Sách “Những điều cần biết về quyền trẻ em luật trẻ em và các chương trình, hành động bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, giáo dục trẻ em” của tác giả Kim Phượng, NXB Hồng Đức năm 2017 đã nêu
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là tương lai của đất nước, chăm sóc trẻ em trở thành những người có phẩm giá và trí tuệ là một vấn đề quan trọng của toàn xã hội và của Nhà nước Cho đến nay Nhà nước Việt Nam ban hành nhiều chính sách chăm sóc trẻ em và thật sự góp phần quan trọng vào việc hình thành nhiều thế hệ con người Việt Nam đến nay.Tuy nhiên, thực tiễn phát triển xã hội ở môi trường hiện đại như Thành phố Hồ Chí Minh đang đặt ra nhiều vấn đề cần nghiêng cứu, đánh giá để hướng đến mục tiêu bền vững và bao trùm
Hiến pháp của Việt Nam quy định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình, xã
hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” (khoản 1, Điều 37, Hiến
pháp năm 2013)
Cùng với Luật Trẻ em (2016), các bộ luật, luật khác trong quá trình sửa đổi, bổ sung cũng luôn cập nhật, đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn các thông lệ và chuẩn mực quốc tế có liên quan đến quyền trẻ em, như: Hình sự, Tố tụng hình
sự, Xử lý vi phạm hành chính, Lao động, Hôn nhân và gia đình, Tổ chức tòa án nhân dân, v.v Đến nay, chúng ta có rất nhiều văn bản luật và dưới luật liên quan đến trẻ em nhằm cụ thể hóa nhiều quan điểm tiến bộ, góp phần tăng cường công tác giáo dục, bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Chăm sóc trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân trong hoạt động nuôi dưỡng, giáo dục, theo dõi quá trình phát triển của trẻ em để bảo đảm mọi trẻ em được phát triển thể chất, trí tuệ và đạo đức Trong những năm gần đây, công tác chăm sóc trẻ em đã có sự chuyển biến tích cực và đạt được nhiều kết quả quan trọng Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác chăm sóc trẻ em ở Việt Nam vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định: vẫn còn trẻ em bị bỏ rơi; sự bạo hành của những bảo
Trang 4mẫu, người giữ trẻ; tình trạng xâm hại trẻ; trẻ vào đời sớm; việc quản lý, can thiệp trợ giúp đối với trẻ em có lúc, có nơi chưa kịp thời, hiệu quả; việc chấp hành pháp luật về chăm sóc trẻ em một số nơi thực hiện chưa tốt, v.v…
Trong thời gian qua, công tác chăm sóc trẻ em trên địa bàn phường Thạnh Lộc đạt được hiệu quả nhất định Tuy nhiên, còn tồn tại những hạn chế đó là còn thiếu sót trong quản lý, chăm lo cho trẻ em vào các dịp lễ, Tết; công tác nắm bắt, thu thập thông tin trẻ em còn hạn chế; còn xảy ra tình trạng trẻ em bị bạo hành; một số bậc phụ huynh, người chăm sóc và bản thân trẻ em chưa nhận thức được đầy đủ trách nhiệm nuôi dưỡng và chăm lo cho trẻ em; tình trạng xâm hại trẻ còn xảy ra; công tác tuyên truyền về chính sách chăm sóc trẻ em chưa đạt hiệu quả cao; đội ngũ làm công tác trẻ em thường xuyên thay đổi nên còn yếu về kỹ năng công tác; hoạt động dành cho trẻ em còn thiếu sự đa dạng, phong phú do nguồn lực kinh phí có hạn; v.v
Tất cả những điều đó cho thấy, trên địa phường Thạnh Lộc còn tồn đọng những bất cập và hạn chế dẫn đến công tác chăm sóc trẻ em đạt hiệu quả chưa cao Việc quản lý, phát hiện, can thiệp, trợ giúp đối với trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt có lúc chưa kịp thời, thiếu đồng bộ, chưa cụ thể về trách nhiệm, quyền hạn, quy chuẩn Việc chấp hành pháp luật về chăm sóc trẻ em cũng chưa được thực hiện nghiêm Bên cạnh đó, từ góc độ lý luận cho thấy, đã
có một số công trình nghiên cứu về thực hiện chăm sóc trẻ em ở những địa phương khác nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em trên địa bàn phường Thạnh Lộc
Từ việc nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng nhằm tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước nói chung và tại phường Thạnh Lộc nói riêng đối với chính sách chăm sóc cho trẻ em là rất cần thiết trong giai
đoạn hiện nay Với những lý do đó nên tác giả chọn đề tài “Thực hiện chính
sách chăm sóc trẻ em trên địa bàn phường Thạnh Lộc, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh” làm nội dung nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ chính sách công của mình
Trang 52 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chính sách thực hiện chăm sóc trẻ em – một trong các quyền của trẻ em được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, hoạch định chính sách và hoạt động thực tiễn tập trung đi sâu nghiên cứu, tìm tòi, khảo sát Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan được công bố dưới nhiều góc độ, mức độ, hình thức thể hiện khác nhau, tiêu biểu của các tác giả:
Ngô Thị Kiều Trang (2016), Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học “Nhận thức về
việc thực hiện quyền trẻ em của cha mẹ trên địa bàn miền núi Tỉnh Nghệ An”:
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về quyền trẻ em; tổng quan các tài liệu và xây dựng các khái niệm liên quan đến nhận thức về quyền trẻ em của các bậc cha
mẹ Đánh giá mức độ nhận thức của cha mẹ trong các hoạt động liên quan đến việc thực hiện quyền trẻ em và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng nhận thức này Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của cha mẹ
về việc thực hiện quyền trẻ em ở địa bàn miền núi
Lã Văn Bằng (2019), Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và lịch sử
nhà nước và pháp luật đề tài “Thực hiện pháp luật về bảo vệ trẻ em ở Việt Nam
hiện nay”: Hệ thống hóa, làm sáng tỏ cơ sở lý luận THPL về BVTE, xây dựng
các khái niệm, nội dung, hình thức, các điều kiện bảo đảm THPL về BVTE - Phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng THPL về BVTE ở Việt Nam hiện nay;
từ đó, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong việc THPL về BVTE
ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm bảo đảm THPL về BVTE ở Việt Nam ngày càng hiệu quả hơn
Đặng Bích Thủy (2017), Luận án Tiến sĩ xã hội học với đề tài “Thực hiện
quyền chăm sóc sức khỏe trẻ em ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế”:
Luận án chỉ ra những hạn chế và khó khăn trong quá trình thực hiện quyền chăm sóc sức khỏe trẻ em của các bên chịu trách nhiệm thực hiện quyền trẻ em là Nhà nước, gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội Dựa trên những phát hiện này, luận án đưa ra những khuyến nghị cụ thể để việc thực hiện quyền chăm sóc sức khỏe trẻ em ở Việt được hoàn thiện hơn
Trang 6Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2017), Luận văn Thạc sĩ ““Biện pháp chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em mồ côi trên địa bàn thành phố Vĩnh Long”: Đề tài chủ yếu nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em mồ côi trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, gồm có: trẻ mồ côi cả cha và
mẹ, trẻ mồ côi chỉ mồ côi cha hoặc mẹ; Trẻ mồ côi đang được chăm sóc nuôi dưỡng tại cộng đồng Tìm hiểu thực trạng trẻ em mồ côi và việc chăm sóc trẻ em
mồ côi trên địa bàn thành phố Vĩnh Long Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc trẻ em mồ côi trên địa bàn thành phố Vĩnh Long
Sách “Những điều cần biết về quyền trẻ em luật trẻ em và các chương
trình, hành động bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, giáo dục trẻ em” của tác giả Kim
Phượng, NXB Hồng Đức năm 2017 đã nêu lên các nội dung: công ước của liên hiệp quốc về quyền trẻ em; luật trẻ em của quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; một số quyền của trẻ em trong pháp luật Việt Nam; chương trình hành động của chính phủ để bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; tiêu chuẩn xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em và công tác quản lý trẻ chưa thành niên; luật nuôi con nuôi và giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính trong công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu, bài viết trên đều có giá trị lớn
về lý luận và thực tiễn về thực hiện quyền trẻ em nói chung, chính sách chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em nói riêng Các tác giả đã kế thừa các khái niệm về chính sách, chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ em, nêu ra những lý luận cơ bản nhất, đánh giá thực trạng tình hình thực hiện chính sách liên quan đến trẻ em ở nước ta
ở từng địa phương cụ thể trong thời gian qua Đưa ra những giải pháp, kiến nghị rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN để chính sách thực hiện quyền trẻ em trong những năm tới đạt hiệu quả Phạm vi nghiên cứu của các công trình trên được thực hiện khá đa dạng, đa phần thực hiện ở một tỉnh hoặc một số cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh
Tuy nhiên, từ các đề tài tác giả tham khảo trên có nhiều chính sách hay liên quan chăm sóc trẻ em nhưng ở địa bàn phường Thạnh Lộc quận 12 chưa có
Trang 7công trình nghiên cứu nào cụ thể và chuyên sâu về vấn đề “Thực hiện chính sách
chăm sóc trẻ em trên địa bàn phường Thạnh Lộc, Quận 12, Thành phố Hồ Chí
Minh” từ góc độ khoa học chính sách công nhằm giúp các nhà quản lý xây dựng
và thực thi chính sách chăm sóc trẻ em phù hợp với thực tiễn địa phương góp phần giúp trẻ em phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, xây dựng thế hệ kế thừa có chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc
tế trong tương lai
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm mục đích tập trung nghiên cứu các chính sách liên quan đến chăm sóc trẻ em và việc thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em trên địa bàn phường Thạnh Lộc, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh để từ đó xác định căn cứ
đề xuất các giải pháp mang tính thiết thực, hiệu quả, mang tính định hướng phát triển thời gian tới đối với thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách trẻ em ở Việt Nam
- Các văn bản Đảng chỉ đạo, triển khai và tổ chức thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em ở cơ sở phường, ( xã)
- Phân tích đánh giá thực trạng thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em trên địa bàn phường Thạnh Lộc, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh dưới góc độ khoa học chính sách công Trong đó nêu lên những thành tựu đạt được, những tồn tại, hạn chế cần khắc phục cũng như phân tích các nguyên nhân hạn chế ảnh hưởng đến việc thực hiện chính chăm sóc trẻ em
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách chăm sóc trẻ
em góp phần giải quyết các vấn đề an sinh xã hội cho địa phương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Giải pháp thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em trên địa bàn phường Thạnh Lộc, Quận 12,Thành phố Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Trang 8+ Về không gian: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu việc thực hiện các chính sách chăm sóc trẻ em trên địa bàn phường Thạnh Lộc, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh
+ Về thời gian: Thời gian nghiên cứu từ năm 2016 đến năm 2020
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận là các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về chính sách đối với trẻ em, chính sách chăm sóc trẻ em Bên cạnh đó, đề tài luận văn tiếp tục kế thừa và phát triển những kết quả nghiên cứu có giá trị khoa học của các công trình đi trước có liên quan đến đề tài Vận dụng lý thuyết chính sách công qua thực tiễn cơ sở là phường (xã) giúp hình thành lý luận về chính sách chăm sóc trẻ em
Cơ sở thực tiễn của luận văn là quá trình thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em trên địa bàn phường Thạnh Lộc, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) giai đoạn từ 2016 đến 2020
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tài liệu được sử dụng trong nghiên cứu này chủ yếu là các công trình nghiên cứu, các đề tài hội thảo; các tài liệu của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực trẻ em; chương trình, kế hoạch của lỉnh vực trẻ em, tập trung là các chính sách chăm lo trẻ em thực hiện trên địa bàn phường Thạnh Lộc, quận 12,Thành phố Hồ Chí Minh Phương pháp này giúp tìm hiểu liên hệ thực tế để vận dụng những chính sách tốt hiệu quả và giải pháp đề xuất những bất cập chính sách chưa hiệu quả trong chăm sóc trẻ em
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Từ các cơ sở tài liệu, thông tin và dữ liệu thu thập được, tác giả nghiên cứu sẽ phân tích, đánh giá, xem xét trên bình diện áp dụng từ khoa học chính sách công Từ đó, có những đề xuất phù hợp nhằm hoàn thiện quá trình thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em hiệu quả hơn
Trang 96 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn hệ thống hóa và làm rõ các khái niệm , các vấn đề lý luận cơ bản liên quan thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em ở phường Thạnh Lộc.Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chăm sóc trẻ em
Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở nghiên cứu thực tế về chính sách đối với công tác chăm sóc trẻ em trên địa bàn phường, xã nói chung và tại phường Thạnh Lộc, Quận 12 nói riêng, góp phần chăm lo tốt nhất cho trẻ em Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, học tập tại các trường chính trị tỉnh và các trung tâm bồi dưỡng lý luận chính trị của các quận/huyện
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài các nội dung của phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn được kết cấu thành 3 chương với nội dung như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em trên địa bàn phường Thạnh Lộc, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
CHĂM SÓC TRẺ EM
1.1 Lý luận chung về thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1.1 Khái niệm về chính sách
James Anderson (2003) cho rằng chính sách là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân; hoặc “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích
mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề” Dye (2007) cho rằng chính sách là những gì mà chính phủ làm, lý
do làm và sự khác biệt mà nó tạo ra
Theo Nguyễn Minh Thuyết (2011) định nghĩa: Chính sách là đường lối cụ thể của một chính đảng hoặc một chủ thể quyền lực về một lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ấy Cấu trúc của chính sách bao gồm: đường lối cụ thể (nhằm thực hiện đường lối chung), biện pháp, kế hoạch thực hiện Chủ thể ban hành chính sách là: chính đảng, cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị, công ty,…
Theo tác giả Vũ Cao Đàm (2011) trong Giáo trình Khoa học chính sách thì “chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể
để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa ” Theo định nghĩa này thì mục đích của chính sách công là
Trang 11thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng chứ không đơn giản chỉ dừng lại ở việc giải quyết vấn đề công Nói cách khác, chính sách công là công cụ để thực hiện mục tiêu chính trị của nhà nước
Theo Nguyễn Hữu Hải (2014): “Chính sách đôi khi có thể nhận thấy dưới hình thức các quyết định đơn lẻ, nhưng thông thường nó bao gồm một tập hợp các quyết định hoặc nhìn nhận như một định hướng cụ thể Chính sách thường sẽ tiếp tục tiến hòa trong quá trình thực hiện chứ không cố định như giai đoạn thực hiện chính sách”
Như vậy, có thể khái quát rằng chính sách là một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau do Nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp có liên quan đến các vấn đề công nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định Chính sách là hành động, công cụ quản lý của nhà nước trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý của mình nhằm thực hiện mục tiêu nhất định
1.1.1.2 Khái niệm về trẻ em
Khái niệm về trẻ em được xác định dựa trên các đặc điểm về độ tuổi, đặc điểm sinh hóa và đặc trưng tâm lý xã hội
Về độ tuổi, có những chênh lệch khác nhau về độ tuổi quy định đối với trẻ
em, tùy thuộc và quan điểm, cách nhìn của nhà nghiên cứu, cũng như quy định chung của quốc tế hoặc quy định của các quốc gia khác nhau Các tổ chức của Liên hiệp quốc (LHQ) như Quỹ Dân số (UNFPA), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO) xác định trẻ em là người dưới 15 tuổi Theo Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi
Theo Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em Việt Nam năm 1991 và
sửa đổi năm 2004 quy định “trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Luật Trẻ em được ban hành vào ngày 5/4/2016 cũng quy định “trẻ em là người dưới
16 tuổi” Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam việc quy định về độ tuổi trẻ em trong
các văn bản luật và dưới luật không có sự đồng nhất, điều này ảnh hưởng đến việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Theo Luật Lao động năm 2019 thì
Trang 12người lao động là người đủ 15 tuổi trở lên Theo như quy định này thì người lao động vẫn là trẻ em, do chưa thành niên đủ 18 tuổi Theo Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, cũng xác định đối tượng xử phạt hành chính phải từ đủ 14 tuổi
trở lên, cụ thể là: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành
chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính”, quy định này đồng nghĩa với việc
coi trẻ em là 14 thay vì 16 như quy định chung Sự quy định thiếu đồng nhất và không rõ ràng về độ tuổi trẻ em như trên đã gây ra không ít khó khăn, bất cập trong công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Bên cạnh việc xác định độ tuổi, các nhà nghiên cứu còn làm rõ khái niệm về trẻ em thông qua việc xác định các đặc điểm tâm sinh lý, nhân khẩu xã hội đặc thù, khác biệt so với người đã trưởng thành để nhấn mạnh các đặc trưng riêng của trẻ
em Theo Feinberg (1980) nhấn mạnh trẻ em thuộc nhóm đối tượng đặc thù dễ bị tổn thương nhất Franklin (2001) đưa ra quan điểm rằng trẻ em là đối tượng non nớt, cần được bảo vệ và hưởng được sự chăm sóc đặc biệt từ người lớn Grant (1994) cho rằng các đặc trưng quan trọng trong quá trình phát triển vòng đời là vào giai đoạn tuổi thơ, trẻ em là giai đoạn diễn ra sự hình thành và phát triển trí não, cơ thể, các giá trị tinh thần và tính cách
Theo Ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em Việt Nam (2005) cho rằng “Trẻ
em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội về một độ tuổi, trong giai đoạn đầu phát triển của con người Đó là những người chưa trưởng thành còn non nớt về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”
Về mặt sinh học, trẻ em là người ở giữa giai đoạn sơ sinh và tuổi dậy thì Định nghĩa pháp lý về một “trẻ em” nói chung biểu thị một đứa trẻ, còn được biết tới là người chưa trưởng thành
Như vậy, có thể khái quát rằng trẻ em là người dưới 16 tuổi, là những người còn non nớt về mặt thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương nên cần được bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục của gia đình, nhà trường, nhà nước và xã hội
Trang 131.1.1.3 Khái niệm về chăm sóc trẻ em
Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004) thì trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và công dân Trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ em thì lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân ở trong nước và nước ngoài góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Chỉ thị số 20/CT-TW, ngày 5-11-2012 của Bộ Chính trị về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ
em trong tình hình mới đã nhấn mạnh: “Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em là vấn đề có tính chiến lược, lâu dài, góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế” Có thể nói, việc đầu tư cho trẻ em là đầu
tư cho tương lai của đất nước
Tóm lại, chăm sóc trẻ em là các hoạt động của các bên liên quan nhằm nuôi dưỡng, giáo dục và theo dõi quá trình phát triển toàn diện về mặt thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức của trẻ em
1.1.1.4 Khái niệm về thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em
Thực hiện chính sách là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn
bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định Tổ chức thực hiện chính sách là trung tâm kết nối các khâu (các bước) trong chu trình chính sách thành một hệ thống Hoạch định được chính sách đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng thực hiện đúng chính sách còn quan trọng hơn Có chính sách đúng nếu không được thực hiện sẽ trở thành khẩu hiệu suông, không những không có ý nghĩa, mà còn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể hoạch định và ban hành chính sách (uy tín của nhà nước)
Trang 14Thực hiện chính sách là quá trình triển khai thực thi các chương trình, nội dung kế hoạch, đề án, dự án hoặc các chính sách cụ thể thuộc một chính sách lớn hơn và hoạt động này biểu thị việc chuyển các kế hoạch của chính sách thành thực
tế Như vậy, thực hiện chính sách bao gồm các hoạt động có tổ chức, kế hoạch được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền các cấp thực hiện nhằm hướng tới đạt các mục đích và mục tiêu được tuyên bố trong chính sách đề ra ban đầu
Tóm lại, theo các khái niệm đã được phân tích, đề cập, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn thì thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ở các cấp, thực hiện triển khai bằng những hình thức khác nhau nhằm đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ trong chính sách chăm sóc trẻ em Qua đó, góp phần bảo đảm các quyền của trẻ em được đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn và giải quyết tốt các vấn đề trẻ em phát sinh
1.1.2 Vai trò của việc thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em
Thứ nhất, thực hiện tốt chính sách chăm sóc trẻ em góp phần hiện thực hóa chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về chăm sóc trẻ em vào đời sống thực tiễn
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn coi nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là nội dung cơ bản của chiến lược phát triển con người, góp phần tạo nguồn nhân lực tương lai cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhiều chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã được pháp luật hóa trong hệ thống quy phạm pháp luật về trẻ em Trong điều kiện hiện nay, Việt Nam đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mà ở đó mọi hoạt động của bộ máy nhà nước suy cho cùng cũng vì con người, vì hạnh phúc con người luôn được xác định
là mục tiêu cao nhất; pháp luật được xác định có vai trò tối cao trong đời sống xã hội và Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Việc tuân thủ và thực thi các quy định của pháp luật về chăm sóc trẻ em cũng chính là thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về công tác chăm sóc trẻ em trong thực tiễn cuộc sống
Trang 15Thứ hai, bảo đảm cho trẻ em được phát triển toàn diện về mặt thể chất, tinh thần, trí tuệ và đạo đức
Trẻ em là công dân đặc biệt được gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc ngay
từ khi còn trong bụng mẹ Do trẻ em còn non nớt về thể chất và tinh thần nên trẻ
em không thể tự mình thực hiện đầy đủ các quyền mà phần nhiều phải dựa vào người lớn Trẻ em có quyền được phát triển đầy đủ và toàn diện trong gia đình, đó phải là tổ ấm an toàn giúp các em được nuôi dưỡng và phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần, bồi dưỡng trí tuệ và các giá trị đạo đức, không để gây ra những mất mát, tổn thương về thể xác và tinh thần Là thành viên của xã hội, trẻ em cũng được hưởng đầy đủ những quyền cơ bản của con người như quyền được sống; quyền được bảo vệ về tính mạng, nhân phẩm; quyền được phát triển và tham gia Khi thực hiện pháp luật về bảo đảm các quyền trẻ em cần đảm bảo nguyên tắc những lợi ích tốt nhất dành cho trẻ em và tương ứng với từng độ tuổi phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ em
Thứ ba, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em
Thực hiện tốt chính sách chăm sóc trẻ em sẽ góp phần nắm bắt tình hình trẻ
em tại địa phương, có tác dụng tích cực trong việc phòng ngừa, ngăn chặn và xử
lý các hành vi xâm hại trẻ em Thông qua hoạt động này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức, kiến thức, trách nhiệm của toàn xã hội trong việc thực hiện quyền trẻ em, giảm nghèo đói và bất bình đẳng trong xã hội, tăng cường tiếp cận y tế, giáo dục, vui chơi giải trí và bảo
vệ trẻ em được thực hiện thông qua các chương trình, dự án riêng hoặc được lồng ghép trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của các cấp, các ngành Tháng hành động vì trẻ em, Tết trung thu cho trẻ em và xây dựng xã, phường phù hợp với trẻ em được duy trì hàng năm, góp phần quan trọng vào công tác phòng ngừa, bảo vệ và chăm sóc trẻ em
Thứ tư, bảo đảm trợ giúp trẻ em
Thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em trước hết là nhằm mục đích tạo dựng một môi trường an toàn, lành mạnh dành cho trẻ em phát triển toàn diện Tuy
Trang 16nhiên, khi mà việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em ở cấp độ tạo dựng môi trường lành mạnh, an toàn và biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn không thành công thì cần thiết phải áp dụng các biện pháp hỗ trợ cho những trẻ em đã phải chịu ngược đãi, bóc lột, sao nhãng, xâm hại với mục đích thúc đẩy quá trình phục hồi và tái hòa nhập, phòng ngừa tổn thương trong tương lai Bảo đảm trợ giúp trẻ em bao gồm hỗ trợ cho cả trẻ em có nguy cơ cao hoặc đang bị tổn hại được bảo đảm an toàn, chăm sóc phục hồi cho trẻ em Hỗ trợ trẻ em bằng hình thức can thiệp trực tiếp đối với từng cá nhân trẻ em và gia đình của trẻ em Các biện pháp hỗ trợ phải được ra quyết định bởi người có thẩm quyền trên cơ sở đánh giá hoàn cảnh cụ thể của từng trẻ em
1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về chính sách chăm sóc trẻ em
Trong tổng số các di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có 128 bài viết đề cập đến trẻ em và việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; trong đó có tới 60 bức thư, bài thơ, bài nói chuyện của Người gửi trực tiếp đến thiếu niên, nhi đồng chứng tỏ trẻ em luôn có vị trí vô cùng đặc biệt đối với Người Thông qua các bài báo, bài viết cùng với những việc làm cụ thể, thiết thực của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên những quan điểm cơ bản của Người về quyền của trẻ em Những quan điểm đúng đắn đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kim chỉ nam soi đường cho Đảng, Nhà nước ta đề ra đường lối, chính sách và pháp luật thực hiện quyền của trẻ em Việt Nam hiện nay
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã dành tình yêu thương vô bờ cho trẻ
em Người viết trong bài Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng “ Thiếu niên nhi đồng là người chủ tương lai của đất nước…Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải quyết tâm chăm sóc và giáo dục các bé cho tốt” Thực hiện lời dạy của Người, trong mọi chặng đường phát triển của đất nước, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định “ Quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng một lớp người mới không những phục vụ cho chủ nghĩa xã hội mà còn cho sự nghiệp xây dựng cộng sản chủ nghĩa sau này”
Trang 17Kế thừa và phát triển quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền trẻ
em, Đảng và Nhà nước ta đã nâng lên thành đường lối chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em Đường lối của Đảng được thể hiện rõ nét trong các văn kiện của Đảng
kể từ khi ra đời đến nay như: Chỉ thị số 17/CT/TW ngày 01/9/1947 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng về Công tác thanh vận; Chỉ thị số 197/CT/TW ngày 19/3/1960 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác thiếu niên, nhi đồng; Chỉ thị số 38-CT/TW của Ban Bí thư Trung ưởng Đảng khóa VII (ngày 30/5/1994) về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Chỉ thị số 55-CT/TW của Bộ Chính trị khóa VIII (ngày 28/6/2000) về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng ở cơ sở với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Chỉ thị số 20/CT-TW ngày 05/11/2012 của Bộ Chính trị về việc tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới v.v Đây là tư tưởng xuyên suốt của Đảng qua các thời kỳ đại hội sau đó về bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, xác định sự nghiệp này được ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đường lối của Đảng đã lần lượt được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật quốc gia
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng đấu tranh để đem lại các quyền cơ bản cho trẻ em - chủ nhân tương lai của đất nước, quyết định sự phát triển của quốc gia, dân tộc Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong tư tưởng của Người Với tầm nhìn vượt thời đại, cho đến nay, quan điểm của Người về quyền trẻ em chính là cơ
sở khoa học đầu tiên để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền trẻ em phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay Tiếp tục khai thác quan điểm của Người về quyền trẻ em và cụ thể hóa nó vào hệ thống pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống là trách nhiệm chung của toàn hệ thống chính trị, trước hết là của Đảng, Nhà nước và những người phụ trách công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở nước ta hiện nay
Trẻ em chiếm tỷ lệ càng cao, Đảng và Nhà nước càng quan tâm hơn Từ khi ký Công ước, Việt Nam luôn tôn trọng và luật hóa các quyền cơ bản của trẻ
Trang 18em trên cơ sở phù hợp với Hiếp pháp và Pháp luật Việt Nam
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
là nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực con người của Việt Nam, vì trẻ em là hạnh phúc của gia đình, tương lai của đất nước Điều này cung quy định rất rỏ trong văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam cũng như trong Hiếp pháp 1946 (Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam khi mới giành được chính quyền), Hiến pháp 1959, Hiếp pháp
1992 và Hiến pháp 2013
Trong Hiến pháp 2013, bên cạnh những quy định chung về quyền con người, quyền công dân với tất cả mọi người, Hiến pháp năm 2013 còn quy định riêng để bảo vệ quyền của trẻ em tại Điều 37 “Trẻ em được Nhà nước, gia đình,
xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bốc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” Theo đó, trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia các vấn đề
về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc lạm dụng, bốc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX cũng đã khẳng định “chính sách chính sách chăm sóc , bảo vệ trẻ em tập trung vào quyền trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ
em được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức; trẻ em mồ côi , bị khuyết tật, sống trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn có cơ hội học tập và vui chơi.”
Cho đến nay, về cơ bản hệ thống pháp luật về quyền trẻ em Việt Nam ngày càng được hoàn thiện Quyền trẻ em đã tương đối đầy đủ, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, hài hòa với pháp luật quốc tế và ứng phó kịp thời với những mối quan hệ xã hội mới, tạo hành lang pháp lý toàn diện nhằm bảo vệ và thực hiện quyền trẻ em ở mức cao nhất Quá trình phát triển pháp luật về chăm sóc trẻ
em ở Việt Nam được thể hiện cụ thể qua từng giai đoạn như sau:
Trang 19- Giai đoạn từ 1945 đến năm 1978: Vấn đề bảo vệ chăm sóc trẻ em trong
thời kỳ này đã được Đảng và Nhà nước coi trọng, các chủ trương chính sách về bảo vệ chăm sóc trẻ em được quy định trong nhiều văn bản pháp luật quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trẻ em, tạo cơ hội cho trẻ em phát triển toàn diện Tuy nhiên, do thời kỳ này đất nước còn đang chiến tranh nên chủ yếu tập trung
vào nhiệm vụ chăm sóc trẻ em
- Giai đoạn từ năm 1979 đến 1990: Pháp lệnh Bảo vệ chăm sóc trẻ em
năm 1979 là văn bản pháp quy chuyên ngành, có giá trị pháp lý cao nhất về lĩnh vực BVCSTE trong giai đoạn này với nhiều quy định cụ thể về chăm sóc trẻ em Nội dung điều chỉnh của pháp luật trong giai đoạn này hướng nhiều tới mục tiêu giáo dục trẻ em và bảo đảm thực hiện các quyền về chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo
vệ sức khỏe, chế độ chính sách cho trẻ em là con thương binh, liệt sĩ, trẻ mồ côi không có người thân thích trông nom được Nhà nước và xă hội chăm nuôi và
giáo dục
- Giai đoạn từ 1991 đến 2003: Việt Nam phê chuẩn CRC năm 1990 và
công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em (BVCSTE) phát triển cả về nội dung, hình thức
và tổ chức thực hiện Việt Nam đã nội lực hóa và từng bước đưa vào các quy
định CRC trong hệ thống pháp luật Việt Nam Luật BVCSTE năm 1991 thay thế
cho Pháp lệnh về BVCSTE năm 1979; Công tác chăm sóc trẻ em có chuyển biến
rõ nét về nhận thức và tổ chức thực hiện Trong giai đoạn này mục tiêu trong
công tác trẻ em là chăm sóc trẻ em và giáo dục trẻ em
- Giai đoạn 2004 đến nay: Trong giai đoạn này, pháp luật Việt Nam đã
hướng tới việc bảo vệ trẻ em nhiều hơn Luật BVCSTE năm 2004 thay thế cho Luật 1991 Luật trẻ em 2016 thay thế cho Luật trẻ em 2004, đã quy định cụ thể biện pháp BVTE từ phòng ngừa, hổ trợ, can thiệp và trách nhiệm thực hiện của các cơ quan, tổ chức, gia đình cá nhân để bảo vệ, bảo đảm trẻ em được an toàn, được hổ trợ và can thiệp kịp thời khi có quy cơ hoặc đang bị xâm hại Tổ chức
bộ máy trong công tác trẻ em có nhiều thay đổi từ Trung ương đến cấp phường
Trang 20(xã) ảnh hưởng rất nhiều đến công tác thực hiện chính sách trẻ em nói chung và công tác chăm sóc trẻ em nói riêng
Các nội dung liên quan đến Chăm sóc trẻ em được quy định cụ thể tại Chương III của Luật trẻ em 2016 cụ thể như sau:
Tại Điều 42 quy định về bảo đảm về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em: Nhà nước
có chính sách trợ cấp, trợ giúp, ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn để thực hiện việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em theo độ tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; khuyến khích cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia trợ giúp, chăm sóc trẻ em, trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt; hỗ trợ về đất đai, thuế, tính dụng cho tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em theo quy định của pháp luật
Tại điều 43 quy định về bảo đảm về chăm sóc sức khỏe trẻ em với các nội dung:
- Nhà nước có chính sách phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ để hỗ trợ, bảo đảm mọi trẻ em được chăm sóc sức khỏe, ưu tiên cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, trẻ em đang sinh sống tại các xã biên giới, miền núi, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn
- Nhà nước bảo đảm thực hiện các biện pháp theo dõi sức khỏe định kỳ cho phụ nữ mang thai và trẻ em theo độ tuổi; chăm sóc dinh dưỡng, sức khỏe ban đầu và tiêm chủng cho trẻ em; phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em; tư vấn và hỗ trợ trẻ em trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục phù hợp độ tuổi theo quy định của pháp luật
- Ưu tiên tư vấn, bảo vệ, chăm sóc về sức khỏe, dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai, bà mẹ nuôi con dưới 36 tháng tuổi và trẻ em, đặc biệt trẻ em dưới 36 tháng tuổi, trẻ em bị xâm hại phù hợp với Điều kiện phát triển xã hội từng thời kỳ
- Nhà nước có chính sách, biện pháp tư vấn, sàng lọc; chuẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh; giảm tỷ lệ tử vong trẻ em, đặc biệt là tử vong trẻ sơ sinh; xóa bỏ phong tục, tập quán có hại, ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em
Trang 21- Nhà nước có chính sách, biện pháp tư vấn, sàng lọc, chuẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh; giảm tỷ lệ tử vong trẻ em
- Nhà nước có chính sách, biện pháp để trẻ em tiếp cận nguồn nước hợp
vệ sinh và điều kiện vệ sinh cơ bản, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật
- Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân ủng hộ, đầu
tư nguồn lực để bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho trẻ em,ưu tiên cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Tại điều 44 quy định việc bảo đảm về giáo dục cho trẻ em với các nội dung:
- Nhà nước có chính sách hổ trợ, bảo đảm mọi trẻ em được đi học, giảm thiểu tình trạng trẻ em bỏ học; có chính sách hổ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt,trẻ em thuộc hộ nghèo,hộ cận nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em đang sinh sống tại các xã biên giới, miền núi, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế -
xã hội đặc biệt khó khăn được tiếp cận giáo dục phổ cập,giáo dục hòa nhập, được học nghề và giới thiệu việc làm phù hợp độ tuổi và pháp luật về lao động
- Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, bảo đảm công bằng về cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi trẻ em, giáo dục hòa nhập cho trẻ em khuyết tật; có chính sách miễn, giảm học phí cho từng nhóm đối tượng trẻ em phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ
- Chương trình, nội dung giáo dục phải phù hợp với từng độ tuổi, từng nhóm đối tượng trẻ em, bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện và yêu cầu hội nhập; chú trọng giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc và phát triển nhân cách, kỹ năng sống, tài năng, năng khiếu của trẻ em, giáo dục giới tính, giáo dục sức khỏe trẻ em
- Nhà nước quy định môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường
- Nhà nước có chính sách phù hợp để phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ
em 05 tuổi và chính sách hổ trợ để trẻ em trong độ tuổi được giáo dục mầm non
Trang 22phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ; khuyến khích, thu hút các nguồn đầu tư khác để phát triển giáo dục, đào tạo
Tại điều 45 quy định về bảo đảm Điều kiện vui chơi giải trí, hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể thao, du lịch cho trẻ em với các nội dung:
- Nhà nước có chính sách hỗ trợ hoạt động sáng tạo tác phẩm, công trình văn hóa nghệ thuật; phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở cho trẻ em; có chính sách ưu tiên trẻ em khi sử dụng dịch vụ vui chơi, giải trí, thể thao,
du lịch và tham quan di tích, thắng cảnh
- Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, bố trí quỹ đất, đầu tư xây dựng điểm vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao cho trẻ em; bảo đảm điều kiện thời gian, thời điểm thích hợp để trẻ em được tham gia các hoạt động tại các thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở
- Nhà nước tạo điều kiện để trẻ em giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc, văn hóa tốt đẹpvà được sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình
- Nhà nước khuyến khích tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia ủng hộ, đầu
tư, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ trẻ em vui chơi, giải trí; khuyến khích sáng tạo, sản xuất đồ chơi, trò chơi cho trẻ em bảo đảm an toàn, lành mạnh mang bản sắc dân hóa dân tộc
Tại điều 46 quy định về bảo đảm thông tin, truyền thông cho trẻ em với các nội dung:
- Nhà nước bảo đảm trẻ em được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, tìm hiểu học tập, trao đổi kiến thức qua các kênh thông tin, truyền thông phù hợp
- Các cơ quan thông tin, xuất bản phải dành tỷ lệ nội dung, thời điểm, thời lượng phát thanh, truyền hình , ấn phẩm phù hợp cho trẻ em Thông tin, đồ chơi, trò chơi, chương trình phát thanh, truyền hình, nghệ thuật điện ảnh có nội dung không phù hợp với trẻ em phải thông báo hoặc ghi rõ độ tuổi trẻ em không được
sử dụng
Trang 23- Nhà nước khuyến khích phát triển thông tin, truyền thông phù hợp với sự phát triển toàn diện của trẻ em, sản xuất, đăng nội dung, thông tin với thời lượng thích hợp cho trẻ em dân tộc thiểu số
1.3 Nội dung thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em
1.3.1 Xây dựng và triển khai thực hiện chính sách
Việc xây dựng và triển khai thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em tại địa phương phải đảm bảo phù hợp theo mục tiêu chung của Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021 – 2030 đó là đảm bảo thực hiện các quyền trẻ em, phát triển toàn diện cho trẻ em, đáp ứng yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng để phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế; tạo lập môi trường sống an toàn, lành mạnh và thân thiện, góp phần hoàn thành các mục tiêu của Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững
Về xây dựng chương trình và tổ chức thực hiện kế hoạch chăm sóc trẻ em cần thực hiện theo chương trình chung hàng năm của cơ quan có thẩm quyền ở địa phương quy định, nội dung chương trình phải phù hợp với đặc thù của địa phương, phù hợp với thực tiễn và đảm bảo công tác chăm sóc trẻ em được triển khai kịp thời, đầy đủ đến các đoàn thể phường, khu phố, tổ dân phố để người dân cùng nhau chung tay bảo vệ quyền lợi chính đáng của trẻ em
Kinh phí dành cho công tác chăm sóc trẻ em thường được sử dụng từ nguồn ngân sách nhà nước, nguồn kinh phí vận động, tùy thuộc vào từng giai đoạn, quy mô số lượng trẻ em mà mức kinh phí này có thể khác nhau, tuy nhiên điểm chung là kinh phí dành cho công tác này phải được sử dụng đúng mục đích,
có báo cáo công khai và khi sử dụng ngân sách nhà nước thì không vượt quá phạm vi ngân sách
1.3.2 Phổ biến và tuyên truyền chính sách
Hoạt động này giúp cho đội ngũ cán bộ làm công tác chăm sóc trẻ en hiểu rõ chính sách và chủ động tham gia thực hiện chính sách có hiệu quả Tuyên truyền, phổ biến chính sách được thực hiện theo nhiều hình thức đa dạng, phong phú
Tổ chức các chiến dịch, sự kiện truyền thông, vận động xã hội tham gia
Trang 24thực hiện quyền của trẻ em, như Tháng hành động vì trẻ em, Ngày toàn dân đưa trẻ em đến trường, Ngày vi chất dinh dưỡng trẻ em, Diễn đàn trẻ em quốc gia; các sự kiện văn hoá, thể thao Hỗ trợ trẻ em tổ chức các sự kiện, hoạt động truyền thông cho trẻ em và thực hiện quyền, bổn phận của trẻ em
Tổ chức các hoạt động truyền thông đại chúng về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm truyền thông có chất lượng và phù hợp với các nhóm đối tượng
1.3.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách
Để thực hiện chính sách có hiệu quả cần phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các đơn vị, các cấp, các ngành có liên quan:
- Chủ tịch Ủy ban Nhân dân phường chủ trì, phối hợp với Bộ phận Tài chính – Kế toán, giám sát tình hình sử dụng kinh phí thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em, bảo đảm đúng mục đích và chế độ quy định; giám sát tình hình thực hiện các mục tiêu của chương trình, định kỳ tổng hợp báo cáo cấp trên và tổ chức tổng kết việc thực hiện
- Cán bộ làm công tác trẻ em cấp xã/phường: Có trách nhiệm tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban Nhân dân phường xây dựng Chương trình hành động vì trẻ
em của địa phương, bố trí kinh phí và phối hợp với các cơ quan chức năng của địa phương triển khai thực hiện Chương trình; đưa các mục tiêu, nội dung của Chương trình vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; kiểm tra, đánh giá và định kỳ sơ kết, tổng kết việc thực hiện Chương trình ở địa phương, báo cáo với các đơn vị có liên quan
- Công chức Tư pháp – Hộ tịch và cán bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phường phối hợp với các bên có liên quan có trách nhiệm tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban Nhân dân phường các nội dung liên quan đến góp ý xây dựng và hoàn thiện hệ thống tư pháp thân thiện với trẻ em và người chưa thành niên; hướng dẫn, thường xuyên kiểm tra đối với tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý cho trẻ em; xây dựng các chương trình, đề án liên quan đến trẻ em do ngành
Trang 25quản lý; thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nuôi con nuôi, đăng ký hộ tịch, quốc tịch, khai sinh cho trẻ em; nghiên cứu, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
- Công an phường chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan thực hiện các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi xâm hại trẻ em, người chưa thành niên vi phạm pháp luật; xây dựng các chương trình, đề án liên quan đến trẻ
em do ngành quản lý; thiết lập cơ chế can thiệp khẩn cấp nhằm ngăn chặn và xử
lý kịp thời các trường hợp xâm hại và bạo lực đối với trẻ em; tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác phòng ngừa, ngăn chặn, điều tra, xử lý hành vi xâm hại trẻ em và người chưa thành niên vi phạm pháp luật; chỉ đạo thực hiện quản lý nhà nước về cư trú để tạo điều kiện cho trẻ em được thực hiện các quyền của trẻ em tại nơi cư trú; tổ chức thực hiện có hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2012 - 2015 về phòng, chống tội phạm (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1217/QĐ-TTg ngày
06 tháng 9 năm 2012) và Chương trình hành động phòng, chống tội phạm mua bán người giai đoạn 2011 - 2015 (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1427/QĐ-TTg ngày 18 tháng 8 năm 2011)
- Trạm y tế phường chủ trì, phối hợp với các bên có liên quan tuyên truyền và thực hiện các mục tiêu về dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, xây dựng các chương trình, đề án liên quan đến trẻ em do ngành quản lý; xây dựng các chương trình về dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em; chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em của hộ gia đình nghèo; phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật; thí điểm các loại hình dịch vụ y tế đặc thù cho trẻ em; tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 226/QĐ-TTg ngày 22 tháng 02 năm 2012), các
Trang 26Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2012 - 2015 về dân số và kế hoạch hoá gia đình (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1199/QĐ-TTg ngày 31 tháng 8 năm 2012), y tế (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1208/QĐ-TTg ngày 04 tháng 9 năm 2012), phòng, chống HIV/AIDS (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1202/QĐ-TTg ngày 31 tháng 8 năm 2012); củng cố, kiện toàn mạng lưới chăm sóc sức khỏe trẻ em từ phường đến khu phố, tổ dân phố
- Công chức Văn hóa – xã hội: Thực hiện công tác tuyên truyền nội dung giáo dục về quyền, bổn phận của trẻ em, trách nhiệm công dân, kỹ năng sống trong chương trình giáo dục của cấp học, bậc học phù hợp với từng lứa tuổi trẻ em; thực hiện các mục tiêu của Chương trình về văn hóa, vui chơi, giải trí, rèn luyện thể chất cho trẻ em; quy hoạch mạng lưới công trình, cơ sở văn hóa, vui chơi, giải trí cho trẻ em; tuyên truyền, hướng dẫn việc tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, vui chơi, giải trí, thể dục, thể thao, du lịch cho trẻ em; tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 629/QĐ-TTg ngày 29 tháng 5 năm 2012), Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2012 - 2015 về văn hoá (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1211/QĐ-TTg ngày 05 tháng 9 năm 2012), Quy hoạch tổng thể
và chính sách hỗ trợ phát triển các cơ sở văn hoá vui chơi, giải trí cho trẻ em giai đoạn 2012 - 2015 và đến năm 2020 sau khi được phê duyệt
- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức thành viên cấp phường trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình tham gia thực hiện Chương trình:
+ Phát động phong trào “Toàn dân bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” với mục tiêu xây dựng môi trường sống an toàn, thân thiện, lành mạnh cho trẻ
em, bảo đảm tất cả trẻ em có cơ hội phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, kỹ năng về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và thực hiện quyền trẻ em
Trang 27+ Tham gia xây dựng chính sách, pháp luật về quyền trẻ em và bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em
+ Tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật, chính sách về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em
+ Nghiên cứu, bố trí hội viên làm cộng tác viên, tình nguyện viên về bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở cơ sở
+ Gia đình, cộng đồng, nhà trường, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh có trách nhiệm tạo mọi điều kiện cho trẻ em được học tập, chăm sóc sức khỏe, vui chơi, giải trí, thực hiện đầy đủ các quyền cơ bản và bổn phận của trẻ em
1.3.4 Duy trì chính sách
Chính sách cần được duy trì phát huy hiệu quả trong thực tiễn, các ngành, đoàn thể cần có chương trình, kế hoạch lâu dài, năm, chương trình cụ thể của chính sách chăm sóc trẻ em, bên cạnh việc tuyên truyền, phổ biến chính sách phải được rộng rãi đến cán bộ, công chức đến với người dân
Tổ chức nhiều đợt tập huấn cho cán bộ làm công tác trẻ em nắm bắt thông tin hướng dẫn các văn bản thực hiện chính sách đầy đủ, kịp thời
Ủy ban nhân dân cấp xã/phường tạo điều kiện, hoạt động phát động phong trào tạo điều kiện có sân chơi cho trẻ, lắng nghe trẻ em nói và nói với trẻ em để hiểu được trẻ
Cần có xây dựng các tiêu chí trong quản lý nhà nước đối với thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em, trẻ được quan tâm chăm sóc từ sự yêu thương của gia đình, nhà trường và xã hội, từ dinh dưỡng đến sự dạy dỗ, chăm sóc về mặt sức khỏe
Phường (xã) thực hiện các tiêu chí trong xây dựng khu phố văn hóa, phường văn minh đô thị Các tiêu chí như tỷ lệ về trẻ suy dinh dưỡng, trẻ bỏ học, trẻ em hư, v.v cần đưa vào xét đánh giá hằng năm
Trang 281.3.5 Kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách
Theo dõi tiến độ thực hiện, đôn đốc nhắc nhở các đơn vị có liên quan nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ
Kiểm tra là hoạt động nhằm nắm bắt thông tin, diễn biến trong quá trình thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em Hoạt động kiểm tra cũng nhằm kịp thời phát hiện những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện chính sách để kịp thời điều chỉnh những vấn đề mới phát sinh đảm bảo công tác chăm sóc trẻ em được thực hiện đúng theo quy định Ở cấp cơ sở mọi hoạt động thường xuyên diễn ra trong từng giờ Do đó thực hiện chính sách trên phải có phương pháp mềm dẻo phù hợp với từng thời kỳ, giai đoạn
1.3.6 Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách
Đánh giá kết quả thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em là một phần quan trọng trong quá trình thực hiện các mục tiêu tại địa phương Đánh giá kết quả thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em là để xem xét mức độ đạt các mục tiêu nhằm đưa ra những điều chỉnh thích hợp góp phần nâng cao hiệu quả cho các chương trình công tác trong thời gian tới
Để đánh giá kết quả thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em cần đánh giá chương trình để xác định nó có đáp ứng được mục tiêu đề ra hay không nghĩa là hiệu quả của công tác chăm sóc trẻ em có đảm bảo đúng theo quy định, đúng đối tượng và kịp thời, không có trường hợp bỏ sót trẻ
Bên cạnh đó, chúng ta có thể đánh giá hiệu quả của công tác chăm sóc trẻ
em bằng một số cách như: thăm dò ý kiến của tất cả những hộ gia đình có trẻ, trao đổi với những người làm công tác tại khu phố, tổ dân phố, những người quan tâm đến công tác chăm sóc trẻ em để biết ý kiến và đánh giá của họ về chương trình
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách
1.4.1 Môi trường chính sách
Môi trường thực thi chính sách chăm sóc trẻ em đó là toàn bộ các thành phần vật chất, phi vật chất tham gia thực hiện chính sách như: các điều kiện vật
Trang 29chất, kỹ thuật trong nền kinh tế; các nhóm lợi ích có được từ việc thực thi chính sách này; bầu không khí chính trị, trật tự xã hội ở địa phương Nhìn chung môi trường thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em ở các địa phương của nước ta có nhiều thuận lợi Đó là, hệ thống chính trị ổn định; Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư cơ ở vật chất, kỹ thuật trong lĩnh vực giáo dục, y tế, vui chơi giải trí dành cho trẻ em Các tổ chức Đảng, đoàn thể cùng chính quyền địa phương thống nhất trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và thực hiện đúng chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Đây là một yếu tố khách quan thuận lợi để thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em ở nước ta
1.4.2 Năng lực cán bộ thực hiện chính sách trẻ em
Để đưa những chủ trương, chính sách, pháp luật về trẻ em đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả thiết thực, đảm bảo mọi trẻ em đều được chăm sóc, học tập, phát triển bình đẳng, toàn diện thì đội ngũ cán bộ làm công tác trẻ em, nhất
là cán bộ cấp cơ sở có vai trò rất lớn Đây là chủ thể trực tiếp thực hiện chính sách
Nguồn và chất lượng đầu vào của chủ thể thực hiện chính sách sẽ ảnh hưởng đến thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em Trình độ chuyên môn nghiệp
vụ yếu sẽ ảnh hưởng đến việc tiếp thu các kiến thức liên quan đến công tác trẻ
em Cán bộ làm công tác trẻ em có năng lực sẽ thúc đẩy công tác tuyên truyền thực hiện tốt để cộng đồng xã hội chung tay xây dựng môi trường sống thật sự
an toàn, lành mạnh, bình đẳng, thân thiện cho tất cả trẻ em, đảm bảo mọi trẻ em đều được hưởng các quyền cơ bản như học tập, chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí, tham gia vào các vấn đề về trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được giúp
đỡ, chăm sóc kịp thời Có thể nói chất lượng hiệu quả thực hiện chính sách này phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và thái độ làm việc của đội ngũ cán bộ cấp cơ
sở
Sự quan tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp , các đoàn thể chính trị xã hội và sự ủng hộ của nhân dân trong thực hiện chính sách có trách nhiệm phối kết hợp trong công tác tổ chức thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em
Trang 30Theo đó, sau khi ban hành chính sách để thực hiện chính sách một cách cụ thể cần có sự phối kết hợp một cách nhịp nhàng của nhiều các chủ thể khác nhau mang tính liên ngành, đa ngành Vì thế, để đảm bảo chính sách có tính khả thi, tính đúng đắn và đạt được các mục tiêu của chính sách cần phải có kế hoạch, phân công, phối hợp thực hiện giữa các bên liên quan
1.4.3 Đối tượng chịu tác động của chính sách
Đối tượng chịu tác động của chính sách thuộc nhiều thành phần, nhóm đối tượng khác nhau Mỗi nhóm lại có những tính chất mang tính đặc trưng riêng, nhu cầu cần chăm sóc khác nhau, do đó chính sách đối với các nhóm đối tượng phải tương ứng Vì vậy, việc phân loại đối tượng chịu tác động của chính sách có tác dụng quan trọng, giúp chính quyền địa phương có định hướng phù hợp trong chính sách chăm sóc trẻ em
Tùy điều kiện của địa phương, dựa vào phân loại các đối tượng trẻ em cần chăm sóc, chính quyền địa phương có sự phân công các cán bộ, công chức, người hoạt động không chuyên trách và các trưởng Khu phố, tổ trưởng tổ dân phố để giúp UBND, Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện các trách nhiệm đôn đốc, phối hợp việc thực hiện quyền trẻ em; giải quyết tốt các vấn đề trẻ em thuộc thẩm quyền; bảo vệ trẻ em, xây dựng môi trường sống an toàn cho trẻ em, phòng, chống xâm hại trẻ em và tai nạn thương tích trẻ em
Trang 31Tiểu kết chương
Trong chương 1, luận văn đã nêu rõ khái niệm về trẻ em, chăm sóc trẻ em
và thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em Qua đó, chúng ta thấy rõ vai trò của việc thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em đó là góp phần thực hiện tốt chính sách chăm sóc trẻ em góp phần hiện thực hóa chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về chăm sóc trẻ em vào đời sống thực tiễn; bảo đảm cho trẻ em được phát triển toàn diện về mặt thể chất, tinh thần, trí tuệ và đạo đức; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em và bảo đảm trợ giúp trẻ em Những yếu tố nêu trên sẽ được khai thác tốt việc thực hiện chính sách sẽ tốt, nhưng quá trình thực hiện sẽ ảnh hưởng không ít đến thực hiện chính sách
Chương này còn làm rõ những vấn đề quan điểm của Đảng, Nhà nước về chính sách chăm sóc trẻ em Trong đó, đặc biệt phân tích rõ các nội dung liên quan đến thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em gồm: xây dựng và triển khai thực hiện chính sách; phổ biến và tuyên truyền chính sách; phân công, phối hợp thực hiện chính sách; duy trì chính sách; điều chỉnh chính sách; theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách; đánh giá tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách Bên cạnh đó, chương này còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách liên quan đến môi trường chính sách sách; chủ thể thực hiện chính sách và đối tượng chịu tác động của chính sách
Với những nghiên cứu về những vấn đề lý luận chung tại Chương 1 đã cung cấp những vấn đề về cơ sở lý luận khoa học cho việc phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách chăm sóc trẻ em trên địa bàn phường Thạnh Lộc, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC TRẺ EM
TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG THẠNH LỘC, QUẬN 12,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Khái quát chung về đặc điểm kinh tế - xã hội tại phường Thạnh Lộc quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1 Điều kiện về tự nhiên
2.1.1.1 Giới thiệu chung
Phường Thạnh Lộc là một trong 11 đơn vị hành chính của Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh Ngày 06/01/1997, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 03/NĐ-CP về việc thành lập Quận 12 và các phường trực thuộc Phường Thạnh Lộc chính thức được thiết lập và đơn vị hành chính cấp cơ sở
Phường Thạnh Lộc được thành lập trên cơ sở các Ấp 1, 2, 4 của xã Thạnh Lộc huyện Hóc Môn cũ Tuy mới thành lập được trên 20 năm nhưng vùng đất này đã có bề dày lịch sử trên 300 năm hình thành và phát triển, gắn liền với công cuộc khai hoang lập ấp của người Việt ở Nam Bộ
Phường Thạnh Lộc có diện tích tự nhiên 583,99 ha, phía Đông phường Thạnh Lộc là sông Sài Gòn tiếp giáp phường Vĩnh Phú, thị xã Thuận An, Tỉnh Bình Dương; phía Tây giáp phường Thạnh Xuân; phía Bắc giáp xã Nhị Bình, huyện Hóc Môn; phía Đông Nam giáp phường An Phú Đông, Quận 12 và Phường 17, quận Gò Vấp Phường Thạnh Lộc dân số khi mới thành lập có 9.589 nhân khẩu, đến nay đã tăng lên đến 60.616 nhân khẩu với 16.999 hộ dân sinh sống, hiện nay có 5 khu phố và 85 tổ dân phố đều có Trưởng, phó khu phố, Tổ trưởng tổ dân phố
Trên địa bàn phường có 72 tuyến đường giao thông lớn nhỏ, trong đó có
02 tuyến đường chính Quốc lộ 1A và đường Hà Huy Giáp; hệ thống kênh rạch dày đặc với 46 tuyến, dài khoảng 24 km Với vị trí địa lý và giao thông thuận tiện, phường Thạnh Lộc có điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế xã hội,
Trang 33công nghiệp, du lịch sinh thái, phát triển đồng bộ hạ tầng đô thị, khai thác có hiệu quả các tiềm năng, lợi thế phát triển thương mại, dịch vụ Đồng thời có thuận lợi trong việc giao lưu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội với các quận trong Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh bạn
2.1.1.2 Địa hình
Phường Thạnh Lộc có dải đất cao dốc thoải có độ cao nền trung bình từ 4,5m xuống 2,0m thuận lợi cho làm địa bàn cư trú, phân bố dân cư, xây dựng và phân bố các cơ sở sản xuất
2.1.1.3 Khí hậu
Phường Thạnh Lộc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận Xích Đạo, trong năm có 2 mùa mưa - khô rõ ràng, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11
và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Nhiệt độ trung bình cả năm là 28,00c, độ ẩm trung bình 75%, lượng mưa trung bình cả năm là 1.742,8mm và gió thịnh hành trong mùa khô là Đông Nam chiếm 30 - 40%; thịnh hành trong mùa mưa là Tây Nam chiếm 66%, tốc độ gió trung bình 2-3 m/giây Khí hậu của khu vực, mang tính chất chung của Thành phố Hồ chí Minh là vùng nhiệt đới gió mùa, phân ra hai mùa rõ rệt nhất: mùa mưa và mùa nắng
- Nhiệt độ: Trung bình năm: 270 C; cao nhất (tháng 3-4): 350 C; thấp nhất (tháng 12): 200 C
- Mùa nắng: Từ tháng 11 đến tháng 4 Không khí khô ráo
- Mùa mưa: Từ tháng 6 đến tháng 12 Không khí có độ ẩm cao Lượng mưa trung bình năm: 1.979 mm; Số ngày mưa trung bình năm: 154 ngày
- Độ ẩm không khí: trung bình năm: 82-83%; cao nhất: 90% (tháng 7, 9); thấp nhất: 74% (tháng 2, 3)
- Nắng: số ngày nắng trung bình năm là 206 ngày; số giờ nắng giảm trong mùa mưa khoảng 6 giờ/ngày; số giờ trung bình mùa nắng: 10-14 giờ/ ngày
Với điều kiện khí hậu ổn định ít thiên tai thuận lợi cho việc định cư sinh sống và sản xuất của người dân; thuận lợi cho việc xây dựng các công trình hạ
Trang 34tầng kĩ thuật, không gian kiến trúc đô thị
2.1.1.4 Thủy văn
Kênh rạch Phường Thạnh Lộc chịu ảnh hưởng thủy triều trên sông Sài Gòn Mực nước cao từ 1,2m phía Đông lên đến 2,3m phía Tây Về mùa mưa lượng mưa cao thuận lợi cho việc tưới tiêu, cung cấp nước cho sản xuất nhưng cũng gặp khó khăn do chịu ảnh hưởng thủy triều trên sông Sài Gòn, nhất là những lúc mưa to thường gây ngập úng cục bộ ở những tuyến đường thấp ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và sản xuất Với địa hình kênh rạch có nguy cơ ô nhiễm, sạt lở làm cho việc xây dựng phát triển đô thị, các cơ sở sản xuất, các khu dân cư gặp nhiều khó khăn
2.1.2 Đặc điểm phát triển kinh tế, xã hội
Với vị trí địa lí thuận lợi và sự định hướng phát triển rõ ràng trong tương lai, kinh tế - xã hội phường Thạnh Lộc đang có sự chuyển biến rõ nét Biểu hiện đầu tiên là cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch: giảm dần tỉ trọng ngành nông nghiệp, tăng dần tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ Bên cạnh đó, tổng giá trị sản xuất của các ngành kinh tế cũng tăng nhanh, tỉ trọng tổng giá trị sản xuất trong tổng GDP Thành phố cũng tăng mạnh
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của Quận 12, Phường Thạnh Lộc cũng đang có nhiều chuyển biến: chất lượng cuộc sống của người dân được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người tăng, chi tiêu của các hộ gia đình cũng nâng lên Giáo dục phát triển số trường, lớp, số học sinh Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông tăng, trình độ học vấn của người dân dần được nâng cao Tình hình y
tế cũng được cải thiện khi số trạm xá, số bác sĩ, nhân viên trong ngành y tế, số lượt người khám chữa bệnh tại các bệnh viện, phòng khám trong toàn quận đều
có xu hướng tăng lên
2.1.2.1 Sự phát triển kinh tế
Thương mại, dịch vụ: Nhìn chung các loại hình thương mại, dịch vụ có chiều hướng ngày càng phát triển, đa dạng Trên địa bàn Phường có 1.493 doanh nghiệp Trong đó, ngành bán lẻ hàng hóa chiếm tỷ lệ 37,77% với 564 doanh
Trang 35nghiệp; ngành sản xuất xây dựng chiếm tỷ lệ 18,35% với 274 doanh nghiệp; ngành xây dựng dân dụng chiếm tỷ lệ 16,67 % với 249 doanh nghiệp; ngành may mặc, giày dép chiếm tỷ lệ 2,81% với 42 doanh nghiệp, còn lại 364 doanh nghiệp thuộc các ngành khác; 956 hộ kinh doanh cá thể phường có quản lý thuế, 12 cửa hàng tiện lợi bán các mặt hàng thiết yếu cho người tiêu dùng
Sản xuất nông nghiệp: Tổng diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm dần hiện còn 100,68 ha, trong đó diện tích trực tiếp sản xuất canh tác 63,69 ha,
tỷ lệ 63,26% tổng diện tích đất nông nghiệp, hộ nông nghiệp có 218 hộ Sản xuất nông nghiệp chuyển dịch theo hướng nông nghiệp đô thị, giảm các hộ chăn nuôi
có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, đảm bảo vệ sinh môi trường trong khu dân cư như nuôi cá kiểng, trồng lan, cây kiểng lá
Các cơ sở công nghiệp phân tán: Trên địa bàn phường Thạnh Lộc còn nhiều cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với nhiều quy mô ngành nghề khác nhau nằm xen cài trong khu dân cư trên địa bàn phường do thiếu sự đầu tư
kĩ lưỡng từ ban đầu, thiếu sự giám sát của cơ quan chức năng nên gây ô nhiễm môi trường trầm trọng cho khu vực
2.1.2.2 Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật
Hệ thống giao thông: Đường bộ, có đường cấp Quốc gia (đường Xuyên
Á): Xa lộ vành đai (Quốc lộ 1A) và đường Hà Huy Giáp chạy xuyên qua khu vực phía Tây của Phường Đường cấp Phường là những trục lộ bảo đảm nhu cầu
đi lại hiện nay Hầu hết mặt đường đã tráng nhựa, nhưng nhiều đoạn đã bị xuống cấp Ngoài ra có các tuyến đường đắp đất đỏ nối liền giữa các phường, các đường mòn dẫn vào khu phố, tổ dân phố, hình thành tự phát nối các điểm dân cư với đất nông nghiệp sản xuất
Đường thủy: Sông Sài Gòn , sông Vàm Thuật và một số kênh rạch trên
địa bàn Phường tạo tiền đề cho việc hình thành một mạng lưới giao thông thủy quan trọng, thuận lợi lưu thông nối kết liên hoàn xuyên suốt với các nơi
Trang 36Hệ thống cấp điện: phường Thạnh Lộc hiện được cấp điện từ lưới điện
chung của Thành phố Hồ Chí Minh, nhận điện từ các trạm 110/15-22KV: Hóc
Môn (quận 12), Tân Bình 1 (quận Tân Phú)
Lưới điện cao thế 220KV có các đường dây nối trạm Hóc Môn với các trạm Phú Lâm, Thủ Đức, Long Bình Lưới điện cao thế 110KV có các đường dây nối trạm Hóc Môn với các trạm Bà Quẹo, Gò Vấp 1, Hỏa Xa, Nhà máy nước Tân Hiệp
Lưới điện trung hạ thế hiện đã phủ kín các địa bàn dân cư đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu sản xuất công nghiệp và dân dụng; tuy nhiên mật độ thưa thớt, phần lớn dùng đường dây trên không, trạm đặt ngoài trời kém an toàn và thiếu mỹ quan đô thị
Hệ thống cấp nước: phường Thạnh Lộc có hệ thống cấp nước máy đô thị
được phủ kín trên địa bàn nhưng chưa đáp ứng đầy đủ nước sạch cho sinh hoạt
và sản xuất nguyên nhân do áp lực nước yếu
Hệ thống thoát nước và tình hình vệ sinh đô thị, bảo vệ môi trường: Hệ
thống thoát nước chung cho nước mưa và nước thải chưa được đầu tư xây dựng đồng bộ; hệ thống cống có mật độ rất thưa thớt, chủ yếu nằm dọc các trục giao thông chính và tập trung cục bộ ở một số khu vực chủ yếu là khu công nghiệp Phường Thạnh Lộc chưa có hệ thống thu gom rác đạt chuẩn Hệ thống kênh rạch hiện nay đã bị ô nhiễm nặng do ý thức của người dân trong cộng đồng còn kém,
xả nước thải trực tiếp ra kênh rạch
Tình trạng thoát nước mặt và úng ngập: Hệ thống cống chủ yếu chỉ tập
trung tại vài nơi trọng yếu trong khu vực nên nước mưa chủ yếu chảy tràn tự nhiên trên bề mặt và tự thấm Thêm vào đó là những khu vực có địa hình thấp,
có nhiều sông rạch chằng chịt thì chịu áp lực về triều cường gây vỡ bờ bao, ngập úng thường xuyên nhất là vào mùa mưa
2.1.2.3 Tình hình phát triển xã hội
Giáo dục, đào tạo: Phường Thạnh Lộc có hệ thống giáo dục được quan
tâm đáp ứng nhu cầu học của người dân từ mầm non đến cao đẳng Địa bàn
Trang 37phường có 31 trường, lớp mầm non (01 trường công lập và 30 lớp tư thục); 01 trường tiểu học; 01 trường trung học cơ sở; 01 trường trung học phổ thông, 02 trường cao đẳng, 01 trung tâm học tập cộng đồng Hàng năm tỉ lệ huy động trẻ 5 tuổi vào mẫu giáo, 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100% Ngoài ra, Trung tâm học tập cộng đồng của phường duy trì hoạt động hiệu quả, tạo điều kiện cho các em có hoàn
cảnh khó khăn được tiếp cận chương trình học phổ thông các cấp
Về Y tế: Mạng lưới y tế phát triển với nhiều cơ sở hành nghề dược tư
nhân, trạm y tế phường về cơ bản đã và đang được đầu tư đạt chuẩn y tế quốc gia 100% trẻ em dưới 5 tuổi được tiêm chủng mở rộng và uống vitamin A Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống còn 9% Với trang thiết bị chữa bệnh đầy đủ, tiện nghi với công nghệ hiện đại góp phần đảm bảo, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân trong điều kiện tốt nhất Đến nay phường đã đạt tiêu chuẩn quốc
gia về y tế
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân: Được quan tâm, thực hiện tốt
chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, đội ngũ y – bác sĩ luôn được trau dồi học tập nâng cao trình độ thường xuyên, cơ sở vật chất tại trạm Y tế bước đầu đáp ứng trong việc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân trên địa bàn phường Trong nhiệm kỳ đã khám chữa bệnh cho 32.814 lượt người, tiêm chủng cho hơn 20.000 trẻ và trẻ uống VitaminA với hơn 6.506 lượt Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng bình quân hằng năm 1,98% (194 trẻ), tỷ lệ tử vong trẻ dưới
5 tuổi 0,05% (05 trẻ) Chủ động kịp thời công tác phòng chống dịch bệnh, tổ chức phun hóa chất và cấp phát hóa chất khử khuẩn nhằm hạn chế thấp nhất phòng chống lây lan trong cộng đồng dân cư Trạm Y tế phường hàng năm được công nhận đạt chuẩn quốc gia
Công tác Trẻ em - Bình đẳng giới: Công tác chăm lo, hỗ trợ cho trẻ có
hoàn cảnh đặc biệt luôn được quan tâm, được sự đồng thuận chung tay ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn thông qua các chính sách chăm lo an sinh
xã hội như miễn giảm học phí, các chương trình hỗ trợ học bổng, chăm sóc sức khỏe Đảm bảo 100% trẻ em sinh ra có khai sinh theo quy định pháp luật; đảm
Trang 38bảo trẻ dưới 6 tuổi được tư vấn và cấp thẻ bảo hiểm y tế, tổng số 2.638 thẻ, đạt 100% Hàng năm phường đều đạt chuẩn “Xã phường phù hợp với trẻ em”
Công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình: Giữ mức tăng dân số tự nhiên
bình quân 0,82%, đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra Thường xuyên tổ chức các cuộc truyền thông, chiến dịch truyền thông lồng ghép kết hợp cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và nâng cao chất lượng dân số cho đối tượng trong độ tuổi sinh sản, quan tâm thanh niên nhà trọ, tư vấn sức khỏe tiền hôn nhân cho các cặp nam nữ trong độ tuổi kết hôn Hàng năm đều hoàn thành đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra
Hoạt động phong trào văn nghệ - thể dục thể thao: Các hoạt động văn
hoá xã hội, văn nghệ, thể dục thể thao được duy trì và phát triển phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị trên địa bàn phường Làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt các chính sách pháp luật của Nhà nước Tổ chức tốt các hoạt động trong dịp kỷ niệm ngày lễ lớn như: kỷ niệm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, ngày quốc tế phụ nữ, ngày thành lập đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, ngày quốc tế lao động, v.v
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được nâng
chất, tạo sự đồng thuận tham gia của các tầng lớp nhân dân Hàng năm có 100%
hộ gia đình đăng ký gia đình văn hóa, bình quân hằng năm có 95% hộ đạt chuẩn gia đình văn hóa; 5/5 khu phố đạt chuẩn khu phố văn hóa
Công tác chăm lo cho gia đình chính sách, hộ thuộc diện bảo trợ xã hội: Trên địa bàn phường hiện có 478 trường hợp thuộc diện chính sách (trong đó có
02 mẹ Việt Nam Anh Hùng), 423 trường hợp thuộc diện bảo trợ xã hội Tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách kịp thời, đầy đủ theo quy định Thực hiện tốt công tác chăm lo trong các dịp lễ, Tết, 27/7, thực hiện tốt phong trào đền ơn đáp nghĩa, chính sách an sinh xã hội, hàng năm Ủy ban nhân dân phường vận động kinh phí thăm tặng quà cho những hộ gia đình khó khăn tổng số tiền giai đoạn 2016 – 2020 là 46.504.000 đồng, sửa chữa nhà tình nghĩa 08 căn với tổng kinh phí 300.160.000 đồng, sửa chữa nhà chống dột 60 căn với kinh phí 1,203 tỷ đồng