1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến tiên lượng nặng bệnh ho gà ở trẻ em tại bệnh viện sản nhi bắc giang (luận văn bác sĩ nội trú )

85 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Lâm Sàng, Cận Lâm Sàng Và Một Số Yếu Tố Liên Quan Đến Tiên Lượng Nặng Bệnh Ho Gà Ở Trẻ Em Tại Bệnh Viện Sản Nhi Bắc Giang
Tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa
Người hướng dẫn TS Nguyễn Đình Học, BS CKII Nguyễn Thị Lê
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Nhi khoa
Thể loại luận văn bác sĩ nội trú
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN (15)
    • 1.1. Căn nguyên gây bệnh (15)
    • 1.2. Độc lực vi khuẩn (16)
    • 1.3. Sinh bệnh học (17)
    • 1.4. Dịch tễ (20)
    • 1.5. Lâm sàng, cận lâm sàng, chẩn đoán (23)
    • 1.6. Một số yếu tố liên quan đến tiên lượng nặng của bệnh (31)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (36)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (36)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (36)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (37)
    • 2.4. Cỡ mẫu nghiên cứu (37)
    • 2.5. Chỉ tiêu nghiên cứu (38)
    • 2.6. Các biến số nghiên cứu (39)
    • 2.7. Công cụ thu thập số liệu (43)
    • 2.8. Sai số và khống chế sai số (43)
    • 2.9. Khía cạnh đạo đức của đề tài (43)
    • 2.10. Xử lý số liệu (43)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (44)
    • 3.1. Đặc điểm chung và dịch tễ học của đối tượng nghiên cứu (44)
    • 3.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng (47)
    • 3.3. Một số yếu tố liên quan đến tiên lượng nặng của bệnh ho gà ở trẻ em (52)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (56)
    • 4.1. Đặc điểm chung và dịch tễ học của nhóm nghiên cứu (56)
    • 4.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng (59)
    • 4.3. Một số yếu tố liên quan đến tiên lượng nặng của bệnh (65)
  • KẾT LUẬN (71)

Nội dung

TỔNG QUAN

Căn nguyên gây bệnh

Bệnh ho gà chủ yếu do vi khuẩn Bordetella pertussis gây ra, được phát hiện lần đầu tiên bởi Jules Bordet và Octave Gengou vào năm 1906 từ đờm của một trẻ 6 tháng tuổi Hiện tại, họ Bordetella bao gồm khoảng 10 loài khác nhau, trong đó có B pertussis, B parapertussis, và B bronchiseptica, cũng như các loài gây bệnh ở động vật như B parapertussis ở cừu và B avium.

Trong đó B pertussis và B parapertussis là những căn nguyên chính gây bệnh ở người Nhưng với kỹ thuật PCR hiện nay đã phát hiện ra được

B.holmesii trong khoảng 0,1% đến 20% bệnh nhân có biểu hiện giống ho gà

Trong số 8 loài còn lại, B bronchiseptica chủ yếu gây bệnh cho chó, mèo và lợn, cũng như có thể ảnh hưởng đến người, đặc biệt là những bệnh nhân suy giảm miễn dịch Tương tự, B avium và B hinzii thường gây bệnh ở gia cầm nhưng cũng có thể được phân lập từ đờm của bệnh nhân xơ nang Hầu hết các loài còn lại đều gây bệnh cho những người có hệ miễn dịch yếu hoặc mắc các bệnh lý mạn tính khác.

Bordetella là cầu trực khuẩn Gram âm hiếu khí, kích thước 0,2-0,5 x 0,5-

1,0àm Bordetella pertussis khú nuụi cấy, khi mới phõn lập, chỳng khụng mọc trên các môi trường nuôi cấy thông thường, mọc chậm trên môi trường Bordet-

Môi trường Gengou không chứa pepton, bao gồm khoai tây, glycerol và máu, cho phép B pertussis phát triển thành những khuẩn lạc nhỏ, hình vòm, bóng nhẵn như giọt thủy ngân sau 3-6 ngày Vi khuẩn này chuyển hóa đường theo kiểu hô hấp mà không lên men, phân giải một số acid amin qua quá trình oxy hóa, tạo ra amoniac và CO2 B pertussis có khả năng kháng acid yếu và việc xác định vi khuẩn dựa vào các đặc điểm hình thể, tính chất nuôi cấy, cùng với kết quả nhuộm vi khuẩn bằng kháng thể huỳnh quang và phản ứng ngưng kết với kháng huyết thanh mẫu.

Độc lực vi khuẩn

Bordetella pertussis, the causative agent of whooping cough, has several virulence factors that contribute to the disease's manifestations, including Pertussis toxin (PT), adenylate cyclase toxin (AC), dermonecrotic toxin (DNT), and tracheal cytotoxin (TCT) Other important factors in the pathogenic mechanism include surface structures such as hemagglutinin (FHA), fimbriae (FIM), pertactin (PRN), and lipopolysaccharides Pertussis toxin (PT), a biologically active protein, is also referred to as lymphocytosis promoting factor (LPF), islet activating protein (LAP), and histamin sensitizing factor (HSF) PT is responsible for clinical symptoms and the relative or absolute increase in lymphocyte count during the disease process.

Một số độc tố của vi khuẩn B pertussis bao gồm sợi ngưng kết hồng cầu (FHA) và pertactin, đóng vai trò quan trọng trong việc bám dính và cấu trúc tế bào Những kháng thể ngưng kết này chủ yếu liên quan đến các typ huyết thanh B pertussis Ngoài ra, độc tố tế bào khí quản gây tổn thương tế bào biểu mô hô hấp, độc tố adenylat cyclase làm suy yếu chức năng miễn dịch của tế bào vật chủ, độc tố hoại tử bì gây tổn thương lớp niêm mạc hô hấp, và lipopolysaccharid có đặc điểm tương tự như các nội độc tố của vi khuẩn gram âm khác.

Bảng 1.1 Các loài Bordetella và vật chủ liên quan [43]

Loài Bordetella Vật chủ liên quan

B parapertussis Người, cừu, dê, lợn

Bovine-associated, B.parapertussis Gia súc

B bronchiseptica Người, lợn, mèo, chó, thỏ

Sinh bệnh học

Nhiễm B pertussis bắt đầu khi vi khuẩn gắn vào tế bào biểu mô lông chuyển ở mũi hầu thông qua các chất bám dính bề mặt như peractin và FHA Tại vị trí bám, vi khuẩn nhân lên và phóng thích độc tố, gây tổn thương lớp niêm mạc hô hấp và làm suy yếu sức đề kháng của vật chủ Mặc dù vi khuẩn tồn tại trong nội bào, nhưng không có sự lan truyền theo hệ thống, thương tổn chủ yếu xảy ra ở phế quản và tiểu phế quản Sự phóng thích histamine dẫn đến cơn ho không thể kiểm soát, làm tăng nguy cơ bội nhiễm và viêm phổi Độc tố ho gà còn gây ra hiện tượng tăng lympho bào trong máu và kích thích sản xuất insulin, dẫn đến hạ đường huyết Các biểu hiện thần kinh như động kinh hay viêm não thường liên quan đến thiếu oxy máu do ho kịch phát và hạ đường huyết.

Mặc dù nghiên cứu về B pertussis đã có nhiều tiến bộ trong 20 năm qua, nhưng vẫn còn nhiều điều chưa được khám phá về sinh bệnh học của bệnh ho gà.

Cơ chế chính xác gây ra các cơn ho kịch phát trong bệnh ho gà vẫn chưa được xác định rõ, mặc dù có giả thuyết cho rằng tracheal cytotoxin có thể đóng vai trò quan trọng Hơn nữa, trong khi một số yếu tố độc lực của B pertussis đã được nghiên cứu, sự tương tác và hoạt động hiệp đồng của các yếu tố như pertussis toxin, lipopolysaccharid và tracheal cytotoxin vẫn chưa được làm sáng tỏ trong tiến trình lâm sàng của bệnh.

Bảng 1.2 Vai trò của các thành phần của B pertussis trong bệnh sinh và miễn dịch [43]

Thành phần Vị trí Hoạt tính sinh học Độc tố ho gà

Kích thích quá trình bám dính vào biểu mô đường hô hấp Nhạy cảm với histamine Kích thích tăng lympho bào

Tăng bài tiết insulin Gây phân chia tế bào lympho T

Là thành phần của vắc xin vô bào Độc tố adenylate cyclase (AC)

Chuyển đổi ATP thành cAMP thông qua enzym hemolysin giúp ức chế sự di cư và hoạt hóa thực bào, từ đó giảm hiệu ứng độc tế bào của bạch cầu trung tính, bạch cầu đơn nhân và các tế bào giết tự nhiên (NK) Ngoài ra, quá trình này cũng ức chế hoạt hóa và hóa hướng của các tế bào T.

Nhiễm tự nhiên và tiêm chủng DTP gây ra kháng thể với AC

Không có vai trò rõ ràng trong sinh bệnh; gây co mạch ở động vật linh trưởng; gây ra hoại tử tế bào trong ống nghiệm

Hoạt động hiệp đồng với các chất độc lipopolysaccharide để kích thích sản xuất các cytokine gây viêm (TNF-α, IL-1β, và IL-6), nitric oxide

Gây tổn thương tế bào lông mao khí quản Giả thiết nguyên nhân gây ra cơn ho kịch phát Filamentous hemagglutinin

Trung gian kết dính ban dầu của B perfussis cho biểu mô lông đường hô hấp trên Kích thích sản xuất IL-6, TL -10, ức chế sản xuất IL-12

FIM 2, 3 là thành phần quan trọng bám dính vào tế bào biểu mô đường hô hấp dưới Có mặt trong vắc xin vô bào

Kháng lại hoạt động thực bào của bạch cầu trung tính Những thay đôi ở PRN dẫn đến kém hiệu quả ở vắc xin toàn tế bào

Kháng nguyên chính vách tế bào Gây sốt sau khi tiêm vắc-xin toàn bộ tế bào, không có trong thành phần của vắc-xin vô bào.

Dịch tễ

Ho gà xảy ra trên toàn thế giới [55]

Theo nghiên cứu của Black và cộng sự, năm 2008, toàn cầu ghi nhận khoảng 16 triệu trường hợp ho gà, trong đó có 195.000 trường hợp tử vong Một nghiên cứu khác chỉ ra rằng, vào năm 2013, số ca tử vong do ho gà trên toàn thế giới là 136.000 trường hợp.

Kể từ những năm 1940, vắc xin ho gà đã được phát triển, tuy nhiên chu kỳ dịch vẫn diễn ra mỗi 3-5 năm Theo báo cáo năm 2012 về tình hình mắc ho gà ở Châu Âu, tỷ lệ mắc bệnh ở một số quốc gia như Na Uy là 85,2/100.000 dân, Hà Lan 76,9/100.000 dân, Đan Mạch 20,4/100.000 dân và Anh 19/100.000 dân.

Tại Ba Lan, năm 2009 ghi nhận 2390 trường hợp mắc bệnh, trong đó 45% phải nhập viện Đến năm 2011, số ca mắc giảm xuống còn 1669, với tỷ lệ mắc cao nhất ở trẻ em 3 tuổi là 20,8/100.000 dân, và 38,8% số ca cần điều trị tại bệnh viện Thông tin này cho thấy sự thay đổi trong tình hình sức khỏe cộng đồng qua các năm.

Trong năm qua, Việt Nam ghi nhận 2.182 trường hợp mắc bệnh, với tỷ lệ mắc là 5,7/100.000 dân, thấp hơn so với các năm trước Đáng chú ý, 92% các trường hợp là thanh thiếu niên trên 15 tuổi, trong đó có 705 người (32,3%) phải nhập viện điều trị.

Tại Mỹ, tỉ lệ mắc ho gà gần đây theo các lứa tuổi như sau: dưới 6 tháng là 160/100.000 dân, 6-11 tháng là 40/100.000 dân, 1-6 tuổi là 22/100.000 dân,

7-10 tuổi là 30/100.000 dân, 11-19 tuổi là 28/100.000 dân Năm 2010 có 25 trẻ dưới 6 tháng chết vì ho gà, 2013-2014 có 8 ca chết vì ho gà trong đó 7 ca dưới

Nghiên cứu đa trung tâm tại Úc và New Zealand từ năm 2002-2014 cho thấy có 416 trong số 42.958 trẻ dưới 1 tuổi (1,0%) nhập viện do ho gà Tỉ lệ nhập viện do ho gà ở trẻ sơ sinh dao động từ 2,1/100.000 đến 18,6/100.000 Tại Việt Nam, bệnh ho gà lưu hành rộng rãi trên toàn quốc, và trước khi triển khai chương trình tiêm chủng mở rộng, bệnh ho gà thường xảy ra phổ biến.

9 ra và phát triển thành dịch ở nhiều địa phương Dịch có tính chu kỳ khoảng 2-

Trong suốt 5 năm qua, chương trình Tiêm chủng mở rộng (TCMR) đã được triển khai rộng rãi trên toàn quốc từ những năm đầu thập niên 80, với mục tiêu miễn dịch cho hầu hết trẻ em dưới một tuổi thông qua 3 liều vắc xin bạch hầu - uốn ván - ho gà (DTP) Nhờ vào việc tiêm vắc xin DTP liên tục, tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh ho gà đã giảm đáng kể, từ 84,4/100.000 dân vào năm 1984 xuống thấp hơn trong giai đoạn 1991.

Tỷ lệ mắc ho gà ở Việt Nam đã giảm đáng kể từ năm 1995, khi đạt 7,5/100.000 dân, xuống còn 0,07/100.000 dân vào năm 2014 nhờ vào tỷ lệ tiêm chủng trên 90% trong nhiều năm Tuy nhiên, theo báo cáo của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, số ca mắc ho gà đã tăng lên đáng kể trong giai đoạn 2015-2016, với tổng số 576 ca và tỷ lệ mắc đạt 0,3/100.000 dân, gấp 4 lần so với năm 2014 Nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ không tiêm chủng trong số bệnh nhân mắc ho gà khá cao, với 55,6% bệnh nhân trong nghiên cứu của Phạm Văn Phúc và 82,5% trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Dinh không được tiêm phòng.

1.4.2 Nguồn lây Ổ chứa: người là vật chủ duy nhất, không có nguồn lây truyền từ loài khác hay từ ngoại cảnh, trong đó nguồn truyền bệnh trực tiếp là những bệnh nhân bị ho gà Những người không bị bệnh hoặc người bệnh trong thời kỳ lui bệnh đều không mang trùng [4]

Thời kỳ ủ bệnh là thời kỳ yên lặng không sốt trung bình khoảng 5-12 ngày (có thể từ 2-30 ngày)

Thời gian lây lan mạnh nhất của bệnh thường diễn ra trong tuần đầu tiên, sau đó giảm dần và kết thúc sau 3 tuần Nếu được điều trị hiệu quả, thời gian lây truyền có thể rút ngắn chỉ còn khoảng 5 ngày.

Nghiên cứu của Skoff và cộng sự cho thấy hơn 66% trong số 1306 trẻ mắc ho gà tại Mỹ có tiếp xúc với nguồn nhiễm từ gia đình Tương tự, nghiên cứu của Đỗ Thị Thúy Nga chỉ ra rằng 3,7% trẻ mắc ho gà có tiền sử tiếp xúc với người nghi ngờ mắc bệnh Ngoài ra, nghiên cứu của Phạm Văn Phúc cho thấy 9,26% trẻ bệnh đã tiếp xúc với nguồn bệnh nghi ngờ và 3,7% bệnh nhân phơi nhiễm với nguồn bệnh xác định.

Tỉ lệ mắc bệnh ho gà cao nhất ở trẻ em từ 1 đến 5 tuổi, đặc biệt là nhóm dưới 3 tháng tuổi, do trẻ chưa có đủ miễn dịch Nguyên nhân là trẻ chưa được tiêm phòng hoặc chỉ mới tiêm 1 mũi, trong khi kháng thể từ mẹ không đủ để bảo vệ Nghiên cứu của Hu Yunge tại Bệnh viện Nhi đồng thuộc trường Đại học Y khoa Trùng Khánh cho thấy 48,6% bệnh nhi mắc ho gà dưới 3 tháng tuổi và 81,8% dưới 6 tháng tuổi.

Nghiên cứu của Devincenzo năm 2013 cho thấy trong số bệnh nhân ho gà, 43% là trẻ từ 0-3 tháng tuổi, 44% từ 4 tháng đến 9 tuổi và 9% trên 10 tuổi Đặc biệt, nghiên cứu của Đỗ Thị Thúy Nga chỉ ra rằng có đến 78.7% trẻ mắc ho gà dưới 3 tháng tuổi.

[9] Nghiên cứu của Trần Minh Điển trong số trẻ mắc ho gà có đến 56,5% dưới

3 tháng tuổi [6] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Khánh Linh năm 2016 có 70,1% số ca ho gà thuộc nhóm 0-3 tháng tuổi và 29,9% số ca thuộc nhóm tuổi từ 4 tháng – 9 tuổi [5]

Biểu đồ 1.1 Tỉ lệ ho gà theo tuổi theo báo cáo của CDC từ 1990-2018

(https://www.cdc.gov/pertussis/surv-reporting.html)

Ho gà là bệnh truyền nhiễm có chu kỳ dịch từ 2-5 năm, thường bùng phát vào cuối mùa Hè và đầu mùa Thu Nghiên cứu của Gonfiantini cho thấy bệnh thường xảy ra vào tháng Ba và tháng Tám tại Italy Theo Gadriela, tỷ lệ trẻ nhập viện vì ho gà cao nhất vào mùa Hè Tại Việt Nam, báo cáo từ năm 1984 đến 2014 chỉ ra tỷ lệ mắc ho gà cao nhất từ tháng 4 đến tháng 8, trong khi nghiên cứu của Đỗ Thị Thúy Nga cũng xác nhận bệnh thường xuất hiện nhiều vào tháng Ba.

Lâm sàng, cận lâm sàng, chẩn đoán

Ho gà là bệnh lý gây ho kéo dài, với biểu hiện lâm sàng thay đổi theo lứa tuổi và chia thành 4 giai đoạn: ủ bệnh, khởi phát, toàn phát và lui bệnh Mỗi giai đoạn, ngoại trừ giai đoạn ủ bệnh, thường kéo dài từ 1 đến 3 tuần và có những biểu hiện đặc trưng cũng như nguy cơ biến chứng khác nhau, tùy thuộc vào tình trạng miễn dịch và lứa tuổi của cá thể Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ chưa tiêm phòng, đặc biệt là ở trẻ dưới 3 tháng tuổi, giai đoạn khởi phát có thể chỉ kéo dài vài ngày hoặc không có, trong khi giai đoạn toàn phát và lui bệnh lại kéo dài hơn Ở trẻ sơ sinh, triệu chứng có thể không điển hình, như ngừng thở và tím, trong khi động kinh, viêm não và viêm phổi thường gặp hơn ở trẻ dưới 6 tuổi Đối với trẻ đã tiêm chủng, tất cả các giai đoạn của bệnh thường ngắn hơn Biểu hiện lâm sàng ở thiếu niên và người trưởng thành có thể rất đặc trưng nhưng thường không điển hình.

1.5.1.1 Thể thông thường điển hình

Thời kỳ ủ bệnh kéo dài từ 3 đến 12 ngày, sau đó xuất hiện các triệu chứng của giai đoạn khởi phát Giữa hai giai đoạn này không có ranh giới rõ rệt.

- Thời kỳ khởi phát: thường từ 3-14 ngày với các biểu hiện:

Có thể có sốt nhẹ hoặc không sốt

Các triệu chứng viêm long đường hô hấp bao gồm ho khan, hắt hơi, chảy mũi và đau rát họng, thường chuyển biến thành ho cơn Nghiên cứu của Phạm Văn Phúc chỉ ra rằng trong giai đoạn khởi phát, chảy mũi chiếm 55,6%, ho khan 27,8% và hắt hơi 27,8% Tuy nhiên, những triệu chứng này thường giống với các bệnh lý nhiễm khuẩn đường hô hấp khác, khiến việc phát hiện bệnh ở giai đoạn này trở nên khó khăn.

Thời kỳ toàn phát, hay còn gọi là thời kỳ ho cơn kịch phát, kéo dài từ 7 đến 14 ngày, và có thể kéo dài tới 8 tuần Đây là giai đoạn thường gặp nhiều biến chứng nhất.

Cơn ho gà thường xảy ra vào ban đêm và có thể tự phát hoặc do kích thích, bao gồm ba giai đoạn chính: ho kịch phát, thở rít khi hít vào, và nôn hoặc khạc ra đờm Cơn ho bắt đầu với những chập ho dài, không thể kiểm soát, kéo dài từ 5 đến 20 tiếng Khi ho, lưỡi sẽ bị đẩy ra ngoài, mặt có thể đỏ hoặc tím, kèm theo mắt đỏ, chảy nước mắt và nước mũi Theo Nieto Guevara, ho là triệu chứng quan trọng nhất của bệnh này.

Tiếng thở rít xuất hiện sau mỗi đợt ho, khi bệnh nhân hít vào nhanh để chống lại việc nắp thanh môn đóng kín Ngoài ra, sau khi ho, bệnh nhân thường nôn ra đờm quánh dính, đây là chất tiết từ khí quản bị cô đặc do lông mao rụng và biểu mô đường hô hấp bị hoại tử, kết hợp với sự hiện diện của trực khuẩn ho gà và bạch cầu lympho.

Nghiên cứu của Đỗ Thị Thúy Nga (2014) trên 226 trẻ ho gà cho thấy các biểu hiện lâm sàng thường gặp bao gồm: ho rũ rượi (86,1%), ho có tím (96,3%), ho có đỏ mặt (89,8%), xuất tiết đờm dãi (79%), tiếng thở rít sau ho (73,1%), nôn sau ho (25,9%) và chảy mũi (13%) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Khánh Linh (2016) trên 244 trẻ ho gà cho thấy ho cơn kịch phát chiếm 91% và thở rít là 52% Nghiên cứu của Phạm Văn Phúc trên 54 bệnh nhân ho gà cho thấy 100% bệnh nhân có ho cơ kịch phát, 96,3% ho có đỏ mặt, 33,3% ho có tím, 83,3% nôn sau ho, và 18,5% có tiếng rít sau ho Các nghiên cứu quốc tế cũng ghi nhận những triệu chứng tương tự trong bệnh ho gà.

Tại California, 236 trẻ em mắc ho gà đã được nhập viện, trong đó 78% có cơn ho kịch phát, 67% có triệu chứng ho tím, 60% nôn sau cơn ho và 7,5% có tiếng rít Nghiên cứu của Bellettini và các cộng sự trên 222 bệnh nhân ho gà cho thấy 59,6% có ho tím, 49,7% tăng tiết đờm dãi, 15,5% có tiếng thở rít và tình trạng nôn sau ho.

Trong cơn ho kịch phát, bệnh nhân có thể xuất hiện tĩnh mạch cổ nổi, mắt lồi và lưỡi tím, thường khởi phát do tiếng động, ăn uống hoặc tiếp xúc cơ thể Mặc dù giữa các đợt ho, họ có vẻ bình thường, nhưng thực tế là sự mệt mỏi ngày càng gia tăng Tần suất ho có thể dao động từ vài lần mỗi giờ đến 5 - 10 lần mỗi ngày, đặc biệt nặng nề vào buổi tối, gây cản trở giấc ngủ Hơn nữa, các cơn ho này còn ảnh hưởng đến việc ăn uống, dẫn đến tình trạng sụt cân.

Sau mỗi cơn ho trẻ mệt mỏi, vã mồ hôi, rồi bình phục lại

Ngoài cơn ho toàn trạng trẻ lại bình thường

Sau 2-4 tuần, những đợt ho sẽ thưa hơn và ít nghiêm trọng Đây là những dấu hiệu cho thấy thời kỳ hồi phục đang đến

Theo hội nghị ho gà toàn cầu tháng 2 năm 2011, bệnh nhân ho gà thường không sốt hoặc chỉ sốt nhẹ Sốt thường gặp ở những trường hợp ho gà nặng hoặc có đồng nhiễm với các tác nhân khác Nghiên cứu của Nguyễn Thị Dinh cho thấy tỉ lệ bệnh nhân có sốt là 32,8%, trong khi nghiên cứu của Phạm Văn Phúc ghi nhận tỉ lệ này là 35,2%, và nghiên cứu của Đỗ Thị Thúy Nga cho thấy tỉ lệ là 19,4% Một nghiên cứu quốc tế của Hu Yunge cũng chỉ ra rằng tỉ lệ trẻ em mắc ho gà có sốt là 21%.

Thời kỳ hồi phục kéo dài từ 2-4 tuần, trong giai đoạn này, trẻ dần giảm ho và tình trạng sức khỏe cải thiện Trẻ có thể ăn uống và vui chơi bình thường Tuy nhiên, một số trẻ vẫn có thể gặp phải những cơn ho phản xạ kéo dài, thậm chí kéo dài từ 1-2 tháng.

Không ho, chỉ hắt hơi nhiều

Cơn ho nhẹ và ngắn, không điển hình và ít khạc đờm, thường xuất hiện ở trẻ đã tiêm vắc xin ho gà nhưng có kháng thể thấp và tồn tại ngắn Tình trạng này thường khó chẩn đoán.

Cơn ho liên tiếp từ 30-40 lần mỗi ngày, mỗi cơn kéo dài kèm theo nôn nhiều, dẫn đến tình trạng suy sụp toàn thân với triệu chứng sốt, mất ngủ và hốt hoảng Ngay cả khi không có cơn ho, bệnh nhân vẫn có dấu hiệu tím tái, thở nhanh và mạch nhanh Ngoài ra, có thể xảy ra các biến chứng nghiêm trọng như suy hô hấp, suy tuần hoàn, tăng áp phổi, co giật, viêm não, xuất huyết não và xuất huyết võng mạc Nghiên cứu của tác giả Trần Minh Điển tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2015 cho thấy có 11,4% số ca mắc phải tình trạng này.

15 ca ho gà thuộc thể nặng [6] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Dinh năm 2018 có 21,8% thuộc thể ho gà nặng [7]

Một phương pháp phân nhóm thể lâm sàng khác là dựa vào hệ thống PSS (pertussis severe score system) của Marshall và Rasiah Cụ thể, nếu PSS ≤ 5 điểm, bệnh nhân thuộc nhóm không nặng, trong khi PSS > 5 điểm thuộc nhóm nặng Nghiên cứu của Marshall cho thấy rằng khi áp dụng phân nhóm theo PSS, tỷ lệ thể nặng trong số các trường hợp mắc ho gà là 38,3%.

Bảng 1.3 Hệ thống tính điểm nặng cho bệnh nhân ho gà nhập viện (PSS)

Biến số Mức độ 1 Mức độ 2 Mức độ 3

Thời gian nằm viện Điểm

1 Đơn vị phụ thuộc cao

Nhu cầu bù dịch Điểm

Hỗ trợ hô hấp Điểm

Mất nước/Thiếu oxy mô/Thay đổi phim X- Quang phổi

Viêm phổi Tràn khí màng phổi

Tổn thương não/Tổn thương tim

PSS ≤ 5: thể không nặng, PSS > 5: thể nặng

Số lượng bạch cầu máu ngoại vi ở bệnh nhân ho gà thường tăng so với mức bình thường theo tuổi, đặc biệt trong giai đoạn sớm của bệnh, nhất là trong 3 tuần đầu và khi ho cơn kịch phát Sự gia tăng này chủ yếu do bạch cầu lympho, mặc dù cũng có trường hợp số lượng bạch cầu nằm trong giới hạn bình thường Tăng bạch cầu ở bệnh nhân ho gà đã được ghi nhận từ cuối thế kỷ 19 và được xem là một dấu hiệu chẩn đoán có giá trị, với mức tăng thường dao động từ 15-100 G/l.

Một số yếu tố liên quan đến tiên lượng nặng của bệnh

Hầu hết trẻ em trên 3 tháng tuổi mắc ho gà hồi phục hoàn toàn, trong khi trẻ dưới 3 tháng có tiên lượng xấu hơn với tỷ lệ tử vong từ 1-3% Từ cuối thế kỷ 20, tỷ lệ tử vong do ho gà ở trẻ nhũ nhi đã tăng đáng kể Giữa năm 2004 và 2008, trong số 111 ca tử vong liên quan đến ho gà báo cáo tới CDC, có 92 trường hợp (83%) là trẻ dưới 3 tháng tuổi Nghiên cứu của Berger và cộng sự tại Mỹ cho thấy 83% trẻ ho gà nặng nhập PICU là dưới 3 tháng tuổi, đây là yếu tố liên quan đến tiên lượng nặng của bệnh Nghiên cứu của Trần Minh Điển và cộng sự tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2015 chỉ ra rằng tuổi dưới 3 tháng là yếu tố tiên lượng bệnh nặng (OR 4,59; CI: 1,55-13,62; p=0,006) Tương tự, nghiên cứu của Helen Markshall và cộng sự tại Australia năm 2010 cũng cho thấy tuổi dưới 2 tháng là yếu tố tiên lượng bệnh nặng (OR: 4,76; CI: 1,48-15,32; p=0,014).

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Khánh Linh chỉ ra rằng nhóm tuổi dưới 3 tháng là yếu tố liên quan đến biến chứng ở trẻ ho gà, với tỷ lệ odds ratio (OR) là 2,31 và khoảng tin cậy (CI) đáng chú ý.

1,26-4,26; p = 0,007) [5] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Dinh nhóm tuổi dưới 2 tháng cũng là một yếu tố tiên lượng nặng của bệnh (OR=2,3; CI: 1,1-4,6; p= 0,023)

Trẻ nhũ nhi dưới 6 tháng tuổi mắc ho gà có nguy cơ mắc bệnh nặng và phải nhập viện cao hơn so với trẻ lớn và người lớn Những bệnh nhân có tình trạng bệnh mạn tính, dị tật bẩm sinh, tiền sử sinh nhẹ cân, suy dinh dưỡng hoặc chưa tiêm phòng vắc xin ho gà trước đó có nguy cơ cao hơn về bệnh tật và tử vong, cần được đánh giá cụ thể Trẻ sinh non và những trẻ mắc các bệnh lý tim mạch, phổi, thần kinh cơ cũng có nguy cơ cao gặp biến chứng như viêm phổi, co giật, bệnh lý não và tử vong Nghiên cứu của tác giả Helen Markshall chỉ ra rằng sinh non là yếu tố tiên lượng bệnh nặng ở trẻ ho gà (OR= 5,19; CI: 1,24-21,67; p= 0,024) Theo nghiên cứu của tác giả Berger và cộng sự tại Mỹ, tỷ lệ trẻ sinh non trong số 127 trẻ ho gà nặng nhập PICU là 27%.

Theo nghiên cứu, 23% bệnh nhân mắc bệnh mạn tính và 74% chưa được tiêm vắc xin phòng bệnh ho gà Những trẻ không được tiêm có nguy cơ mắc ho gà với biến chứng cao (OR= 3,47; CI: 1,74-6,91; p< 0,001) Trẻ sinh non (OR=6,1; CI: 1,6-22,9; p= 0,008), trẻ suy dinh dưỡng (OR= 4,1; CI: 1,6-10,3; p= 0,001), và trẻ không tiêm phòng ho gà (OR= 5,1; CI: 1,2-22,1; p= 0,019) là những yếu tố độc lập ảnh hưởng đến tiên lượng nặng của bệnh Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng tiêm phòng ho gà giúp rút ngắn thời gian bệnh, giảm mức độ nặng và tỷ lệ tử vong, với số lượng mũi tiêm cũng liên quan đến mức độ nặng của bệnh.

Theo hội nghị ho gà toàn cầu tháng 2 năm 2011, bệnh nhân ho gà thường không sốt hoặc chỉ sốt nhẹ Sốt thường gặp ở những bệnh nhân ho gà nặng hoặc có đồng nhiễm, và được xem là yếu tố tiên lượng nặng và tử vong Nghiên cứu của tác giả Marshall chỉ ra rằng sốt trên 37,5 độ C và bội nhiễm là các yếu tố tiên lượng bệnh nặng, với sốt (OR: 5,97; p=0,030) và bội nhiễm (OR= 4,82; p=0,004) Tương tự, nghiên cứu của Nguyễn Thị Dinh cũng khẳng định rằng sốt (OR= 5,1; p< 0,05) và bội nhiễm (OR= 13,5; p< 0,05) liên quan đến tiên lượng nặng của bệnh.

Viêm phổi, nhiễm trùng bệnh viện và các biến chứng liên quan đến ho gà ở trẻ nhũ nhi là vấn đề đáng lo ngại Nghiên cứu của Berger cho thấy 23,7% trẻ ho gà nặng phải nhập PICU bị nhiễm trùng bệnh viện, trong đó viêm phổi chiếm 15% Nghiên cứu của Nguyễn Thị Dinh chỉ ra rằng nhiễm trùng bệnh viện có liên quan đến tiên lượng nặng (OR= 13,8) Tương tự, Trần Minh Điển cũng xác nhận viêm phổi là yếu tố nguy cơ nặng (OR: 23,1) Các biến chứng thần kinh trung ương như co giật xảy ra ở 1-2% trẻ, liên quan đến thiếu oxy não và ngưng thở Tăng bạch cầu, đặc biệt trên 100 G/L, có liên quan đến tử vong do ho gà và làm tăng áp lực động mạch phổi Nghiên cứu của Trần Minh Điển cho thấy bạch cầu ≥ 30 G/L cũng là yếu tố tiên lượng nặng (OR= 6,84) Các nghiên cứu khác như của Murray và Phạm Văn Phúc cũng khẳng định tầm quan trọng của bạch cầu trong việc dự đoán nguy cơ tử vong và biến chứng trong bệnh ho gà nặng.

Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ giữa việc tăng bạch cầu (BC) và tình trạng bệnh ho gà nặng, đặc biệt là trong các nghiên cứu của các tác giả này Sự gia tăng bạch cầu có thể dẫn đến biến chứng tắc mạch phổi và các mạch máu nhỏ, gây tăng áp lực phổi và làm cho bệnh trở nên nghiêm trọng hơn, từ đó tăng nguy cơ tử vong.

Tăng đồng thời cả BC Lympho và TC làm tăng nguy cơ bệnh nặng và tử vong Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Thúy Nga, 68,5% trẻ mắc ho gà có tăng số lượng tiểu cầu, điều này liên quan đến mức độ nặng của bệnh Ở trẻ vị thành niên và người lớn, bệnh thường diễn ra nhẹ hoặc không điển hình, với khoảng một nửa số trẻ vị thành niên ho trong 10 tuần hoặc lâu hơn Các biến chứng có thể gặp ở nhóm tuổi này bao gồm ngất, rối loạn giấc ngủ, tiểu tiện không tự chủ, gãy xương sườn và viêm phổi.

Co giật xảy ra ở khoảng 0,3-0,6% người lớn [23].

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang từ năm 2016 đến năm 2019

Tất cả bệnh nhân dưới 16 tuổi đã được chẩn đoán và điều trị ho gà tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang từ tháng 1/2020 đến tháng 8/2020

2.1.1 Chẩn đoán xác định ho gà

Bệnh nhân được chẩn đoán ho gà dựa trên tiêu chuẩn lâm sàng theo GPI-2011 và có kết quả xét nghiệm PCR ho gà dương tính từ dịch tỵ hầu hoặc dịch hút nội khí quản.

Sơ đồ 2.1: Tiêu chuẩn lâm sàng chẩn đoán ho gà theo GPI-2011 [28]

Bệnh nhân có bố mẹ không đồng ý tham gia nghiên cứu

Các hồ sơ nghiên cứu không đủ dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2020 – 10/2020

- Địa điểm: Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang

Sơ đồ nghiên cứu như sau:

Cỡ mẫu nghiên cứu

Cỡ mẫu được tính theo công thức sau: n: Cỡ mẫu tối thiểu cần có

Z: Hệ số giới hạn tin cậy, Z 1- α/2 =1,96

Theo nghiên cứu của Phạm Văn Phúc tại Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương năm 2017, tỷ lệ bệnh nhân ho gà có triệu chứng ho cơn kèm đỏ mặt đạt 96,3% (P = 0,963) Sai số mong muốn được xác định là d = 0,05.

Ca bệnh nghi ngờ ho gà

Thăm khám lâm sàng và lấy bệnh phẩm xét nghiệm PCR- ho gà PCR dương tính

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

Xác định một số yếu tố liên quan đến tiên lượng nặng của bệnh

Hồ sơ bệnh án được chẩn đoán ho gà trên lâm sàng

Thay vào tính được cỡ mẫu là: 54,75

Vậy cỡ mẫu tối thiểu cần có là 55

Do thời gian nghiên cứu hạn chế và số bệnh nhân được chẩn đoán xác định không nhiều theo thống kê hàng năm của Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang, chúng tôi đã quyết định thực hiện lấy cỡ mẫu toàn thể và chọn mẫu thuận tiện.

Chỉ tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu 1: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh ho gà ở trẻ em:

+ Phân bố bệnh theo: nhóm tuổi, giới, cân nặng khi sinh, tuổi thai

+ Tình trạng phơi nhiễm với nguồn lây

+ Thời gian mắc bệnh theo tháng trong năm

+ Thời gian nhập viện kể từ khi có khởi phát triệu chứng đầu tiên

+ Triệu chứng lâm sàng giai đoạn khởi phát

+ Triệu chứng lâm sàng giai đoạn toàn phát

+ Các biểu hiện lâm sàng của bệnh ho gà theo nhóm tuổi

+ Dấu hiệu nặng của cơn ho gà

+ Các biến chứng của ho gà

+ Đặc điểm của BC, BC Lympho, TC trong máu ngoại vi

+ Tình trạng tăng BC, BC Lympho, TC

+ Thời gian làm xét nghiêm Realtime- PCR

+ Tình trạng bội nhiễm căn nguyên khác

- Mục tiêu 2: Xác định một số yếu tố liên quan đến tiên lượng nặng của bệnh ho gà ở trẻ em:

+ Mối liên quan giữa nhóm tuổi và thể bệnh

+ Mối liên quan giữa tuổi thai và thể bệnh

+ Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và thể bệnh

+ Mối liên quan giữa tiêm phòng ho gà và thể bệnh

+ Mối liên quan giữa tình trạng sốt và thể bệnh

+ Mối liên quan giữa bội nhiễm căn nguyên khác và thể bệnh

+ Mối liên quan giữa dùng kháng sinh trước khi nhập viện và thể bệnh + Mối liên quan giữa tình trạng tăng Bạch cầu và thể bệnh

+ Mối liên quan giữa tình trạng tăng Tiểu cầu và thể bệnh.

Các biến số nghiên cứu

2.6.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

- Tuổi (tháng): Tuổi vào viện = Ngày tháng năm vào viện – ngày tháng năm sinh Tuổi vào viện chia thành 3 nhóm: 0-3 tháng, 4 tháng- 9 tuổi, 10-16 tuổi

- Ngày bị bệnh khi nhập viện: Ngày bệnh = Ngày vào viện – Ngày khởi phát

+ Tuổi thai: chia làm 2 nhóm: < 37 tuần, ≥ 37 tuần

+ Cân nặng lúc sinh: < 2500g, 2500 đến < 3500g, ≥ 3500g

+ Suy dinh dưỡng: có / không

- Tiền sử tiếp xúc nguồn lây: gia đình/ cộng đồng/ không rõ

- Tiền sử tiêm chủng ho gà:

+ Không tiêm do chưa đến tuổi tiêm phòng

+Không tiêm do đến tuổi tiêm phòng theo lịch nhưng không tiêm

+ Có tiêm nhưng không đủ mũi theo lứa tuổi

+ Có tiêm và đủ mũi

2.6.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

- Sốt: được xác định là sốt khi nhiệt độ đo tại nách là ≥ 37,5 0 C Chia làm 4 mức: + Không sốt

- Ho: bao gồm các biểu hiện: ho cơn kịch, phát, ho cơn đỏ mặt, ho cơn có tím, ho rũ rượi: có / không

- Nôn sau ho: có / không

- Cơn ngừng thở: có / không

- Thể bệnh: áp dụng theo hệ thống tính điểm nặng cho bệnh nhân ho gà nhập viện (PSS) của Marshall và Rasiah (bảng 1.3):

- Dấu hiệu nặng của cơn ho gà: có/không

+ Thời gian cơn ho > 60 giây

+ Tri giác trong cơn ho: li bì

+ Đặc điểm cơn ho: có nôn, nghẹt thở, thở hổn hển sau cơn

+ Màu sắc da: xanh tái

+ Nhịp tim nhanh kéo dài

+ Nhịp tim chậm < 60 (trẻ dưới 3 tháng) kéo dài và đòi hỏi phải có kích thích

+ Nhu cầu oxy kéo dài

+ Nút đờm nhày tắc nghẽn cần phải hút

+ Nhịp thở yếu hoặc ngừng thở

+ Không có tiếng thở rít

+ Tình trạng sau cơn ho: không đáp ứng

+ Viêm phế quản phổi: áp dụng theo tác giả Nguyễn Thị Diệu Thúy [16]:

 Lâm sàng: ho, thở nhanh, suy hô hấp, phổi có ran ẩm nhỏ, có thể kèm ran ngáy, ran rít…

 Xquang phổi: hình ảnh nốt mờ rải rác không đều

+ Suy hô hấp: có / không: theo tác giả Phùng Nguyễn Thế Nguyên [13]:

Bảng 2.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán suy hô hấp [13]

Lâm sàng SHH độ 1 SHH độ 2 SHH độ 3

Nhịp thở Tăng < 30% Tăng 30- 50% Tăng > 50%

Co kéo cơ hô hấp phụ

Không Có Thở chậm, không đều, ngừng thở

Nhịp tim Nhanh (±) Nhanh Nhanh hay chậm

Huyết áp Tăng Tăng Tăng hay giảm Tri giác Tỉnh Kích thích, li bì Lơ mơ, mê Đáp ứng với oxy Không tím với khí trời

Không tím khi cho oxy

Tím ngay cả khi cung cấp oxy

PaO2 60- 80% 40- 60% < 40% Đánh giá Còn bù Còn bù Mất bù

+ Tăng áp phổi: có / không

Theo hội tim mạch và lồng ngực Hoa Kỳ (AHA/ATS) [22]:

Siêu âm tim: PAPs = PG hở 3 lá + AL nhĩ phải

Theo tác giả Phạm Nhật An [1]:

 Có các rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương cấp tính như biến đổi tinh thần/tri giác, co giật, các dấu hiệu thần kinh khu trú

 Có chứng cứ của phản ứng viêm và/hoặc hình ảnh tổn thương viêm tổ chức não qua xét nghiệm cận lâm sàng và/hoặc chẩn đoán hình ảnh

+ Xuất huyết da/kết mạc/võng mạc

+ Tràn khí màng phổi/ dưới da/ trung thất

+ Thoát vị bẹn hoặc/và rốn

Số lượng BC/BC Lympho/TC (/mm 3 ) được tham chiếu dựa vào theo tác giả Nguyễn Công Khanh, Bùi Văn Viên – 2013 [11]

Bảng 2.2 Bạch cầu máu ngoại vi theo tuổi [11]

Tỷ lệ BC trung tính (%)

 Tăng số lượng BC/ BC Lympho/ TC: có/không

 Mức tăng số lượng BC ≥ 20000/ mm 3 : có/không

 Mức tăng số lượng BC Lympho ≥ 15000/ mm 3 : có/không

 Mức tăng số lượng TC ≥ 550000/ mm 3 : có/không

- Thời điểm làm PCR (ngày): là thời gian được tính từ khi bắt đầu có triệu chứng ho đến khi làm xét nghiệm PCR

- Xét nghiệm vi sinh tìm các căn nguyên bội nhiễm:

 Các vi khuẩn tìm được qua xét nghiệm nuôi cấy

 Các vi khuẩn, vi rút tìm được qua xét nghiệm PCR

Công cụ thu thập số liệu

- Số liệu được thu thập từ bệnh án qua mẫu phiếu nghiên cứu in sẵn.

Sai số và khống chế sai số

- Căn cứ tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

- Thống nhất cách đánh giá, cách lấy các chỉ số nghiên cứu và chẩn đoán giữa các bác sĩ tại các khoa Nhi Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang

- Chuẩn máy móc, người làm xét nghiệm.

Khía cạnh đạo đức của đề tài

Tất cả bệnh nhi, dù có tham gia nghiên cứu hay không, đều được điều trị theo phác đồ chuẩn Nghiên cứu này chỉ được thực hiện sau khi được Hội đồng khoa học phê duyệt và có sự đồng ý từ Hội đồng Y đức, cùng với sự đồng thuận của người nhà bệnh nhi.

Thông tin cá nhân của người tham gia nghiên cứu, bao gồm tên, địa chỉ và số điện thoại, sẽ được bảo mật tuyệt đối Hồ sơ bệnh án của họ cũng sẽ được lưu trữ một cách an toàn.

Nghiên cứu này hướng tới mục đích duy nhất vì sức khỏe trẻ em và cộng đồng.

Xử lý số liệu

- Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0

- Đối với biến định tính: tính tỷ lệ %

- Đối với biến định lượng tính trị số trung bình, trung vị, phương sai, độ lệch chuẩn, tỷ lệ %

- Phân tích đơn biến tìm mối liên quan bằng các test thống kê: kiểm định χ 2 , kiểm định Fisher’s Exact Test So sánh hai trung bình: test t-student

- Để tìm mối liên quan tỉ suất chênh OR được sử dụng.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung và dịch tễ học của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi, giới

Nhóm trẻ từ 0 - 3 tháng tuổi chiếm 54,2% tổng số trẻ, trong khi nhóm từ 4 tháng đến 9 tuổi chiếm 45,8% Độ tuổi của trẻ dao động từ 11 ngày đến 60 tháng, không ghi nhận trường hợp nào trong độ tuổi 10-16 tuổi Tỉ lệ giới tính cho thấy có 45,8% là nam và 54,2% là nữ.

Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi thai, cân nặng khi sinh

Tuổi thai Non tháng 2 4,2 Đủ tháng 46 95,8

Trẻ đủ tháng khi sinh chiếm 95,5%, trong khi tỷ lệ trẻ non tháng là 4,2% Cân nặng lúc sinh của trẻ thường dao động từ 2500g đến dưới 3500g, chiếm 60,4%, và trẻ có cân nặng từ 3500g trở lên chiếm 35,4% Đặc biệt, có 2 trường hợp trẻ nhẹ cân dưới 2500g, tương đương 4,2%, đều có tiền sử sinh non.

Bảng 3.3 Tình trạng phơi nhiễm với người bệnh bị ho gà Tình trang phơi nhiễm với nguồn lây SL Tỉ lệ (%)

Trong một nghiên cứu, 83,3% bệnh nhi không xác định được tình trạng phơi nhiễm với người bị ho gà, trong khi chỉ có 8 trường hợp, chiếm 16,7%, có phơi nhiễm từ cộng đồng Đặc biệt, không ghi nhận trường hợp nào có nguồn lây từ gia đình.

Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh theo các tháng trong năm (nH)

Tỉ lệ mắc ho gà ở trẻ em thay đổi theo từng tháng trong năm, với tháng 3 và tháng 7 ghi nhận tỷ lệ cao nhất lần lượt là 22,9% và 14,6% Ngược lại, tháng 11 không có trường hợp nào mắc ho gà, trong khi tháng 2 và tháng 12 chỉ có tỷ lệ mắc là 2,1%.

Bảng 3.4 Phân loại tình trạng tiêm phòng

Có tiêm không đầy đủ 17 35,4

93,7% trẻ mắc bệnh không được tiêm phòng hoặc tiêm phòng không đầy đủ Trong đó 58,3% chưa được tiêm phòng Chỉ có 6,3% trẻ bệnh được tiêm phòng đầy đủ

Bảng 3.5 Thời gian nhập viện theo ngày khởi phát triệu chứng đầu tiên

Thời gian nhập viện SL Tỉ lệ (%)

Thời gian trung bình 6,21 ± 3,3 ngày

Trong nghiên cứu về tình trạng nhập viện của trẻ em, có tới 60,4% trẻ được nhập viện trong tuần đầu tiên của bệnh, 37,5% trong tuần thứ hai, và chỉ 2,1% trong tuần thứ ba Thời gian trung bình từ khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên đến khi nhập viện là 6,21±3,3 ngày, với khoảng thời gian dao động từ 1 đến 15 ngày.

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

3.2.1 Các đặc điểm lâm sàng của bệnh ho gà

Bảng 3.6 Triệu chứng lâm sàng giai đoạn khởi phát

Triệu chứng SL Tỉ lệ (%)

Các biểu hiện hay gặp nhất của ho gà trong giai đoạn khởi phát là chảy mũi chiếm tỉ lệ 95,8%, tiếp theo là ho khan (25%) và hắt hơi (18,8%)

Bảng 3.7 Triệu chứng lâm sàng giai đoạn toàn phát

Triệu chứng SL Tỉ lệ (%)

Trong 100% trường hợp, trẻ em có biểu hiện ho cơn, trong đó 58,3% trẻ tăng tiết đờm dãi Bên cạnh đó, 10,4% trẻ xuất hiện tình trạng phù nề mí mắt, và trong số đó, 2/5 trẻ có phù nề mí mắt kèm theo xuất huyết kết mạc, chiếm tỷ lệ 4,2%.

Bảng 3.8 Đặc điểm cơn ho trong giai đoạn toàn phát Đặc điểm cơn ho SL Tỉ lệ (%)

Ho cơn có đỏ mặt 45 93,8

93,8% trẻ ho cơn có đỏ mặt; 50% ho cơn có tím; nôn sau ho 81,3%; tiếng rít sau ho 31,3%; trong đó có 4,2% trẻ có cơn ngừng thở khi ho

Bảng 3.9 Phân bố bệnh theo thể bệnh

Thể bệnh SL Tỉ lệ (%)

54,2% bệnh nhi mắc ho gà ở thể không nặng là 54,2%, thể nặng chiếm 45,8%

Biểu đồ 3.2 Phân bố đặc điểm sốt theo thể bệnh

39,6% trẻ bệnh có triệu chứng sốt 63,3% trẻ bệnh thể nặng có sốt và 19,2% trẻ thể bệnh không nặng có sốt

Thể không nặng Thể nặng Chung

Bảng 3.10 Các biểu hiện lâm sàng của bệnh ho gà theo các nhóm tuổi Tuổi Đặc điểm lâm sàng

Ho cơn có tím 17 65,4 7 31,8 24 50,0 0,05 Tiếng rít sau ho 5 19,2 10 45,5 15 31,3 0,05 Tăng tiết đờm dãi 16 61,5 12 54,5 28 58,3 >0,05

Trong một nghiên cứu về triệu chứng ho ở trẻ em, 100% trẻ trong các nhóm tuổi đều có ho cơn kịch phát, trong khi 95,8% có triệu chứng chảy mũi Ho cơn đỏ mặt chiếm 93,8%, và 81,3% trẻ có hiện tượng nôn sau ho Tỷ lệ sốt ở trẻ là 39,6%, nhưng không có sự khác biệt thống kê giữa các nhóm tuổi (p > 0,05) Đặc biệt, 50% trẻ biểu hiện ho cơn có tím, trong đó trẻ ≤ 3 tháng gặp nhiều hơn trẻ từ 4 tháng - ≤ 9 tuổi (65,4% so với 31,8%) Ngoài ra, 31,3% trẻ có tiếng rít sau ho, với tỷ lệ cao hơn ở trẻ từ 4 tháng - ≤ 9 tuổi (45,5% so với 19,2%), và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Bảng 3.11 Dấu hiệu nặng của cơn ho gà

Thể nặng Thể không nặng Tổng

Thời gian ho > 60s 15 68,2 2 7,7 17 35,4 Tri giác trong cơn ho: li bì 22 100,0 3 11,5 25 52,1

Nhịp tim nhanh kéo dài 8 36,4 0 0 8 16,7

Nhịp tim chậm cần kích thích 0 0 0 0 0 0

Nhu cầu oxy kéo dài 22 100,0 0 0 22 45,8

Nút đờm nhày tắc nghẽn phải hút 22 100,0 0 0 22 45,8

Không có tiếng thở rít 13 59,1 0 0 13 27,1 Không đáp ứng sau cơn ho 9 40,9 0 0 9 18,8

Trẻ em có thể nặng thường biểu hiện các triệu chứng nghiêm trọng, với 100% trẻ có dấu hiệu li bì và cần hút đờm nhầy do tắc nghẽn, cùng với nhu cầu oxy kéo dài Đến 90,9% trẻ có da xanh tái và có triệu chứng nôn hoặc nghẹt thở Hơn nữa, 68,2% trẻ gặp phải cơn ho kéo dài trên 60 giây, trong khi 59,1% không có tiếng thở rít và 40,9% không đáp ứng sau cơn ho Đặc biệt, không có bệnh nhân nào có nhịp tim chậm cần phải kích thích.

Bảng 3.12 Các biến chứng của ho gà

Các biến chứng Thể nặng Thể không nặng

Nhận xét: 87,5% trẻ có biến chứng viêm phổi, trong đó thể nặng gặp

100% Suy hô hấp 43,8% Hiếm gặp hơn là xuất huyết chiếm 4,2% Không có biến chứng co giật, viêm não, thoát vị… trong nghiên cứu này

3.2.7 Đặc điểm cận lâm sàng của bệnh ho gà

Bảng 3.13 Chỉ số BC, BC lympho, TC trung bình

Chỉ số Thể bệnh Thể nặng

Số lượng trung bình BC (G/L) 18,86 ± 5,2 14,95 ± 4,8 < 0,05

Số lượng trung bình BC

Số lượng trung bình TC (G/L) 482 ± 144 444 ± 74 >0,05

Số lượng trung bình bạch cầu (BC) và bạch cầu lympho (BC Lympho) ở thể nặng lần lượt là 18,86 ± 5,2 G/L và 11,76 ± 4,2 G/L, cao hơn so với thể không nặng với 14,95 ± 4,8 G/L và 9,37 ± 3,4 G/L, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p0,05).

Biểu đồ 3.3 Tình trạng tăng BC, BC lympho, TC theo thể bệnh

Tỉ lệ bệnh nhân có tăng bạch cầu (BC), bạch cầu lympho (BC Lympho) và tiểu cầu (TC) theo lứa tuổi lần lượt là 66,7%, 79,2% và 52,1% Đặc biệt, tỉ lệ tăng BC, BC Lympho và TC ở nhóm bệnh nhân thể nặng cao hơn so với nhóm không nặng.

Thể không nặng Thể nặng Chung

Bạch cầu BC lympho Tiểu cầu

Bảng 3.14 Thời gian từ khi bắt đầu ho đến khi làm xét nghiệm

Realtime PCR Thời gian làm xét nghiệm Trung bình Min Max

Thời gian trung bình từ khi bắt đầu ho đến khi thực hiện xét nghiệm PCR là 9,88 ± 5,8 ngày, với thời điểm sớm nhất diễn ra vào ngày thứ 3 và muộn nhất vào ngày thứ 20 của bệnh.

Bảng 3.15 Xét nghiệm các căn nguyên bội nhiễm khác

Căn nguyên bội nhiễm Tần số Tỉ lệ (%)

Có 14 ca xác định rõ căn nguyên bội nhiễm, trong đó bội nhiễm vi khuẩn chiếm tỉ lệ cao nhất 22,9%, vi rút 4.2% và nấm 2,1% Ngoài ra có 70,8% chưa xác định rõ căn nguyên bội nhiễm.

Một số yếu tố liên quan đến tiên lượng nặng của bệnh ho gà ở trẻ em

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa nhóm tuổi và thể bệnh

61,5% trẻ 0-3 tháng tuổi mắc ho gà thể nặng, cao hơn nhóm trẻ từ 4 tháng

- ≤ 9 tuổi (27,3%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa tuổi thai và thể bệnh

100% trẻ đẻ thiếu tháng mắc thể nặng; 43,5% trẻ đủ tháng mắc thể nặng

Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng và thể bệnh

66,7% trẻ bị suy dinh dưỡng mắc thể nặng, cao hơn nhóm trẻ không bị suy dinh dưỡng (44,4%) Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa tiêm phòng ho gà và thể bệnh

Theo nghiên cứu, 67,9% trẻ không tiêm phòng mắc thể nặng, tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với nhóm trẻ tiêm phòng không đầy đủ (17,6%), với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Trong khi đó, nhóm trẻ tiêm phòng không đầy đủ có tỷ lệ mắc thể nặng cao hơn nhóm tiêm đầy đủ, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 3.20 Mối liên quan giữa việc điều trị kháng sinh trước nhập viện và thể bệnh Thể bệnh

Tỉ lệ trẻ em mắc ho gà thể nặng không được điều trị kháng sinh trước khi nhập viện là 46,2%, cao hơn so với 44,4% ở nhóm không sử dụng kháng sinh trước đó Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Bảng 3.21 Mối liên quan giữa tình trạng sốt và thể bệnh

73,7% trẻ có sốt mắc ho gà thể nặng, cao hơn so với nhóm trẻ không sốt (27,6%) Sự phác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

Bảng 3.22 Mối liên quan giữa tình trạng bội nhiễm và thể bệnh

85,7% trẻ em mắc ho gà thể nặng có bội nhiễm căn nguyên khác, cao hơn so với nhóm trẻ chưa xác định bội nhiễm (29,4%) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Bảng 3.23 Mối liên quan giữa mức tăng Bạch cầu và thể bệnh

66,7% trẻ có mức tăng BC ≥ 20 G/L mắc ho gà thể nặng, cao hơn nhóm trẻ không có tăng BC ≥ 20 G/L (33,3%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

Bảng 3.24 Mối liên quan giữa mức tăng BC lympho và thể bệnh

87,5% trẻ có mức tăng BC Lympho ≥ 15 G/L mắc ho gà thể nặng, cao hơn nhóm trẻ không có tăng BC Lympho ≥ 15 G/L (25%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

Bảng 3.25 Mối liên quan giữa mức tăng tiểu cầu và thể bệnh

90 % trẻ có TC ≥ 550 G/L mắc ho gà thể nặng, cao hơn nhóm trẻ không có TC ≥ 550 G/L (34,2%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 22/06/2021, 21:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bùi Đại, Nguyễn Văn Mùi, Nguyễn Hoàng Tuấn (2005), Bệnh học truyền nhiễm, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, Tr. 218-224 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học truyền nhiễm
Tác giả: Bùi Đại, Nguyễn Văn Mùi, Nguyễn Hoàng Tuấn
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2005
5. Lê Hải Đăng, Nguyễn Thị Khánh Linh, Phạm Quang Thái (2017), “Đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến biến chứng của bệnh ho gà tại Hà Nội năm 2015 – 2016”, Tạp chí Y học dự phòng, 27(6), Tr. 61- 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến biến chứng của bệnh ho gà tại Hà Nội năm 2015 – 2016”, "Tạp chí Y học dự phòng
Tác giả: Lê Hải Đăng, Nguyễn Thị Khánh Linh, Phạm Quang Thái
Năm: 2017
7. Nguyễn Thị Dinh (2018), Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến tiên lượng nặng của bệnh ho gà ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương, Luận văn Thạc sĩ Nhi khoa, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến tiên lượng nặng của bệnh ho gà ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương
Tác giả: Nguyễn Thị Dinh
Năm: 2018
8. Đỗ Thiện Hải, Nga Đỗ Thị Thúy Nga, Hà Hoàng Thị Thu Hà và cộng sự. (2018), “Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng bệnh ho gà ở trẻ nhỏ dưới 3 tháng tuổi tại Bệnh viện Nhi trung ương”, Tạp chí Y học dự phòng, 28(6), Tr. 93-101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng bệnh ho gà ở trẻ nhỏ dưới 3 tháng tuổi tại Bệnh viện Nhi trung ương”, "Tạp chí Y học dự phòng
Tác giả: Đỗ Thiện Hải, Nga Đỗ Thị Thúy Nga, Hà Hoàng Thị Thu Hà và cộng sự
Năm: 2018
9. Đỗ Thiện Hải, Đỗ Thị Thúy Nga, Dương Thị Hồng và cộng sự. (2016), “Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng bệnh ho gà ở trẻ em được chẩn đoán ho gà tại Bệnh viện Nhi trung ương, giai đoạn 2012 – 2014”, Tạp chí Y học dự phòng, 26(6), 35-36, 26(6), Tr. 35-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng bệnh ho gà ở trẻ em được chẩn đoán ho gà tại Bệnh viện Nhi trung ương, giai đoạn 2012 – 2014”, "Tạp chí Y học dự phòng, 26(6), 35-36
Tác giả: Đỗ Thiện Hải, Đỗ Thị Thúy Nga, Dương Thị Hồng và cộng sự
Năm: 2016
10. Nhâm Hải Hoàng (2018), “Đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị bệnh ho gà ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi đồng 1”, Y học thành phố Hồ Chí Minh, 22(3), Tr. 113-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị bệnh ho gà ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi đồng 1”, "Y học thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nhâm Hải Hoàng
Năm: 2018
11. Nguyễn Công Khanh, Bùi Văn Viên (2013), "Đặc điểm sự tạo máu và máu ngoại biên ở trẻ em", Bài giảng Nhi Khoa tập 2, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sự tạo máu và máu ngoại biên ở trẻ em
Tác giả: Nguyễn Công Khanh, Bùi Văn Viên
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2013
13. Phùng Nguyễn Thế Nguyên (2016), "Khó thở", Sách giáo khoa Nhi khoa (textbook of pediatrics), Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khó thở
Tác giả: Phùng Nguyễn Thế Nguyên
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học
Năm: 2016
14. Phạm Văn Phúc (2017), Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh ho gà ở trẻ em tại bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Luận văn Bác sĩ nội trú chuyên ngành Truyền nhiễm, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh ho gà ở trẻ em tại bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương
Tác giả: Phạm Văn Phúc
Năm: 2017
15. Phạm Song, Nguyễn Hữu Quỳnh, Lê Đăng Hà (2008), Bách khoa toàn thư Bệnh học, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bách khoa toàn thư Bệnh học, tập 2
Tác giả: Phạm Song, Nguyễn Hữu Quỳnh, Lê Đăng Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
16. Nguyễn Thị Diệu Thúy (2016), Viêm phế quản phổi, Sách giáo khoa Nhi khoa (textbook of pediatrics), Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội, Tr. 704-707 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Nhi khoa (textbook of pediatrics)
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Thúy
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học
Năm: 2016
18. Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương (2016), Dự án tiêm chủng mở rộng quốc gia: báo cáo tổng kết tiêm chủng mở rộng năm 2016.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án tiêm chủng mở rộng quốc gia: báo cáo tổng kết tiêm chủng mở rộng năm 2016
Tác giả: Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương
Năm: 2016
19. Nieto Guevara J. Luciani K. et al (2010), “Hospital admissions due to whooping cough: experience of the del nomo hospital in Panama. Period 2001- 2008”, An Pediatr(Barc), 72 (3), pp. 172-178 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hospital admissions due to whooping cough: experience of the del nomo hospital in Panama. Period 2001- 2008”, "An Pediatr(Barc)
Tác giả: Nieto Guevara J. Luciani K. et al
Năm: 2010
20. Surridge J., Segedin E. R., Grant C. C. (2007), “Pertussis requiring intensive care”, Arch Dis Child, 92 (11), pp. 970-975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pertussis requiring intensive care”, "Arch Dis Child
Tác giả: Surridge J., Segedin E. R., Grant C. C
Năm: 2007
21. A. Petti Cathy, Institute Clinical and Laboratory Standard (2008), Interpretive criteria for indentification of bacteria and fungi by DNA target sequencing: approved guideline, Clinical and Laboratory Standards Institute, Clinical and Laboratory Standards Institute (Waync, PA, VIII), pp. 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Interpretive criteria for indentification of bacteria and fungi by DNA target sequencing: approved guideline
Tác giả: A. Petti Cathy, Institute Clinical and Laboratory Standard
Năm: 2008
22. Abman S. H., Hansmann G., Archer S. L., et al. (2015), “Pediatric Pulmonary Hypertension: Guidelines From the American Heart Association and American Thoracic Society”, Circulation, 132 (21), pp.2037-2099 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pediatric Pulmonary Hypertension: Guidelines From the American Heart Association and American Thoracic Society”, "Circulation
Tác giả: Abman S. H., Hansmann G., Archer S. L., et al
Năm: 2015
23. B. Joseph J., S. Russell W., M Bryon K. (2019), “Pertussis: Practice Essentials, Background, Etiology and Pathophysiology”, Medscape Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pertussis: Practice Essentials, Background, Etiology and Pathophysiology”
Tác giả: B. Joseph J., S. Russell W., M Bryon K
Năm: 2019
24. Bellettini C. V., de Oliveira A. W., Tusset C., et al. (2014), “Clinical, laboratorial and radiographic predictors of Bordetella pertussis infection”, Rev Paul Pediatr, 32 (4), pp. 292-298 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical, laboratorial and radiographic predictors of Bordetella pertussis infection”, "Rev Paul Pediatr
Tác giả: Bellettini C. V., de Oliveira A. W., Tusset C., et al
Năm: 2014
25. Bennett John E., Dolin Raphael, Blaser Martin J. (2015), Mandell, Douglas, and Bennett's Principles and Practice of Infectious Diseases (Eighth Edition), Elsevier Health Sciences Publishing, Philadenphia, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mandell, Douglas, and Bennett's Principles and Practice of Infectious Diseases (Eighth Edition)
Tác giả: Bennett John E., Dolin Raphael, Blaser Martin J
Năm: 2015
26. Berger J. T., Carcillo J. A., Shanley T. P., et al. (2013), “Critical pertussis illness in children: a multicenter prospective cohort study”, Pediatr Crit Care Med, 14 (4), pp. 356-365 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Critical pertussis illness in children: a multicenter prospective cohort study”, "Pediatr Crit Care Med
Tác giả: Berger J. T., Carcillo J. A., Shanley T. P., et al
Năm: 2013

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w