Lý do lựa chọn đề tài: Ngày nay tiền tệ đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Lịch sử đã cho thấy quá trình trao đổi hàng hóa và tiền tệ là quá trình diễn ra tất yếu của con người. Nó đóng vai trò quan trọng giúp đồng tiền sinh lời và là phương tiện trao đổi hàng hóa thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Hiện nay có thể nói tiền thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của mọi người, ở mọi lúc mọi nơi góp phần tạo ra những tiến bộ to lớn đối với sự phát triển văn minh của loài người bằng cách thúc đẩy thương mại và hoạt động kinh tế.Mục đích nghiên cứu: Tiểu luận này được viết lên nhằm nêu lại quan điểm của Triết học Máclênin về lịch sử hình thành phát triển và quy luật lưu thông tiền tệ, giúp cho người đọc có cái nhìn chính xác hơn về tiền tệ.Nhiệm vụ của nghiên cứu: Là tìm hiểu tổng quan về khái niệm tiền tệ, quy luật lưu thông tiền từ đó vận dụng vào để nghiên cứu vấn đề kinh tế Việt Nam hiện nay.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
===============
Tiểu luận triết học LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ QUY LUẬT LƯU THÔNG TIỀN TỆ
GV hướng dẫn :
Họ tên sinh viên :
Lớp:
Khối 8 STT:
Hà Nội, Tháng 4 / 2013
Trang 2Mục lục
Mở đầu 1
Nội dung 2
1 Lịch sử phát triển 2
1.1 Nguồn gốc 2
1.2 Bản chất 2
1.3 Chức năng của tiền tệ 3
1.4 Sự hình thành các hình thái giá trị 6
2 Lưu thông tiền tệ 7
2.1 Khái niệm 7
2.2 Quy luật lưu thông tiền tệ 8
2.3 Đặc điểm của lưu thông tiền tệ 8
2.4 Vai trò của lưu thông tiền tệ đối với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế thị trường 8
3 Ý nghĩa của lưu thông tiền tệ ở nước ta hiên này 9
Kết luận 11
Tài liệu tham khảo 13
Trang 3Mở đầu
Lý do lựa chọn đề tài: Ngày nay tiền tệ đã trở thành một phần không thể
thiếu trong cuộc sống của con người Lịch sử đã cho thấy quá trình trao đổi hàng hóa và tiền tệ là quá trình diễn ra tất yếu của con người Nó đóng vai trò quan trọng giúp đồng tiền sinh lời và là phương tiện trao đổi hàng hóa thúc đẩy nền kinh tế phát triển Hiện nay có thể nói tiền thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của mọi người, ở mọi lúc mọi nơi góp phần tạo ra những tiến bộ to lớn đối với sự phát triển văn minh của loài người bằng cách thúc đẩy thương mại và hoạt động kinh tế
Mục đích nghiên cứu: Tiểu luận này được viết lên nhằm nêu lại quan điểm
của Triết học Mác-lênin về lịch sử hình thành phát triển và quy luật lưu thông tiền tệ, giúp cho người đọc có cái nhìn chính xác hơn về tiền tệ
Nhiệm vụ của nghiên cứu: Là tìm hiểu tổng quan về khái niệm tiền tệ, quy
luật lưu thông tiền từ đó vận dụng vào để nghiên cứu vấn đề kinh tế Việt Nam hiện nay
Trang 4Nội dung
1 Lịch sử phát triển
1.1 Nguồn gốc
Hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị Về mặt giá trị sử dụng, tức hình thái tự nhiên của hàng hoá, ta có thể nhận biết trực tiếp được bằng các giác quan Nhưng về mặt giá trị, tức hình thái xã hội của hàng hoá, nó không có một nguyên tử vật chất nào nên không thể cảm nhận trực tiếp được Nó chỉ bộc lộ ra trong quá trình trao đổi thông qua các hình thái biểu hiện của nó Lịch sử của tiền tệ chính là lịch sử phát triển các hình thái giá trị từ thấp đến cao, từ hình thái giản đơn đến hình thái đầy đủ nhất là tiền tệ
1.2 Bản chất
Tiền được xem là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong thanh toán để đổi lấy hàng hoá, dịch vụ hoặc để hoàn trả các khoản nợ Định nghĩa này chỉ đưa ra các tiêu chí để nhận biết một vật có phải là tiền tệ hay không.Tuy nhiên nó chưa giải thích được tại sao vật đó lại được chọn làm tiền tệ Để giải thích được điều này phải tìm hiểu bản chất của tiền tệ Về bản chất, tiền
tệ là vật trung gian môi giới trong trao đổi hàng hoá, dịch vụ, là phương tiện giúp cho quá trình trao đổi được thực hiện dễ dàng hơn.Bản chất của tiền tệ được thể hiện rõ hơn qua hai thuộc tính sau của nó:
Giá trị sử dụng của tiền tệ là khả năng thoả mãn nhu cầu trao đổi của xã hội, nhu cầu sử dụng làm vật trung gian trong trao đổi Như vậy người ta sẽ chỉ cần nắm giữ tiền khi có nhu cầu trao đổi Giá trị sử dụng của một loại tiền tệ
là do xã hội qui định: chừng nào xã hội còn thừa nhận nó thực hiện tốt vai trò tiền tệ (tức là vai trò vật trung gian môi giới trong trao đổi) thì chừng đó
Trang 5giá trị sử dụng của nó với tư cách là tiền tệ còn tồn tại Đây chính là lời giải thích cho sự xuất hiện cũng như biến mất của các dạng tiền tệ trong lịch sử Giá trị của tiền được thể hiện qua khái niệm "sức mua tiền tệ", đó là khả năng đổi được nhiều hay ít hàng hoá khác trong trao đổi Tuy nhiên khái niệm sức mua tiền tệ không được xem xét dưới góc độ sức mua đối với từng hàng hoá nhất định mà xét trên phương diện toàn thể các hàng hoá trên thị trường
1.3 Chức năng của tiền tệ
Bản chất của tiền tệ được thể hiện qua các chức năng của nó Theo C.Mác tiền tệ có 5 chức năng cơ bản
- Thước đo giá trị: tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các
hàng hóa Muốn đo lường giá trị của hàng hóa, bản thân tiền tệ phải
có giá trị Vì vậy tiền tệ làm chức năng đo giá trị phải là tiền vàng Để
đo lường giá trị hàng hóa không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần
so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng
Sở dĩ có thể làm như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hóa trong thực tế đã có một tỉ lệ nhất định Cơ sở của tỉ lệ đó là thời gian lao đông xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó Giá trị của hàng hóa được biểu hiện hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó Giá trị hàng hóa được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hóa Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa Giá cả hàng hóa do các yếu tố sau quyết định:
• Giá trị hàng hóa
• Giá trị của tiền
• Ảnh hưởng của quan hệ cung – cầu hàng hóa
Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo lường Do đó phải có đơn vị đo lường tiền tệ Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ Ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau Đơn vị tiền tệ và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn
Trang 6giá cả Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu chuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị.Là thước đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo
sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó
- Phương tiện lưu thông
Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hóa Để làm chức năng lưu thông hàng hóa ta phải có tiền mặt Trao đổi hàng hóa lấy tiền để làm môi giới gọi là lưu thông hàng Công thức lưu thông hàng hóa là H-T-H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hóa đã làm cho hành vi mua và bán tách rời nhau cả về thời gian và không gian Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế
Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thoi, bạc nén Dần dần nó được thay thế bằng tiền đúc Trong quá trình lưu thông, tiền đúc
bị hao mòm dần và mất một phần giá trị của nó, nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủ giá trị Như vậy giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó Sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát Người ta đổi vàng lấy tiền rồi dùng lại nó để mua hàng mà mình cần Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với danh nghĩa của nó Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công nhận trong phạm vi quốc gia
- Phương tiện cất trữ: Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút
khỏi lưu thông đi vào cất trữ Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ
Trang 7tiền là một hình thức cất trữ của cải Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ
- Phương tiện thanh toán: Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng
để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu Trong hình thức giao dịch này trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo
thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt Mặt khác, trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên
- Tiền tệ thế giới: Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia
thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới Với chức năng này, tiền phải
có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xã hội
Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết vớinhau Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá
Trang 81.4 Sự phát triển các hình thái giá trị
Sự phát triển các hình thái giá trị trong nền kinh tế hàng hóa được biểu hiện thông qua bốn hình thái sau đây:
- Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên: đây là hình thái phôi thai
của giá trị, nó xuất hiện trong giai đoạn đầu của trao đổi hàng hoá, trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, người ta trao đổi trực tiếp vật này lấy vật khác Hình thái vật ngang giá có ba đặc điểm: giá trị sử dụng của nó trở thành hình thức biểu hiện giá trị; lao động cụ thể trở thành hình thức biểu hiện lao động trừu tượng; lao động tư nhân trở thành hình thức biểu hiện lao động xã hội Hình thái giá trị tương đối và hình thái vật ngang giá là hai mặt liên quan với nhau, không thể tách rời nhau, đồng thời là hai cực đối lập của một phương trình giá trị Trong hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên thì tỷ lệ trao đổi chưa thể cố định
- Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng: khi lực lượng sản xuất phát
triển hơn, sau phân công lao động xã hội lần thứ nhất, chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, trao đổi trở nên thường xuyên hơn, một hàng hoá này
có thể quan hệ với nhiều hàng hoá khác Tương ứng với giai đoạn này
là hình thái đầy đủ hay mở rộng
- Hình thái chung của giá trị: với sự phát triển cao hơn nữa của lực
lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, hàng hoá được đưa ra trao đổi thường xuyên, đa dạng và nhiều hơn Nhu cầu trao đổi do đó trở nên phức tạp hơn, người có vải muốn đổi thóc, nhưng người có thóc lại không cần vải mà lại cần thứ khác Vì thế, việc trao đổi trực tiếp không còn thích hợp và gây trở ngại cho trao đổi Trong tình hình
đó, người ta phải đi con đường vòng, mang hàng hoá của mình đổi lấy thứ hàng hoá mà nó được nhiều người ưa chuộng, rồi đem đổi lấy thứ hàng hoá mà mình cần Khi vật trung gian trong trao đổi được cố
Trang 9định lại ở thứ hàng hoá được nhiều người ưa chuộng, thì hình thái chung của giá trị xuất hiện
- Hình thái tiền tệ: Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã
hội phát triển hơn nữa, sản xuất hàng hóa và thị trường ngày càng mở rộng, thì tình trạng có nhiều vật ngang giá chung làm cho trao đổi giữa các địa phương vấp phải khó khăn Do đó dẫn đến đòi hỏi khách quan phải hình thành vật ngang giá chung thống nhất Khi vật ngang giá chung được cố định lại ở một vật độc tôn và phổ biến thì xuất hiện hình thái tiền tệ của giá trị
2 Lưu thông tiền tệ
2.1Khái niệm quy luật lưu thông tiền tệ
Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật quy định lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa trong một thời kì nhất định
2.2Quy luật lưu thông tiền tệ
Quy luật về số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông hàng hoá, là “một trong những quy luật kinh tế quan trọng có ý nghĩa phổ biến” (Mac) Theo học thuyết của Mac, quy luật lưu thông tiền tệ được biểu hiện: với tốc độ chu chuyển nhất định của tổng phương tiện thanh toán, tổng số tiền đang nằm trong lưu thông trong một thời gian bằng tổng số giá cả hàng hoá và dịch vụ cần thực hiện, cộng với tổng số các khoản thanh toán đã đến hạn, trừ đi các khoản thanh toán đã bù trừ lẫn nhau, và cuối cùng chia cho tổng số vòng quay (hay tốc độ lưu thông của đồng tiền), trong khi đó cùng những đồng tiền ấy, lần lượt khi thì làm chức năng phương tiện lưu thông, khi thì làm chức năng phương tiện thanh toán Yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ
là khối lượng tiền thực tế trong lưu thông phải thích ứng với khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông Tuỳ theo loại hình lưu thông tiền tệ (lưu thông tiền kim loại, lưu thông tiền giấy, lưu thông tiền tín dụng ngân hàng), QLLTTT chứa đựng các biểu thị khác nhau: quy luật số lượng tiền tệ thực sự cần thiết cho lưu thông; quy luật giá trị thực tế của các dấu hiệu tiền tệ danh nghĩa; quy luật lưu thông tiền tín dụng - giấy bạc ngân hàng
Trang 102.3 Đặc điểm của lưu thông tiền tệ
Quan hệ tiền tệ và lưu thông tiền tệ từ chỗ mang nặng tính cấp phát không
ổn định, siêu lạm phát chuyển sang hướng kinh doanh tiền tệ khống chế và giảm mức lạm phát, củng cố sức mua đồng tiền Việt Nam, từng bước trở thành đồng tiền có khả năng tuyệt đối Quan hệ tiền tệ từ chỗ độc quyền của
hệ thống ngân hàng nhà nước chuyển sang nhiều hình thức tổ chức ngân hàng thuộc cái thành phần kinh tế Từ ngân hàng nhà nước cấp 1 chuyển sang ngân hàng nhà nước cấp 2
Ho tạ ngđộ kinh doanh ti nề t cóệ sự ki mể soát c aủ nhà n cướ thông qua
các c quanơ chuyên môn là ngân hàng nhà nước và uỷ ban ch ngứ khoán qu c ố
gia Quan h ti nệ ề tệ và l uư thông ti nề tệ từ chỗ khép kín trong n cướ chuy nể
sang ho tạ ngđộ theo h ngướ h iộ nh pậ v iớ khu v c và th gi iự ế ớ
2.4 Vai trò của lưu thông tiền tệ đối với sự phát triển và ổn định của nền kinh tế thị trường:
Đảm bảo cho quá trình sản xuất được thuận lợi: tái sản xuất xã hội phải được thực hiện về mặt giá trị và luôn gắn liền với quá trình lưu thông tiền tệ
Góp phẩn thực hiện mục đích của nền sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thỏa mãn nhu cầu vật chất văn hóa của mọi thành viên trong xã hội
Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ lưu thông tiền tệ, giảm bớt lượng tiền trong lưu thông từ đó tiết kiệm bớt chi phí, tạo điều kiện cho ổn định tài chính quốc gia tránh những biến động xấu xảy ra
Xúc tiến giao lưu kinh tế kĩ thuật với bên ngoài trong điều kiện toàn cầu kinh tế Việc xúc tiến giao lưu kĩ thuật, kinh tế các tác động ngoại thương đầu tư, tín dụng quốc tế của một quốc gia đều gắn với quá trình lưu thông tiền tê
Trang 113 Ảnh hưởng lưu thông tiền tệ đến nước ta
Thời kì bao cấp: Vận dụng quy luật lưu thông tiền tệ, trong thời kỳ thực hiện
nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa đã thực hiện
kế hoạch khối lường tiền cung ứng cho lưu thông dựa trên các chỉ tiêu về phát triển kinh tế - xã hội nghĩa là khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông trong các năm kế hoạch đều được xác định trước với số lượng hàng hóa, dịch vụ đã được
ấn định Đặc biệt trong giai đoạn này giá cả hàng hóa, dịch vụ luôn được cố định với khoản thời gian dài, yếu tố vòng quay (V) của tiền tệ gần như không có biến động gì, và như vậy chỉ tiêu gia tăng sản lượng hàng hóa, dịch vụ là chỉ tiêu duy nhất để cung ứng tiền cho lưu thông Vì lượng hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra được tiêu dùng hoàn toàn dựa trên chế độ tem phiếu, hoặc định mức tiêu dùng cho mỗi thành viên của xã hội tùy theo mức thu nhập cũng đã được kế hoạch hóa Chúng ta đã vận dụng quy luật này hết sức máy móc Cứ theo kế hoạch từ đầu năm ta biết ngay mức hàng hóa sản xuất trong năm Giá cả thì được quy định cụ thể vì nhà nước độc quyền buôn bán hàng hóa Và tính được tốc độ lưu chuyển tiền tệ trung bình Thế là ta biết được lượng tiền cần thiết trong năm và phát hành tưng đó tiền
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay: Sau 1988, chúng ta thừa nhận rằng công thức
của Mác là công thức đúng để tính lượng tiền cần thiết trong lưu thông nhưng thực tế không thể phát hành tiền theo cách tính như vậy được Sự điều chỉnh lượng tiền cung ứng phải dựa vào những biểu hiện của thị trường Khi chỉ số giá tiêu dùng tăng nghĩa là tiền đang mất giá, chứng tỏ thừa tiền cung ứng Vì vậy phải cắt giảm lượng cung tiền tệ Và ngược lại Theo Mác thì việc xác định lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông là rất quan trọng, vì nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự vận hành của nền kinh tế
Cách khác,chúng ta đang gặp phải một mâu thuẫn giữa yêu cầu đầu tư xây dựng cơ bản về hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật cho quá trình CNH, HĐH