1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện chợ mới, tỉnh an giang

77 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 526,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Bối cảnh mới và những vấn đề đặt ra trong định hướng phát triển của huyện.+ Đề xuất một số quan điểm định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển nông nghi

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chợ Mới là huyện có điều kiện phát triển kinh tế toàn diện, luôn đi đầu vềchuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, trong đó cây màu và cây ăn trái được thaythế dần từ đất trồng lúa kém hiệu quả, đã nâng cao hệ số vòng quay của đất, tăng thunhập người nông dân, với thuận lợi có hệ thống đê bao kiểm soát lũ hoàn chỉnh 82tiểu vùng đã phát huy tác dụng cho phép sản xuất liên tục, quanh năm

Bên cạnh những mặt thuận lợi thì việc phát triển sản xuất trong thời gian gầnđây có dấu hiệu chậm lại do chỉ tập trung ở xu hướng tăng chiều rộng về diện tíchhơn chú ý về chiều sâu là chất lượng, an toàn sản phẩm Nền nông nghiệp chưa thực

sự phát triển bền vững do giá cả không ổn định, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, tự phát,môi trường ô nhiễm

Do đó, việc tính toán tăng hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích là phải

bố trí cây trồng vật nuôi phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, phát huy tiềm năng lợithế địa phương, đa dạng về chủng loại, đa dạng phương thức sản xuất tăng tính cạnhtranh gắn với xây dựng thương hiệu và thị trường tiêu thụ

Trên cơ sở thực tế sản xuất trên địa bàn Chợ Mới và các điều kiện cần thiếtcho các phương án đa canh, luân canh kinh nghiệm sản xuất của người dân Nhằmđáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nâng caothu nhập cho người dân thì việc chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi là yêucầu cấp bách

Tiềm năng, lợi thế so sánh Chợ Mới đang có nhưng chưa phát huy lợi thếmột cách triệt để Sản xuất nông nghiệp vẫn mang nặng tính tự cấp đan xen với sảnxuất hàng hóa nhỏ do ruộng đất phân chia manh mún; năng suất, chất lượng, giá trịgia tăng sản phẩm nông nghiệp hàng hóa thấp Các hình thức tổ chức sản xuất chậmđổi mới, khả năng xây dựng, khai thác các điểm kinh tế - kỹ thuật - dịch vụ ở huyện,xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội còn nhiều hạn chế, thịtrường nông thôn hạn hẹp, nhiều loại nông phẩm hàng hóa sức cạnh tranh thấp, đờisống của người nông dân - thuần nông, còn nhiều khó khăn, chưa có định hướngthật sự hiệu quả, khả thi

Trang 4

Do đó, học viên lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát triển nông

nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang” làm luận văn cao học, chuyên

ngành chính sách công

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề thực trạng chính sách phát triển nông nghiệp hiện đã có nhiều côngtrình khoa học đề cập đến vấn đề này Một số tài liệu tham khảo gồm:

* Sách tham khảo điển hình:

“Bài giảng Phương pháp luận nghiên cứu khoa học xã hội” của PGS.TS LêThanh Sang, Học viện Khoa học xã Hội Việt Nam

“Bài giảng Xây dựng Chính sách công” của TS Nguyễn Hữu Toàn, Học việnKhoa học xã Hội Việt Nam

“Bài giảng Chính sách khoa học công nghệ” của PGS.TS Lê Bộ Lĩnh, Họcviện Khoa học xã Hội Việt Nam

“Giáo trình Hoạch định và phân tích chính sách công” của Học viện Hànhchính Quốc Gia”

“Giáo trình Hành chính công” của Học viện Hành chính Quốc Gia”

“Phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam, của Phạm Hồng Long, Đại họcKhoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội”

“Chính sách thu hút FDI, Nguyễn Chiến Thắng, Học viện Khoa học xã HộiViệt Nam

“Phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam thực trạng và giải pháp” của

Trần Xuân Châu, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003

“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Việt Nam - con đường và bước đi” của GS.TS Nguyễn Kế Tuấn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2004

“Nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam - Hôm nay và mai sau” của

Đặng Kim Sơn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008

Nông nghiệp, chính sách phát triển nông nghiệp vẫn là chủ đề không mới mẻ trong lýluận và thực tiễn về cách tiếp cận Việt Nam cũng như Đồng bằng sông Cửu Long là

Trang 5

vùng vựa lúa lớn nhất cả nước, nhiều công trình khoa học đề cập dưới các góc độkhác nhau về phạm vi, cách thức tiếp cận Cách đề cập vấn đề có tính chất tương đốikhái quát tổng thể luôn gắn liền với thực tiễn, như một quy luật vận động phát triểncủa nền nông nghiệp Việt Nam như địa phương, đồng thời có sự đổi mới từ các môhình, gắn liền với giao đoạn phát triển nông nghiệp, nông thôn.

* Luận án, luận văn, công trình khoa học:

“Phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Lạng Sơn” Nguyễn Thanh Hảo, Luận vănThạc sĩ Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010

“Vai trò của phát triển nông nghiệp trong bảo đảm hậu cần tại chỗ cho khu vựcphòng thủ tỉnh Hà Nam hiện nay” Vũ Văn Khầu, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Họcviện chính trị, 2010

“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp trong quá trình đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thái Bình” Phạm Quang Huy, Luận văn Thạc

* Bài báo khoa học, tạp chí:

“Nông dân và nông nghiệp Việt Nam nhìn từ sản xuất - thị trường” GS.TS VõTòng Xuân, Tạp chí Cộng sản, số 812, 6/2010

“Nông nghiệp Việt Nam sau 4 năm thực hiện cam kết WTO” TS Chu Tiến

Trang 6

Quang, Tạp chí Cộng sản, số 824, 6/2011.

Nội dung các bài báo, tạp chí khoa học đề cập, lý luận nhiều gốc độ của vấn đề

về sự cần thiết, ưu điểm và hạn chế, định hướng thời gian tới cũng như các tháchthức phải đối mặt cho vấn đề của người dân, doanh nghiệp, các chủ thể tham giatrong quá trình hội nhập kinh tế theo sân chơi chung của thế giới Các công trìnhkhoa học liên quan lĩnh vực nông nghiệp, sự phát triển nông thôn trong giai đoạnhiện nay là việc làm rất cần thiết, mang tính hiệu quả, thiết thực cho người nông dânViệt Nam cũng như Chợ Mới, An Giang nói riêng

Và nhiều bài báo, tạp chí khoa học trên mạng xã hội làm tư liệu nghiên cứuthực hiện

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

3.1 Mục đích:

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đánh giá thực trạng thực hiện chínhsách phát triển nông nghiệp ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, qua đó đề xuất giảipháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ:

+ Làm rõ cơ sở lý luận về chính sách công, chính sách phát triển nông nghiệp

và thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp

+ Phân tích thực trạng thực hiện các chính sách nông nghiệp của huyện trong thời gian qua; những kết quả đạt được, cũng như bài học rút ra từ thực tiễn

+ Bối cảnh mới và những vấn đề đặt ra trong định hướng phát triển của huyện.+ Đề xuất một số quan điểm định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp của Chợ Mới, An Giang trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp trênđịa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Địa bàn nghiên cứu: huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:

5.1 Cơ sở lý luận

Trang 7

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, luận văn phân tích chínhsách và vận dụng chính sách áp dụng trên thực tiễn của huyện Chợ Mới, tỉnh AnGiang, kết hợp từ dưới lên và từ trên xuống, …để đánh giá thực trạng thực hiệnchính sách.

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích: Phương pháp này được sử dụng để phân tích những

thành công và hạn chế trong các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Đồngthời để chỉ ra những thành công và hạn chế Phương pháp phân tích còn được sửdụng để đề xuất các giải pháp nhằm thực thi tốt hơn nữa chính sách nông nghiệp ởChợ Mới, tỉnh An Giang trong thời gian tới

Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở kết quả phân tích, phương pháp tổng hợp

đã khái quát định hướng về cơ sở lý luận và thực tiễn về thực thi chính sách pháttriển nông nghiệp; những ưu điểm và hạn chế trong thực thi chính sách phát triểnnông nghiệp và đề xuất các giải pháp thực hiện

Phương pháp logic: Là phương pháp được rút ra từ những tri thức về chính

lôgíc khách quan của bản thân sự vật, của bản thân lịch sử Phương pháp này khôngchỉ được sử dụng trong từng chương mục, mà còn được sử dụng để kết nối cácphần, các chương với nhau

Phương pháp lịch sử: Là quá trình hình thành và phát triển vấn đề, từ đó rút

ra bản chất và quy luật của đối tượng Trên cơ sở sử dụng phương pháp lịch sử kếthợp với phương pháp logic, các kết luận rút ra mang tính chất khách quan, khoahọc

Phương pháp so sánh: Là phương pháp thể hiện sự tương quan, phân tích, so

sánh vấn đề từ đó làm cơ sở định hướng thực hiện một cách hiệu quả, khả thi vấn

đề Nhờ phương pháp này, luận văn làm rõ được những thay đổi cả về chất và lượngqua thời gian

Phương pháp phân tích chi tiết: Là phương pháp phân ra nhiều đối tượng,

nhiều vấn đề nhỏ, lẻ nhằm mục đích xem xét kỹ từng đối tượng hơn, chia nhỏ đốitượng để nghiên cứu kỹ hơn, từng mãnh ghép chi tiết

Kết hợp các phương pháp thống kê, áp phân tích định tính, suy luận logic,

Trang 8

diễn giải, đánh giá, thực thi chính sách….

- Cơ sở dữ liệu nghiên cứu:

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá kết quả thực hiện các chínhsách của trung ương và chính sách của tỉnh An Giang về phát triển nông nghiệp Dovậy, cần ưu tiên các hướng thu thập cơ sở dữ liệu liên quan sau:

Thứ nhất, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang chủ yếu dựa vào kinh tế nôngnghiệp Do vậy, các tài liệu nêu các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện chínhsách, sự phù hợp của chính sách phát triển nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng

Thứ hai, sự chuyển hướng của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế vàolĩnh vực nông nghiệp theo hướng liên kết với nông dân ngày càng nhiều nên sự phùhợp của cơ chế, chính sách đóng vai trò đặc biệt quan trọng nên cần thu thập tài liệu

và phân tích các nội dung này

Thứ ba, dữ liệu được thu thập kết quả thực hiện các chương trình, đề án vềnông nghiệp; kết quả thực hiện các chính sách nông nghiệp hàng năm, số liệu từ cơquan thống kê

Ngoài ra, còn tham khảo các văn bản khác như các nghị quyết chuyên đềcủa Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân; các nghị định, quyết định của chính phủ, các vănbản pháp quy, định hướng phát triển của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn…; các thông tin trên các tạp chí chuyên ngành, các báo cáo khoa học liênquan

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Cơ sở lý luận chung và vấn đề thực tiễn địa phương, làm đúc kết kinhnghiệm về định hướng thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp trên địa bànhuyện Chợ Mới, tỉnh An Giang phát triển theo hướng hiện đại trong tương lai

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở thực tiễn, đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng, thamkhảo nhằm tạo tiền đề thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại

7 Kết cấu của luận văn

Chia làm 3 chương, không kể phần mở đầu luận văn, kết luận, gồm:

Trang 9

Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách nông nghiệp

Chương 2: Thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiệnchính sách phát triển nông nghiệp huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP

1.1 Lý luận chung về chính sách công

1.1.1 Các khái niệm về chính sách và chính sách công

+ Chính sách:

Qua nghiên cứu tài liệu cho thấy thực tế đang tồn tại nhiều quan niệm, ýkiến khác nhau về chính sách, chẳng hạn như: Chính sách là cái mà Chính phủ lựa

chọn làm hay không làm (Thomas R Dye 1984);

Chính sách được hiểu là các tư tưởng, định hướng, những mong muốn cầnhướng tới, cần đạt được (Còn chiến lược hay kế hoạch, thậm chí pháp luật chẳngqua chỉ là hình thức, là phương tiện để chuyển tải, thể hiện chính sách)

Chính sách là sự thể hiện cụ thể của đường lối chính trị chung Dựa vàođường lối, cương lĩnh mà người ta định ra chính sách, là cơ sở để chế định ra phápluật hay nói cách khác pháp luật là kết quả của sự thể chế hóa chính sách

Chính sách có thể chưa được luật pháp hóa, cũng có thể chưa bao giờ luậtpháp hóa căn cứ vào sự phù hợp với tư tưởng mới, sự thay đổi thực tiễn

Chính sách là linh hồn, nội dung của pháp luật, còn pháp luật là hình thức,phương tiện thể hiện của chính sách

Chính sách luôn gắn liền với quyền lực chính trị, với đảng cầm quyền, với

bộ máy quyền lực công của Nhà nước

+ Chính sách công:

* Theo nghĩa rộng: là chính sách của nhà nước, cụ thể hoác các chủ trương,đường lối của đảng cầm quyền thành các quyết định, mục tiêu, giải pháp, công cụnhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, duy trì sự tồntại và phát triển của nhà nước và xã hội hướng tới mục tiêu phục vụ người dân làchính

* Nghĩa hẹp: là công cụ hữu hiệu để nhà nước quản lý, định hướng và thúcđẩy sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của mỗi quốc giatrong nhữnggiai đoạn nhất định

Trang 11

Chính sách công là tập hợp các quyết định liên quan với nhau do nhà nướcban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằmđạt các mục tiêu phát triển.

Chính sách công không đơn giản là sự ghép từ Nói đến chính sách công liênquan 3 vấn đề chính cơ bản: Chủ thể, mục tiêu, vấn đề chính sách hướng tới giảiquyết

Như vậy, chính sách công có nhiều khái niệm nhưng vẫn chưa được thốngnhất với nhau Theo tôi, chính sách công có thể được hiểu là tất cả các chủ trương,

dự án, kế hoạch, chương trình của chủ thể được trao quyền lực công nhằm xử lýnhững vấn đề mang tính xã hội, cộng đồng trên mọi lĩnh vực trong cuộc sống nhằmđạt mục tiêu của quốc gia

+ Khái niệm Nông nghiệp, chính sách phát triển nông nghiệp:

* Nông nghiệp: được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng: là tổ hợp các ngành gắn liền với các quá trình sinh học baogồm cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp (trồng và khai thác bảo vệ tài nguyênrừng), ngư nghiệp (đánh bắt và nuôi trồng thủy sản) Thực tiễn cho thấy, trong mộtthời gian dài của lịch sử nông nghiệp là một ngành kinh tế chủ yếu của hầu hết cácquốc gia Nông nghiệp là khu vực duy nhất sản xuất ra lương thực, thực phẩm nuôisống con người Nông nghiệp theo nghĩa rộng thường được sử dụng trong phân tíchmối quan hệ với công nghiệp và dịch vụ

Theo nghĩa hẹp: Nông nghiệp bao gồm trồng trọt và chăn nuôi Trong trồng trọt lạibao gồm: trồng cây lượng thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, cây thức ăncho chăn nuôi, cây rau củ…Trong chăn nuôi bao gồm: chăn nuôi gia súc, gia cầm… Sảnphẩm của nông nghiệp thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng hằng ngày của con người, là nguyênliệu cho công nghiệp và dược liệu cho chữa bệnh, sức kéo cho sản xuất và vận tải…Trongphạm vi luận văn này, tác giả nghiên cứu nông nghiệp theo nghĩa rộng

+ Khái niệm chính sách phát triển nông nghiệp:

Chính sách phát triển nông nghiệp là hệ thống các phương pháp, cách thức, biện pháp cụ thể của nhà nước áp dụng vào nông nghiệp nhằm xây dựng một nền

Trang 12

nông nghiệp lớn mạnh, bền vững theo hướng công nghiêp hoá, hiện đại hoá, nângcao đời sống nông dân dựa trên những quan điểm, đường lối của Đảng và tình hìnhphát triển của nông nghiệp hiện tại

Như vậy, tùy theo định hướng mục tiêu lâu dài hay trước mắt mà nhà nước

có những biện pháp thích hợp để tác động vào nông nghiệp coi đó như là công cụ

để quản lý, điều tiết sự phát triển của nông nghiệp

1.1.2 Quy trình thực hiện chính sách công:

1.1.2.1 Xây dựng kế hoạch và phân công:

Việc xây dựng Kế hoạch của các cơ quan quản lý các cấp đều thực hiện theo yêu cầu này, gồm các nội dung chính để thực hiện như sau:

+ Kế hoạch về tổ chức và điều hành

+ Kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực

+ Kế hoạch về thời gian để làm tốt công tác triển khai thực hiện

+ Kế hoạch thực hiện việc kiểm tra, đôn đốc việc thực thi chính sách

+ Dự kiến những nội quy, quy chế; về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật Chính sách ở cấp nào, lãnh đạo cấp đó thông qua và điều chỉnh

1.1.2.2 Tuyên truyền, truyền thông:

+ Tuyên truyền: là một khái niệm đã xưa rồi lại còn gợi lên cách làm củaphát xít Đức Vì đó là cách “dội bom” một chiều theo nghĩa từ trên xuống mà mangtính áp đặt nữa Về phương pháp thì chỉ có một cách là đại trà và xả láng Ngườinhận thông tin phản ứng như thế nào không cần biết Do đó không có hiệu quả vìkhông muốn nghe thì người ta bịt tai thôi Đó là chưa nói đến phản ứng ngược lại làngười ta dội

+ Truyền thông: là một khái niệm khoa học quan tâm đến hiệu quả là làm saocho người nghe thay đổi nhận thức, thái độ, nhất là hành vi Do đó truyền thông rấtquan tâm đến phản hồi “Truyền” rồi phải xem người ta có “thông” không chứ! Nếuchưa thông phải thay đổi cả nội dung lẫn hình thứccho phù hợp Truyền thông mong

sự hưởng ứng tự nguyện của đối tượng nên không áp đặt và cố gắng thích nghithông điệp với từng nhóm đối tượng: thanh niên, trẻ em, phụ nữ, nông dân, côngdân, tri thức

Trang 13

Như thế, thay vì chỉ có một chiều thì truyền thông mang tính hai chiều, thậmchí đa chiều.Truyền thông có ba cấp: Cá nhân với cá nhân, Truyền thông nhóm,Truyền thông đại chúng.

Đây là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn:

+ Với cơ quan nhà nước và cho các đối tượng chính sách, mọi người dântham gia

+ Cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi

+ Thiếu năng lực tuyên truyền, vận động đã làm cho chính sách bị biến dạng,làm cho lòng tin của dân chúng vào nhà nước bị giảm sút

Việc tuyên truyền, vận động phải làm một cách thường xuyên, liên tục

Bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng tiếpnhận; gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng

1.1.2.3 Tổ chức thực hiện:

Tổ chức thực hiện theo kế hoạch được phê duyệt Ban hành tổng thể ít nhấtcũng tại một địa phương nào đó cho phù hợp, số lượng tham gia lớn, hoạt động đadạng, đồng thời có sự thúc đẩy, có khả năng kìm hãm đan xen,…

Cần có sự phối hợp thực hiện từ các cấp, ngành nói chung Vấn đề thực tếthường giao cho một đơn vị đầu mối, đơn vị khác chủ yếu phối, kết hợp

Việc phân công, phối kết hợp cần có sự chủ động, chặt chẽ để đảm bảo đúnghiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách

Duy trì chính sách, muốn vậy phải có sự phối hợp, tổ chức thực thi của cácđối tượng và chủ thể chính sách

Đồng thời việc điều chỉnh chính sách là việc làm thường xuyên và có hệthống nhằm hoàn thiện một các hiệu quả phù hợp thực tiễn

1.1.2.4 Kiểm tra, giám sát:

Do đặt thù các địa phương không như nhau, cũng như điều kiện mỗi vùngmiền khác nhau, kể cả trình độ, năng lực có sự khác biệt cần có sự kiểm tra, giámsát Qua kiểm tra, giám sát mục đích chính nhằm chấn chỉnh, nhắc nhở, rút kinhnghiệm những vấn đề còn tồn tại chưa giải quyết nhằm đôn đốc, thực hiện tốt hơn

Trang 14

thời gian tới một cách hiệu quả, thiết thực hơn góp phần hoàn thiện thực thi chínhsách.

1.1.2.5 Đánh giá tổng kết, rút ra bài học kinh nghiệm:

Trong quá trình thực thi chính sách có thể đánh giá được phần nào hoặc toàn

bộ kết quả thực hiện Đánh giá tổng kết được xem là vấn đề rất quan trọng, đó cũng

là quá trình kết luận, chỉ đạo, điều hành, việc chấp hành chính sách của các đốitượng thực thi chính sách

1.2 Chính sách phát triển nông nghiệp huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang:

Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước đã ban hành nhiều chính sáchliên quan đến lĩnh vực nghiên cứu mà mục tiêu, nội dung, biện pháp của các chínhsách này đóng vai trò là cơ sở lý luận quan trọng đối với việc thực hiện chính sáchphát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Mới trong thời gian qua và địnhhướng cơ bản cho đến năm 2030, một số cốt lỗi vấn đề chính sách cụ thể:

+ Cấp Trung ương:

Trên cơ sở Quyết định của Thủ Tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạchtổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh An Giang đến năm 2020, nội dung điển hình

cụ thể như sau:

Về quan điểm chung:

Khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của Tỉnh để đẩy nhanh tốc độ tăngtrưởng kinh tế bền vững, xây dựng An Giang là một trong những đầu mối giaothương trong vùng và các nước ASEAN Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ tàinguyên và môi trường, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu và phát triển cơ sở

hạ tầng đủ sức ứng phó với thiên tai và phát triển bền vững

Kết hợp tốt giữa công nghiệp hóa nông nghiệp - hiện đại hóa nông thôn vớixây dựng mở rộng các khu đô thị, các vùng kinh tế trọng điểm, công nghiệp và dịch

vụ phát triển năng động; đảm bảo thu nhập ổn định cho người nông dân

Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá xã hội, bảo đảm cho mọingười dân có cơ hội tham gia và thụ hưởng thành quả của sự phát triển Nâng caochất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học - kỹthuật và đội ngũ doanh nhân

Trang 15

Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh,đặc biệt là an ninh biên giới; duy trì quan hệ hữu nghị với các tỉnh láng giềng khuvực biên giới Việt Nam - Campuchia Xây dựng nền hành chính từng bước hiện đạigắn với củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh.

Một số chủ trương, định hướng các văn bản khác cũng thể hiện hiệu quảmang lại như:

Quyết định số 580/QĐ-TTg ngày 22/4/2014 của Thủ Tướng Chính phủ vềChính sách hỗ trợ giống để chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng cây màu tại vùngĐồng bằng sông Cửu Long

Nghị định số 62/2019/NĐ-CP ngày 11/7/2019 của Chính phủ về việc sửa đổi,

bổ sung một số điều Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2015 của Chính phủ

về việc quản lý sử dụng, đất trồng lúa

Quyết định số 805/QĐ-BNN-KH ngày 22/4/2014 của Bộ Nông nghiệp &PTNT về việc phê duyệt quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng kinh tế trọng điểmvùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, và tầm nhìn đến năm 2030

+ Cấp tỉnh:

Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 27/6/2012 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh vềphát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh An Giang giai đoạn 2012-2020.Kết quả sau 05 năm thực hiện hiệu quả mang lại hết sức tích cực, cụ thể như sau:

Theo đánh giá Sở Khoa học & Công nghệ An Giang thì qua 05 năm triểnkhai Nghị quyết 09-NQ/TU ngày 27/6/2012 của Tỉnh ủy về phát triển nông nghiệpứng dụng công nghệ cao, các cấp, các ngành đã có nhiều cách làm đổi mới, sáng tạonhằm cụ thể hóa, quyết tâm đưa Nghị quyết vào cuộc sống

Nhiều đề tài, dự án thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật được ứng dụng trongsản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao như: lai tạo và tuyển chọn giống lúa thơmBảy Núi chất lượng cao, mô hình luân canh lúa - màu - lúa; cánh đồng mẫu lớncông nghệ cao tại Thoại Sơn; vườn ươm cây rau giống theo hướng công nghệ caocủa huyện An Phú; dự án tôm toàn đực của Israel, trồng cây dược liệu vùng Bảynúi

Trang 16

- Lĩnh vực lúa gạo: vùng sản xuất lúa giống, lúa chất lượng cao gắn với pháttriển cánh đồng lớn ứng dụng “1 phải 5 giảm”, “3 giảm 3 tăng” và các tiến bộKH&CN (san bằng mặt ruộng ứng dụng tia laser, máy cấy lúa, máy gom rơm, máybăm rơm ) có tổng diện tích gieo trồng đạt gần 77.778ha.

- Lĩnh vực rau màu: tổng diện tích nhà lưới gieo ươm cây rau giống đạt gần03ha với sản lượng khoảng 13,5 triệu cây giống/năm Giá trị sản xuất sản phẩm chấtlượng cao nhóm rau màu trong năm 2016 tăng 419 tỷ đồng, giá trị gia tăng tăng 210

tỷ đồng so với năm 2012

- Lĩnh vực thủy sản: nhiều giống thủy sản có giá trị kinh tế cao đã được cácđơn vị, doanh nghiệp, cơ sở trên địa bàn tỉnh nhân và sản xuất giống thành công(tôm càng xanh toàn đực, cá chình nước ngọt, lươn đồng, cá chạch lấu, cá heo, cátra giống cải thiện di truyền, cá hô ) đã góp phần đa dạng hóa nghề nuôi thủy sảncủa tỉnh

- Lĩnh vực nấm ăn: nấm dược liệu đã được các đơn vị, doanh nghiệp, cơ sởtrong tỉnh đã sưu tập, bảo tồn trên 25 chi, loài nấm ăn, nấm dược liệu, trong đó cónhiều loài có giá trị kinh tế cao đã được thương mại hóa (nấm đông trùng hạ thảo,nấm linh chi, nấm kim châm, nấm chân dài )

- Lĩnh vực cây dược liệu: tổng diện tích trồng cây dược liệu của tỉnh khoảng87,5 ha, bình quân mỗi năm tăng 20% diện tích trồng cây thuốc xen dưới tán rừng,xen vào đất vườn

- Lĩnh vực hoa kiểng: tổng diện tích đất sản xuất hoa kiểng trên địa bàn tỉnh

là 239,37 ha, gồm nhiều chủng loại như: lan các loại, mai, kiểng bon sai, vạn thọ,cúc, huệ, mai chiếu thủy, tùng, nguyệt quế, lộc vừng, cúc chậu pha lê, đại đóa

Một số mô hình của các địa phương triển khai thực hiện mang lại hiệu quả kinh tế cao

Định hướng về tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở An Giang, lãnh đạo tỉnh

An Giang nhấn mạnh, các cấp, các ngành và địa phương quán triệt sâu sắc Nghịquyết 09 của Tỉnh ủy để cơ cấu lại nền nông nghiệp của tỉnh gắn với việc ứng dụngcông nghệ cao trong sản xuất, xem đây là con đường tất yếu đưa nông nghiệp AnGiang phát triển bền vững, hướng đến mục tiêu nâng cao đời sống người dân Bên

Trang 17

cạnh những định hướng chung của tỉnh, từng địa phương có cách thực hiện riêngnhằm tận dụng và phát huy lợi thế của mình.

Tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn hay dài hạn nhằm nâng cao nghiệp vụcho cán bộ, viên chức các trung tâm về phân tích các chỉ tiêu chất lượng một số mặthàng nông sản, thực phẩm và các lĩnh vực chuyên môn khác, các lớp đào tạo sau đạihọc ngành công nghệ sinh học và một số ngành khác Tổ chức đoàn học tập tại cácviện, trường và các tỉnh bạn về những mô hình, các tiến bộ KH&CN trong các lĩnhvực thủy sản, chăn nuôi, trồng trọt

Tổ chức triển khai các mô hình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TUcủa Tỉnh ủy về phát triển NNƯDCNC trên địa bàn tỉnh; đưa dự án Trung tâm Côngnghệ sinh học vào hoạt động đúng với lộ trình chung của tỉnh

Một số chủ trương, định hướng các văn bản khác cũng thể hiện hiệu quảmang lại cho tỉnh và địa phương như:

Quyết định số 2163/QĐ-UBND ngày 29/11/2012 của UBND tỉnh An Giang

về Ban hành Kế hoạch phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh AnGiang giai đoạn 2012-2020 và tầm nhìn đến năm 2030

Quyết định 1350/QĐ-UBND ngày 25/8/2014 của UBND tỉnh An Giang Phêduyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành nông nghiệp &PTNT tỉnh AG đến năm

2020 và tầm nhìn đến năm 2030

Quyết định 1351/QĐ-UBND ngày 25/8/2014 của UBND tỉnh An Giang Phêduyệt Quy hoạch chi tiết phát triển các vùng sản xuất chuyên canh hàng hóa (lúa,rau màu, thủy sản) tỉnh AG đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

Quyết định số 1066/QĐ-UBND ngày 05/4/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh

An Giang về ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động của Ban Chấphành Đảng bộ tỉnh về phát triển nông nghiệp giai đoạn 2016 – 2020 và định hướngđến năm 2025

Quyết định số 2281/QĐ-UBND ngày 28/7/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh

An Giang phê duyệt quy hoạch chi tiết nuôi, chế biến cá tra trên địa bàn tỉnh AnGiang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030,…

1.2.1 Mục tiêu chính sách phát triển nông nghiệp

Trang 18

+ Mục tiêu tổng quát, lâu dài: Để nông nghiệp Việt Nam tiếp tục phát triểnhiệu quả hơn trong giai đoạn tới, Chính phủ đã đưa ra tầm nhìn đến 2030 là: Pháttriển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, áp dụngkhoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả vànâng cao năng lực cạnh tranh Cải thiện và ngày càng nâng cao đời sống của nôngdân Xây dựng nông thôn văn minh hiện đại.

Chính phủ cũng đặt mục tiêu đến 2030, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuấtnông, lâm, thủy sản đạt khoảng 3,0%/năm; tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩunông, lâm, thủy sản đạt khoảng 6% - 8%/năm Lĩnh vực nông nghiệp có 80.000 đến100.000 doanh nghiệp đầu tư kinh doanh có hiệu quả, trong đó khoảng 3.000 đến4.000 doanh nghiệp có quy mô lớn và 6.000 đến 8.000 doanh nghiệp quy mô vừa

Ngành nông nghiệp sẽ tập trung đồng bộ những giải pháp cơ bản sau:

Hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm mạnh điều kiệnkinh doanh trong nông nghiệp nhằm tạo sức hấp dẫn đầu tư

Phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp bảo đảm phùhợp với nhu cầu thị trường, kế hoạch và chiến lược phát triển ngành nông nghiệp

Rà soát, nghiên cứu xây dựng chiến lược, kế hoạch, đề án phát triển ngành mangtính bền vững, ổn định và hiệu quả

Tập trung nghiên cứu phát triển công nghệ sau thu hoạch, khắc phục tổn thấtsau thu hoạch, có lợi cho nông dân, gia tăng giá trị sản phẩm và tạo ra những ưu thế

so sánh nhất định cho sản phẩm nông nghiệp Việt Nam

Xây dựng đề án đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thu thậpthông tin, dự báo thị trường, qua đó tư vấn, cung cấp cho các doanh nghiệp biết đểđiều tiết hoạt động phù hợp theo nhu cầu thị trường tránh bị ép giá bán

Tăng cường triển khai công tác xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp mởrộng thị trường tiêu thụ các mặt hàng nông sản, nâng cao năng lực phát triển sảnphẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường, xây dựng và quảng bá thương hiệu sản phẩmnông nghiệp tại các thị trường trọng điểm; đẩy mạnh xúc tiến thương mại đưa hànghóa nông sản Việt Nam tiếp cận các hệ thống bán lẻ, chuỗi siêu thị tại nước

Trang 19

ngoài Nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ xúc tiến xuất khẩu nông sản, thu hút đầu

tư có chất lượng cao và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp

Xây dựng, hoàn thiện chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệptiếp cận và ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ tiên tiến hiện đạiphục vụ sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp; khai thác tối đa các cơ hội củacách mạng công nghiệp 4.0 để phát triển nông nghiệp hiệu quả và bền vững

1.2.2 Nội dung chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp

Phát triển kinh tế nông nghiệp luôn là nội dung quan trọng của quá trìnhCNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và quá trình thực hiện chủ trương của Chínhphủ trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh cũng như Chợ Mới

Căn cứ vào Định hướng chiến lược phát triển kinh tế ở Việt Nam và căn cứvào tình hình điều kiện thực tế ở tỉnh và địa phương, cùng hệ thống các tiêu chí vềxây dựng nông thôn mới theo quy định của Chính phủ; nội dung phát triển kinh tếnông nghiệp như sau:

- Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế nông nghiệp trên mọi phương diện, (giá trịgia tăng, sản lượng tuyệt đối, đa dạng, cây trồng vật nuôi…)

- Coi trọng đổi mới, nâng cao trình độ khoa học, công nghệ trong nôngnghệp

-Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tiến bộ, hiện đại, được biểu hiện thông qua tỷ trọng cơ cấu ngành nông - lâm - ngư nghiệp; cơ cấu giữa chăn nuôi và trồng trọt; giữa khai thác - chế biến - nuôi trồng thủy hải sản; giữa trồng rừng - khai thác -

chế biến; tỷ trọng giá trị nông phẩm xuất khẩu trong cơ cấu giá trị xuất khẩu gắn với pháttriển kinh tế nông thôn

- Phát triển nền nông nghiệp sạch gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường

- Coi trọng giải quyết vấn đề xã hội trong quá trình phát triển

Từng bước nâng cao tỷ trọng của các sản phẩm nông nghiệp sinh thái, nôngnghiệp công nghệ cao, sản phẩm sản xuất theo quy trình VietGAP, chăn nuôi vànuôi trồng thủy sản

1.2.3 Vai trò chính sách phát triển nông nghiệp

Trang 20

- Phát triển kinh tế nông nghiệp góp phần tạo tiền đề quan trọng bảo đảmthắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH: Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm, bảođảm nhu cầu ăn, nhu cầu cơ bản của con người đảm cho sự phát triển kinh tế - xãhội đất nước và của mỗi địa phương.

Thực tiễn đã khẳng định, đói nghèo, an ninh lương thực là nguy cơ của mọicuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội Nông nghiệp ổn định, bền vững thì đấtnước và mỗi địa phương mới phồn vinh, hạnh phúc, ổn định kinh tế, chính trị; quốcphòng, an ninh được củng cố vững chắc

- Phát triển kinh tế nông nghiệp góp phần thực hiện công nghiệp hóa, đô thị hóa

tại chỗ: Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình đô thị hóa Ởnước ta cũng như nhiều nước trên thế giới hai quá trình này thường diễn ra đồngthời, song hành cùng nhau Trong điều kiện đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn hiện nay, phát triển kinh tế nông nghiệp sẽ thực hiện được quá trìnhCNH, HĐH tại chỗ; gắn bó tại chỗ công nghiệp với nông nghiệp và dịch vụ

Vấn đề đô thị hóa sẽ được giải quyết theo cách thức đô thị hóa tại chỗ, tạoviệc làm tại chỗ cho người lao động nông nghiệp, nông thôn; hạn chế việc di dân cơhọc ra các thành phố, các trung tâm công nghiệp lớn

- Phát triển kinh tế nông nghiệp tạo cơ sở vật chất cho phát triển văn hóa nông

thôn: Kinh tế là cơ sở nền tảng vật chất của văn hóa, chính trị, tinh thần Nông thôn,nông nghiệp nước ta vốn là vùng đan xen Phát triển kinh tế nông nghiệp sẽ tạo điềukiện để vừa giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, vừa bài trừvăn hóa lạc hậu, vừa tổ chức tốt việc xây dựng và phát triển đời sống văn hóa tinhthần góp phần xây dựng nông thôn mới

- Phát triển kinh tế nông nghiệp góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cảithiện đời sống nông dân, thực hiện xóa đói giảm nghèo: nhiều thành tựu trong phát triểnkinh tế - xã hội đã được phát huy Tuy nhiên, so với sự phát triển đô thị, nông nghiệp, nôngthôn tốc độ phát triển vẫn chậm hơn Tỷ lệ lao động được đào tạo, nhất là với những laođộng trung tuổi ít, việc áp dụng khoa học - công nghệ trong lĩnh vực nông

Trang 21

nghiệp chậm và khó khăn hơn các ngành kinh tế khác; năng suất lao động nông nghiệp thấp.

- Phát triển kinh tế nông nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế khu vực và quốctế: Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, đòi hỏi phải tích cực, chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế, đi đôi với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ Phát triển kinh tế nôngnghiệp ở nước ta cũng không nằm ngoài xu thế và những yêu cầu chung đó

1.2.4 Quy trình thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp

Lĩnh vực nông nghiệp bao gồm nhiều hoạt động khác nhau và chịu sự tácđộng của nhiều nhân tố Sự phát triển của nông nghiệp không thể tách rời sự pháttriển của các ngành kinh tế khác Không chỉ có vậy, sự phát triển của nông nghiệpcòn chịu sự tác động của các nhân tố xã hội, nhân tố phi kinh tế Do đó, chính sáchphát triển nông nghiệp đòi hỏi phải có một hệ thống chính sách, bao gồm chínhsách kinh tế của các ngành khác và chính sách xã hội tác động tương hỗ lẫn nhaunhằm thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển Tất cả các chính sách có tác độngtrực tiếp vào các lĩnh vực có liên quan đến nông nghiệp hợp thành một hệ thốngchính sách nông nghiệp

Thực tiễn đã khẳng định, mỗi chính sách ra đời và phát huy tác dụng theonhững qui luật nhất định, với những giới hạn nhất định Do thực tiễn biến đổi pháttriển không ngừng, cho nên mỗi một chính sách ra đời và phát huy đến một thời điểmnhất định sẽ không còn phù hợp với yêu cầu Vì vậy, cần phải xây dựng một chínhsách mới phù hợp với những yêu cầu và nhiệm vụ mới Thực chất của chính sách nôngnghiệp là biện pháp tác động nhằm thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhànước để thúc đẩy nông nghiệp phát triển ở một giai đoạn nhất định nào đó Theo đó,quá trình xây dựng và thực hiện chính sách nông nghiệp phải đảm bảo tính đồng bộ,tính hệ thống, tính thực tiễn và thường xuyên được kiểm tra, đánh giá, tổng kết, bổsung, sửa đổi và hoàn thiện cho phù hợp với vận động của thực tiễn Đây là vấn đề cótính quy luật mà các nhà quản lý cần phải nắm vững trong quá trình hoạch định và tổchức thực hiện chính sách Chu trình vận động của chính sách bao gồm ba giai đoạnchính, đó là: Giai đoạn hoạch định chính sách; giai đoạn tổ chức thực hiện

Trang 22

chính sách và giai đoạn kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh chính sách.

Quá trình thực hiện chính sách bao gồm nhiều bước triển khai: chuẩn bị triểnkhai chính sách - chỉ đạo thực hiện chính sách Trong đó, bước chuẩn bị triển khaichính sách được xác định là thực hiện nhiệm vụ chuẩn bị tổ chức và cán bộ chotriển khai chính sách Các cơ quan nhà nước liên quan đến việc thực hiện chínhsách kinh tế nông nghiệp phải có đầy đủ năng lực, trách nhiệm và nguồn lực đểthực hiện Nếu chính sách kinh tế nông nghiệp tác động đến nhiều ngành thì cầnphải đảm bảo tốt khâu phối kết hợp, phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các thànhviên tham gia

Sau khi đã thực hiện bước chuẩn bị triển khai, các cơ quan liên quan tiếnhành bước chỉ đạo thực hiện chính sách nông nghiệp Đưa các chính sách này vàocuộc sống thông qua các tổ chức Đảng và chính quyền các cấp; thông qua hệ thốngtruyền thông đại chúng, xây dựng và thực hiện các dự án chính sách, tổ chức một

hệ thống các tổ chức sự nghiệp và dịch vụ để thực hiện chính sách

Chủ thể tham gia vào quá trình thực hiện chính sách kinh tế nông nghiệp baogồm các doanh nghiệp và các tổ chức liên quan đến nông nghiệp, các cơ quan nhànước như: nông nghiệp và phát triển nông thôn, kế hoạch đầu tư; tài chính;

Trang 23

khoa học công nghệ; công thương; tài nguyên và môi trường

Để thực hiện thắng lợi chính sách kinh tế nông nghiệp cần đảm bảo đồngthời nhiều điều kiện, yếu tố Trước hết, chính sách đó phải là đúng đắn, phù hợp.Đồng thời, phải có nền hành chính công đủ mạnh, với sức mạnh tổng hợp từ trênxuống dưới, với đội ngũ cán bộ có đủ năng lực và phẩm chất để thực hiện Cũngnhư phải phát huy cao độ sự tham gia tích cực của những người được hưởng lợi

Kiểm tra, đánh giá, tổng kết và điều chỉnh chính sách: là giai đoạn cuối của

chu trình chính sách Kiểm tra, đánh giá, tổng kết và điều chỉnh chính sách có ýnghĩa rất quan trọng Bởi vì, nó cho chúng ta biết mức độ hiệu quả của chính sách,đồng thời cho chúng ta biết cần phải làm gì ở các bước tiếp theo Trong quá trìnhtriển khai thực hiện chính sách, trên cơ sở thu thập các thông tin về thực hiện chínhsách, tiến hành đánh giá việc thực hiện chính sách về hiệu lực, hiệu quả của chínhsách kinh tế đã ban hành và thực hiện Từ đó có thể nghiên cứu bổ sung, điều chỉnhchính sách cho phù hợp với quá trình vận động của thực tiễn, đảm bảo cho chínhsách đã ban hành phù hợp, phát huy hiệu quả cao nhất trong thực tiễn Sự điềuchỉnh chính sách bao gồm cả về mục tiêu cần đạt của chính sách, các giải pháp vàcông cụ của chính sách; điều chỉnh các điều kiện phục vụ cho việc thực hiện chínhsách đảm bảo được liên tục, không bị gián đoạn và đi đến thành công

Việc tổng kết thực hiện chính sách là bước cuối cùng của giai đoạn triểnkhai thực hiện chính sách kinh tế Công tác tổng kết thực hiện chính sách nhằmđánh giá lại toàn bộ mục tiêu và tiến trình triển khai, đánh giá mặt được của chínhsách và đề xuất những điều cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách hoặc đềxuất chính sách mới để tiếp tục thực hiện mục tiêu đã đề ra

* Như vậy, thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp là:

Thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp là toàn bộ quá trình chuyển hóaquan điểm, biện pháp, nguồn lực của nhà nước đã xác định vào thực tiễn sản xuất,tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, tác động ảnh hưởng trực tiếp đến chủ thể, khách thểtrong quá trình phát triển nông nghiệp

* Ý nghĩa của thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp:

Thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp nhằm biến ý đồ chính sách

Trang 24

thành hiện thực; đạt được các mục tiêu phát triển nông nghiệp và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

- Thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp nhằm khẳng định được tính đúng đắn của chính sách

- Qua thực hiện sẽ giúp cho chính sách phát triển nông nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn

1.3 Một số kinh nghiệm thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp trên thế giới và trong nước:

1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế

* Kinh nghiệm của Israel:

Là nước không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên, nhờ thực hiệnhàng loạt chính sách kinh tế phát triển nông nghiệp đúng đắn Israen có một nềnkinh tế nông nghiệp phát triển ngang hàng với các nước công nghiệp Âu, Mỹ Israelrất chú trọng đến chính sách lựa chọn cơ cấu cây trồng vật nuôi thích hợp với đặcđiểm tự nhiên của khu vực Trung Đông Đồng thời, đưa nhanh khoa học công nghệvào nông nghiệp để sản xuất ra những loại nông sản có giá trị kinh tế cao, xuấtkhẩu lấy ngoại tệ nhập khẩu những nông sản mà sản xuất trong nước không có lợi

vì năng suất thấp, giá thành cao Chính sách kinh tế này đã tạo ra sự hài hòa giữasản xuất nông sản trong nước với nhập khẩu, đem lại hiệu quả kinh tế cao Bêncạnh đó, Israen còn rất quan tâm đến việc thực hiện chính sách tổ chức các hìnhthức hợp tác trong sản xuất nông nghiệp với hai cấp độ: Môsa và Kibút Môsa làhình thức làng hợp tác nông nghiệp, mỗi Môsa tập hợp từ 60 đến 100 hộ nông dân

và làm nhiệm vụ của một hợp tác xã dịch vụ tổng hợp: Cấp vốn tín dụng, cung ứngvật tư, thủy nông, bảo quản chế biến tiêu thụ nông sản Còn Kibút là hình thứccông xã nông nghiệp thực hiện ruộng đất là của chung của các thành viên Banquản lý Kibút điều hành kế hoạch sản xuất và phân cho các thành viên thực hiện,mỗi Kibút có từ 300-400 thành viên là hộ gia đình Tính chung hàng năm Môsa vàKibút sản xuất ra 75% giá trị sản lượng nông nghiệp của cả nước Đồng thời, Israencòn đặc biệt qua tâm đến chính sách đầu tư khoa học- công nghệ nông nghiệp, hàngnăm ngân sách chi cho nghiên cứu triển khai phục vụ nông nghiệp chiếm tới 3%

Trang 25

GĐP Do vậy, nông nghiệp của Israel đang được hưởng rất nhiều thành tựu củakhoa học công nghệ trong các khâu cây con giống, thủy lợi, hóa chất, thu hoạch,chế biến nông sản.

Như vậy những thành tựu mà nông nghiệp Ixrael đạt được có sự tác động rấtlớn từ việc chính phủ đầu tư thích đáng trong thực hiện chính sách chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp, chính sách đầu tư nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ nôngnghiệp, chính sách tổ chức các hình thức sản xuất nông nghiệp thích hợp

* Kinh nghiệm của Nam Triều Tiên (Hàn Quốc):

Nước này mở đầu công nghiệp hóa vào cuối thập kỷ 50, đầu thập kỷ 60 củathế kỷ XX và đã hoàn thành công nghiệp hóa khoảng 30 năm Bài học tổng quát củaHàn Quốc về chính sách nông nghiệp trong công nghiệp hóa là giải quyết mối quan

hệ giữa kinh tế với chính trị ở nông thôn, giữa công nghiệp với nông nghiệp Đâycũng là vấn đề Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập rất nhiều

Với chính sách "hy sinh" nông nghiệp (kèm giá nông sản thấp hơn giá thành)

để thực hiện công nghiệp hóa, làm cho mức sống nông thôn giảm sút, nên đã gây ra lànsóng di dân từ nông thôn ra thành thị (khoảng 1,3 triệu người) từ 1955-1960 Bối cảnh

đó đã là nhân tố đưa đến cuộc đảo chính quân sự của Pắc Chung Hy (5-1961) Chínhquyền mới đã thi hành nhiều chính sách có lợi cho nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu là

về tài chính, tín dụng, nên đã ổn định nông nghiệp, nông thôn và tạo ra thị trường nộiđịa rộng lớn cho công nghiệp hóa, cải thiện đời sống cho hàng chục triệu nông dân

Khi Hàn Quốc chuyển hướng thực hiện chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuấtkhẩu, chính quyền thực hiện trả lương thấp cho công nhân và trở lại kìm giá nông sản, hạthấp mức sống của nông dân, nông thôn Vì vậy, một làn sóng mới chừng 1,4 triệu cư dânnông thôn lại đổ ra thành thị, gây nhiều khó khăn cho đô thị Bối cảnh đó đã thúc đẩy mộtcuộc nổi dậy tự phát của dân chúng vào tháng 8-1971 Do sức ép bên trong và bên ngoài(quan hệ Nam - Bắc Triều Tiên) Chính phủ buộc phải trở lại vấn đề nông nghiệp, nôngthôn với "Chương trình phát triển nông thôn" gồm 04 nội dung chính như:

+ Tăng vốn vay cho nông dân (từ 1,3 tỷ Won năm 1969 lên 78 tỷ Won năm1974

+ Mua ngũ cốc với giá cao ở nông thôn và bán giá hạ cho thành thị

+ Thay giống lúa cũ bằng giống lúa mới năng suất cao

Trang 26

+ Khuyến khích xây dựng hợp tác xã sản xuất và đội lao động sửa chữa đường xá, cầu cống, nhà ở.

Những chính sách này có những kết quả tích cực, nhưng sau đó đã bộc lộnhược điểm trợ giá mua lúa gạo cao đã gây ra thâm hụt ngân sách lớn Đó là bốicảnh gây ra tình hình chính trị - xã hội căng thẳng, đưa đến cuộc đảo chính quân sựcủa Chun Đô Hoan vào 12-1979 Tiếp đó, chịu sức ép của chính sách ngoại thươngvới Mỹ, đã làm cho nông nghiệp Hàn Quốc đình đốn Từ năm 1975-1985 bình quânthu nhập của một hộ nông dân tăng 6,6 lần, trong khi số nợ mà họ đi vay tăng 63lần Tình hình chính trị căng thẳng đã buộc Chính phủ Hàn Quốc phải đưa ra "kếhoạch tổng thể về phát triển nông nghiệp, nông thôn" và đề ra "Mười năm cải tiến

cơ cấu nông thôn" nhằm công nghiệp hóa nông nghiệp, đào tạo lại nguồn nhân lực ởnông thôn, mở rộng quy mô các nông trại, nâng cao đời sống dân cư nông thôn lênngang với mức bình quân của một hộ làm công ăn lương ở đô thị

* Kinh nghiệm Thái Lan:

Nhìn lại quá trình cải cách, công nghiệp hóa của Thái Lan mấy thập kỷ qua,

có thể rút ra mấy vấn đề: Thái Lan là nước xuất khẩu gạo lớn nhất châu Á, nhưngphần lớn nông dân nhiều thời kỳ lâm vào thiếu đói, vì 85% số hộ nông dân không córuộng đất, chịu lĩnh canh và làm thuê Giai cấp địa chủ chống lại chính sách hạn chếtập trung ruộng đất của Chính phủ Thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, Thái Lan

đã tập trung 95% nguồn vốn Nhà nước cho xây dựng cơ sở hạ tầng và công nghiệp,nên coi nhẹ phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và bảo vệ tài nguyên Tậptrung xây dựng công nghiệp ở một số đô thị (80% cơ sở công nghiệp ở Băng Cốc vàphụ cận) đã phá hủy sự cân bằng về bố trí không gian lãnh thổ, đưa đến mở rộng sựngăn cách về trình độ phát triển giữa các vùng, nhất là đô thị với nông thôn Phầnlớn nông dân bị bần cùng hóa, đưa đến phong trào đấu tranh của nông dân Tìnhhình trên là một trong những nhân tố dẫn tới khủng hoảng chính trị - xã hội Chínhphủ thay nhau trong vòng 7 năm từ năm 1973 đến năm 1980) Về sau, nhờ đề xuấtcủa một nhóm nhà khoa học xã hội hàng đầu, Chính phủ đề ra chiến lược mới

"Chiến lược phát triển có lựa chọn", đặt trọng tâm vào phát triển nông nghiệp, tạotiền đề vững chắc cho công nghiệp hóa, trong đó khâu then chốt là phát triển công

Trang 27

nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm như sợi dây liên kết công nghiệp với nôngnghiệp, nhờ đó đã lấy lại thế cân bằng trong phát triển kinh tế trong thập niên 1980.

Như vậy, bài học của Thái Lan cũng xoay quanh mối quan hệ nông nghiệpvới công nghiệp, nông thôn với đô thị Mối quan hệ này giải quyết như thế nào tùythuộc vào giai cấp cầm quyền Do đó, vấn đề hệ thống chính trị phải trở thành nhân

tố bên trong của sự phát triển, chứ không phải là nhân tố đứng bên trên, bên ngoài

1.3.2 Kinh nghiệm trong nước:

* Kinh nghiệm của Hà Nội:

Mặc dù là Thủ đô của cả nước, nhưng dân cư nông thôn và lao động nôngnghiệp vẫn còn chiến một tỷ trong khá lớn Do vậy, Hà Nội xác định phát triểnnông nghiệp và kinh tế ngoại thành theo hướng nông nghiệp đô thị, sinh thái, làngnghề, hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa nông phẩm đặc sản đểthực hiện CNH, HĐH nông nghiệp

Để phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ngoại thành, trong thời gian qua

Hà Nội đã đặc biệt quan tâm giải quyết chính sách đất đai như lập bản đồ giải thửa và

sổ địa cho toàn bộ các thôn và năm huyện, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ổnđịnh và lâu dài đất nông nghiệp, đồng thời quy hoạch sản xuất cho từng vùng

Bên cạnh chính sách đất đai, Hà Nội đang đẩy mạnh thực hiện chính sáchchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng chuyển dần nông nghiệp sangsản xuất hàng hóa

Đồng thời, đẩy mạnh thực hiện chính sách các chính sách kinh tế khác như:chính sách đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; chính sách hỗ trợ khắcphục thiên tai, thị trường nông sản Những chính sách này đang thực sự có tácđộng mạnh mẽ đến phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn của thành phố Giá trịsản xuất nông nghiệp trên một ha đất tăng nhanh mỗi năm; cơ cấu kinh tế nôngnghiệp đang chuyển dịch theo hướng tích cực; chăn nuôi đang được phát triểnmạnh

Tuy nhiên, kinh tế nông nghiệp, nông thôn của Hà Nội tăng trưởng chưathật ổn định và đồng đều, tốc độ chuyển dịch còn chậm so với lợi thế và yêu cầuđặt ra, quá trình sản xuất hàng hóa còn chậm, công nghệ sản xuất còn lạc hậu, tiêu

Trang 28

thụ nông sản còn gặp khó khăn Đây chính là những vấn đề mà Hà Nội đang tìmcách giải quyết trong thời gian sắp tới.

* Kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh:

Với điều kiện tự nhiên - xã hội khá thuận lợi cho phát triển kinh tế nôngnghiệp, đất đai rộng, dân số đông, mức thu nhập cao nên khả năng tiêu thụ hànghóa nông sản lớn, các khu công nghiệp - dịch vụ phát triển Do vậy, nông nghiệpThành phố Hồ Chí Minh được định hướng phát triển là nông nghiệp đô thị, phục vụ

đô thị theo hướng CNH, HĐH Thành phố xác định đẩy mạnh quá trình chuyểndịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, giảm dần tỷ trọng trồng trọt, đẩy mạnh chăn nuôithủy sản và dịch vụ nông nghiệp Trong những năm qua thành phố đã xây dựng vàthực hiện nhiều chính sách kinh tế nông nghiệp, nông thôn nhằm thực hiện thắnglợi những mục tiêu đã đề ra, cụ thể là:

- Chính sách hỗ trợ cho lãi suất ngân hàng cho nông dân vay vốn phát triểnsản xuất thông qua các dự án về di dời, đầu tư cải tiến công nghệ của các cơ sở sảnxuất cây con giống; mở rộng, xây mới các cơ sở sản xuất nông nghiệp và nuôitrồng thủy sản; dự án sản xuất có sản phẩm xuất khẩu trên 80%

- Xây dựng chương trình mục tiêu, đề án phát triển cây trồng vật nuôi, nhưchương trình mục tiêu phát triển rau an toàn cho người tiêu dùng, thành phố đã trợgiá, miễn, giảm thuế đối với sản phẩm rau an toàn; hỗ trợ đầu tư công nghệ vàtrang thiết bị để sản xuất, chế biến, bảo quản và vận chuyển rau; thực hiện hợpđồng bao tiêu sản phẩm rau an toàn đối với các cơ sở sản xuất Chương trình giốngcây trồng, vật nuôi có các chính sách đầu tư nghiên cứu chuyển giao tiến bộ kỹthuật về giống; ưu tiên nguồn vốn tín dụng cho sản xuất thương phẩm của cácthành phần kinh tế

Tuy nhiên, chính sách phát triển nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh

còn nhiều tồn tại hạn chế như: Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệpnông thôn còn chậm, mang tính tự phát, thiếu quy hoạch, thiếu thông tin và vốn chưa tương xứng với tiềm năng của thành phố và chưa có đủ nhân tố của sản xuấthàng hóa, giá trị hàng hóa nông sản còn thấp, chưa có khả năng cạnh tranh Đòihỏi thành phố phải tiếp tục có những chính sách thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn

Trang 29

1.3.3 Các bài học rút ra cho huyện Chợ Mới:

Từ những phân tích các kinh nghiệm về xây dựng và thực hiện chính sách kinh tế phát triển nông nghiệp như trên, rút ra một số kinh nghiệm sau:

- Cần đặc biệt quan tâm đến việc hoạch định và thực hiện các chính sáchphát triển nông nghiệp Chính sách phát triển nông nghiệp không phải hoạch địnhmột lần là xong mà là một quá trình liên tục Bởi vì, mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳphát triển trong nông nghiệp lại xuất hiện những vấn đề đặt ra cần phải giải quyếtkịp thời Do vậy, hoạch định và thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp là mộtquá trình liên tục diễn ra

- Thực hiện các chính sách phát triển nông nghiệp của địa phương cần xuấtphát từ điều kiện, hoàn cảnh đặc thù về kinh tế - xã hội của tỉnh cần mình Đối vớinước Isarel thì sản xuất nông nghiệp đã đạt đến trình độ tự động hóa Thực tế ở cácnước và các địa phương cho thấy chính sách phát triển nông nghiệp cần phải có điểmdừng, có liều lượng thích hợp để phát huy tính hiệu quả tối ưu của chính sách

- Phát huy hiệu quả của chính sách phát triển nông nghiệp, cần phải đảmbảo tính đồng bộ, liên thông của hệ thống các chính sách, trong đó thì chính sáchđầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật , phục vụ nông nghiệp có ý nghĩaquyết định và luôn phải đi trước một bước

- Các chính sách được hoàn thiện sẽ hỗ trợ địa phương thực hiện tốt, hiệuquả hơn

- Địa phương quan tâm công tác quy hoạch chung, chi tiết một cách tổng thể

rõ ràng, dễ thực hiện

- Xác định giống cây trồng, vật nuôi chủ lực, trên nhu cầu, lợi thế từng nơichọn giống như thế nào để có năng suất, chất lượng Cây trồng nào phù hợp thổnhưỡng, vùng đất, đầu ra ổn định, hiệu quả kinh tế cao

- Đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kết hợp lao động nông thôn, đẩy mạnh các mô hình liên kết

- Quan tâm hệ thống hạ tầng giao thông nông thôn, nâng cấp các tuyến đường huyết mạch thuận tiện việc vận chuyển, đi lại người dân và danh nghiệp

- Đầu tư xây dựng các mô hình nông nghiệp vừa bảo đảm chất lượng môitrường vừa phù hợp với yêu cầu an toàn vệ sinh thực phẩm, đồng thời nhân rộng các

mô hình sản xuất có giá trị kinh tế cao thông qua ứng dụng mạnh mẽ thành tựu

Trang 30

khoa học, công nghệ.

- Vấn đề ô nhiễm môi trường, đất đai cần quan tâm một cách lâu dài và có định hướng cũng như chiến lược thực hiện

Trang 31

Tiểu kết chương 1

Thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp có vai trò hết sức quan trọngđối với nước ta cũng như địa phương Chính vấn đề này Chính phủ nhận thấy việcxây dựng các chính sách đặc biệt là chính sách nông nghiệp luôn được chú trọngđầu tư Mặc khác với cách thức thực hiện và phương án tổ chức với những công cụ,thể chế rõ ràng, việc xây dựng kế hoạch, phân công chủ thể thực hiện, cũng như quátrình thực thi các chủ thể được quan tâm thực hiện

Ngoài ra việc giám sát, tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn cũng được đặt lênhàng đầu khi kết thúc quá trình thực hiện

Từ cơ sở lý luận chung, phần nào đã khái quát cơ bản những vấn đề về chínhsách, chính sách phát triển nông nghiệp, cũng như quy trình Mục tiêu, nội dung, vaitrò chính sách phần nào cũng thể hiện chủ trương, định hướng cốt lỗi của lĩnh vựcnông nghiệp đối với định hướng phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện ChợMới, tỉnh An Giang, đó là xu hướng tất yếu phù hợp định hướng chung của tỉnh.Điều đó cho thấy rằng tiềm năng, lợi thế, nguồn lực có sẵn cho phép phát triển thếmạnh của huyện Chợ Mới một cách nhanh, mạnh, bền vững, đảm bảo vững chắctăng trưởng chung của huyện, ổn định, phát triển vượt trội so với các địa phươngkhác, song song đó đảm bảo vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu, suy thoái đất đai

sẽ được cải thiện trong tương lai, vấn đề còn lại là cần có tính thực tiễn, một cáchbài bản, có tính chất căng cơ là áp dụng thực tiễn một cách khoa học, toàn diện.Đồng thời xác định rõ những ưu điểm vượt trội phát huy, những vấn đề tồn tại, chưagiãi quyết được, các khó khăn, vướng mắt cần có sự tháo gỡ kịp thời, đúng thờiđiểm thực hiện, đó là những vấn đề cần đặt ra trong thời gian tới

Tóm lại, những lý luận chung, quy trình thực hiện, kết quả đánh giá từ thựctiễn rút ra giúp chính sách có cách nhìn trực quan, tính hiệu quả, khả thi đem lại,mặc dù có sự thay đổi chưa phù hợp nhưng nó phần nào giải quyết vấn đề thực tiễnmang lại từ đó có cách nhìn tổng quát hơn trong quá trình hiệu chỉnh chính sách vớithực tiễn cao hơn trong thời gian tới

Trang 32

Chương 2 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

2.1 Khái quát về nông nghiệp huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên:

* Vị trí địa lý:

Huyện Chợ Mới có diện tích tự nhiên là 36.925,8 ha

Với vị trí tiếp giáp thành phố Long Xuyên - trung tâm kinh tế, chính trị, vănhóa, xã hội, khoa học của tỉnh, được bao bọc bởi 02 nhánh sông Tiền và sông Hậuvới một lượng lớn phù sa được bồi đắp hàng năm, tạo điều kiện thuận lợi để pháttriển sản xuất nông nghiệp Chợ Mới không những là một trong những vựa lúa màcòn là vùng chuyên canh màu lớn của tỉnh; đồng thời Chợ Mới nằm ở hạ nguồn hainhánh sông Tiền, sông Hậu chảy qua tỉnh và có nguồn lợi thủy sản dồi dào khi mùanước lũ về

* Khí hậu thủy văn:

Huyện Chợ Mới nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanhnăm, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, thích hợp đối với các loại cây trồng, đặcbiệt là lúa, màu và cây ăn quả Có hệ thống sông ngòi chằng chịt được phân bố hầuhết trên địa bàn huyện đảm bảo kiểm soát lũ và điều tiết một lượng nước rất lớnphục vụ cho phát triển sản xuất nông nghiệp, vận chuyển hàng hóa và hành khách

* Tài nguyên thiên nhiên:

Phân bố thổ nhưỡng trên địa bàn huyện Chợ Mới chủ yếu là đất phù sa ngọt,rất thích hợp đối với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây lúa có thể canh tác 03vụ/năm và cây màu canh tác quanh năm

Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2013, tổng diện tích đất tự nhiên củahuyện Chợ Mới là 36.925,83 ha, chiếm khoảng 10,5% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.Tình hình sử dụng đất đai huyện Chợ Mới năm 2013 như sau: diện tích đất nôngnghiệp là 27.467,59 ha, chiếm 74,34% diện tích tự nhiên Trong đó: diện tích đấttrồng lúa là 19.061,69 ha, chiếm 69,4% diện tích đất nông nghiệp; diện tích đất nuôi

Trang 33

ha chiếm 25,59% diện tích đất tự nhiên; diện tích đất chưa sử dụng là 8,23ha, chiếm0,02% diện tích đất tự nhiên.

Định hướng sử dụng đất nông nghiệp:

- Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện gắn liền với sự chuyển dịch

cơ cấu sử dụng đất đai, sự phát triển kinh tế - xã hội sẽ dẫn đến sự biến động về mụcđích sử dụng đất đai theo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đặt ra

- Diện tích sử dụng đất nông nghiệp tổng quát trên địa bàn huyện theo hướnggiảm dần diện tích đất lúa kém hiệu quả sang những loại cây màu, cây ăn quả có giátrị kinh tế cao hơn, từng bước tiếp cận thị trường xuất khẩu

* Tài nguyên thủy sản:

Tài nguyên thủy sản trên địa bàn huyện Chợ Mới đa dạng và phong phú, được chia thành 02 nhóm chính:

- Nhóm cá sông: Thích nghi với môi trường nước có độ PH trung tính, cónhiều oxy hòa tan, phân bố trên sông Tiền, sông Hậu và các kênh rạch, gồm cácloại: cá linh, cá he, cá chài, cá mè vinh,…

- Nhóm cá đồng: Thích nghi với môi trường nước có độ PH nhỏ hơn 5,5 lít oxy, gồm các loại: cá lóc, cá trê, cá rô, phân bố nhiều ở các lung, đìa, ao, ruộng,…

* Tài nguyên du lịch:

Chợ Mới có tiềm năng phát triển du lịch Cù Lao Giêng nằm trên địa bàn 03

xã Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp, Bình Phước Xuân với diện tích trồng cây ăn quả khá lớn trên3.300 ha (trồng xoài, mít siêu sớm, cam bưởi…) rất thích hợp cho phát triển du lịchvườn sinh thái gắn tâm linh chùa Đạo Nằm, nhà thờ Chúa Quan Phòng được xem làhướng đi mới phù hợp đối với 03 xã Cù Lao Giêng

Bên cạnh đó, Chợ Mới còn được biết đến với nhiều công trình văn hóa – mỹthuật tiêu biểu như chùa Bà Lê (Phước Hội Tự), di tích Cột Dây Thép đã được xếphạng du lịch cấp quốc gia Hệ thống chùa chiền, đền miếu: Chùa Đạo Nằm, chùaTây An, thu hút hàng nghìn du khách từ khắp nơi đến tham quan, chiêm ngưỡng

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội:

* Dân số, mật độ dân số:

Trang 34

Chợ Mới là huyện đất hẹp, người đông với lợi thế lực lượng lao động rất dồidào, trong đó số người trong độ tuổi lao động (200.000 lao động) có khả năng làmviệc trong các ngành nghề nông thôn, đây là lực lượng chủ chốt đóng vai trò trongchuyển dịch cơ cấu kinh tế, với 12 làng nghề truyền thống được tỉnh công nhận, thuhút 7.768 lao động Tuy nhiên do các ngành nghề ở Chợ Mới còn nhỏ lẻ chưa liênkết thị trường - tiêu thụ, do đó việc giải quyết công ăn việc làm cho lao động nhànrỗi đang là vấn đề bức xúc của địa phương.

* Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện Chợ Mới:

Nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò nền tảng của phát triển kinh tế Việc thựchiện Đề án chuyển dịch cơ cấu cây trồng, theo hướng giảm dần diện tích trồng lúa,tăng tỉ trọng rau màu, cây ăn trái, gắn với ứng dụng công nghệ cao, nhân rộng các

mô hình liên kết chuỗi giá trị, bước đầu mang lại hiệu quả tích cực Đến nay, toànhuyện đã thực hiện chuyển dịch từ lúa sang màu, cây ăn trái được 7.611,75 ha(trong nhiệm kỳ thực hiện được 4.818,75 ha), đặc biệt có 04 xã Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp

và Bình Phước Xuân, Mỹ An đã chuyển dịch 100% sang diện tích màu và vườn.Thu nhập, bình quân diện tích chuyển đổi sang trồng màu tăng gấp 3,44 lần và cây

ăn trái tăng gấp 2,8 lần so với trồng lúa (giá sản xuất bình quân cây lúa đạt 114,21triệu đồng/ha, cây màu đạt 392,36 triệu đồng/ha, cây ăn trái đạt 321,95 triệuđồng/ha) Từ đó, giá trị sản xuất nông nghiệp nâng lên bình quân 01 ha đất cây hàngnăm đạt 320,56 triệu đồng/ha, vượt so Nghị quyết)

Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 09 của Tỉnh ủy, đã có 33 mô hình sảnxuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đặc biệt là dự án xây dựng hệ thống thủylợi công nghệ cao (tưới nhỏ giọt cho cây xoài 3 xã Cù Lao Giêng với diện tích 540

ha và tưới phun sương trên rau màu tại xã Kiến An với diện tích 80 ha) với tổngkinh phí 41,1 tỷ đồng, đến nay đi vào vận hành thử và vận động người dân tham giađấu nối vào hệ thống Sản xuất xoài đạt chứng nhận VietGAP không ngừng được

mở rộng, đã có 704 ha được công nhận (vượt so Nghị quyết)

Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển theo hướng tập trung quy mô vừa vànhỏ Tổng đàn có khuynh hướng sụt giảm do ảnh hưởng giá cả thị trường và dịch

Trang 35

bệnh, nhất là đàn heo do bệnh dịch tả heo Châu Phi bùng phát Diện tích nuôi trồngthủy sản được duy trì ổn định và tăng so cùng kỳ nhờ vào cá tra xuất khẩu đạt khá.

Thành lập mới HTX Mộc thị trấn Mỹ Luông, HTX trái cây GAP Chợ Mới,xây dựng nhãn hiệu Hợp tác xã sản xuất GAP Bình Phước Xuân và xuất 100 tấnxoài qua Úc, Hàn Quốc, đang ký kết hợp đồng xuất xoài qua Mỹ tạo bước phát triểntrong thời gian tới Đến nay toàn huyện có 25 HTX đang hoạt động Chỉ đạo thànhlập mỗi xã một hội quán gắn với một sản phẩm tiêu biểu của địa phương được 18/18

xã, thị trấn và 01 điểm dừng chân (xã Mỹ An) giới thiệu trưng bày sản phẩm nôngnghiệp của các địa phương trong tỉnh Được Dự án Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)

hỗ trợ cho HTX sản xuất kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Chợ Mới - An ThạnhTrung xây dựng cơ sở chế biến nước ép trái cây (trong đó có sản phẩm xoài 03màu), hiện đang lắp đặt hệ thống

Trong thời gian qua tình hình thiên tai diễn biến phức tạp, ảnh hưởng trựctiếp đến tình hình sản xuất, đời sống của nhân dân, huyện đã chủ động có các giảipháp kịp thời xử lý khắc phục, vận động bà con đến nơi an toàn, ổn định cuộc sống.Trong đó, đã chỉ đạo khắc phục kịp thời tình hình sạt lở đất bờ sông tại xã Mỹ HộiĐông, Kiến Thành, Long Điền B, Hoà An,

* Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai quyết liệt và thực

chất, tạo đồng thuận trong nhân dân và đạt được nhiều kết quả quan trọng Đến nay

có 09/16 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (đạt so Nghị quyết) và 01 xã

Mỹ Hiệp đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao Huyện đã hoàn chỉnh Đề án huyện đạtchuẩn nông thôn mới đến năm 2022 trình UBND tỉnh phê duyệt để tổ chức thựchiện Qua 05 năm thực hiện, diện mạo nông thôn của huyện có nhiều biến đổi đáng

kể, cơ sở hạ tầng thiết yếu từng bước cải thiện và đáp ứng yêu cầu sản xuất và sinhhoạt của người dân

* Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN):

Trang 36

Giá trị sản xuất bình quân tăng 6,2%/năm Tổng số cơ sở hiện có 3.496 cơ sở,giải quyết việc làm cho 11.487 lao động Một số ngành có thế mạnh của huyện như:đóng tàu sắt, xay sát, mộc, dây keo,…có bước phát triển ổn định.

Quan tâm thực hiện các chính sách khuyến công hỗ trợ doanh nghiệp vừa vànhỏ đổi mới, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm; hỗ trợ khôi phụcngành nghề tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống gắn với địa chỉ du lịch,giải quyết tốt việc làm cho lao động nông thôn Hiện toàn huyện có 13 làng nghềtruyền thống được công nhận và 03 cụm công nghiệp được quy hoạch, đang tronggiai đoạn mời gọi đầu tư gồm: 02 cụm công nghiệp chế biến lương thực Hòa An vàHòa Bình; 01 cụm công nghiệp xay xát, chế biến lương thực xuất khẩu, cơ sở dâykeo và các ngành nghề khác phù hợp tại Nhơn Mỹ

Ngoài ra quy hoạch 01 cụm công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng LongGiang; trình tỉnh lập quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề Mộc Long Điền A; lậpquy hoạch chung xây dựng đô thị Hội An Trong nhiệm kỳ qua, huyện đã trích 7,45

tỷ đồng từ ngân sách uỷ thác qua Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện để giải ngâncho các hộ làng nghề, nhà vườn vay vốn phát triển sản xuất

* Hoạt động khoa học và công nghệ: Việc ứng dụng khoa học và đổi mới

công nghệ đã đóng góp tích cực vào quá trình phát triển sản xuất; các hệ thống tiêuchuẩn chất lượng được các doanh nghiệp, người dân đưa vào sản xuất, áp dụng; cácchính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng khoa học, công nghệ vàosản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả sản xuất được quantâm thực hiện với tổng số tiền hơn 4,7 tỷ đồng Toàn huyện có 264 nhãn hiệu (trong

đó 15 nhãn hiệu tập thể), 48 kiểu dáng công nghiệp và 2 sáng chế được Cục sở hữutrí tuệ cấp giấy chứng nhận bảo hộ độc quyền

* Về đầu tư xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng:

Huyện đã tập trung các nguồn lực ngân sách và mời gọi doanh nghiệp đầu tư thực hiện các công trình có ý nghĩa quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế

- xã hội như: đưa vào sử dụng nâng cấp mở rộng đường Tỉnh lộ 942, 944; cầu ChợMới - Tân Long; các công trình dự án Nam Vàm Nao (398 cống tròn, 59 cống hở,

Trang 37

51 cầu giao thông, hệ thống đê bao phân vùng (đường nhựa) 161,6 km, hệ thống đêbao tiểu vùng (đường nhựa) 46,66km, hệ thống đê bao tiểu vùng (đường bê tông)57,78 km, xây dựng 4 nhà quản lý phân vùng, nạo vét kênh mương và nâng cấp đêbao tiểu vùng bằng đất), Trạm bơm mẫu mương Ông Cha (xây dựng 02 trạm bơmtưới, 03 trạm bơm tiêu, 02 tuyến kênh tưới bêtông cốt thép kết hợp giao thông nôngthôn), dự án cánh đồng lớn (đầu tư nâng cấp 08 tuyến đường giao thông nội đồngvới chiều dài 11 km tại xã Long Điền B), Nông thôn mới, … tạo thêm diện mạo mớicho huyện và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Ngoài ra, công tác xã hội hóa đầu tư các công trình xây dựng, cơ sở hạ tầngtrong thời gian qua đã đem lại nhiều kết quả tích cực, đến nay, có 18/22 dự án kêugọi đầu tư đã và đang thực hiện, chủ yếu là các dự án về trung tâm thương mại, chợ,cầu, cụm công nghiệp, các dự án đi vào hoạt động mang lại hiệu quả kinh tế cho

các nhà đầu tư và đã giải quyết được nhu cầu của người dân trên địa bàn huyện Đến

nay đã đưa vào hoạt động Trung tâm thương mại thị trấn Chợ Mới (60 tỷ); CầuLong Kiến - Long Giang (35,934 tỷ đồng); cầu Long Điền B - Kiến Thành đangđiều chỉnh thiết kế kỹ thuật; Công ty đầu tư phát triển bất động sản TNR HoldingViệt Nam đầu tư khu đô thị thị trấn Chợ Mới 1 (11,2 ha) và 2 (10,31 ha), đã được

Sở Xây dựng phê duyệt quy hoạch 1/500 Đang trình tỉnh xin chủ trương cho Công

ty Cổ phần thêu Hải Đến đầu tư cơ sở may gia công xuất khẩu diện tích 2 ha

* Về thương mại - dịch vụ, dịch vụ:

Các hoạt động thương mại, dịch vụ tiếp tục duy trì và phát triển cả về quy mô

và ngành nghề; mời gọi đầu tư, chỉnh trang các chợ, trung tâm thương mại; hànghoá ngày càng đa dạng, phong phú Toàn huyện có 32 chợ, 02 trung tâm thương mạivới 6.158 tiểu thương tham gia mua bán Phát triển mới 607 cơ sở, doanh nghiệp,nâng tổng số đến nay có 6.327 hộ kinh doanh, 604 doanh nghiệp đang hoạt động.Nhiệm kỳ qua, đã xây dựng mới 06 chợ và nâng cấp sửa chữa 17 chợ với tổng vốnđầu tư trên 110 tỷ đồng (trong đó doanh nghiệp và nhân dân đóng góp trên 100 tỉđồng) Tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ nhiệm kỳ qua tăng bình quân

Trang 38

18,7% Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống buôn lậu, gian lận thươngmại góp phần bình ổn giá cả thị trường Hoạt động xúc tiến thương mại ngày càngđược quan tâm nhằm quảng bá sản phẩm địa phương thông qua tổ chức thành côngnhiều phiên chợ “Hàng Việt về Nông thôn” đã thu hút hàng trăm ngàn người đếntham quan mua sắm.

Các dịch vụ bưu chính, viễn thông, bảo hiểm, giao thông vận tải, kinh doanhtiền tệ, điện - nước,… ngày càng phát triển, đóng góp quan trọng cho sự phát triểncủa huyện

* Về tài chính, ngân hàng: Bảo đảm cân đối thu - chi thường xuyên và tích

lũy xây dựng cơ bản Các đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ tàichính, sử dụng có hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước; chủ động huy động cácnguồn vốn đầu tư cơ sở vật chất; đổi mới trang thiết bị, từng bước nâng cao chấtlượng cung cấp dịch vụ công và tạo điều kiện cho người dân tiếp cận với các dịch

vụ chất lượng cao

Hoạt động của các tín dụng, ngân hàng tiếp tục duy trì mức tăng trưởng, bìnhquân 10,9%/năm, cơ bản đáp ứng nhu cầu vốn để các tổ chức, cá nhân sản xuất kinhdoanh Ngân hàng chính sách xã hội tăng dần số dư nợ, bảo lưu tốt nguồn vốn vay,góp phần giải quyết việc làm, giảm hộ nghèo, cận nghèo… Đến thời điểm hiện naytoàn huyện có 11 ngân hàng, 04 quỹ tín dụng đang hoạt động,

2.2 Quá trình thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

2.2.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách:

Căn cứ Nghị quyết 04/NQ-HU ngày 4/6/2003 và Nghị quyết 07-NQ/HUngày 10/3/2006 về việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2006 – 2010;

Căn cứ Kế hoạch số 795/KH-UBND ngày 21/5/2013 của UBND huyện vềphát triển ứng dụng công nghệ cao huyện Chợ Mới giai đoạn 2013 – 2020

Ngày đăng: 22/06/2021, 16:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w