1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp trên địa bàn tỉnh an giang

86 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 817,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số đơn vị, địa phương chưa lấy kết quả phong trào thi đua làm căn cứ, cơ sở để khen thưởng nên tác dụng khen thưởng chưa cao; một số trường hợp còn thiếu chính xác, nể nang, cào bằng

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI XUÂN THỦY

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH AN GIANG

Ngành: Chính sách công

Mã số: 8 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRẦN MINH TUẤN

AN GIANG - 2020

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Ở nước ta, công tác TĐKT luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm ngay từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác TĐKT Người từng nói: “Thi đua khen thưởng là động lực phát triển và là biện pháp quan trọng để xây dựng con người mới” Ngay sau khi tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 02/9/1945, Người đã quan tâm, ban hành nhiều văn bản pháp luật về TĐKT nhằm động viên mọi tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua lao động, sản xuất, chiến đấu trên mọi mặt trận từ dựng nước đến giữ nước

Đến nay, nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về TĐKT đã được ban hành và được sửa đổi, bổ sung nhiều lần để phù hợp với tình hình thực tiễn về TĐKT trong mỗi giai đoạn đổi mới của đất nước và phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế Trong đó, thi đua và khen thưởng là hai yếu tố luôn được đặc biệt xem trọng, có quan hệ chặt chẽ và tác động biện chứng lẫn nhau Thi đua là động lực thúc đẩy cá nhân, tổ chức hoàn thành tốt các nhiệm

vụ, trên cơ sở đó thực hiện việc khen thưởng Khen thưởng vừa là kết quả, vừa là yếu tố thúc đẩy phong trào thi đua phát triển Khen thưởng đúng người, đúng việc; bảo đảm khách quan, công bằng và thực hiện kịp thời sẽ có tác dụng động viên, cổ vũ cho thi đua

Để đảm bảo tính khách quan, công bằng trong công tác thi đua và khen thưởng, Luật TĐKT lần đầu tiên đã được Quốc hội Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XI (kỳ họp thứ 4) thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực thi

hành kể từ ngày 01/07/2004 Luật TĐKT đã được sửa đổi, bổ sung năm 2005

và năm 2013

Sau khi Quốc hội ban hành Luật TĐKT đến nay, công tác TĐKT trong

cả nước đã có nhiều chuyển biến tích cực Các chủ trương, chính sách và hệ

Trang 3

thống văn bản quy phạm pháp luật về TĐKT ngày càng được hoàn thiện, dần

đi vào nền nếp, các phong trào thi đua đã thực sự góp phần vào thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và của các bộ, ngành, địa phương Công tác khen thưởng đã kịp thời động viên, khích lệ, biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích trong lao động, sản xuất, công tác,…

Tuy nhiên, quá trình thực hiện pháp luật TĐKT sau thời gian mới được ban hành đã bộc lộ những bất cập Trước năm 2013, quy định khen thưởng còn chung chung, bao quát tất cả đối tượng, quá trình xét TĐKT ở nhiều tổ chức, đơn vị lao động, sản xuất thường xảy ra trường hợp nể nang, việc khen thưởng tuy có thực hiện đúng quy định nhưng kết quả bình bầu, xét TĐKT thường tập trung vào những cán bộ lãnh đạo, quản lý, do hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về khen thưởng cho NLĐ trực tiếp chưa nhiều, còn mờ nhạt, chỉ đến khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TĐKT 2013 và được cụ thể hoá tại Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật TĐKT thì vấn đề khen thưởng cho NLĐ trực tiếp mới được xem là một tiêu chí đặt ra đối với từng đơn vị xét TĐKT

Nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật TĐKT, trong đó đặc biệt đề ra các tiêu chuẩn, điều kiện khen thưởng cho nông dân, NLĐ trực tiếp, tỉnh An Giang đã ban hành Quyết định số 87/2017/QĐ-UBND ngày 12/12/2017 về Quy chế công tác TĐKT trên địa bàn tỉnh An Giang

Quá trình thực hiện pháp luật hiện hành về TĐKT trên địa bàn tỉnh An Giang và Quyết định của tỉnh nói trên cho thấy, tuy đã có những quy định cụ thể về khen thưởng cho NLĐ trực tiếp, song vẫn còn một số mặt tồn tại nhất định Luật xây dựng các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng chưa phù hợp ở các cấp, nhất là ở cấp cơ sở; đặc biệt chưa có những quy định ràng buộc chặt chẽ, có hệ thống để tạo ra mô hình khen thưởng theo hình chóp; một số quy định về thẩm quyền xét tặng danh hiệu thi đua và khen thưởng còn thể

Trang 4

hiện sự bất cập, không hợp lý; quy định tiêu chuẩn của một số danh hiệu thi đua và khen thưởng cao, nhưng tiêu chuẩn lại thấp hơn dẫn đến xu hướng dồn lên các hình thức khen thưởng cấp Bộ và cấp Nhà nước Khen thưởng nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý; khen thưởng tập thể nhỏ và lao động trực tiếp còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào các kỳ đại hội

Nhiều nơi phong trào thi đua còn hình thức, chưa tạo động lực thi đua

từ cơ sở, từ quần chúng nhân dân; chưa gắn kết thi đua với thực hiện nhiệm

vụ chính trị; nội dung, tiêu chí thi đua chưa cụ thể, chưa gắn với lợi ích của NLĐ Một số đơn vị, địa phương chưa lấy kết quả phong trào thi đua làm căn

cứ, cơ sở để khen thưởng nên tác dụng khen thưởng chưa cao; một số trường hợp còn thiếu chính xác, nể nang, cào bằng, chạy theo thành tích; cá biệt còn

có tập thể, cá nhân được khen thưởng, nhưng thành tích chưa tiêu biểu và tạo sức lan tỏa…

Trước tình hình trên, tác giả chọn đề tài: “Thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp trên địa bàn tỉnh An Giang” làm luận

văn tốt nghiệp của mình, với mong muốn bổ sung thêm kiến thức về công tác TĐKT và làm rõ những vấn đề còn còn tồn tại trong thực hiện chính sách TĐKT cho NLĐ trực tiếp trên địa bàn tỉnh An Giang Từ đó, có những kiến nghị, giải pháp góp phần nâng cao chất lượng thực hiện chính sách khen thưởng cho NLĐ trực tiếp trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Do TĐKT là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nên đến nay đã

có nhiều công trình khoa học, sách tham khảo, các luận văn, các bài báo, tạp chí đề cập với nhiều góc độ khác nhau về thực hiện chính sách TĐKT cho NLĐ trực tiếp, nhưng chủ yếu là tập trung vào quản lý hoạt động TĐKT Cụ thể như các cuốn sách, bài báo, công trình nghiên cứu sau:

Trang 5

- Sách “Đảng, Bác Hồ với thi đua yêu nước và công tác thi đua khen thưởng”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội (2008) Sách đã phân tích khá kỹ

những vấn đề lý luận, quan điểm của Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách của Đảng và Nhà nước ta về thi đua yêu nước và công tác TĐKT Đồng thời, đưa ra cách tiếp cận tổng quát khi nghiên cứu về TĐKT, có thể tham khảo để nghiên cứu phát triển làm phong phú thêm lý luận về TĐKT

- Sách tham khảo: “Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về công tác thi đua, khen thưởng” của PGS TS Nguyễn Thế Thắng (2009) Cuốn sách phân tích

các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách của Đảng và Nhà nước ta về TĐKT

- Đề tài nghiên cứu “Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới thi đua khen thưởng trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Trần Thị Hà (2013), Đề tài khoa

học cấp Nhà nước, Ban TĐKT Trung ương Bên cạnh trình bày cơ sở lý luận

và thực tiễn về TĐKT, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về TĐKT, tổ chức làm công tác TĐKT và thực thi về TĐKT, tác giả đề xuất các giải pháp đổi mới hoạt động TĐKT và quản lý Nhà nước về TĐKT, kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật TĐKT để TĐKT thực sự là động lực góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ mới

- Bài viết “Thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động”,

đăng trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Nội vụ ngày 17/8/2020 của tác giả Phạm Thu Thuỷ - Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương Bài viết cho thấy chính sách khen thưởng đối với NLĐ là nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước ta quan tâm sâu sắc và đã được quy phạm hóa tại Nghị định số 91/2017/NĐ-CP Tuy nhiên, đối tượng NLĐ vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau và chưa có định nghĩa chính thống Do đó, trong thực tiễn cách thức khen thưởng cho đối tượng là NLĐ được thực hiện một cách khác nhau, không theo một quy chuẩn

Trang 6

cụ thể, đã có những hạn chế, vướng mắc của cơ quan nhà nước khi thực hiện trao tặng các danh hiệu TĐKT cho NLĐ Từ đó, tác giả đã đề xuất giải pháp thực hiện có hiệu quả chính sách khen thưởng đối với NLĐ trong giai đoạn hiện nay

- Luận văn “Hoàn thiện công tác thi đua khen thưởng” của tác giả

Nguyễn Đức Hiếu, Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, Học viện Khoa học

xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt nam (2016)

- Luận văn “Thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp trên địa bàn tỉnh Gia Lai” của tác giả Lê Hoài Thanh, Luận văn

Thạc sĩ chính sách công, Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt nam (2019)

Các luận văn đã tập trung nghiên cứu, phân tích nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến những vấn đề lý luận chung về TĐKT; Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới TĐKT; Quản lý nhà nước về TĐKT; những khó khăn trong nhận thức thực hiện chính sách TĐKT, Tuy nhiên, rất ít các nghiên cứu khai thác cụ thể về việc thực hiện chính sách khen thưởng cho NLĐ trực tiếp, đặc biệt chưa có công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách khen thưởng cho NLĐ trực tiếp trên địa bàn tỉnh An Giang

Do vậy, việc nghiên cứu thực hiện chính sách TĐKT cho NLĐ trực tiếp trên địa bàn tỉnh An Giang sẽ góp phần bổ sung vào hệ thống lý luận về thực thi chính sách, làm tài liệu tham khảo quan trọng cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức trên địa bàn tỉnh trong quá trình thực thi chính sách về TĐKT đảm bảo tính khách quan, công bằng cho tất cả những NLĐ trực tiếp; đồng thời, nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về TĐKT trên địa bàn tỉnh An Giang trong thời gian tới

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 7

Trên cơ sở phân tích thực trạng thực thi chính sách khen thưởng cho NLĐ trực tiếp tại tỉnh An Giang từ năm 2016 – 2020, luận văn đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện chính sách TĐKT

ở địa phương trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận cơ bản và các quy định pháp luật, văn bản hướng dẫn về công tác khen thưởng

- Phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và thực hiện chính sách khen thưởng cho NLĐ trực tiếp tại tỉnh An Giang

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả thực thi chính sách khen thưởng cho NLĐ trực tiếp tại tỉnh An Giang trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực thi chính sách khen thưởng cho NLĐ trực tiếp tại tỉnh An Giang

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Thực hiện chính sách khen thưởng cho NLĐ trực tiếp

- Về không gian: Tỉnh An Giang

- Về thời gian: Từ năm 2016 - 2020

5 Cơ sở lý luận

Đề tài sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và quy định pháp luật Nhà nước

về TĐKT nhằm làm rõ lý luận cơ bản về khen thưởng cho NLĐ trực tiếp

6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp phân tích: được sử dụng để đánh giá các quan điểm, đường lối của Đảng, các quy định pháp luật; đồng thời để phân tích các số

Trang 8

liệu trong bảng tổng hợp, tính toán tỷ lệ nhằm chỉ ra được thực trạng công tác khen thưởng cho NLĐ trực tiếp ở tỉnh An Giang hiện nay

- Phương pháp tổng hợp: Sử dụng phương pháp này để tóm lược, rút ra những kết luận của vấn đề nghiên cứu Tổng hợp các kết quả nghiên cứu, số liệu thống kê về đối tượng khen thưởng là NLĐ trực tiếp từ năm 2016 đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh qua các báo cáo về công tác TĐKT hàng năm

- Phương pháp so sánh: Sử dụng để phân tích, đánh giá các Nghị quyết, chuyên đề của Đảng, các quy định của pháp luật về chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp qua các giai đoạn lịch sử so sánh với việc thực hiện chính sách và quy định của pháp luật trên địa bàn tỉnh An Giang

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Những khái niệm được nghiên cứu, đề xuất trong đề tài như: khen thưởng, chính sách khen thưởng, khen thưởng cho người lao động trực tiếp,

có ý nghĩa lý luận sâu sắc, góp phần bổ sung vào cơ sở lý luận trong lĩnh vực nghiên cứu chính sách về khen thưởng cho NLĐ trực tiếp hiện nay

Song song đó, đề tài còn giúp cho các nhà nghiên cứu, quản lý về thi đua khen thưởng có cái nhìn tổng quan về thực trạng và kết quả thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp tại một địa phương điển hình là tỉnh An Giang Những giải pháp được đề xuất trong đề tài có ý nghĩa thực tiễn đối với các cơ quan quản lý TĐKT của tỉnh An Giang, phù hợp để

áp dụng tại địa phương trong vấn đề thực hiện chính sách khen thưởng cho NLĐ trực tiếp

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 03 chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về chính sách khen thưởng và khen thưởng cho người lao động trực tiếp

Trang 9

Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp trên địa bàn tỉnh An Giang

Chương 3 Giải pháp thực thi chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp trên địa bàn tỉnh An Giang trong thời gian tới

Trang 10

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHEN THƯỞNG VÀ KHEN KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG 1.1 Một số khái niệm cơ bản về khen thưởng, chính sách khen thưởng và người lao động

1.1.1 Khen thưởng

Trong lịch sử nước ta, việc khen thưởng đã xuất hiện từ thời dựng nước, chống giặc ngoại xăm và phát triển của đất nước Khen thưởng thường được dành cho các bậc công thần, những người lập thành tích cho đất nước, cho cộng đồng, việc khen thưởng thực hiện thông qua lời nói hoặc bằng hiện vật, hiện kim nhằm biểu dương, khen ngợi, động viên tinh thần, nêu gương tốt

để các cá nhân và cộng đồng noi theo

Trong Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, các Sứ thần Triều Lê, Lịch Triều Hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ghi lại, việc khen thưởng lúc bấy giờ được nhà vua ban tặng cho người có công trong chiến trận, trong việc đi sứ, người phò tá có công lao tài đức, người có công tiến

cử người hiền tài, người có lời tâu đúng, người cấp dưới giữ đúng phép công, không vị nể người quyền quý cấp trên, người có công làm thuỷ lợi, người có tài văn chương, người cao tuổi1

Hình thức khen thưởng rất đa dạng Đối với người còn sống là những công thần khai quốc hoặc có công dẹp giặt, giữ yên bờ cỏi thì được khen thưởng công trạng với các hình thức như: ban họ vua (Quốc thính), được ghi công vào sử sách, được vẽ hình, dựng bia ghi công, được phong chức, được thưởng vàng bạc, được cấp ruộng đất Nếu người có công đã mất thì nhà vua ban cho được phối hưởng (cúng tế tổ tiên trong một cuộc tế lễ)

Trang 11

Sách có ghi lại rằng, lễ cho công thần được phối hưởng từ đời Tam đại đã

có, nếu người có công thì được ghi tên vào cờ Thái thường, tế ở lễ Đại chưng (lễ của nhà vua tế người có công) Việc báo đức đền công được nhà vua xem trọng nhất Việc cho các công thần được phối hưởng vừa để thỏa vong linh, tỏ được nghĩa khí, mà cũng đúng với lễ của thiên vương từ ngàn đời xưa để lại Việc thưởng, phạt rất công minh “Những người có công thì thờ mới hợp điển lễ, kẻ tầm thường không công trạng thì không nên cho cả

mà nhàm” Qua đó, có thể thấy trong các triều đại phong kiến cũng rất chú trọng việc khen thưởng người có công, việc khen thưởng rất công bằng, không có thiên vị để giữ nghiêm kỷ cương phép nước

Nguyễn Trãi (1380-1442), nhà chính trị, nhà văn và cũng là khai quốc công thần trong triều đại quân chủ nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, đã

có nhận định rằng, một Nhà nước mà thưởng phạt nghiêm minh, kịp thời là Nhà nước vững mạnh Nhà nước nào phạt nhiều hơn thưởng là Nhà nước đang suy tàn Nhà nước nào thưởng nhiều hơn phạt là Nhà nước phồn vinh.2Thực vậy, Nhà nước chỉ vững mạnh khi mọi người dân đều có tinh thần yêu nước, đoàn kết, cùng đóng góp chung cho lợi ích của cộng đồng, của đất nước, có nhiều thành tích và được tuyên dương, khen thưởng

Trong Lời kêu gọi tướng sĩ vệ quốc quân, dân quân du kích nhân cuộc vận động luyện bộ đội lập chiến công trong cuộc kháng chiến chống giặc của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi tướng sĩ, dân quân du kích gắng sức đua tài, xung phong diệt địch, thi đua giữa các cán bộ với nhau, giữa đơn vị này với đơn vị khác, với các chỉ tiêu thi đua cụ thể: “Ai cướp được nhiều súng hơn, ai lập được công to hơn; Tổ quốc đang kêu gọi

2 Viện Thi đua Khen thưởng Nhà nước (1997), Những quy định cơ bản về công tác thi đua và chế độ khen

thưởng, tài liệu lưu hành nội bộ, Hà Nội (trang 21)

Trang 12

anh em; Quốc dân đang trông mong anh em; Chính phủ đang sẵn sàng khen thưởng anh em; Riêng về phần tôi, tôi để dành một phần thưởng đặc biệt cho cán bộ, chiến sĩ nào hoặc đơn vị nào sẽ lập được công oanh liệt nhất, vẻ vang nhất.” 3

Hay trong Lời kêu gọi đồng bào bán gạo khao quân nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc khánh 02/9/1949, để khao thưởng bộ đội ta, những người đang chiến đấu anh dũng để giữ gìn độc lập dân tộc, trong giai đoạn kháng chiến gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lấy phương châm của thánh hiền “thực túc, binh cường”, lấy lương thực mà khao thưởng để kêu gọi đồng bào góp gạo khao quân Người nói “Lấy lương thực mà khao thưởng là đơn giản nhất, thiết thực nhất”.4

Trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc khen thưởng, Người nêu rõ: “Thưởng phạt phải nghiêm minh, có công thì thưởng, có lỗi thì phạt; có công mới có huân, phải

có công huân mới được thưởng huân chương, thưởng cái nào đích đáng cái ấy… khen thưởng phải có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương.”5

Ngay sau khi giành được chính quyền, ngày 26/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Quốc lệnh 10 điều thưởng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, bao gồm: Thưởng đối với gia đình có con tòng quân; thưởng người lập được quân công; người hy sinh vì nước; người ra trận can đảm, phi thường; người làm việc với tấm lòng trong sạch, ngay thẳng; người làm việc có lợi cho nước nhà, dân tộc, được dân chúng mến phục; người bỏ

3 Sách 120 lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, trg 88

4 Sách 120 lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, trg 126

5 Viện Thi đua Khen thưởng Nhà nước (1997), Những quy định cơ bản về công tác thi đua và chế độ khen

thưởng, tài liệu lưu hành nội bộ, Hà Nội

Trang 13

tiền ra xây đắp cầu cống, đê, đường; người bắt được những kẻ phản quốc; người liều mình về công việc; người cứu được người bị nạn

Sau ngày Việt Nam giành được độc lập, thống nhất đất nước cho đến ngày hôm nay, Đảng, Nhà nước ta luôn thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác TĐKT, 10 điều khen thưởng này đã trở thành nền tảng tư tưởng, nguyên tắc pháp lý chỉ đạo việc khen thưởng trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước và trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đến ngày hôm nay

Từ thực tiễn của việc khen thưởng qua các thời kỳ lịch sử của đất nước,

có thể hiểu khen thưởng là theo khái niệm chung như sau:

Khen thưởng là quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm khuyến khích tinh thần của một cá nhân hay tổ chức có thành tích trong việc thực hiện các chức trách, nhiệm vụ, hoặc có thành tích trong các phong trào thi đua, khuyến khích người tham gia có tinh thần và trách nhiệm, có ý thức sáng tạo, thông qua khen thưởng nhằm tuyên dương những tập thể, cá nhân có công trong việc xây dựng lợi ích chung tổ chức, cộng đồng Thông thường khen thưởng sẽ có khen thưởng bằng tinh thần và khen thưởng bằng vật chất

Tại khoản 2 Điều 3 của Luật TĐKT của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003 đã quy định: “Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Trong định nghĩa về khen thưởng nêu trên có hai yếu tố cơ bản là thành tích/công trạng và khen thưởng Nếu người có thành tích tốt, xuất sắc thì sẽ được khen thưởng, việc khen thưởng đúng đối tượng, kịp thời sẽ tiếp thêm động lực để họ tiếp tục phấn đấu và còn nêu gương cho những người xung quanh, còn nếu ngược lại, việc khen thưởng có yếu tố thiên vị, không kịp thời

Trang 14

sẽ làm hạn chế hoặc làm giảm sút lòng tin, ý chí phấn đấu trong lao động, sản xuất, từ đó, làm giảm hiệu quả và năng suất làm việc của cả tập thể

1.1.2 Người lao động trực tiếp

Cho đến nay còn nhiều ý kiến khác nhau và chưa có khái niệm thể hiện bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về đối tượng là NLĐ trực tiếp

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của BLLĐ năm 2019, NLĐ là:

“người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương

và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động”

Như vậy, NLĐ ở vị trí và cách nhìn nhận này có thể là người thợ, người công nhân, NLĐ trí thức như công chức, viên chức, chuyên gia ở các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, đóng góp sức lao động, chuyên môn để làm ra sản phẩm, thường được người sử dụng lao động tuyển dụng thông qua hợp đồng lao động hoặc khoán công việc theo sản phẩm, được trả lương, tiền công theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động hoặc theo kết quả thực hiện đối với công việc, sản phẩm được giao

Ngoài ra còn có những NLĐ không chịu sự ràng buộc bởi người chủ sử dụng lao động, không nhận lương từ họ, bởi đây là những đối tượng lao động

tự do, những người thuần túy làm nông nghiệp, hoặc những cá nhân lao động mang tính chất tình nguyện, thiện nguyện, không tính đến lợi nhuận hoặc công lương Sản phẩm làm ra của đối tượng này là sản vật, nông sản phục vụ trực tiếp cho đời sống của họ, thời giờ làm việc không phụ thuộc vào khuôn phép, ràng buộc của hợp đồng hoặc các quy ước lao động

Như vậy, có thể nhìn nhận khái niệm “Người lao động trực tiếp” dưới các góc độ khác nhau như:

- Dưới góc độ lao động, sản xuất, NLĐ trực tiếp được hiểu là những người trực tiếp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc nhiệm vụ nhất định Đây là những NLĐ

Trang 15

bình thường trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, chẳng hạn như công nhân lao động, người nông dân trực tiếp lao động, canh tác, người giáo viên trực tiếp giảng dạy, công nhân dọn dẹp vệ sinh, các hộ lý, điều dưỡng trong các bệnh viện hoặc những người âm thầm, lặng lẽ trực tiếp làm các nhiệm vụ tình nguyện, thiện nguyện,

- Dưới góc độ quản lý nhà nước, có thể hiểu NLĐ trực tiếp là người không giữ chức vụ lãnh đạo, được tuyển dụng làm việc, theo hợp đồng hoặc trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, hưởng lương từ đơn vị sự nghiệp và là cá nhân trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ được giao

Ở môi trường làm việc này, NLĐ tuân thủ theo quy chuẩn của thứ bậc hành chính và chịu sự ràng buộc bởi pháp luật chuyên ngành Sản phẩm của

họ mang tính trí tuệ và đầu ra của sản phẩm là các văn bản tham mưu cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý cơ quan nhà nước, các ý tưởng đổi mới trong cải cách,

tổ chức bộ máy nhà nước, các công việc mang lại hiệu quả lớn cho xã hội như chăm sóc người bệnh, điều chế thuốc, gìn giữ văn hóa cội nguồn dân tộc Cách nhìn nhận về NLĐ trong trường hợp này cũng để phân biệt với người giữ chức vụ lãnh đạo, là người có chức vụ, được hưởng phụ cấp lãnh đạo, thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều hành, phân công công việc, quản lý NLĐ trong cơ quan, đơn vị

Từ những mô tả trên có thể rút ra đặc điểm NLĐ trực tiếp như sau: Là NLĐ trực tiếp làm việc ở nhiều môi trường, nhiều công việc khác nhau trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; Không phân biệt người trẻ hay người lớn tuổi, không phân biệt nam hay nữ; Họ là những người trực tiếp làm ra sản phẩm, của cải vật chất hoặc trực tiếp tạo ra những giá trị tốt đẹp cho xã hội từ đôi tay, năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của mình

1.1.3 Chính sách, chính sách công

Trang 16

Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực

cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa,…

Còn theo James Anderson thì, chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn

đề mà họ quan tâm

Như vậy, có thể hiểu chính sách theo khái niệm như sau: Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình

Chính sách công (public policy) được tiếp cận nghiên cứu từ những góc

độ khoa học khác nhau, theo đó có những cách hiểu, xác định không hoàn toàn giống nhau về khái niệm và các thuộc tính của chính sách công, cụ thể như:

William Jenkin cho rằng: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó” Còn Peter Aucoin lại khẳng định: “Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành” B Guy Peter thì đưa ra định nghĩa: “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân”,…

Riêng nhà khoa học trong nước có những quan niệm cụ thể hơn:

Theo TS Tạ Ngọc Hải – Viện Khoa học tổ chức nhà nước thì: Chính sách công là những hoạt động mà chính quyền chọn làm và không làm, là

Trang 17

toàn bộ các hoạt động của chính quyền trực tiếp hay gián tiếp tác động đến cuộc sống của mọi người.6

Như vậy, so sánh các quan niệm đã nêu ta thấy có những điểm tương đồng trong quan niệm về chính sách công như: tính nhà nước, tính công cộng, tính hành động thực tiễn (coi quá trình thực hiện là một phần của chính sách công)

Từ những khái niệm chung về chính sách, chính sách công, có thể đi đến khái niệm về chính sách công như sau: Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển

Khái niệm trên đây vừa bao hàm những đặc trưng của chính sách công

là do Nhà nước ban hành để tác động đến các đối tượng thuộc cộng đồng một cách ổn định Vừa thể hiện được bản chất của chính sách là công cụ định hướng của Nhà nước cho mọi hành vi xã hội đối với các quá trình phát triển

có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

6 Tạ Ngọc Hải (2014), Chính sách công – Tiếp cận từ khoa học tổ chức nhà nước, Tạp chí Tổ chức nhà nước,

Trang 18

Đến nay, chưa có một khái niệm cụ thể nào về Chính sách khen thưởng Từ khái niệm chung của chính sách công và các khái niệm về thi đua, khen thưởng có thể định nghĩa:

Chính sách khen thưởng là tập hợp các quy định, quyết sách của Nhà nước nhằm đưa ra các công cụ và cách thức giải quyết các vấn đề liên quan đến công tác khen thưởng và hoạt động khen thưởng Các cơ quan trong hệ thống hành pháp và mọi cá nhân, tổ chức có nhiệm vụ chấp hành quyết sách này trong lĩnh vực hoạt động khen thưởng theo đúng quy định của pháp luật

1.1.5 Thực hiện chính sách khen thưởng

Thực hiện chính sách khen thưởng là quá trình chuyển các quy định, quyết sách của Nhà nước liên quan đến công tác khen thưởng và hoạt động khen thưởng trở thành hiện thực, làm cho chính sách khen thưởng đi vào thực tiễn cuộc sống Các cơ quan hành pháp và mọi cá nhân, tổ chức phải đảm bảo thực hiện đúng chính sách pháp luật về khen thưởng

Thực hiện chính sách khen thưởng là nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước

ta quan tâm sâu sắc Việc thực hiện chính sách khen thưởng là một khâu quan trọng tất yếu Nếu chính sách khen thưởng được thực hiện tốt sẽ mang lại lợi ích to lớn cho những đối tượng thụ hưởng chính sách, đồng thời làm tăng uy tín của nhà nước trong quá trình quản lý xã hội Thực hiện chính sách khen thưởng nhằm duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý của nhà nước và nhằm được mục tiêu của chính sách

Việc khen thưởng nhằm động viên mọi cá nhân, tổ chức tham gia vào các phong trào thi đua, tích cực phấn đấu trong sản xuất, công tác Sự đóng góp của từng cá nhân sẽ góp phần làm cho tập thể vững mạnh, hăng hái thi đua lập thành tích, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Kết quả khen thưởng là niềm tự hào, là động lực để mỗi cá nhân tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được của mình, có

Trang 19

thêm những sáng kiến và đóng góp nhằm tăng cường khả năng chuyên môn

và góp phần phát triển cơ quan, tổ chức nơi mình làm việc; đồng thời, cá nhân được khen thưởng là những gương tiên tiến, điển hình để những người chưa được khen noi theo, thấy được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình để đặt ra mục tiêu phấn đấu Do đó, việc thực hiện tốt chính sách khen thưởng sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và nhân dân; làm cho các phong trào thi đua được phát triển rộng khắp, với nhiều hình thức đa dạng lan tỏa, khích lệ cán bộ, công chức, NLĐ và các tầng lớp nhân dân, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tích cực học tập, lao động, sản xuất, kinh doanh; từ đó tạo động lực thi đua hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, nhiệm vụ chính trị được giao

Chính sách khen thưởng thường được cơ quan nhà nước thẩm quyền thực hiện vào các kỳ tổng kết thành tích hoặc công trạng qua các giai đoạn cách mạng; khen thưởng thường xuyên và đột xuất đối với thành tích đạt được trong lao động, sản xuất; khen thưởng theo niên hạn công tác và khen thưởng đối ngoại, quy định tại Điều 4 của Luật TĐKT năm 2003

Khen thưởng theo công trạng và thành tích đạt được là hình thức khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc hoặc hoàn thành xuất sắc nhiệm

vụ được giao, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Mức độ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phải do cấp trình khen thưởng căn cứ theo quy định xem xét, đánh giá, công nhận

Khen thưởng theo đợt (hoặc chuyên đề) là khen thưởng cho tập thể, cá nhân đạt được thành tích xuất sắc sau khi kết thúc đợt thi đua do Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức, đơn vị phát động

Khen thưởng đột xuất là khen thưởng cho tập thể, cá nhân lập được thành tích đột xuất ngoài chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ mà tập thể, cá

Trang 20

nhân phải đảm nhiệm; hoặc thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất đạt được ở mức độ đặc biệt xuất sắc khi dũng cảm cứu người, cứu tài sản của nhân dân, của Nhà nước hoặc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc lập được thành tích đặc biệt xuất sắc trong các lĩnh vực được khu vực hoặc thế giới ghi nhận

Khen thưởng quá trình cống hiến là khen thưởng cho cá nhân có quá trình tham gia hoạt động trong các giai đoạn cách mạng, giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, có công lao, thành tích xuất sắc, đóng góp vào

sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc

Khen thưởng theo niên hạn là khen thưởng cho cá nhân thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, có thành tích, có thời gian tham gia xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân theo quy định

Khen thưởng đối ngoại là khen thưởng cho tập thể, cá nhân người nước ngoài có thành tích đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ở một trong các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao hoặc lĩnh vực khác

Theo quy định về TĐKT thì việc khen thưởng phải căn cứ vào thành tích của tập thể, cá nhân Các bước thực hiện chính sách khen thưởng như sau:

Bước 1 Đánh giá, công nhận thành tích của tập thể, cá nhân

Hội đồng TĐKT bộ, ban, ngành, địa phương có trách nhiệm giúp Người đứng đầu đánh giá thành tích của tập thể, cá nhân có phạm vi ảnh hưởng trong toàn quốc; ảnh hưởng trong bộ, ban, ngành, địa phương hoặc trong ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý

Đối với các hình thức khen thưởng thuộc thẩm quyền của bộ, ban, ngành, địa phương; cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hoặc trực thuộc bộ, ban, ngành, địa phương, việc đánh giá, công nhận mức độ hoàn thành xuất sắc

Trang 21

nhiệm vụ, phạm vi ảnh hưởng của thành tích do Người đứng đầu quyết định

và chịu trách nhiệm trước pháp luật

Đối với các hình thức khen thưởng cấp Nhà nước việc đánh giá, công nhận thành tích và đề nghị cấp trên khen thưởng do Người đứng đầu bộ, ban, ngành, địa phương thực hiện và chịu trách nhiệm trước pháp luật

Bước 2 Hội đồng TĐKT tổ chức họp xét khen thưởng

Cơ quan thường trực Hội đồng có trách nhiệm tham mưu cho Chủ tịch Hội đồng tổ chức họp Hội đồng Hội đồng họp khi có ít nhất 2/3 thành viên tham dự Chủ tịch Hội đồng chủ trì hội nghị hoặc ủy quyền cho 01 Phó Chủ tịch Hội đồng chủ trì Chủ tịch Hội đồng thực hiện bỏ phiếu như các thành viên khác Cơ quan thường trực Hội đồng xin ý kiến các thành viên vắng mặt bằng văn bản, tổng hợp, báo cáo Chủ tịch Hội đồng; hoàn thiện Biên bản họp Hội đồng và hồ sơ đề nghị khen thưởng theo quy định

Bước 3 Người đứng đầu bộ, ban, ngành, địa phương phê duyệt danh

sách khen thưởng, ký Quyết định khen thưởng đối với tập thể, cá nhân theo thẩm quyền; hoặc đề xuất cấp trên khen thưởng, cơ quan thường trực Hội đồng có trách nhiệm tham mưu cho Chủ tịch Hội đồng hoàn thiện hồ sơ để đề nghị cấp trên khen thưởng theo thẩm quyền

1.1.6 Khen thưởng cho người lao động trực tiếp

Chính sách khen thưởng của Đảng và Nhà nước ta luôn đảm bảo nguyên tắc chính xác, công khai, công bằng, kịp thời Tuy nhiên, vì trong luật không có quy định riêng về khen thưởng cho NLĐ trực tiếp nên từng lúc, từng nơi, quá trình thực hiện các quy định về TĐKT vẫn còn tình trạng thiên

vị, cả nể, có nơi khen cấp lãnh đạo nhiều hơn NLĐ trực tiếp, chỉ đến khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật TĐKT được ban hành năm 2013 thì mới có các điều khoản quy định khen thưởng cho NLĐ trực tiếp Tuy nhiên, khái niệm NLĐ trực tiếp vẫn chưa được đề cập trong Luật Để hướng dẫn rõ hơn

Trang 22

chính sách khen thưởng cho NLĐ trực tiếp, Chính phủ đã lần lượt ban hành các Nghị định hướng dẫn thi hành, đó là Nghị định số 65/2014/NĐ-CP ngày 01/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Luật thi đua, khen thưởng năm 2013 và Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật thi đua, khen thưởng

Từ cơ sở các khái niệm về khen thưởng và NLĐ trực tiếp được đề cập ở trên, có thể hiểu khen thưởng cho NLĐ trực tiếp theo khái niệm sau:

Khen thưởng cho NLĐ trực tiếp là quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm tuyên dương đối với NLĐ trực tiếp có thành tích trong việc thực hiện các chức trách, nhiệm vụ được giao, có tinh thần và trách nhiệm, có

ý thức sáng tạo xây dựng lợi ích chung tổ chức, cộng đồng, thông qua khen thưởng cho NLĐ trực tiếp nhằm động viên tinh thần, tôn vinh để NLĐ có ý chí vươn lên, phấn đấu trong công việc và cùng xây dựng một tập thể vững mạnh, xuất sắc

Theo đó, đối tượng được khen thưởng là cá nhân trực tiếp lao động được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định với các hình thức khen thưởng do lập thành tích trong lao động, sản xuất, xây dựng, bảo vệ tổ quốc,

Đó có thể là những hình thức vinh danh với các danh hiệu cao quý của Đảng, Nhà nước được quy định trong Luật TĐKT hoặc khen đột xuất hay trực tiếp

từ lãnh đạo cơ quan mà NLĐ trực tiếp đó làm việc, công tác

1.2 Mục đích, yêu cầu, tầm quan trọng của công tác khen thưởng

và thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp

1.2.1 Vai trò của người lao động trực tiếp

Trong các doanh nghiệp hoặc cơ quan, đơn vị hành chính, NLĐ có vai trò trực tiếp tạo ra các sản phẩm, dịch vụ, thực hiện các hoạt động kinh doanh hoặc tham mưu giải quyết các công việc bằng sức lực, đôi tay và kỹ năng

Trang 23

nghề nghiệp, chuyên môn, nghiệp vụ của mình Ở từng vị trí khác nhau, có thể là công chức, viên chức, công nhân, nông dân,… số lượng NLĐ trực tiếp chiếm đa số trong mỗi tổ chức, cơ quan hoặc doanh nghiệp Nếu không có NLĐ trực tiếp bằng sức lực và đôi tay, trí tuệ của mình luôn cần mẫn, âm thầm đóng góp thì nền kinh tế - xã hội của đất nước sẽ không đạt được những thành tựu nhất định, họ chính là những người thực thi các nhiệm vụ cụ thể ở các đơn vị, địa phương và là lực lượng nòng cốt để việc triển khai các phong trào thi đua yêu nước đạt được hiệu quả và có thành tựu đến hôm nay

1.2.2 Mục đích, yêu cầu của công tác khen thưởng

Công tác khen thưởng nhằm tạo động lực, động viên, lôi cuốn, khuyến khích mọi cá nhân, tập thể phát huy truyền thống yêu nước, năng động, sáng tạo vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; đồng thời, khen thưởng cũng

là để ghi nhận, biểu dương, khuyến khích bằng lợi ích vật chất, tinh thần đối với tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong xây dựng, phát triển và bảo

vệ Tổ quốc

Công tác khen thưởng phải gắn với phong trào thi đua và nhiệm vụ chính trị của từng địa phương, cơ quan, đơn vị Các hình thức khen thưởng đều xuất phát từ phong trào thi đua, ngoại trừ khen thưởng đột xuất, khen thưởng cống hiến Các cá nhân và tập thể được khen thưởng phải thực sự là hạt nhân tiêu biểu xuất sắc, là nòng cốt và điển hình trong phong trào thi đua

Việc khen thưởng phải bảo đảm chính xác, công bằng, công khai và kịp thời, phải có tác dụng giáo dục, động viên thúc đẩy phong trào thi đua, khơi dậy óc tìm tòi sáng tạo, phát huy trí tuệ, năng lực, tính tích cực của mỗi cá nhân và tập thể Do đó, khen thưởng phải chính xác, công khai, công bằng và kịp thời mới có tác dụng động viên nêu gương Khen thưởng phô trương hình thức và báo cáo thiếu trung thực, không chính xác, công bằng và kịp thời sẽ làm mất tác dụng và ý nghĩa của nó Người được khen thưởng đúng cảm thấy

Trang 24

được trân trọng và vinh dự, từ đó phát huy được tính tích cực trong các công việc được giao Người không được khen thưởng cũng thấy được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình cần phải phấn đấu để được ghi nhận trong thời gian tới

Công tác khen thưởng phải hướng đến đơn vị cơ sở, cá nhân tiêu biểu trên mọi lĩnh vực Khen trước hết tập trung cho các đơn vị dưới cơ sở, bao gồm các tổ, đội, tiểu đội, trung đội, phân xưởng, trạm trại, khu phố, thôn ấp, làng bản,…Sở dĩ như vậy là vì cơ sở là nơi hiểu được rất rõ về người mà mình

đề xuất và phát huy tác dụng thực tế

Một hình thức khen thưởng có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng Trong quá trình học tập, lao động và công tác của các cá nhân và tập thể có thể lập được nhiều thành tích khác nhau trên nhiều lĩnh vực; khi xem xét đề nghị khen thưởng phải căn cứ vào thời gian, phạm vi ảnh hưởng, công lao đóng góp, hình thức và điều kiện lập được thành tích Do đó, không nhất thiết một đối tượng phải khen nhiều hình thức khác nhau; thành tích đạt được, công lao đóng góp trong điều kiện và hoàn cảnh khác nhau nhưng có cùng chung một mức hình thức khen thưởng, thì có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng

Đối tượng khen thưởng phải cân đối, hài hòa Khen thưởng thành tích toàn diện phải song song với thành tích từng mặt công tác, cần khuyến khích khen thưởng thành tích từng mặt công tác Khi xét khen thưởng một mặt công tác xuất sắc phải đảm bảo yêu cầu các mặt công tác khác đạt mức thành tích tốt Khen thưởng từng mặt công tác làm cơ sở khen thưởng thành tích toàn diện cho một đơn vị, địa phương, ngành Sự cân đối hài hòa trong khen thưởng còn thể hiện ở khen thưởng thành tích thường xuyên hàng năm (dựa vào tổng kết phong trào thi đua) song song với việc khen thưởng thành tích đột xuất, khen thưởng chuyên đề

Khen về tinh thần phải đi đôi với thưởng về vật chất Khen đi đôi với thưởng thỏa đáng cũng là một yêu cầu không thể thiếu được trong tình hình

Trang 25

hiện nay vì “trăm đồng tiền công không bằng một đồng tiền thưởng”, để động viên những cá nhân và tập thể có thành tích xuất sắc đóng góp cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị Hình thức khen cao phải được thưởng vật chất cao hơn Tuy khuyến khích vật chất là một động lực, song nhìn chung không nên nhấn mạnh quá đến yếu tố vật chất Khen thưởng vẫn phải mang ý nghĩa tinh thần, động viên là chủ yếu, cần quan tâm hơn trong việc sử dụng các đòn bẩy về chế độ chính sách kèm theo như những người được khen thưởng cao với thành tích xuất sắc được quan tâm cho đi đào tạo, bồi dưỡng, nâng lương, đề bạt…để tạo ra sức hút, động lực của phong trào thi đua

1.2.3 Yêu cầu của việc khen thưởng đối với người lao động trực tiếp

NLĐ trực tiếp bao gồm những người trực tiếp lao động, sản xuất, công tác, học tập, chiến đấu,…là những người góp phần quan trọng không thể thiếu được trong việc hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị Họ là những người, trong công việc thực hiện hàng ngày, hàng giờ, luôn đối mặt với điều kiện vật chất, phương tiện, kỹ thuật sẵn có để làm ra sản phẩm, có thể gặp tai nạn nghề nghiệp hoặc đôi khi là sự bất thường của thời tiết, sự cố kỹ thuật, Do đó, trong công tác khen thưởng cần chú trọng khen thưởng cho NLĐ trực tiếp nhằm động viên tinh thần, tôn vinh đối với kết quả, thành tích đạt được; thông qua khen thưởng bằng vật chất nhằm giúp NLĐ tái tạo sức lao động, có ý chí vươn lên, khắc phục khó khăn, phấn đấu trong công việc để cải thiện cuộc sống của bản thân, gia đình và đóng góp vào sự phát triển chung của cộng đồng, của toàn xã hội

Khi khen thưởng cho NLĐ trực tiếp phải kịp thời, đúng lúc, làm cho cá nhân được khen cảm thấy được trân trọng và vinh dự, tin tưởng vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Đồng thời, giúp NLĐ thấy được tính công bằng trong các hình thức khen, từ đó phát huy

Trang 26

được tính tích cực trong các công việc mà NLĐ trực tiếp đang đảm nhận Người không được khen thưởng cũng thấy được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình cần phải phấn đấu để được ghi nhận trong thời gian tới

Mặt khác, việc khen thưởng cho NLĐ trực tiếp phải đúng thẩm quyền theo quy định của Luật TĐKT Cụ thể về thẩm quyền khen và cơ quan quản

lý nhà nước về TĐKT được quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật như sau:

Cơ quan thực hiện công tác khen thưởng ở Trung ương là Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương; Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương

Cơ quan thực hiện công tác khen thưởng ở cấp tỉnh là Ban Thi đua – Khen thưởng trực thuộc Sở Nội vụ (hoặc Văn phòng UBND cấp tỉnh), Hội đồng Thi đua – Khen thưởng cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan tham mưu cho cấp ủy Đảng và chính quyền về công tác thi đua, khen thưởng của địa phương Chủ thể thực hiện công tác khen thưởng ở cấp huyện: Phòng Nội vụ thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Về thẩm quyền quyết định khen thưởng gồm: Chủ tịch nước quyết định tặng thưởng Danh hiệu vinh dự Nhà nước, Huân chương, Huy chương, Giải thưởng Hồ Chí Minh ; Thủ tướng Chính phủ quyết định tặng thưởng Bằng khen và các danh hiệu thi đua như Cờ thi đua của Chính phủ, Chiến sĩ thi đua toàn quốc; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định tặng thưởng Giấy khen và danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở, Lao động tiến tiến, Đơn vị tiên tiến

Ngoài ra, công tác khen thưởng phải bám sát tiêu chuẩn và đối tượng theo quy định của pháp luật đối với đối tượng được khen, trình tự khen, quy trình khen và phải khen đúng người, đúng việc

Đối với đối tượng được khen là NLĐ trực tiếp cũng cần xem xét tính phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành Người được khen phải là cá nhân trực tiếp lao động, có thành tích xuất sắc, có cống hiến cho cộng đồng,

Trang 27

dân cư những sản phẩm lao động sáng tạo thực sự có ích Các cá nhân được khen thưởng phải thực sự là hạt nhân tiêu biểu, xuất sắc hoặc là người có công trạng nhất định trong các phong trào thi đua được khởi xướng, phát động bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bởi tập thể, cơ quan, đơn vị nơi NLĐ trực tiếp làm việc, sản xuất

1.2.4 Ý nghĩa của công tác khen thưởng và tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp

Việc khen thưởng thể hiện sự trân trọng, tôn vinh đối với thành tích, công trạng; động viên bằng vật chất kịp thời chính là động lực kích thích mỗi NLĐ hăng hái tham gia các phong trào thi đua Khi một ý tưởng nhỏ được ghi nhận và khen thưởng cũng là động lực để NLĐ luôn mong muốn đóng góp thật nhiều ý tưởng sáng tạo, góp phần vào sự phát triển chung của tổ chức, doanh nghiệp Thực hiện tốt công tác khen thưởng là góp phần thực hiện tốt công tác quản lý tổ chức, doanh nghiệp, quản lý con người Nếu khen thưởng không đúng người, đúng việc thì phong trào thi đua sẽ không có hiệu quả

Do đó, khen thưởng là động lực thúc đẩy mạnh mẽ các phong trào thi đua, phát huy sức mạnh tổng hợp, động viên, cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân thi đua lao động sản xuất, học tập, chiến đấu, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ tổ quốc

1.3 Các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp

Một là, các văn bản về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách

pháp luật của Nhà nước Đây chính là yếu tố cơ bản nhất có thể tác động đến việc thực hiện chính sách khen thưởng cho NLĐ trực tiếp

Có thể thấy, suốt quá trình xây dựng và phát triển của đất nước, vấn đề TĐKT được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, có chỉ đạo sát sao trong thời kỳ kháng chiến đến cho đến nay, từ những chủ trương lớn của Bộ Chính trị như

Trang 28

Chỉ thị 35-CT/TW năm 1998 về đổi mới công tác TĐKT trong giai đoạn mới, khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của công tác TĐKT trong giai đoạn xây dựng đất nước; Chỉ thị 39-CT/TW năm 2004 về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến; Chỉ thị số 34-CT/TW năm 2014 về tiếp tục đổi mới công tác TĐKT nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tập trung thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ

Từ đó, hệ thống văn bản pháp luật về TĐKT từng bước được xây dựng hoàn chỉnh từ năm 2000 đến nay, bao gồm: Luật Thi đua, Khen thưởng được sửa đổi, bổ sung các năm 2003, 2005, 2013 và các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành

Các chủ trương, chính sách, pháp luật về TĐKT thời gian qua được xem như nền tảng để công tác TĐKT ngày càng đi vào chiều sâu, có nhiều chuyển biến tích cực, công tác khen thưởng luôn gắn với phong trào thi đua, hoặc khen thưởng phải gắn với các thành quả lao động mà NLĐ trực tiếp đạt được Do đó, để thực hiện chính sách khen thưởng cho NLĐ trực tiếp, yếu tố quan trọng đầu tiên là các văn bản về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về TĐKT, khen thưởng cho NLĐ trực tiếp

Hai là, tổ chức bộ máy và năng lực của cán bộ làm công tác TĐKT

Đây cũng là yếu tố không kém phần quan trọng tác động đến kết quả thực hiện chính sách khen thưởng cho NLĐ trực tiếp

Việc bố trí, sắp xếp tổ chức bộ máy làm công tác TĐKT là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng công tác khen thưởng, đặc biệt là khen thưởng cho NLĐ trực tiếp Các đối tượng là NLĐ trực tiếp cần sự quan tâm đặc biệt của bộ máy làm công tác TĐKT nhằm có cái nhìn khách quan, đánh giá đúng tài năng, thành quả lao động NLĐ, khích lệ, động viên họ đóng góp nhiều sáng kiến, cống hiến lớn cho đất nước như việc phát minh ra các công

Trang 29

cụ, dụng cụ giúp nhà nông thoát nghèo, chế tạo rác thải thành phân bón công nghiệp,

Ba là, sự hưởng ứng của NLĐ trực tiếp đối với phong trào thi đua Đội

ngũ lao động trực tiếp chiếm số đông trong một tập thể, vì thế, phong trào thi đua có lớn mạnh, đạt hiệu quả cần phải có sự tham gia tích cực của các cá nhân, tập thể trong phong trào thi đua, nhất là NLĐ trực tiếp NLĐ trực tiếp được khen thưởng và nhân rộng điển hình tiên tiến sẽ là yếu tố quan trọng có tính lan tỏa sâu sắc, có ảnh hưởng lớn đến cộng đồng, dân cư và toàn xã hội

Bốn là, vai trò của cơ quan truyền thông trong phát hiện các gương điển

hình tiên tiến, người tốt việc tốt; công tác thông tin, tuyên truyền chính sách khen thưởng, quy định pháp luật về khen thưởng cho NLĐ trực tiếp phải được phổ biến rộng rãi, chính xác Thông qua công tác tuyên truyền, nhân rộng các điển hình tiên tiến, các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với quần chúng nhân dân, góp phần cổ vũ phong trào thi đua yêu nước của nhân dân

Trang 30

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Chính sách khen thưởng là một công cụ không thể thiếu trong hoạt động quản lý nhà nước về TĐKT Trong Chương 1, tác giả đã hệ thống hoá một số khái niệm về khen thưởng, chính sách, NLĐ, từ đó khái quát và đưa ra khái niệm “người lao động trực tiếp”, “chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp” nhằm làm sáng tỏ thêm phần lý luận về khen thưởng cho NLĐ trực tiếp; đồng thời, tác giả làm rõ thêm các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách khen thưởng như: Các chủ trương của Đảng; chính sách và pháp luật của Nhà nước về khen thưởng và khen thưởng cho NLĐ trực tiếp; tổ chức

bộ máy và năng lực của cán bộ làm công tác TĐKT; vai trò của cơ quan truyền thông; sự hưởng ứng tham gia của NLĐ đối với phong trào thi đua và chính sách khen thưởng Những nội dung trong chương 1 là tiền đề về lý luận quan trọng, làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách khen thưởng đối với NLĐ trực tiếp ở tỉnh An Giang trong Chương 2

Trang 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH AN GIANG 2.1 Tổng quan về tỉnh An Giang và các chính sách, pháp luật về công tác khen thưởng cho người lao động trực tiếp

2.1.1 Giới thiệu khái quát về Tỉnh An Giang

An Giang là tỉnh miền Tây Nam bộ, thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, phía Đông và phía Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Tây Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài gần 100 km, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông Nam giáp thành phố Cần Thơ Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 353.675,89 ha, trong đó, diện tích đất sản xuất nông nghiệp

là 297.872,11 ha An Giang là tỉnh biên giới dài gần 100km, giáp với 02 tỉnh Takeo và Kandal (Vương quốc Campuchia) nên có vị trí chiến lược về quốc phòng và an ninh ở biên giới Tây Nam với 02 cửa khẩu quốc tế là Xuân Tô (huyện Tịnh Biên), Vĩnh Xương (thị xã Tân Châu) và 02 cửa khẩu Quốc gia

là Khánh Bình và Vĩnh Hội Đông (huyện An Phú)

Dân số toàn tỉnh An Giang cuối năm 2020 là 1.904.532 người, 04 dân tộc sinh sống chủ yếu là Kinh, Hoa, Khmer và Chăm; ngoài dân tộc Kinh chiếm đa số còn có 28 dân tộc thiểu số với 110.000 người (chiếm 5,04%) so dân số cả tỉnh, bao gồm dân tộc Khmer, Chăm, Hoa 10.079 và 25 dân tộc thiểu số khác sinh sống rải rác trên địa bàn; dân số ở khu vực nông thôn là 1.321.000 người; số lao động được tạo việc làm trong năm trên 30.300 người; trong đó, lao động nữ là 12.300 người Tỷ lệ lao động được đào tạo so với tổng số lao động là 65%

Tỉnh có 29 Sở, ban ngành, cơ quan đoàn thể, trong đó có 19 đơn vị được thành lập theo Nghị định số 24/2014/NĐ-CP và 02 cơ quan hành chính: Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh được thành lập theo Nghị định số

Trang 32

48/2016/NĐ-CP ngày 27 tháng 5 năm 2016 quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế của Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ban Quản lý khu Kinh tế được thành lập theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế; Có 11 đơn vị hành chính, gồm có 02 thành phố trực thuộc, 01 thị xã và 08 huyện với 156 xã, phường, thị trấn (trong đó có 116 xã, 21 phường, 19 thị trấn) và 879 khóm, ấp

Hai năm gần đây (2019 - 2020), do ảnh hưởng chung của đại dịch Covid-19, nền kinh tế của tỉnh gặp không ít khó khăn, tỉnh đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ nhằm tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, kinh doanh cho doanh nghiệp Kết quả năm 2020, tổng sản phẩm GRDP trên địa bàn theo giá

so sánh 2010 tăng 2,69% so cùng kỳ (năm 2019 tăng 7,04%) Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,46% (năm 2019 tăng 4,91%); khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,54% (năm 2019 tăng 12,17%); khu vực dịch vụ tăng 1,65% (năm 2019 tăng 7,10%); thuế sản phẩm trừ trợ giá sản phẩm tăng 2,25% (năm trước tăng 8,91%) Kim ngạch xuất khẩu của năm đạt

930 triệu USD, tăng 4,49% so cùng kỳ năm 2019 Thu nhập bình quân đầu người đạt 46.768.000 đồng, tăng 4,86% so cùng kỳ năm 2019 Các lĩnh vực văn hóa - xã hội, môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng đạt nhiều kết quả quan trọng Quốc phòng, an ninh được tăng cường; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm

Trong các năm qua, sự phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh đã có tác động trực tiếp đến công tác TĐKT nói chung cũng như TĐKT cho NLĐ trực tiếp trên địa bàn tỉnh nói riêng Hàng năm, tỉnh luôn chú trọng phát động các phong trào thi đua lập thành tích chào mừng các ngày lễ lớn nhằm tạo động lực, đòn bẩy cho việc phát triển kinh tế - xã hội Các phong trào thi đua luôn được sự hưởng ứng tích cực từ NLĐ và các ngành, các cấp trên phạm vi toàn

Trang 33

tỉnh Kết quả thống kê công tác khen thưởng giai đoạn 2016-2020 cho thấy, các ngành, các cấp và các địa phương trong tỉnh đã chú trọng khen thưởng cho NLĐ trực tiếp Trong số các tập thể, cá nhân được tặng Bằng khen của UBND tỉnh thì có 70% là NLĐ trực tiếp, 69% là NLĐ trực tiếp được khen thưởng theo chuyên đề Bên cạnh đó, tỷ lệ NLĐ trực tiếp được đề xuất danh hiện Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh còn hạn chế, chỉ đạt tỷ lệ 33,7%, một số đơn vị còn chưa quan tâm đúng mức đến công tác khen thưởng cho NLĐ trực tiếp, chỉ xét khen thưởng cho đối tượng là cán bộ quản lý.

2.1.2 Thực trạng hoạt động của bộ máy và cán bộ làm công tác khen thưởng ở tỉnh An Giang

Căn cứ Thông tư số 15/2014/TT-BNV ngày 31/10/2014 của Bộ Nội vụ

về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Nội

vụ thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Nội vụ thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Ngày 18/6/2015, UBND tỉnh An Giang đã ban hành Quyết định số 19/2015/QĐ-UBND Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Nội vụ tỉnh An Giang Theo đó, hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác TĐKT từ tỉnh đến cơ sở được củng cố, kiện toàn theo hướng tiếp tục đổi mới công tác tổ chức và cán bộ TĐKT, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng TĐKT các cấp; nâng cao năng lực tham mưu, nghiên cứu của các cơ quan chuyên trách

về TĐKT; xây dựng đội ngũ cán bộ vừa có năng lực, vừa có phẩm chất đáp ứng được yêu cầu về đổi mới công tác TĐKT trong giai đoạn mới

Theo quy định Quyết định số 19/2015/QĐ-UBND của UBND tỉnh An Giang, tại Ban TĐKT tỉnh là cơ quan trực thuộc Sở Nội vụ Biên chế được giao năm 2020 là 14 người, biên chế hiện có là 13 người, gồm 3 phòng: Phòng Tổng hợp - Hành chính, phòng Nghiệp vụ 1, Phòng Nghiệp vụ 2 Trong đó có 01 Trưởng ban, 02 Phó Trưởng ban, 02 Phó Trưởng phòng

Trang 34

Ban TĐKT tỉnh là cơ quan thường trực của Hội đồng Thi đua – Khen thưởng tỉnh An Giang, vừa được kiện toàn theo Quyết định số 2939/QĐ-UBND ngày 17/12/2020 của UBND tỉnh An Giang Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh làm Chủ tịch Hội đồng Các Phó Chủ tịch Hội đồng, gồm: Phó Chủ tịch

Ủy ban nhân dân tỉnh làm Phó Chủ tịch thứ nhất của Hội đồng, thay mặt Chủ tịch Hội đồng điều hành hoạt động thường xuyên của Hội đồng; Giám đốc Sở Nội vụ làm Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam tỉnh; Chủ tịch Liên đoàn lao động tỉnh

Các ủy viên của Hội đồng là cấp trưởng của các cơ quan: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; Ban Dân vận Tỉnh ủy; Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy; Thanh tra tỉnh; Công an tỉnh; Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh; Ủy ban nhân dân tỉnh; Cục Thống kê; Ban Thi đua - Khen thưởng tỉnh; Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh; Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh; Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh tỉnh

Hội đồng làm việc theo cơ chế các thành viên Hội đồng là kiêm nhiệm, hoạt động theo Quy chế và Chương trình công tác do Chủ tịch Hội đồng ban hành Hội đồng có con dấu riêng để thực hiện nhiệm vụ

Hội đồng có nhiệm vụ, quyền hạn như: Tham mưu cho Chủ tịch UBND tỉnh phát động các phong trào thi đua Định kỳ đánh giá kết quả phong trào thi đua và công tác khen thưởng; tham mưu việc sơ kết, tổng kết công tác TĐKT; kiến nghị, đề xuất các chủ trương, biện pháp đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước; Tham mưu cho Chủ tịch UBND tỉnh kiểm tra, giám sát các phong trào thi đua và thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật về TĐKT Tham mưu cho Chủ tịch UBND tỉnh tặng các danh hiệu thi đua và các hình thức khen thưởng theo thẩm quyền và trình cấp có thẩm quyền khen thưởng theo quy định của pháp luật về TĐKT

Về cán bộ, công chức làm công tác TĐKT tại các cấp, các ngành: 100% cán bộ, công chức làm công tác TĐKT có trình độ chuyên môn ở bậc đại học,

Trang 35

cao đẳng Về năng lực, trình độ của cán bộ, công chức làm công tác TĐKT trên toàn tỉnh như sau:

Số lượng Nam Nữ

Trình độ Năm công tác

ĐH trở lên CĐ, TC Dưới 05 năm Trên 05 năm

Vị trí kiêm nhiệm

ĐH trở lên

CĐ,

TC

Dưới

05 năm

Trên

05 năm

Văn phòng

Thống

Văn hóa

Vị trí khác

Bảng 2.1 Tổng hợp số lượng, cơ cấu công chức làm công tác TĐKT

Nguồn: UBND tỉnh An Giang7

Các Sở, Ban, ngành, đoàn thể, cơ quan đảng cấp tỉnh và 11/11 huyện, thị xã, thành phố đều có cán bộ kiêm nhiệm có trình độ cao đẳng trở lên làm công tác TĐKT, đa số cán bộ, công chức kiêm nhiệm đều có số năm kinh nghiệm công tác nhất định và thường xuyên được cơ quan, đơn vị cử tham gia các lớp đào tạo, tập huấn định kỳ về công tác TĐKT do Sở Nội vụ tổ chức

Các cụm, khối thi đua của tỉnh tiếp tục duy trì và hoạt động ổn định, có hiệu quả; việc tổ chức đăng ký, ký kết giao ước thi đua của từng cụm, khối được thực hiện nghiêm túc Qua hoạt động cụm, khối thi đua đã tạo điều kiện cho các cơ quan, đơn vị, địa phương, doanh nghiệp trao đổi, phổ biến, học tập các mô hình, hỗ trợ nhau cùng phát triển; các nhân tố mới trong phong trào thi đua được tôn vinh, phát huy tác dụng nêu gương, học tập Việc đánh giá, tổng kết TĐKT đảm bảo được tính công khai, dân chủ, đúng thành tích, nhờ đó góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu kế hoạch của ngành, đơn vị, địa phương

7 UBND tỉnh An Giang (2020), Báo cáo số 381/BC-UBND ngày 30/6/2020 về kết quả công tác TĐKT giai

Trang 36

Nhìn chung, tổ chức bộ máy làm công tác TĐKT từ tỉnh đến cơ sở thường xuyên được củng cố, kiện toàn Lãnh đạo các ngành, địa phương quan tâm bố trí công chức, viên chức phụ trách công tác TĐKT đảm bảo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; từ đó nâng cao chất lượng và năng lực công tác tham mưu, giúp cho lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt các phong trào TĐKT ở các ngành, các cấp

2.1.3 Chính sách, pháp luật hiện hành về khen thưởng cho người lao động trong giai đoạn vừa qua

2.1.3.1 Chủ trương hiện nay của Đảng về công tác khen thưởng

Ngày 07/4/2014, nhằm đổi mới công tác TĐKT, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức thực hiện phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chủ động hội nhập quốc tế, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 34 - CT/TW về tiếp tục đổi mới công tác TĐKT Theo đó, một trong những nhiệm vụ chủ yếu được Bộ Chính trị đặc biệt quan tâm, yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp thực hiện tốt là:

Đổi mới công tác khen thưởng bảo đảm chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch; coi trọng việc phát hiện, lựa chọn các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc để khen thưởng Ðề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc phát hiện những điển hình tiên tiến để khen thưởng và đề nghị cấp

có thẩm quyền khen thưởng Chú trọng khen thưởng tập thể nhỏ, công nhân, nông dân, NLĐ trực tiếp sản xuất, kinh doanh, cán bộ, chiến sĩ các lực lượng

vũ trang, dân quân, tự vệ, công an xã, bảo vệ dân phố, dân phòng, bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp Quan tâm khen thưởng cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo và vùng dân tộc thiểu số Tập trung giải quyết dứt điểm việc khen thưởng thành tích trong các cuộc kháng chiến và thực hiện chế độ, chính sách đối với các đối tượng có công lao, thành tích, cống hiến trong các cuộc

Trang 37

kháng chiến của dân tộc Chủ động xem xét, khen thưởng cho tập thể, cá nhân người nước ngoài có đóng góp lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, an ninh-quốc phòng của Việt Nam, có nhiều thành tích trong việc củng cố và phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế

2.1.3.2 Chính sách, pháp luật hiện hành về khen thưởng cho người lao động trực tiếp

Luật TĐKT được Quốc hội nước ta ban hành năm 2003 và đã qua các

kỳ sửa đổi, bổ sung trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật TĐKT năm

2005 và năm 2013

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật TĐKT năm 2013 đã tập trung sửa đổi, bổ sung về hệ thống tiêu chuẩn của danh hiệu thi đua và các hình thức khen thưởng theo hướng nâng cao tiêu chuẩn, đảm bảo chặt chẽ hơn; không lấy danh hiệu thi đua làm căn cứ xét hình thức khen thưởng nhằm tránh việc tích lũy thành tích trong khen thưởng theo kiểu “đến hẹn lại lên”; đưa nguyên tắc bình đẳng giới vào khen thưởng

Luật cũng đã bổ sung các tiêu chuẩn danh hiệu “Lao động tiên tiến”,

“Huân chương Lao động” các hạng, Bằng khen, giấy khen đối với công nhân, nông dân, người lao động trực tiếp tại các điều 23, 42, 43, 44, 71, 72 và quy định cụ thể trách nhiệm của người đứng đầu trong việc phát hiện và xây dựng điển hình tiên tiến là người lao động (được bổ sung vào khoản 4 Điều 83 Luật hiện hành)

Trong nguyên tắc khen thưởng, bên cạnh các quy định của Luật TĐKT

2003 là đảm bảo chính xác, công khai, công bằng, kịp thời; một hình thức khen thưởng có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng; kết hợp chặt chẽ động viên tinh thần với khuyến khích bằng lợi ích vật chất…, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TĐKT đã bổ sung nguyên tắc bảo đảm thống nhất

Trang 38

giữa hình thức, đối tượng và tiêu chuẩn khen thưởng; thành tích đến đâu khen thưởng đến đó; đảm bảo các nguyên tắc về bình đẳng giới trong khen thưởng

Ngày 31/7/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 91/2017/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật TĐKT Nghị định này đã thay thế 03 Nghị định trước đây của Chính phủ: Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 08/2017/TT-BNV

về hướng dẫn Nghị định 91/2017/NĐ-CP hướng dẫn Luật thi đua, khen thưởng Đến ngày 04/11/2019 Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 12/2019/TT-BNV Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 91/2017/NĐ-CP

Những điều khoản cụ thể về khen thưởng cho công nhân, nông dân, người lao động quy định trong Luật sửa đổi, bổ sung Luật TĐKT năm 2013

và Nghị định số 91/2017/NĐ-CP như sau:

Nguyên tắc khen thưởng: Quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật TĐKT và

sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung Luật TĐKT năm 2013 và theo quy định tại Điều 3 của Nghị định số 91/2017/NĐ-CP về nguyên tắc khen thưởng bao gồm:

Khen thưởng phải đảm bảo nguyên tắc chính xác, công khai, công bằng, kịp thời; Khen thưởng phải căn cứ vào điều kiện, tiêu chuẩn và thành tích đạt được, không nhất thiết phải có hình thức khen thưởng mức thấp mới được khen thưởng mức cao hơn Chú trọng khen thưởng tập thể nhỏ và cá nhân là người trực tiếp lao động, sản xuất, học tập, công tác hoặc chiến đấu, phục vụ chiến đấu Nội dung này còn được hướng dẫn cụ thể tại khoản 3 Điều

2 của Thông tư số 12/2019/TT-BNV là, cần quan tâm khen thưởng tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua; người dân tộc thiểu số, biên

Trang 39

giới, biển đảo, miền núi, vùng sâu, vùng xa và cá nhân có nhiều sáng tạo trong lao động, học tập, công tác

Bảo đảm thống nhất giữa tính chất, hình thức và đối tượng khen thưởng; Hình thức khen thưởng phải phù hợp với đối tượng, chức năng, nhiệm vụ được giao của tập thể, cá nhân và thành tích đạt được; Một hình thức khen thưởng có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng; không tặng thưởng nhiều hình thức cho một thành tích đạt được

Hình thức khen thưởng theo đợt, chuyên đề không tính làm điều kiện, tiêu chuẩn đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước Kết hợp chặt chẽ động viên tinh thần với khuyến khích bằng lợi ích vật chất Thực hiện việc khen thưởng phải bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới trong thi đua, khen thưởng Khi có nhiều cá nhân, tập thể cùng đủ điều kiện, tiêu chuẩn thì lựa chọn cá nhân nữ hoặc tập thể có tỷ lệ nữ từ 70% trở lên để xét khen thưởng

Nhà nước bảo đảm mọi quyền lợi về tinh thần và vật chất của cá nhân, tập thể được khen thưởng theo quy định của pháp luật Đồng thời, các hành vi

bị nghiêm cấm trong khen thưởng bao gồm: Kê khai gian dối, làm giả hồ sơ, xác nhận, đề nghị sai để được khen thưởng; Lạm dụng chức vụ, quyền hạn để

đề nghị, quyết dịnh khen thưởng trái pháp luật; Lãng phí tài sản của Nhà nước, của tập thể trong khen thưởng

Các hình thức và tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu thi đua và khen thưởng đối với người lao động trực tiếp

(1) Các hình thức và tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu thi đua

Hình thức và tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến” được quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung Luật TĐKT năm 2013

để sửa đổi, bổ sung khoản 3, điều 24 của Luật TĐKT

Theo đó, danh hiệu “Lao động tiên tiến” được xét tặng cho cán bộ, công chức, viên chức đạt các tiêu chuẩn: Hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao,

Trang 40

đạt năng suất và chất lượng cao; Chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có tinh thần tự lực, tự cường; đoàn kết, tương trợ, tích cực tham gia phong trào thi đua; Tích cực học tập chính trị, văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; Có đạo đức, lối sống lành mạnh

Riêng chiến sĩ Quân đội nhân dân nếu đạt các tiêu chuẩn quy định nêu trên sẽ được xét tăng danh hiệu “Chiến sĩ tiên tiến”

Danh hiệu “Lao động tiên tiến” xét tặng cho công nhân, nông dân, NLĐ có hoạt động lao động, sản xuất đạt hiệu quả, tích cực tham gia phong trào thi đua và hoạt động xã hội; đồng thời, phải gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; có đạo đức, lối sống lành mạnh, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng Ngoài ra, theo quy định tại Điều 10 của Nghị định số 91/2017/NĐ-CP thì, nếu NLĐ trực tiếp là chiến sĩ tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc người

có hành động dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước, của nhân dân dẫn đến bị thương tích cần điều trị, điều dưỡng theo kết luận của cơ sở y tế cấp huyện hoặc tương đương trở lên thì thời gian điều trị, điều dưỡng được tính để bình xét tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”

Nếu NLĐ trực tiếp có thành tích cao hơn thì sẽ được xét tặng các danh hiệu cao hơn, được quy định trong Luật TĐKT như: Chiến sĩ thi đua cơ sở, Chiến sĩ thi đua cấp bộ và chiến sĩ thi đua toàn quốc

Đối với danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở, cá nhân phải đạt các tiêu chuẩn như: Phải là cá nhân đạt các tiêu chuẩn của danh hiệu Lao động tiên tiến, Chiến sĩ tiên tiến; Có sáng kiến là giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý, giải pháp tác nghiệp hoặc giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả công tác được cơ sở công nhận hoặc có đề tài nghiên cứu khoa học đã nghiệm thu được áp dụng hoặc mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được đơn

Ngày đăng: 22/06/2021, 21:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w