tộc, dân chủ, nhân quyền để chống phá; tăng cường các hoạt động tuyên truyền, phá
1 (1) Phật giáo Hòa Hảo 1.005.275 tín đồ chiếm 47% dân số của tỉnh; (2) Phật giáo Việt Nam (Bắc Tông, Nam Tông Khmer và Khất sĩ) 814.662 tín đồ; Cao Đài (Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài Ban Chỉnh đạo, Cao Đài Chơn Lý, Cao Đài Tiên Thiên) 84.354 tín đồ; (4) Công giáo 68.231 tín đồ; (5) Tin Lành (Hội thánh Tin Lành Việt Nam – Miền Nam, Giáo hội Báp – tít Việt Nam) 2.683 tín đồ; (6) Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô Việt Nam 45 tín đồ; Tịnh Độ Cư Sĩ 1.777 tín đồ; (8) Tứ ân Hiếu nghĩa 4.979 tín đồ; (9) Bửu Sơn Kỳ Hương 2.100 tín đồ; (10) Hồi giáo 14.379 tín đồ; (11) Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn 500 tín đồ
Trang 29hoại về tư tưởng, âm mưu liên kết trong ngoài để phối hợp hoạt động
Trong TG, các phần tử phản động lợi dụng TG vừa ngấm ngầm hoạt động, vừa công khai lợi dụng những tiêu cực của đời sống xã hội để tuyên truyền, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc
Trước tình hình trên, Tỉnh ủy đã lãnh đạo các lực lượng vũ trang và các ban, ngành, đoàn thể thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng an ninh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh do vậy hoạt động của các phần tử phản động có chiều hướng giảm rõ rệt
tử của Phật thầy Tây An có nhiều người nổi tiếng như Quản cơ Trần Văn Thành, Chài Lịch, Cử Đa, Đình Tây, Đạo Ót, Đạo Đèn, Sư Vải Bán Khoai và đặc biệt là ông Ngô Lợi (1831 - 1890) còn gọi là Ngô Viện - người đã tiếp nối tư tưởng của Phật Thầy Tây An hình thành môn phái Tứ ân Hiếu nghĩa, làm cơ sở trực tiếp của việc ra đời của PGHH
Người sáng lập ra PGHH là ông Huỳnh Phú Sổ sinh ngày 15 tháng 1 năm
1920 (tức ngày 25 tháng 11 năm Kỷ Mùi) trong một gia đình khá giả ở làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là xã Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh AG),
là con thứ ba trong gia đình nhưng là trưởng nam của ông Huỳnh Công Bộ (Hương Cả Bộ) và bà Lê Thị Nhậm
Sau khi tốt nghiệp tiểu học ông phải bỏ học vì mắc nhiều bệnh Quá trình lên núi chữa bệnh cũng là thời kỳ ông bắt đầu học đạo, học làm thuốc Có thể nói đây
là bước ngoặt trong cuộc đời ông Năm 1939, sau 5-6 năm ở vùng Thất Sơn chữa bệnh, ông về quê vừa bốc thuốc vừa tuyên truyền tư tưởng cốt lõi của đạo Đoàn
Trang 30Minh Huyên (Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương) là "Tứ Ân Hiếu Nghĩa" Ông tự nhận là người được Đức Di đà phái xuống trần để truyền dạy những tư tưởng của Đức Phật Ngày 18/5 năm Kỷ Mão (1939), ông Huỳnh Phú Sổ tổ chức lễ Cáo Hoàng Thiên, thành lập TG Phật giáo Hoà Hảo hay đạo Hoà Hảo Ông Huỳnh Phú Sổ được tín đồ tôn làm Giáo chủ (Đức Huỳnh Giáo chủ hay Đức Thầy)
Phật giáo Hoà Hảo ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt: chế độ phong kiến suy tàn, nhân dân lầm than cực khổ, mảnh đất mà những người dân tha phương khai phá gây dựng nên đang bị thực dân Pháp xâm lược Phật giáo Hoà Hảo chính là một
"phương thuốc" cứu thế của một bộ phận nông dân Nam Bộ
Từ ngày thành lập đạo (1939) đến năm 1947 là thời kỳ "hoàng kim" của Phật giáo Hoà Hảo với tư cách là một TG Ông Huỳnh Phú Sổ trở thành Đức Phật hoá kiếp, là Phật sống vì những việc làm và lời lẽ "siêu phàm" Chính trong khoảng thời gian ngắn này, Huỳnh Phú Sổ đã cho ra đời 6 tác phẩm trong "Sấm giảng giáo lý"
Bối cảnh xã hội phức tạp của không khí chiến tranh thế giới lần thứ hai đã ảnh hưởng đến cá nhân ông Huỳnh Phú Sổ và ảnh hưởng đến sự phát triển của Phật giáo Hoà Hảo Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của Phật giáo Hoà Hảo: giáo lý tiếp tục được hoàn chỉnh; nghi lễ TG được hình thành và ổn định, đặc biệt
là việc phát triển số lượng tín đồ Theo tư liệu hiện có thì thời kỳ này (năm 1947),
số người được gọi là tín đồ Phật giáo Hoà Hảo tham gia đóng niên liễm là 2,1 triệu người Nguyên nhân cơ bản là do nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, họ ngưỡng
mộ giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, tự nguyện theo đạo để thoả mãn nhu cầu tinh thần; chính vì vậy, đức tin bền vững hơn
Từ năm 1947 Phật giáo Hoà Hảo chuyển sang một thời kỳ mới - thời kỳ phát triển có tổ chức hành chính đạo nhưng cũng là thời kỳ TG dần dần bị suy giảm, biến dạng Tháng 11-1964, Ban Trị sự Phật giáo Hoà Hảo nhiệm kỳ I chính thức hoạt động Sau 25 năm, từ khi ra đời, đây là mốc mở đầu cho thời kỳ Phật giáo Hoà Hảo có tổ chức hành chính đạo, nhưng đồng thời cũng là tiền đề gây ra sự bất đồng và suy thoái trong nội bộ giáo hội Phật giáo Hoà Hảo chia ra 2 hệ phái riêng biệt, một hệ phái do Lương Trọng Tường đứng đầu (đây là hệ phái duy nhất của Phật giáo Hoà Hảo có tổ chức quân sự Trong suốt quá trình tồn tại, hệ phái này
Trang 31được đánh giá là có quan hệ mật thiết với chính quyền Nguỵ và Đế quốc Mỹ); một
hệ phái khác do Nguyễn Duy Hinh - Huỳnh Văn Nhiệm đứng đầu (phái này có ảnh hưởng lớn trong tín đồ Phật giáo Hoà Hảo miền Tây, tín đồ sinh hoạt TG thuần tuý, đối với các hoạt động chính trị chủ trương ôn hoà) Năm 1972 xuất hiện
hệ phái thứ 3 do Lê Quang Liêm làm hội trưởng (Lê Quang Liêm nguyên là cố vấn kiêm giám đốc trung tâm phổ thông giáo lý của hệ phái Lương Trọng Tường,
do mâu thuẫn nội bộ nên đã tách ra thành lập giáo hội mới, Lê Quang Liêm vốn không phải là tín đồ thuần tuý mà là người từng hoạt động chính trị, từng phục vụ cho cả Pháp và Mỹ, tham gia bộ máy nguỵ quyền Sài Gòn)
Sau ngày giải phóng miền Nam (1975), do nhiều nguyên nhân, PGHH không được phép hoạt động (chủ yếu tu tại gia) Trong môi trường xã hội của chế độ mới, sự đạo của Phật giáo Hoà Hảo vẫn duy trì bình thường.Về đức tin, trong ý thức đông đảo tín đồ vẫn tồn tại biểu trưng của Phật giáo Hoà Hảo, hầu hết các gia đình Phật giáo Hoà Hảo đều xác nhận họ tôn thờ Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ, con người này được coi là cội nguồn của đức tin; nhu cầu TG không suy giảm; có biểu hiện thế tục hoá trong đời sống đạo Sự đạo của Phật giáo Hoà Hảo đang trở về với giáo lý nguyên thuỷ
Thể theo yêu cầu và nguyện vọng của đông đảo tín đồ Phật giáo Hoà Hảo, Đảng và Nhà nước đã chấp thuận cho Phật giáo Hoà Hảo tiến hành Đại hội đại biểu toàn đạo lần thứ nhất vào tháng 5/1999, bầu chọn ra Ban Đại diện Đại hội đại biểu toàn đạo lần thứ II tháng 6/2004, đã xây dựng Hiến chương, tiếp tục khẳng định đường hướng hành đạo của Phật giáo Hoà Hảo trong giai đoạn mới là:
"Vì đạo pháp, vì dân tộc"; kiện toàn tổ chức, bao bồm Ban Trị sự 2 cấp: cấp toàn
đạo và cấp cơ sở Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hoà Hảo - tổ chức đại diện hợp pháp duy nhất của đồng bào theo Phật giáo Hoà Hảo Trải qua 5 nhiệm kỳ hoạt động, Phật giáo Hoà Hảo đã từng bước lớn mạnh và trở thành tổ chức giáo hội
2 cấp gồm có 01 Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hoà Hảo và 379 Ban Trị sự xã, phường, thị trấn (cấp cơ sở), cùng 13 Ban Đại diện tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Đến nay Phật giáo Hoà Hảo có hơn 1,3 triệu tín đồ, sinh sống ở 20 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mà chủ yếu là ở 09 tỉnh miền Tây Nam bộ là:
Trang 32AG, Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre, Hậu Giang, Tiền Giang, Long An
và Kiên Giang
Kể từ khi được công nhận tổ chức đến nay Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hoà Hảo đã từng bước củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các Tiểu ban chuyên môn cũng như các hoạt động đạo sự Hàng năm, các ngày lễ trọng (ngày khai sáng đạo 18/5 âm lịch và ngày Đản sinh Đức Huỳnh Giáo chủ 25/11 âm lịch) của đạo được Ban Trị sự Trung ương Giáo hội PGHH tổ chức khá trang trọng có khoảng từ hàng trăm nghìn lượt người về tham dự, tình hình an ninh trật tự trước,` trong thời gian diễn ra lễ được đảm bảo Đặc biệt Phật giáo Hoà Hảo đã vận động đông đảo tín đồ tự nguyện tham gia có hiệu quả cao trong công tác hoạt động từ thiện - xã hội như: xây mới và sửa chữa cầu nông thôn; sửa chữa và nâng cấp đường bộ; sửa chữa và xây dựng nhà tình thương; quyên góp gạo, tiền để tổ chức cứu trợ cho các vùng bị lũ lụt; ngoài ra còn cấp thuốc Đông Nam y miễn phí và tham gia hỗ trợ cho những bệnh nhân nghèo đi khám, điều trị bệnh (mỗi năm quy ra tiền hơn 50 tỷ đồng)… Bên cạnh đó, bà con tín đồ cũng đã nêu cao trách nhiệm công dân sống và hoạt động theo luật pháp, kịp thời đấu tranh với những hoạt động gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, đoàn kết TG; góp phần giữ
vững ổn định chính trị, xây dựng cuộc sống mới theo định hướng: dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
2.2 Thực trạng thực hiện chính sách TG đối với PGHH ở An Giang hiện nay
2.2.1 Quá trình thực hiện chính sách TG đối với PGHH
* Về xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
PGHH là TG nội sinh, được sáng lập năm 1939, lợi dụng lực lượng tín đồ đông đảo và sự ảnh hưởng nhất định của PGHH đến đời sống của một bộ phận người dân, các thế lực thù địch đã tìm mọi cách mua chuộc, lôi kéo tín đồ hoạt động phi TG nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta Do vậy, để khẳng định chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng, TG, đưa công tác quản lý TG đi vào nề nếp, đồng thời đấu tranh loại bỏ ý đồ lợi dụng PGHH để chống phá Đảng và Nhà nước ta của những phần tử cực đoan và các thế lực thù địch, Ban Chấp hành Trung ương đã ra Thông báo số
Trang 33165-TB/TW về ý kiến của Thường vụ Bộ Chính trị về chủ trương đối với PGHH trong tình hình mới Từ khi có Thông báo số 165-TB/TW cho đến nay, tình hình hoạt động của PGHH tương đối ổn định, đại bộ phận chức việc, tín đồ đều phấn khởi, yên tâm, sống “Tốt đời, đẹp đạo”, tin tưởng vào CSTG của Đảng và Nhà nước, tích cực tham gia phong trào từ thiện - xã hội góp phần vào xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp
Ngay sau khi có chính sách từ Trung ương, tỉnh AG đã ban hành nhiều văn bản nhằm thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác thực hiện CSTG như:
- Chương trình hành động số 10-CTr/TU, ngày 16/6/2003 và Kế hoạch số KH/TU, ngày 28/10/2010 về “Công tác TG trong tình hình mới”
01 Kế hoạch số 40/KH01 UBND, ngày 25/8/2003 UBND tỉnh để thực hiện Chương trình hành động số 10-CTr/TU
- Quyết định số 43/2006/QĐ-UBND, ngày 13/11/2006 về thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong thực hiện quản lý hoạt động tín ngưỡng, TG ở địa phương
- Quyết định số 06/2013/QĐ-UBND, ngày 18/3/2013 về quy định thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong thực hiện quản lý hoạt động tín ngưỡng, TG trên địa bàn tỉnh (thay thế Quyết định số 43/2006/QĐ-UBND, ngày 13/11/2006), đồng thời, chỉ đạo quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện đến các cấp, các ngành trong tỉnh
- Ban Tôn giáo - Sở Nội vụ tỉnh AG đã triển khai thực hiện Kế hoạch số 182/KH-UBND ngày 6/8/2018, về việc thực hiện Kế hoạch số 53-KH/TU ngày 12/6/2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Chỉ thị 18-CT/TW ngày 10/01/2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác TG trong tình hình mới
- Trên tinh thần Công văn số 1306/TGCP-PCTT ngày 21/11/2018 của Ban Tôn giáo Chính phủ, Công văn số 6146/VPUBND-KGVX ngày 26/11/2018 của UBND tỉnh, về việc tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, TG và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP năm 2019 Ban Tôn giáo - Sở Nội vụ đã xây dựng kế hoạch triển khai tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, TG và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP cho chức sắc, chức việc, tín đồ TG
Trang 34- Công văn 5433/VPUBND-KGVX ngày 29/10/2019 của Văn phòng UBND tỉnh, tăng cường tuyên truyền phổ biến Luật tín ngưỡng, TG và Nghị định 162 của Chính phủ
Có thể nói, các chính sách của tỉnh AG đối với TG nói chung và đối với PGHH nói riêng đã thể hiện được một số đặc trưng như sau:
Thứ nhất, chính sách được ban hành một cách nhanh chóng, kịp thời, bám sát với tình hình thực tiễn TG nói chung tại địa phương và PGHH nói riêng
Thứ hai, nội dung của các chính sách đã tháo gỡ được những khó khăn, bất ổn trong hoạt động TG tại địa phương, góp phần giúp cho các tín đồ có định hướng đúng đắn trong sinh hoạt TG, đề cao lối sống “tốt đời đẹp đạo”
Thứ ba, các chính sách của tỉnh AG một mặt đi đúng định hướng chỉ đạo của Trung ương, mặt khác cũng có bổ sung, phát triển thêm các nội dung để phù hợp với tình hình địa phương, cũng như đặc thù TG ở AG;
Thứ tư, các CSTG của AG xứng đáng là cơ sở pháp lý và định hướng quan trọng cho các nhà quản lý, các chức việc trong quá trình tổ chức các hoạt động TG, quản lý các tín đồ
* Về phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách
Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa quan trọng của công tác tuyên truyền thực hiện CSTG đối với PGHH, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và Ban Tôn giáo luôn quan tâm đến công tác đối với PGHH Trong rất nhiều Nghị quyết của Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã đề cập đến công tác phổ biến tuyên truyền việc thực hiện chính sách, trong đó có CSTG đối với PGHH Hiện nay, hình thức tuyên truyền chủ yếu là thông qua các văn bản, hội nghị, lớp giáo lý căn bản của PGHH
Trên tinh thần Công văn số 1306/TGCP-PCTT ngày 21/11/2018 của Ban Tôn giáo Chính phủ, Công văn số 6146/VPUBND-KGVX ngày 26/11/2018 của UBND tỉnh, về việc tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP năm 2019 Ban Tôn giáo - Sở Nội vụ đã xây dựng kế hoạch triển khai tuyên truyền, phổ biến Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP cho chức sắc, chức việc, tín đồ TG Kết quả triển khai được 02 lớp, với số lượng 229 người