Phạm vi nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu lựa chọn cưa vòng nằm xẻ gỗ là một vấn đề rộng và cần thờigian dài, trong đề tài này chỉ giới hạn các nội dung sau đây: -Thiết bị nghiên cứu: Là
Trang 1MỞ ĐẨU
1 Đặt vấn đề
Việt Nam là nước có nền nông nghiệp đang phát triển, năm 2011 kim ngạchxuất khẩu nông sản đạt khoảng 30 tỷ đô la đóng góp khoảng 25% tổng kim ngạchxuất khẩu của cả nước, trong đó xuất khẩu đồ gỗ đạt khoảng 3,8 tỷ đô la, từ đó đãtạo ra hàng triệu việc làm cho xã hội, góp phần giải quyết lao động trong nôngnghiệp và nông thôn
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là một chủ trương lớncủa Đảng và Nhà nước ta, nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển từ đó nâng cao thu nhậpcho dân cư nông thôn, tạo tiền đề để giải quyết hàng loạt các vấn đề chính trị - xãhội của đất nước, góp phần không nhỏ vào việc thực hiện thắng lợi các Nghị quyếtcủa Đảng và nhà nước về công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn vàxây dựng Nông thôn mới
Trong sản xuất hàng lâm sản xuất khẩu thì việc áp dụng công nghệ mới, cơgiới hóa và tự động hóa vào trong quá trình sản xuất, nó mang lại năng suất, chấtlượng cao, giảm chi phí sản xuất và giảm nhẹ sức lao động của người công nhân,đồng thời tiết kiệm được tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái
Hiện nay việc áp dụng cơ giới hóa trong chế biến lâm sản nói chung và trongsản xuất đồ mộc là rất cao, tỷ lệ áp dụng cơ giới hóa vào trong sản xuất đồ mộc ởmột số cơ sở sản xuất đạt 90-95%, hầu hết các khâu sản xuất quan trọng, nặng nhọcđều đã áp dụng cơ giới hóa như khâu xẻ ván, xẻ thanh, khâu bào, đục mộng, đánhnhẵn, sơn phủ
La Xuyên là làng nghề sản xuất đồ mộc truyền thống của huyện Ý Yên tỉnhNam Định, sản phẩm đồ mộc của La Xuyên được xuất khẩu sang một số nước trongkhu vực và được người tiêu dùng trong cả nước yêu thích, tổng giá trị hàng hóa sảnxuất trong năm 2011 đạt khoảng 1800 tỷ đồng, góp phần giải quyết cho khoảng
2000 lao động
Trang 2Hiện nay ở La Xuyên có hàng vài trăm doanh nghiệp, hộ gia đình và xưởngsản xuất đồ mộc, hầu hết các khâu sản xuất đồ mộc ở đây đều được cơ giới hóa, cónhiều chủng loại, nhiều kích cỡ máy được sử dụng ở làng nghề La Xuyên, song việc
sử dụng loại máy nào, công suất bao nhiêu cho phù hợp với đối tượng nguyên liệu
và yêu cầu của sản phẩm cần phải được nghiên cứu tính toán lựa chọn, có như vậythì mới phát huy hết công suất của máy, đáp ứng yêu cầu chất lượng và tiết kiệmnguyên liệu đầu vào, từ đó góp phần gia tăng giá trị sản phẩm
Xuất phát từ lý do nêu trên tác giả đã chọn và thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tuyển chọn cưa vòng nằm xẻ gỗ cho làng nghề La Xuyên - Ý Yên - Nam Định"
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý luận cho việc lựa chọn cưa vòng xẻ gỗ, từ đó lựa chọnđược loại cưa hợp lý để xẻ gỗ cho làng nghề La Xuyên -Ý Yên -Nam Định
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu lựa chọn cưa vòng nằm xẻ gỗ là một vấn đề rộng và cần thờigian dài, trong đề tài này chỉ giới hạn các nội dung sau đây:
-Thiết bị nghiên cứu: Là một số loại cưa vòng nằm hiện đang sử dụng tại địa phương
và ở Việt Nam, không lựa chọn các loại cưa vòng nằm có ở trên thế giới nhưng khó
có điều kiện áp dụng ở Việt Nam
- Đối tượng của quá trình xẻ: Đề tài không nghiên cứu thực nghiệm tất cả các loại
gỗ hiện có ở địa phương, mà chỉ tập trung nghiên cứu thực nghiệm ở loại gỗ có khốilượng lớn, sản xuất mặt hàng phổ biến ở La Xuyên
- Địa điểm nghiên cứu: Đề tài không có điều kiện thí nghiệm ở nhiều nơi mà chỉ
thí nghiệm ở các xưởng sản xuất ở làng nghề La Xuyên
3 Nội dung nghiên cứu
Với phạm vi nghiên cứu đã trình bày ở phần trên, để đạt được mục tiêu của
đề tài đặt ra, luận văn tập trung giải quyết những nội dung sau:
Trang 3a) Nghiên cứu lý thuyết
- Xây dựng chỉ tiêu để lựa chọn cưa vòng nằm xẻ gỗ cho làng nghề La Xuyên
- Thiết lập các hàm mục tiêu để lựa chọn cưa vòng nằm xẻ gỗ
- Giải bài toán tối ưu để lựa chọn cưa vòng nằm xẻ gỗ hợp lý
b) Nghiên cứu thực nghiệm
- Điều tra khảo sát về tình hình kinh tế xã hội và sản xuất đồ mộc của làng nghề La Xuyên
- Điều tra khảo sát một số loại máy móc phục vụ sản xuất đồ mộc tại làng nghề La Xuyên, Ý Yên, Nam Định
- Thực nghiệm xác định một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của một số loại cưavòng nằm
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.Khái quát về làng nghề La Xuyên – Ý Yên – Nam Định
La Xuyên là làng nghề sản xuất đồ mộc truyền thống của huyện Ý Yên –Nam Định, đây là làng nghề nổi tiếng về sản xuất đồ mộc của tỉnh Nam Định và cùa
cả nước Làng nghề này đã có từ 200 năm về trước, ngày nay chúng đang được bảotồn và phát triển
La Xuyên là làng thuộc xã Yên Ninh – huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, làng códiện tích 215ha, trong đó đất nông nghiệp 150ha, đất ở 12ha, đất sản xuất tiểu thủcông nghiệp là 14ha
Năm 2010 dân số của làng là 3072 người Trong đó nam 1527 người, nữ
1545 người, số người trong tuổi lao động là 1320 người Ngành nghề lao động tronglàng là 30% làm nghề nông nghiệp, 70% lao động tiểu thủ công nghiệp (chủ yếu làsản xuất đồ gỗ)
Nguồn thu nhập chính của làng nghề La Xuyên là sản xuất đồ gỗ xuất khẩu
và tiêu dùng nội địa, hàng năm La Xuyên tiêu thụ khoảng 120.000 m3 gỗ các loại,tổng doanh thu của cả làng ước đạt 1.800 tỷ đồng Thu nhập bình quân đầu ngườikhoảng 80 triệu đồng/năm, đời sống của người dân làng La Xuyên đã được cảithiện
Làng nghề La Xuyên có trục quốc lộ 10 chạy qua, đây là điều kiện cơ sở hạtầng thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội của địa phương Trong làng có hệ thốngđường giao thông liên thôn, liên xóm đã được bê tông hóa, cùng với hệ thống rãnhnước thải, đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển của địa phương
Vị trí địa lý của La Xuyên rất thuận lợi cho phát triển kinh tế Phía Bắc giáp
xã Yên Mỹ, phía Nam giáp xã Yên Tiến, phía tây giáp thị trấn Lâm và phía đônggiáp huyện Vụ Bản Làng nghề La Xuyên cách thành phố Ninh Bình khoảng 10 km
và cách thành phố Nam Định khoảng 30 km, nằm trên quốc lộ 10, nằm giữa NinhBình, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng
Trang 51.2 Kết quả điều tra khảo sát làng nghề La Xuyên
a) Các sản phẩm của làng nghề La Xuyên
La Xuyên là làng nghề cổ truyền có khoảng 200 năm trước Sản phẩm cổtruyền lâu đời nhất của làng nghề là Sập Gụ, Tủ chè, Khảm Trai, Trường kỷ, sảnphẩm này đã nhiều địa phương sử dụng Ngày nay do nhu cầu về thị trường sảnphẩm truyền thống của làng nghề này chuyển sang sản xuất các sản phẩm mộc giadụng như bàn ghế, giường tủ, đồ nội thất khác Trong đó sản phẩm chính hiện nay làghế ngồi, tủ và giường
Hình 1.1 Sản phẩm ghế ngồi của làng nghề La XuyênTheo số liệu thống kê của trưởng thôn La Xuyên thì hang năm trong làng đãsản xuất ra khoảng 240.000 sản phẩm chủ yếu là ghế ngồi, tủ và bàn, tổng giá trịhàng năm ước đạt 1800 tỷ đồng, hàng năm tạo ra 400 nghìn việc làm cho khu vựctrong xã và trong huyện, đã đóng góp một phần ngân sách cho xã hội và cho địaphương
Trang 6b) Kết quả điều tra khảo sát về nguyên liệu để sản xuất ra đồ mộc tại La Xuyên
Kết quả điều tra khảo sát và thu nhập các số liệu tại địa phương cho thấy,hàng năm làng nghề La Xuyên tiêu thụ khoảng 120.000m3 gỗ các loại để sản xuất
đồ mộc trong đó chủ yếu là gỗ hộp chiếm 90%, còn lại là gỗ tròn chiếm 10% Chủyếu gỗ được sử dụng tại La Xuyên chủ yếu là gỗ Gụ chiếm 70%, tiếp theo là gỗDáng Hương chiếm 25%, số còn lại gỗ mít, gỗ dổi chiếm 5% Như vậy loại gỗ sửdụng phổ biến ở làng nghề La Xuyên là loại gỗ Gụ, loại gỗ này đã được xẻ thànhhộp, tỷ lệ rất nhỏ là gỗ tròn
Xuất xứ gỗ được sử dụng tại địa phương thì 90% là gỗ nhập khẩu còn lại10% gỗ nội địa Theo số liệu điều tra khảo sát thì gỗ chủ yếu nhập từ Lào, Malaysia,Indonesia, châu Phi, Châu Mỹ
Hình 1.2 Các đống gỗ được nhập từ nước ngoài về để sản xuất đồ
mộc tại La XuyênKích thước của các loại gỗ làm nguyên liệu đầu vào cho quá trình xẻ chúng
có nhiều kích cỡ khác nhau Để xác định kính thước hộp gỗ chúng tôi tiến hành thínghiệm đo ngẫu nhiên 30 hộp gỗ trong một đống gỗ và chúng tôi tiến hành đo 5đống gỗ khác nhau Kết quả đo đếm và lấy trung bình như sau:
Trang 7- Loại gỗ Gụ: chiều dài trung bình 2-2,4m, chiều rộng trung bình 45-50cm, chiều dầy trung bình 35-40cm
- Loại gỗ Dáng Hương: chiều dài trung bình 1,9-2m, chiều rộng trung bình 40-55cm, chiều dầy trung bình 30-45cm
Hình 1.3 Xác định kích thước của hộp gỗ
c) Kết quả điều tra về quy mô sản xuất của làng nghề
Làng nghề La Xuyên có 30 công ty chuyên sản xuất đồ mộc cao cấp ngoài racòn có 1200 hộ gia đình sản xuất đồ mộc, như vậy trong một làng nghề có rất nhiềudoanh nghiệp, hộ gia đình tham gia sản xuất đồ mộc với quy mô sản xuất này thìcần rất nhiều thiết bị máy móc phục vụ cho sản xuất đồ mộc
Trang 8Hình 1.4 Điều tra khảo sát công ty sản xuất đồ mộc La Xuyên
1.3 Một số loại thiết bị được sử dụng tại La Xuyên
1.3.1 Sơ đồ công nghệ sản xuất đồ mộc tại La Xuyên
Sơ đồ công nghệ sản xuất đồ mộc gia dụng của làng nghề được thực hiệnnhư sau:
Đục mộngbằng máy đục
Sảm phẩm hoàn thiện
Xẻ lại bằng cưa đĩa, pha phôi cưa vanh
Đánh nhẵn bằng máy
Xuất xưởng
Phơi sấy
Bào nhẵn bằng máy bào
Hình 1.8 sơ đồ công nghệ sản xuất đồ nội thất tại La Xuyên
Trang 9Trước kia sản xuất đồ mộc chủ yếu là thủ công, ngày nay sản xuất đồ mộc chủ yếu bằng cơ giới, tỷ lệ cơ giới chiếm 90%
- Khâu xẻ gỗ được thực hiện bằng cưa vòng nằm: gỗ hộp hoặc gỗ tròn được xẻ theo kích thước của sản phẩm
Trang 10- Khâu xẻ thanh được thực hiện trên cưa đĩa: tất cả các thanh gỗ có kíchthước nhỏ và thẳng đều được xẻ bằng cưa đĩa, việc xẻ bằng cưa đĩa cho kích thướcbằng nhau, chất lượng mạch xẻ thẳng, phẳng, nhẵn.
Hình 1.7 Cưa đĩa xẻ thanh tại La Xuyên
- Khâu bào được thực hiện trên máy bào đa năng gồm có cưa đĩa kết hợp trục bàohoặc trục bào kết hợp với đục lỗ Như vậy khâu bào cũng được thực hiện trên cùngthiết bị với cưa đĩa
- Khâu trà nhám được thực hiện bằng máy trà nhám cầm tay vì sản phẩm chủyếu là ghế với nhiều đường cong, kích thước nhỏ nên thiết bị làm nhẵn chủ yếu là máy đánh nhẵn cầm tay
- Khâu đục lỗ, làm mộng cũng được thực hiện bằng máy đục hoặc máy khoan, thiết bịnày thường kết hợp với máy bào
- Khâu sơn phủ và trang sức được thực hiện bằng hệ thống phun sơn
Tóm lại: Trong qui trình sản xuất đồ mộc của làng nghề La Xuyên đã được
cơ giới hóa (90-95)% Một phần rất nhỏ được làm bằng thủ công như sửa lại lỗmộng, làm nhẵn chỗ trạm khắc
Trang 111.3.2 Một số loại cưa vòng nằm được sử dụng tại La Xuyên
Với khối lượng gỗ hộp và gỗ tròn tiêu thụ hàng năm tại La Xuyên khoảng120.000m3, nên để xẻ hết số gỗ này ra làm mỏng phục vụ cho quá trình chế biến thìcần một số lượng cưa vòng khá lớn Theo kết quả điều tra khảo sát chúng tôi cóđược ở La Xuyên có khoảng 120 chiếc cưa vòng hiện đang hoạt động Chủng loạicủa các cưa này được chia làm năm loại khác nhau
- Cưa vòng nằm nhãn hiệu CD8 của Công ty TNHH Đồng Tháp đây là loạicưa được sử dụng nhiều ở La Xuyên
Hình 1.8 Cưa vòng nằm Đồng Tháp xẻ gỗ tại La Xuyên
Trang 12- Cưa vòng nằm nhãn hiệu CD của Công ty cơ khí Thanh Tòng địa chỉ 441 NguyễnVăn Luông phường 12 quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh loại cưa này có động cơ lớn19kw, công suất lớn dùng để xẻ gỗ kích thước lớn.
Hình 1.9 Cưa vòng nằm CD của công ty cơ khí Thanh Tòng
- Cưa vòng nằm CD3 của công ty cơ khí Đông Anh được sử dụng khá phổbiến ở La Xuyên với kích thước gọn nhẹ, công suất máy nhỏ
- Cưa vòng nằm của công ty cơ khí Sáu Thành có địa chỉ tại Hồ Chí Minhcũng được sử dụng rộng rãi tại La Xuyên đây là loại cưa công suất trung bình nhưngchiều rộng đường ray lớn, tốc độ lên xuống của cưa nhanh
- Một số loại cưa được nhiều công ty sử dụng đó là cưa vòng nằm của công
ty cơ khí Hà Tây có trụ sở tại Phú Xuyên sản xuất Loại cưa này có giá thành rẻtiền Thông số kỹ thuật của một số loại cưa vòng nằm được sử dụng tại La Xuyênđược thể hiện ở bảng 1.1
Trang 13Bảng 1.1 Thông số kỹ thuật của một số loại cưa vòng được sử dụng tại La Xuyên
Loại cưaTT
Thông số kỹ thuật Đồng Đồng Cơ khí Cơ khí Cơ khí
(mm)
hạ lưỡi cưa (KW)
1.3.3 Phân tích ưu nhược điểm và một số tồn tại khi áp dụng các thiết bị máy móc tại làng nghề La Xuyên
Hiện nay việc áp dụng các máy móc thiết bị vào làng nghề La Xuyên chủ yếudựa vào kinh nghiệm trong thực tế chưa có một công trình nào tính toán lựa chọn đểđưa ra lời khuyên cho các công ty, các hộ gia đình
Theo kết quả điều tra thì tại làng nghề có nhiều loại thiết bị cưa vòng của nhiềucông ty sản xuất Với các thông số kỹ thuật khác nhau, chất lượng và năng suất của cácthiết bị cũng khác nhau Mỗi loại thiết bị có ưu nhược điểm nhất định, người sử dụngkhông có kiến thức tổng hợp để lựa chọn mà họ chọn theo giới thiệu của các công tymôi giới hoặc theo kinh nghiệm của các hộ đã sử dụng Trong thực tế thì các loại cưakhác nhau cho năng suất và chất lượng sản phẩm, cũng như chi phí sản xuất khác nhau
Trang 14Đối với cưa vòng nằm CD của công ty cơ khí Đồng Tháp chất lượng máy xẻtốt nhưng giá mua máy đắt hơn các loại máy cưa khác.
Đối với cưa vòng nằm của công ty sản xuất Sáu Thành và công ty cơ khíThanh Tòng có ưu điểm tốc độ lên xuống cưa nhanh, tốc độ lưỡi cưa nhanh, nênnăng suất cao, giá thành thiết bị rẻ có thể xẻ gỗ có kích thước lớn nhưng nhượcđiểm là độ bền của bánh đà, lưỡi cưa thấp
Đối với cưa vòng nằm của cơ khí Đông Anh có ưu điểm là kết cấu và kíchthước máy nhỏ gọn, tiêu thụ điện năng thấp, vốn đầu tư thấp Xong nhược điểm củaloại cưa này là năng suất thấp, khi xẻ gỗ cứng chất lượng mạch xẻ thấp vì trọnglượng của cưa nhẹ
Tóm lại: Có nhiều loại cưa vòng nằm hiện đang được sử dụng tại làng nghề
La Xuyên Với nhiều thông số kỹ thuật khác nhau, năng suất và chất lượng mạch xẻcũng khác nhau Việc áp dụng các thiết bị chủ yếu là theo kinh nghiệm thực tế, chưa
có đánh giá, tính toán lựa chọn cụ thể
1.4 Những vấn đề tồn tại và hướng giải quyết khi áp dụng cưa vòng xẻ gỗ tại làng nghề La Xuyên
- Chất lượng mạch xẻ còn thấp, mạch cưa còn rộng, từ 1,4-1,5mm do đó tỷ lệthành khí còn thấp, một số lớn gỗ biến thành mùn cưa
- Độ mấp mô bề mặt ván xẻ lớn, từ đó độ dư gia công phải lớn, sau khi xẻlại phải bào nhiều để tạo mặt phẳng
- Năng suất thấp, tiêu tốn điện năng cao
- Tỷ lệ lợi dụng gỗ thấp một phần lớn gỗ biến thành mùn cưa, phoi bào,khoảng 5 - 10% Đối với các loại gỗ quí như Dáng Hương, gỗ Gụ với giá nguyênliệu đầu vào khoảng 80 triệu đồng/m3 Thì hàng năm làng nghề La Xuyên bỏ đikhoảng vài trăm tỷ đồng do hao hụt trong quá trình chế biến gỗ
- Độ bền của thiết bị thấp, chi phí sửa chữa cao nên giá thành sản phẩm cao, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận
1.4.2 Hướng nghiên cứu giải quyết tồn tại
Trang 15- Cần phải nghiên cứu áp dụng các loại thiết bị xẻ có năng suất và chất lượngcao, đặc biệt là chất lượng mạch xẻ, độ rộng mạch xẻ, để từ đó nâng cao hệ số sửdụng gỗ
- Cần nghiên cứu lựa chọn các thiết bị hiện có để chọn ra loại thiết bị có năngsuất chất lượng cao, hiệu quả kinh tế lớn để áp dụng vào làng nghề La Xuyên
- Cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cưa vòng nằm để nâng cao chất lượng mạch xẻ, phục vụ cho việc xẻ các loại gỗ quí có giá trị kinh tế cao
Tóm lại: Hiện nay trong làng nghề La Xuyên có áp dụng nhiều loại cưa
vòng Các loại cưa này còn có tồn tại cần phải khắc phục, việc nghiên cứu tính toánlựa chọn ra loại cưa vòng nằm xẻ gỗ là cần thiết để đáp ứng yêu cầu năng suất, chấtlượng và hiệu quả, phù hợp với đối tượng nguyên liệu và điều kiện kinh tế của làngnghề La Xuyên
1.5 Tổng quan về một số công trình nghiên cứu về lựa chọn thiết bị
1.5.1 Tổng quan về một số công trình nghiên cứu về lựa chọn thiết bị
Bất cứ khi áp dụng công nghệ và thiết bị vào trong sản xuất thì đều phải tiếnhành lựa chọn cho phù hợp với điều kiện kinh tế, kỹ thuật và môi trường, tùy theotính chất của công nghệ và của thiết bị mà ta tiến hành các phương pháp lựa chọnkhác nhau
Trên Thế giới khi áp dụng các loại máy móc vào trong sản xuất nông lâmnghiệp thì người ta đã có những nghiên cứu lựa chọn khoa học và toàn diện từnhững vấn đề về kỹ thuật, vấn đề về kinh tế và bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏecủa công nhân vận hành Sau đây là một số công trình nghiên cứu về lựa chọn cưaxăng và máy kéo vào trong sản xuất nông lâm nghiệp
- Tác giả J.Laarman và cộng sự trong công trình [42], đã công bố kết quả tính toán, lựachọn công nghệ và một số loại cưa xăng, máy kéo trong sản xuất lâm nghiệp
ở philippine, tác giả đã xây dựng được cách xác định được một số chỉ tiêu kinh tế vàđánh giá tác động đến môi trường của công nghệ và thiết bị
- Theo tài liệu [32] việc lựa chọn công nghệ và thiết bị vào trong sản xuất phải tiến hànhqua hai bước lựa chọn sơ bộ và lựa chọn chi tiết, tài liệu cũng đã đưa ra
Trang 16phương pháp tính toán chi phí sản xuất khi sử dụng máy và thiết bị, chi phí khấu hao thiết bị trong khai thác gỗ.
- Theo tài liệu [33] [34] [38], thì các chỉ tiêu lựa chọn công nghệ và thiết bị phải baogồm chỉ tiêu về kinh tế, chỉ tiêu về kỹ thuật, chỉ tiêu về môi trường sinh thái và chỉtiêu bảo vệ sức khỏe và an toàn lao động, trong đó đặc biệt nhấn mạnh chỉ tiêu bảo
vệ môi trường sinh thái
-Một số công trình [46] [47] [53] đề cập đến các giải pháp nâng cao hiệu quả sửdụng các thiết bị trong sản xuất, các giải pháp đưa ra đó là công suất của các thiết bịđưa vào sử dụng phải phù hợp không lớn quá, không nhỏ quá, sử dụng nhiều chứcnăng trên một thiết bị
- Một số công trình tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏengười lao động, vận hành máy [27] [28], kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố
về dao động, rung động, tiếng ồn vượt quá giới hạn cho phép làm ảnh hưởng tới sứckhỏe của công nhân vận hành và như vậy thì ảnh hưởng tới năng suất và hiệu quả sửdụng máy Do đó khi lựa chọn thiết bị phải quan tâm đến yếu tố này
- Một số công trình tập trung nghiên cứu, đánh giá sử dụng cưa xăng chặt hạ gỗ[38] [39] [40] [49], các công trình này tập trung nghiên cứu năng suất và chi phí sảnxuất khi sử dụng cưa xăng để chặt hạ gỗ, nghiên cứu dao động của cưa xăng ảnh hưởngđến người lao động, các tài liệu trên đều đưa ra cách tính khấu hao của cưa xăng chặt hạ gỗ rừng trồng
- Theo một số tài liệu của FAO, [32] [33], đã xây dựng được phương pháp tính toán năngsuất, chi phí sản xuất khi sử dụng máy kéo nông nghiệp khi vận suất gỗ ở
một số nước, kết quả tính toán làm tài liệu tham khảo để tính toán năng suất và chiphí sản xuất khi sử dụng máy kéo nông nghiệp để làm đất trồng trọt
Tóm lại: Các công trình nghiên cứu về lựa chọn thiết bị, sử dụng thiết bị, đánhgiá hiệu quả sử dụng thiết bị trên thế giới rất phong phú Kết quả nghiên cứu đã đưa raphương pháp thực nghiệm để xác định các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật của thiết bị,phương pháp tính toán chi phí sản xuất, khấu hao máy móc, thiết bị Kết quả nghiên
Trang 17cứu này là tài liệu tham khảo rất tốt khi tính toán lựa chọn thiết bị vào điều kiện cụ thể của sản xuất.
Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về lựa chọn các loại máy và thiết bị vào trong sản xuất nông lâm nghiệp đó là:
- Đề tài trọng điểm cấp Nhà nước “ Nghiên cứu lựa chọn công nghệ và hệ thống thiết bịcho mô hình sản xuất lúa theo hướng cơ giới hóa đồng bộ ở vùng đồng bằng sông CửuLong và vùng đồng bằng sông Hồng, mã số: KC07.06/06-10, do TS Chu
Văn Thiện, Viện cơ điện và công nghệ sau thu hoạch làm chủ nhiệm, kết quả của đề tài
đã xây dựng được hai mô hình cơ giới hóa sản xuất lúa ở hai vùng đồng bằng sông CửuLong và đồng bằng sông Hồng, đã lựa chọn được hệ thống thiết bị cơ giới hóa sản xuấtlúa phù hợp cho hai mô hình, đề tài đưa ra khuyến nghị nên sử dụng máy kéo 4 bánhcông suất từ 25 – 35 mã lực cho hiệu quả kinh tế cao Song đối với từng địa phương cụthể thì đề tài chưa đưa ra nên áp dụng loại máy nào cho phù hợp
- PGS.TSKH Phan Thanh Tình tác giả công trình nghiên cứu “ Các chỉ tiêu đánhgiá hiệu quả sử dụng máy và thiết bị trong nông nghiệp” [25], đã công bố một số chỉtiêu dùng để đánh giá quá trình sử dụng máy móc và thiết bị trong sản xuất nông lâmnghiệp, tác giả chưa đưa ra được các chỉ tiêu lựa chọn cho từng loại thiết bị
- Tác giả Nguyễn Văn Bỉ tác giả công trình “ Một số phương pháp tuyển chọn máy mócthiết bị khai thác lâm sản và cơ giới hóa nông thôn miền núi” [3], đã xây
dựng được một số phương pháp tuyển chọn thiết bị trong khai thác lâm sản Song công trình chưa có nghiên cứu tuyển chọn máy làm đất trồng lúa
- Tác giả Nguyễn Văn Bỉ trong công trình “ Phương pháp lập và giải bài toán tối ưutrong công nghiệp rừng” [2], đã đưa ra phương pháp giải bài toán đa mục tiêu trongcông nghiệp rừng, đó là phương pháp nhân tử Lagrăng và phương pháp hàm
trọng lượng
- Tác giả Nguyễn Văn Bỉ trong công trình “Giải bài toán tối ưu đa mục tiêu trongcông nghiệp rừng” [4], tác giả đã trình bày phương pháp và các bước giải bài
toán đa mục tiêu khi các mục tiêu trái ngược nhau
- Tác giả Dương Văn Tài với công trình “ Đánh giá hiệu quả sử dụng cưa xăng
Trang 18tại Lâm trường Hữu Lũng, Lạng Sơn”, đã xây dựng được phương pháp khảo nghiệmcưa xăng trong chặt hạ, đã xác định được một số chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật của cưa xăng,
từ đó đã đánh giá được hiệu quả kinh tế khi sử dụng cưa xăng để chặt hạ gỗ [16]
- Tác giả Trịnh Hữu Trọng trong công trình “ Nghiên cứu lựa chọn công nghệ
và thiết bị cho công ty Rừng nguyên liệu Miền Bắc” đã công bố các chỉ tiêu lựachọn cưa xăng và máy kéo để khai thác gỗ rừng trồng cho công ty nguyên liệu miềnBắc, tác giả đã lựa chọn được loại cưa xăng hợp lý để chặt hạ gỗ rừng trồng [21]
-Luận văn Thạc sỹ của tác giả Dương Văn Tài “ Nghiên cứu tuyển chọn một sốloại cưa xăng chặt hạ gỗ rừng trồng ở Việt Nam [17], kết quả của đề tài đã xây dựngđược một số chỉ tiêu đánh giá cưa xăng chặt hạ gỗ, xác định được hàm mục tiêu để lựachọn thiết bị đó là; hàm năng suất và hàm chi phí sản xuất, đề tài đã lựa chọn được loạicưa xăng hợp lý để chặt hạ gỗ rừng trồng Đề tài chưa đề cập đến các loại thiết bị khác
- Luận văn Thạc sỹ của tác giả Mai Đình Hùng “ Nghiên cứu lựa chọn mẫu máy cày lênluống sử dụng trong khâu làm đất để trồng mía [10], kết quả của đề tài đã phân
tích một số mẫu máy cày, từ đó tính toán lực tác dụng lên máy cày, sau đó lựa chọn
ra loại mẫu cày hợp lý để trồng mía Đề tài chỉ lựa chọn theo lực cản cày mà chưađưa ra các chỉ tiêu lựa chọn
- Tác giả Trần thành trong công trình nghiên cứu " Lựa chọn thiết bị làm đất hợp lýphục vụ sản suất nông nghiệp tại huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc", tác giả đã
xây dựng được các chỉ tiêu lựa chọn thiết bị làm đất trồng lúa, chưa có nghiên cứuthiết bị cưa xẻ gỗ [14]
Tóm lại: Đã có một số công trình nghiên cứu tuyển chọn thiết bị để cơ giới hóa
một số khâu sản xuất trong nông lâm nghiệp, song chủ yếu tập trung vào lựa chọn cưaxăng chặt hạ gỗ rừng trồng đã có một số công trình nghiên cứu lựa chọn máy kéo làmđất cấy lúa, các công trình nghiên cứu lựa chọn thiết bị chế biến gỗ còn hạn chế
1.5.2 Tổng quan về một số công trình nghiên cứu về lựa chọn thiết bị cưa vòng xẻ gỗ
Ở Việt Nam hàng năm có hàng ngàn thiết bị chế biến gỗ được các cơ sở sản xuất đưa vào
sử dụng, xong việc nghiên cứu tính toán, cải tiến các thiết bị chế biến còn hạn chế, cácthiết bị chế biến gỗ chủ yếu là của Trung Quốc, Đài Loan Mặt khác
Trang 19mỗi một loại thiết bị chỉ phù hợp trong điều kiện nhất định, do vậy việc áp dụng cácthiết bị vào từng đơn vị, địa phương cần phải tính toán lựa chọn cho phù hợp
Đã có một số công trình nghiên cứu về các thiết bị chế biến, song chủ yếu tậptrung vào nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình cắt và chế độ cắt hợp lý
Tác giả Đỗ Thị Hạnh trong công trình: "Nghiên cứu ảnh hưởng của một sốyếu tố đến quá trình cắt ngang tre bằng cưa đĩa", đã xác định được các yếu tố ảnhhưởng đến quá trình cắt và xác định được các thông số hợp lý trong quá trình cắtngang tre bằng lưỡi cưa đĩa
Tác giả Nguyễn Văn Nam trong công trình nghiên cứu tối ưu hóa quá trình
xẻ gỗ keo bằng cưa đĩa, tác giả đã xây dựng được cơ sở lý luận về tối ưu hóa quátrình xẻ gỗ bằng cưa đĩa và đã xác định được một số thông số tối ưu cho một loạicưa đĩa cụ thể, chưa có nghiên cứu lựa chọn cưa đĩa
Tác giả Phạm Văn Lý trong công trình nghiên cứu về xác định tỷ suất lực cắt
gỗ keo tai tượng bằng cưa đĩa, đã xác định được tỷ suất lực cắt, các hệ số ảnh hưởngđến tỷ suất lực cắt, tác giả chưa đề cập đến lựa chọn cưa đĩa
Tóm lại: Đã có một số công trình nghiên cứu về thiết bị chế biến gỗ, song
chủ yếu tập trung vào xác định các yếu tố ảnh hưởng và xác định các thông số tối
ưu, chưa có công trình nghiên cứu lựa chọn cưa vòng xẻ gỗ Do vậy, việc nghiêncứu lựa chọn cưa vòng xẻ gỗ cho làng nghề La Xuyên là cần thiết và có ý nghĩathực tế cao
Với những phân tích ở trên chúng tôi chọn và thực hiện đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn cưa vòng nằm xẻ gỗ cho làng nghề La Xuyên - Ý Yên - Nam Định"
là rất cần thiết trong điều kiện hiện nay
Trang 20Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nguồn nguyên liệu để sản xuất đồ mộc tại địa phương.
Đối tượng của quá trình xẻ là nguyên liệu đầu vào cho quá trình xẻ tại địaphương Theo kết quả điều tra khảo sát tại địa phương thì nguyên liệu gỗ đầu vàocho quá trình xẻ chủ yếu là gỗ hộp chiếm 90% và 10% là gỗ tròn
Chủng loại gỗ chủ yếu là gỗ Gụ (mật) chiếm 70% và gỗ Dáng Hương chiếm25%, các loại gỗ khác chiếm 5% với kết quả điều tra khảo sát như vậy chúng tôichọn đối tượng của quá trình nghiên cứu là 2 loại gỗ đó là gỗ Gụ và gỗ Dáng Hương
2.1.1 Gỗ Gụ mật (Sindora siamensis Teysm.ex Miq)
a) Nguồn gốc phân bố:
Trên thế giới Gụ mật mọc ở Thái Lan, Lào, Việt Nam, Campuchia vàIndomalesia Ở Lào loài gụ này phân bố ở Viêng Chăn, Ở Việt Nam: Quảng Ninh(Uông Bí: Yên Lập), Hà Bắc, Nghệ An (Qùy Châu, Nghĩa Đàn), Hà Tĩnh (Kỳ Anh),Quảng Trị (Bến Hải: Vĩnh Linh), Thừa Thiên Huế (Hương Điền: Sông Bồ, ThừaLưu), Quảng Nam - Đà Nẵng, Khánh Hòa (Ninh Hòa: núi Hòn Hèo)
b) Đặc điểm ngoại hình:
Gụ mật là cây gỗ lớn, rụng lá, cao 40 m , đường kính thân 0,8-1m Lá kép lông chim một lần chẵn; cuống chính mang 3-4 đôi lá nhỏ, mọc đối, hình bầu dục rộng-trái xoan, dài 5-10cm, rộng 3-6cm, có cuống rất ngắn Chùm hoa ở đầu cành hay nách lá gần đầu cành, cuống chung dài 15-25 cm, có lông màu nâu; hoa có lông nhung nhiều, màu đỏ nhạt; Quả dẹt, gần tròn, có mũi nhọn, đường kính 5-6cm, cả hai mặt quả phủ đầy gai thẳng, nhọn, cứng, vỏ quả hóa gỗ mở vặn, có 1-3 hạt, trong quả có chứa cơm cứng màu vàng da cam Mùa hoa vào tháng 1-3, mùa quả vào tháng 4-8, tái sinh bằng hạt tốt.c) Cấu tạo thô đại:
Ảnh cấu tạo thô đại 3 mặt cắt
Trang 21Mặt cắt ngang Mặt cắt xuyên tâm Mặt cắt tiếp tuyến
- Gỗ giác lõi phân biệt, giác màu vàng nhạt, lõi màu nâu hồng nhạt Vòng nămkhông rõ Gỗ sớm, gỗ muộn không phân biệt Mạch phân bố phân tán, tụ hợpđơn kép, mạch trung bình (φ= 0.1÷0.2 mm), số lượng ít ( < 5 mạch /1mm2) Trong mạch không có chất chứa
- Tế bào mô mềm xếp dọc thân cây làm thành dải thưa
- Tia nhỏ(<0.1 mm), số lượng nhiều (10÷16 tia/mm), khó thấy
- Không có cấu tạo thành lớp
- Có ống dẫn nhựa dọc
- Gỗ nặng khá bền Thớ gỗ thẳng, mịn và đẹp
d) Cấu tạo hiển vi:
Ảnh cấu tạo hiển vi 3 mặt cắt
Mặt cắt ngang Mặt cắt xuyên tâm Mặt cắt tiếp tuyến
- Mạch phân bố phân tán; tụ hợp đơn kép 2-3 Số lượng trên 1mm2 ít
(2-7 mạch/ mm2) Đường kính mạch theo chiều tiếp tuyến trung bình 100-170 (220)µm
Lỗ xuyên mạch đơn, lỗ thông ngang xếp so le; trong mạch có chất chứa màu đen
Trang 22- Tế bào mô mềm xếp dọc thân cây phân bố theo hình thức: vây quanh mạch khôngkín, vây quanh mạch kín hình cánh, làm thành dải chạy song song với vòng
năm
- Tia gỗ có bề rộng gồm 2-3 hàng tế bào (và chiều cao gồm 7 - 8 hàng tế bào; mật độtia từ 6-11 tia/mm Tia gỗ có cấu tạo sắp xếp không đồng nhất Có tế bào chứa tinhdầu nằm trong tia gỗ Có tinh thể oxalat xếp thành dãy dọc
- Sợi gỗ có chiều dài trung bình 1200-1400µm và có vách rất dày
- Gỗ không có cấu tạo lớp
- Gỗ có ống dẫn nhựa dọc
e) Một số tính chất vật lý và cơ học chủ yếu của gỗ Gụ mật
Gỗ Gụ mật có khối lượng thể tích (ở độ ẩm 12%) trung bình 0,88g/cm3 Hệ số co rút thể tích trung bình (0,41) Điểm bão hòa thớ gỗ thấp (23%) Giới hạn bền nén dọc thớ trung bình (704 kg/cm3) Giới hạn bền khi uốn tĩnh trung bình (1575 kg/cm3) Sức chống tách trung bình (18,8kg/cm) Hệ số uốn
b) Đặc điểm ngoại hình:
Cây gỗ to có tán lá hình ô, rụng lá, cao 25 - 35m, đường kính thân 0,7 - 0,9mhay hơn nữa Gốc có bạnh vè, thân thẳng, vỏ màu xám, bong những vảy lớn khôngđều hay hơi nứt dọc, có nhựa mủ đặc màu đỏ tươi chảy ra khi bị chém Cành nonmảnh, có lông, cành già nhẵn, lá kép lông chim lẻ một lần, dài 15 - 25cm; mang 9 -
11 lá chét hình bầu dục thuôn hay hình trứng - thuôn, dài 4 - 11cm, rộng 2 - 5cm, gốc tròn hoặc tù, đầu có mũi nhọn cứng, hơi có lông
Trang 23Cụm hoa hình chùy ở nách lá, phủ lông màu nâu, dài 5 - 9cm Hoa màu vàngnghệ, có cuống dài và nhiều lông, mùi rất thơm Quả tròn, đường kính 5 - 8cm, dẹt,
có mũi cong về phía cuống, màu vàng nâu, giữa có 1 hạt, xung quanh có cánh rộng
và có lông mịn như nhung
c) Cấu tạo thô đại:
Ảnh cấu tạo thô đại 3 mặt cắt
Mặt cắt ngang Mặt cắt xuyên tâm Mặt cắt tiếp tuyến
- Gỗ giác lõi phân biệt, gỗ giác màu nâu vàng, lõi màu nâu vàng hoặc nâu hồng
Có những vệt màu đỏ nâu tạo thành vân Gỗ có mùi thơm
- Vòng năm rõ, gỗ sớm và gỗ muộn phân biệt, vòng năm thường rộng 2- 5 mm Thớ gỗ mịn và nghiêng
- Mạch phân bố trung gian, tụ hợp đơn kép ngắn, trong mạch có chất chứa màu nâu hồng
- Tế bào mô mềm xếp dọc thân cây phân bố ở các dạng: vây quanh mạch kín hình cánh & cánh nối tiếp, liên kết mạch giải hẹp
- Tia gỗ nhỏ và hẹp
- Gỗ có cấu tạo lớp
- Gỗ không có ống dẫn nhựa dọc
d) Cấu tạo hiển vi:
Ảnh cấu tạo hiển vi 3 mặt cắt
Trang 24Mặt cắt ngang Mặt cắt xuyên tâm Mặt cắt tiếp tuyến
- Mạch phân bố trung gian; tụ hợp đơn kép 2-3 Số lượng trên 1mm2 ít
( 2 -7 mạch/ mm2) Đường kính mạch có 2 loại kích thước phân biệt; loại nhỏđường kính mạch 80µm, loại lớn đường kính mạch trung bình 205µm Lỗ xuyênmạch đơn, lỗ thông ngang xếp so le; trong mạch có chất chứa màu nâu đỏ
- Tế bào mô mềm xếp dọc thân cây phân bố theo các hình thức: vây quanh mạch kín hình cánh & cánh nối tiếp, liên kết mạch giải hẹp
- Tia gỗ có bề rộng gồm 1-2 hàng tế bào (và chiều cao gồm 7 - 8 hàng tế bào; mật độtia từ 12 tia/mm Tia gỗ có cấu tạo sắp xếp không đồng nhất Có tế bào chứa tinhdầu nằm trong tia gỗ Có tinh thể oxalat xếp thánh dãy dọc
- Sợi gỗ có chiều dài trung bình 1042(770 - 1230)µm và có vách rất dày
- Gỗ có cấu tạo lớp
- Gỗ không có ống dẫn nhựa dọc
e) Một số tính chất vật lý và cơ học chủ yếu của gỗ Giáng hương
Gỗ Giáng hương có khối lượng thể tích (ở độ ẩm 12%) trung bình 0.73g/cm3 Hệ số co rút thể tích trung bình (0.43) Điểm bão hòa thớ gỗ thấp (23%) Giới hạnbền nén dọc thớ trung bình (631 kg/cm3) Giới hạn bền khi uốn tĩnh trung bình(1194 kg/cm3) Sức chống tách trung bình (11kg/cm) Hệ số uốn va đập trung bình(0.65)
2.1.3 Kích thước của loại gỗ
Căn cứ vào kết quả điều tra khảo sát chúng tôi chọn kích thước trung bìnhcủa hộp gỗ để nghiên cứu như sau
Trang 25Gỗ Gụ: Dài 2,2m, rộng 50cm, dầy 35cm
Gỗ Dáng Hương: Dài 2,0m, rộng 45cm, dầy 30cm
2.2 Thiết bị nghiên cứu
Căn cứ vào kết quả điều tra khảo sát các loại cưa vòng tại địa phương
Căn cứ vào kết quả điều tra khảo sát các thiết bị cưa vòng hiện đang có trênthị trường Việt Nam
Căn cứ vào khả năng cung cấp các thiết bị cưa vòng của các cơ sở sản xuất
về chế tạo cưa vòng trong nước
Chúng tôi lựa chọn một số loại cưa vòng để đưa vào nghiên cứu như sau:
a) Cưa vòng nằm CD8 và CD7B của công ty TNHH Đồng Tháp
Công ty TNHH Đồng Tháp là công ty chuyên sản xuất cưa vòng, loại cưanày được sử dụng phổ biến hiên nay ở Việt Nam, công ty này có nhiều năm kinhnghiệm trong việc thiết kế chế tạo loại cưa vòng nằm
Ưu điểm: Đây là loại cưa có độ bền cao, chất lượng mạch xẻ tốt, ổn địnhtrong quá trình xẻ, có nhiều kích cỡ cho người sử dụng để lựa chọn
Nhược điểm: Giá thành đắt, tốc độ lưỡi cưa thấp, từ đó năng suất không cao,hình thức mẫu mã chưa đẹp
Hình 2.1 Hình ảnh cưa vòng nằm Đồng Tháp
Trang 26b) Cưa vòng nằm của công ty cơ khí Thanh Tòng
Đây là loại cưa được sử dụng khá phổ biến ở làng nghề La Xuyên, loại cưa
có một số ưu nhược điểm sau
Ưu điểm: Năng suất xẻ cao, với hai đường ray lớn nên có thể xẻ được loại cây gỗ, hộp gỗ lớn, tốc độ của lưỡi cắt lớn nên chất lượng bề mặt của ván xẻ tốt
Nhược điểm: Độ bền của lưỡi cưa thấp, độ bền chung của máy thấp nhất là vòng bi của bánh đà và độ bôm mê của bánh đà, tiêu thụ điện năng lớn
Hình 2.2 Hình ảnh của cưa vòng nằm Thanh Tòngc) Cưa vòng nằm của công ty cơ khí Sáu Thành
Đây là loại cưa đang được sử dụng tại làng nghề La Xuyên, loại cưa này có
ưu nhược điểm sau
Ưu điểm: Kích thước gọn nhẹ, giá thành rẻ, tốc độ nâng lên hạ xuống nhanh, tiêu thụ điện năng thấp, phù hợp khi xẻ gỗ nhỏ
Nhược điểm: Năng suất thấp, chất lượng mạch xẻ thấp, không xẻ được cây
gỗ có đường kính lớn, tốc độ lưỡi cưa chậm
Trang 27Hình 2.3 Hình ảnh của cưa vòng nằm Sáu Thànhd) Cưa vòng nằm của cơ khí Đông Anh
Cưa vòng nằm của cơ khí Đông Anh là loại cưa được thiết kế chế tạo chophù hợp với những hộ sản suất kinh doanh khi xẻ gỗ nhỏ, gỗ rừng trồng vì kíchthước và công suất nhỏ, giá thành cũng vừa rẻ, loại cưa này có ưu và nhược điểmsau
Ưu điểm: Kích thước nhỏ gọn, giá thành mua máy thấp, tốn ít điện năng, chiphí trong quá trình sử dụng thấp
Nhược điểm: Không xẻ được cây gỗ có kích thước lớn, năng suất thấp, chấtlượng mạch xẻ không cao
Tóm lại: Đề tài lựa chọn 5 loại cưa vòng nằm đã phân tích ở trên để tính
toán lựa chọn ra loại cưa phù hợp nhất cho năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tếcao, đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu hàng hóa lâm sản
2.3 Công nghệ xẻ gỗ
a) Sơ đồ công nghệ xẻ gỗ
Khâu xẻ gỗ là khâu khá quan trọng trong quá trình chế biến gỗ, nó ảnhhưởng đến chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế của quá trình chế biến gỗ Côngnghệ xẻ gỗ hiện nay được thực hiện theo ba sơ đồ công nghệ sau:
Trang 28- Sơ đồ công nghệ xẻ suốt:
- Sơ đồ công nghệ xẻ hộp
trên và dưới liệu
- Sơ đồ công nghệ xẻ xoay tròn
mạch xẻ liệu
b) Thuyết minh sơ đồ công nghệ xẻ gỗ.
-Sơ đồ công nghệ xẻ suốt:
Xoay gỗ để xẻ
từ trên xuống dưới
Xoay gỗ để xẻ mạch thứ 2
Vánthànhphẩm
Ván thành phẩm
Đây là công nghệ xẻ áp dụng cho xẻ gỗ nhỏ, gỗ hộp khi xẻ thành ván mỏng, sơ đồcông nghệ này chỉ tốn thời gian một lần chỉnh gỗ trên bệ xẻ, nên năng suất cao, tuy nhiênloại hình công nghệ này có nhược điểm đó là khi xẻ gỗ tròn thì tấm ván sau khi xẻ còn córìa nên phải rọc bằng cưa đĩa hoặc cưa vanh, từ đó ảnh hưởng đến năng suất xẻ
Đối với xẻ gỗ nhỏ thì xẻ suốt còn cho tỷ lệ thành khí cao hơn xẻ hộp, do vậyloại công nghệ xẻ này thường áp dụng cho xẻ gỗ nhỏ, xẻ gỗ hộp
- Sơ đồ công nghệ xẻ hộp:
Loại hình công nghệ xẻ này thường áp dụng đối với xẻ gỗ tròn, ưu điểm của loại xẻnày là ván sau khi xẻ đã được rọc rìa, không phải rọc rìa bằng các loại cưa khác, nhượcđiểm là tỷ lệ thành khí thấp nhất là đối với cây gỗ cong, bạnh vè, nhiều khuyết tật
Lọai công nghệ xẻ này thường áp dụng cho xẻ gỗ tròn, sản phẩm là hộp gỗ
có chiều dầy lớn
- Sơ đồ công nghệ xẻ xoay tròn:
Loại hình công nghệ này thường chỉ áp dụng đối với cây gỗ có đường kính quálớn, nếu xẻ suốt hoặc xẻ hộp không thực hiện được, thì lúc này ta phải xẻ bóc cho khúc
Trang 29gỗ nhỏ dần, phương pháp xẻ này cho năng suất và tỷ lệ thành khí thấp.
Điều kiện áp dụng của công nghệ xẻ này là xẻ cây gỗ tròn có kích thước lớn
c) Lựa chọn công nghệ xẻ gỗ hợp lý.
Từ phân tích ở trên mỗi loại sơ đồ công nghệ có ưu nhược điểm nhất định,điều kiện áp dụng nhất định Việc lựa chọn sơ đồ công nghệ phải căn cứ vào nguyênliệu đầu vào của quá trình xẻ đó là gỗ hộp hay gỗ tròn, kích thước gỗ, yêu cầu kíchthước sản phẩm ván xẻ để lựa chọn sơ đồ công nghệ xẻ hợp lý
Đối với xẻ gỗ tại làng nghề La Xuyên thì gỗ mang vào xẻ là gỗ hộp, kíchthước trung bình không quá lớn, kích thước ván sau khi xẻ mỏng, sản phẩm sau khi
xẻ chủ yếu phục vụ sản xuất đồ mộc gia dụng, nên công nghệ xẻ phù hợp nhất làcông nghệ xẻ suốt
Tóm lại: Công nghệ xẻ gỗ được thực hiện tại La Xuyên như sau: gỗ hộp đưa
lên bệ xẻ, vam kẹp chặt, sau đó xẻ từ trên xuống dưới theo qui cách sản phẩm, sảnphẩm ván xẻ vuông cạnh
2. 4 Phương pháp nghiên cứu
2. 4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết sử dụng trong đề tài là áp dụng lý thuyếtlựa chọn thiết bị máy móc Nội dung của phương pháp này có thể tóm tắt như sau:
Xây dựng các chỉ tiêu để lựa chọn thiết bị, từ đó xác định hàm mục tiêu vàcác tham số ảnh hưởng đến hàm mục tiêu, xây dựng và lựa chọn phương pháp giảibài toán lựa chọn thiết bị Nội dung của phương pháp này được trình bày trong cáctài liệu [2]; [3]; [25]
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Phương pháp điều tra khảo sát xác định đại lượng nghiên cứu trong luận vănđược thực hiện theo phương pháp điều tra chuyên ngành Nội dung của phươngpháp cũng như việc xử lý các kết quả được trình bày trong các tài liệu [12], [13]
Trang 30Việc tổ chức và tiến hành thí nghiệm xác định một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuậtcủa một số loại máy được tiến hành theo phương pháp thống kê toán học và phươngpháp khảo nghiệm máy lâm nghiệp, quá trình tổ chức thực nghiệm cũng như xử lýcác số liệu thí nghiệm được trình bày rõ trong các tài liệu [11], [12], [13] Việc ápdụng các phương pháp nghiên cứu nêu trên sẽ được trình bày cụ thể ở các chươngtiếp theo khi tiến hành nghiên cứu từng nội dung.
Trang 31Chương 3
CƠ SỞ LÝ THUYẾT TUYỂN CHỌN CƯA VÒNG NẰM XẺ GỖ
3.1 Các phương pháp lựa chọn thiết bị.
Việc tuyển chọn thiết bị sản xuất nói chung thường căn cứ vào kết quả tínhtoán, đánh giá một số chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của chúng trong cùng một điều kiệnlàm việc Để có cơ sở tuyển chọn trước tiên phải xây dựng một hệ thống các chỉ tiêuđánh giá Tuỳ theo quan điểm và mục đích của người tuyển chọn mà các chỉ tiêunày cũng rất khác nhau
Theo trình tự phát triển của bài toán chúng tôi giới thiệu một số phương phápchọn thiết bị thường được áp dụng trong lĩnh vực Nông - Lâm nghiệp
3.1.1 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế trực tiếp.
Theo phương pháp này thì chỉ tiêu quan trọng nhất được chọn để đánh giácác thiết bị là lợi nhuận, tức là số tiền lãi mà thiết bị làm ra trong một năm sản xuấthoặc trong cả đời làm việc của nó Do đó có hai cách xác định hiệu quả trực tiếp là:
3.1.1.1 Lợi nhuận hàng năm
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Cơ điện Nông nghiệp và chế biến nôngsản [25], lợi nhuận hàng năm được tính theo công thức sau (Không kể khấu haomáy và lãi xuất vốn đầu tư):
La = A(Tn - Cpm) (3.1)Trong đó: La - Lợi nhuận thu được hàng năm tính bằng tiền A - Khối lượng đơn vị công việc (m3) mà công cụ, máy móc làm được trong
năm,
Tn - Đơn giá khi thực hiện công việc
Cpm - Chi phí sản xuất cho 1 đơn vị công việc (đồng, hoặc đơn vị sản phẩm)Chi phí sản xuất cho một đơn vị công việc (Cpm) được tính như sau:
Cpm = Sct + Scl + Ll + Nm + Bq + Ck (3.2 ) Trong đó: Scl
- Chi phí sửa chữa lớn cho 1 đơn vị công việc (đồng) Sct - Chi phí
sửa chữa thường xuyên và phục vụ kỹ thuật
Trang 32Ll - Chí phí lao động trực tiếp bao gồm lương thợ chính và phụ tính theo bậccông việc hoặc đơn giá khoán.
Nm - Chi phí nhiên liệu, dầu mỡ hoặc điện năng (đ/đơn vị công việc)
Bq - Chi phí bảo quản, bao gồm chi phí lao động, vật tư, kỹ thuật phục vụcho bảo quản theo yêu cầu của từng loại công cụ, máy móc (đ/đơn vị công việc)
Ck - Các chi phí khác (đ/đơn vị công việc)
3.1.1.2 Lợi nhuận của một đời công cụ, máy móc.
Theo kết quả nghiên cứu của tiến sĩ khoa học Phan Thanh Tịnh viện Cơ điệnNông nghiệp [25], lợi nhuận cả đời máy được tính như sau:
n
i = tTrong đó: n- Số năm hoạt động của máy
Lt Lợi nhuận cả đời công cụ, máy móc
Z - Giá trị còn lại của công cụ, máy móc khi thanh lý
b) Lợi nhuận tối thiểu
Là mức lợi nhuận tối thiểu đảm bảo cho việc sử dụng máy không lỗ (khônglãi)
c) Khối lượng công việc tối thiểu
Là khối lượng công việc tối thiểu hàng năm máy phải làm được để việc sửdụng máy không lỗ (không lãi)
A
co = A Tv
(3.6)n
Trang 33d)Hiệu quả vốn đầu tư.
Hiệu quả vốn đầu tư cho ta biết một đồng vốn đầu tư để trang bị công cụ máymóc sẽ thu lại được bao nhiêu
H v =La (n − Tv ) + Z
(3.7)Z
nd
3.1.2 Phương pháp chuẩn hoá các chỉ tiêu đánh giá.
3.1.2.1 Chuẩn hoá giá trị của các phương án theo từng thông số về chất lượng làm việc.
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Cơ điện Nông nghiệp và chế biến nôngsản, các thông số đặc trưng cho chất lượng làm việc của thiết bị được chuẩn hoátheo các công thức sau:
- Nếu giá trị của thông số tiến tới cực đại thì:
Trong đó: Wij - Số điểm về chất lượng làm việc của phương án ở thông
số j aij - Giá trị thực của các phương án theo từng thông số asi - Yêu
cầu về kỹ thuật phải đạt cho các loại công việc
3.1.2.2 Chuẩn hoá giá trị các phương án theo từng thông số về chi phí.
Các chi phí của từng phương án theo các thông số về chi phí được xác địnhtheo công thức:w
Waij - Số điểm về chi phí của phương án i ở thông số j sau khi được chuẩnhoá
Mjmax - Chi phí cao nhất của các phương án theo từng thông số
Trang 34Về bản chất thì phương pháp chuẩn hoá các chỉ tiêu của thiết bị vừa nêu làphương pháp thống kê cho điểm Nhược điểm cơ bản của phương pháp này là mức
độ chính xác của bài toán phụ thuộc vào ý kiến của các chuyên gia khi xây dựng cáctrọng số (fi) Khi có nhiều thiết bị cần chọn đồng thời thì mức độ chính xác thấp
3.1.3 Chọn thiết bị theo các thông số tối ưu.
Trình tự lập và giải bài toán tối ưu được trình bày qua hai bước: Phân tíchđịnh tính và phân tích định lượng như sau:
3.1.3.2 Phân tích định lượng.
Khi lựa chọn thiết bị chúng ta chỉ dựa vào phân tích định tính thì chưa đầy đủ
mà phải tiến hành phân tích định lượng Phân tích định tính chỉ ra cho thấy một sốthiết bị có khả năng sử dụng được trong điều kiện sản xuất, nhưng hiệu quả sử dụngcủa chúng chưa đánh giá được cụ thể Phân tích định lượng là quá trình tính toántoàn bộ các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, chỉ tiêu xã hội và môi trường từ đó so sánh cácgiá trị của chúng để chọn ra một thiết bị có nhiều chỉ tiêu tốt nhất Sau khi tính toánđược giá trị của các chỉ tiêu có thể dùng một trong ba phương pháp để lựa chọn:
- Phương pháp so sánh: Là phương pháp truyền thống được sử dụng rộng rãi trong sản
xuất Phương pháp này đơn giản nhưng độ chính xác thấp Nội dung của phương phápnày là: Tính toán tất các các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của tất cả các thiết bị đưa ra sosánh, sau đó so sánh từng chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của các thiết bị với nhau Trên cơ sở
đó thiết bị nào có nhiều chỉ tiêu đạt giá trị tốt thì ta chọn thiết bị đó
- Phương pháp thống kê cho điểm: Để đạt được mức độ chính xác cao và bao quát
hết các chỉ tiêu so sánh chúng ta cho điểm từng chỉ tiêu của từng thiết bị một, sau
đó tổng hợp lại thiết bị nào đạt điểm cao nhất sẽ là phương án được chọn
Trang 35- Phương pháp tối ưu: Nội dung của phương pháp này là: Xác lập mối quan hệ giữa
các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật trong sự phụ thuộc vào các tham số có thể thay đổiđược của thiết bị, ta được các hàm số gọi là hàm mục tiêu Khảo sát các hàm mụctiêu này tìm ra miền cực trị hay điểm cực trị Thiết bị nào ứng với tham số có điểmcực trị là thiết bị tối ưu nhất
- Với ưu điểm của phương pháp tối ưu đã trình bày ở trên trong nội dung của luận ánnày chúng tôi dùng phương pháp tối ưu để lựa chọn máycưa vòng nằm xẻ gỗ cholàng nghề La Xuyên
3.2 Thiết lập bài toán chọn cưa vòng nằm xẻ gỗ
Trong thực tế sản xuất hiện nay có nhiều loại cưa vòng của nhiều hãng chếtạo khác nhau, có công suất và chất lượng khác nhau Để quá trình lựa chọn đượcchính xác khoa học chúng tôi tiến hành như sau:
- Phân loại cưa vòng theo các hãng chế tạo
- Trong các hãng chế tạo chúng tôi đưa ra một số loại máy có công suất khác nhau để
so sánh lựa chọn và tìm ra được một loại máy phù hợp nhất với điều kiện làng nghề
và kinh tế của địa phương
-Như đã trình bày ở trên việc lựa chọn được tiến hành theo phương pháp tối ưu
3.2.1 Các chỉ tiêu tuyển chọn
3.2.1.1 Các chỉ tiêu kỹ thuật
a) Năng suất xẻ gỗ của cưa vòng nằm
Như phần trên đã trình bày muốn lựa chọn được thiết bị thì ta phải xác địnhđược các chỉ tiêu Đối với việc lựa chọn cưa vòng nằm xẻ gỗ thì chỉ tiêu về kỹ thuậtquan trọng là năng suất xẻ được xác định bằng công thức sau:
N s ca =T × F ×ϕ× n
m2/h ( 3.11)
t1+ t2+t3n
Trong đó: Nca
s - Năng suất xẻ trong 1 giờ làm việc, m2/h
T - Thời gian làm việc trong 1 giờ tính bằng (giây)
- Hệ số sử dụng thời gian lấy bằng ϕ1=0,8
Trang 36F - Diện tích một tấm ván xẻ được ( m2).
t1 - Thời gian đưa gỗ và vam gỗ vào bệ xẻ (giây)
t2 - Thời gian chỉnh cưa lấy kích thước tấm ván (giây)
t3 - Thời gian đẩy cưa hết chiều dài tấm ván và thời gian lùi cưa lại và thờigian hạ cưa xuống để xẻ mạch khác (giây)
n- số mạch xẻ
Dựa vào công thức (3.11) ta có thể tính được năng suất xẻ gỗ của các loạicưa khác nhau bằng lý thuyết Ngoài ra ta có thể tính được năng suất của các loạicưa bằng thực nghiệm
b) Chất lượng sản phẩm
Đối với thiết bị cưa vòng nằm xẻ gỗ thì chỉ tiêu kỹ thuật quan trọng nhất đó
là chất lượng ván xẻ, chất lượng của ván xẻ được đánh giá bằng độ mấp mô trên bềmặt tấm ván Sau khi xẻ xong trên bề mặt tám vấn càng nhẵn càng tốt tức là độ mấp
- chiều dài tấm ván đo độ mấp mô, mm
h - chiều cao mấp mô lớn nhất, mmNhư vậy đối với một tấm ván xẻ nếu chiều dài đo độ mấp mô cố định thìchiều cao mấp mô càng lớn thì độ phẳng càng thấp, và như vậy chất lượng ván xẻthấp Ngược lại nếu độ mấp mô càng nhỏ thì độ phẳng càng cao, chất lượng ván xẻcàng cao
3.2.1.2 Chỉ tiêu về kinh tế.
Chỉ tiêu kinh tế được đánh giá bằng những chỉ tiêu cụ thể sau:
Trang 37Cp - Chi phí sản xuất tính cho 1 m2 ván xẻ được (đ/m2)
Cnc - Chi phí nhân công tính cho 1 m2 ván xẻ (đ/m2)
Cnl - Chi phí điện tính cho 1 m2 ván xẻ (đ/m2)
Ckhm - Chi phí khấu hao máy tính cho 1 m2 ván xẻ được (đ/m2)
Csc - Chi phí sửa chữa tính cho 1 m2 ván xẻ được (đ/m2)
Cls - Chi phí lãi suất vay vốn đầu tư thiết bị (đ/m2)
Ckhlc - Chi phí khấu hao lưỡi cưa tính cho 1 m2 ván xẻ được
(đ/m2) b Chỉ tiêu về lợi nhuận.
Chỉ tiêu kinh tế quan trọng nhất để lựa chọn thiết bị đó là lợi nhuận của thiết
bị làm ra trong một năm hoặc cả đời máy Trong chỉ tiêu này bao hàm cả chỉ tiêu vềnăng suất và chỉ tiêu về chi phí
- Lợi nhuận trong một ca được tính toán theo công thức như sau:
Lca = (Nsca kg − Cp ) (3.14)Trong đó: Lca - Lợi nhuận trong một ca của cưa vòng tính bằng (đồng)
Nsca - Năng suất trong một ca làm việc (m2/ ca), tính theo công thức (3.11)
kg - Đơn giá thuê khoán (đồng/m2), lấy theo đơn giá thực tế tại địa phương;
Cp - Chi phí cho một ca sản xuất (đồng/ca), tính theo công thức (3.13)
- Lợi nhuận trong một năm của cưa được tính theo công thức (3.1) và và được viết như sau:
Ln= Ns ca
(kg- Cp) (3 15)Trong đó: Ln - Lợi nhuận trong một năm của cưa vòng
D - Số ca làm việc trong một năm của cưa vòng
Trang 38Do số ca làm việc trong một năm của các loại cưa là tương đối bằng nhaunên để lựa chọn chính xác chúng ta sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận cả đời cưa để tínhtoán lựa chọn
- Lợi nhuận cả đời cưa được tính theo (3.3) có dạng:
n
Lt = ∑ Lai+ Z = n D(Nsca Kg− Cp ) + Z (3.16)
i =1Trong đó:
n - Số năm làm việc của thiết bị tính theo số giờ làm việc của cưa
Z - Giá thanh lý của cưa
Khi tính đến lãi suất vay vốn ngân hàng, lợi nhuận cả đời cưa được tính theo công thức sau:
LT= L n En
−1
− Z nd + Z.E −n
E n Pq
Trong đó: E= 1+pq, với pq là lãi suất vay vốn ngân hàng, %
c) Thời gian hoàn vốn (T V ) kể cả lãi suất vay vốn đầu tư
Thời gian hoàn vốn được tính theo công thức sau:
Trong đó Tv- Thời gian hoàn vốn của cưa, năm
d Hiệu quả vốn đầu tư H v
Trong đó: Th - Thời hạn sử dụng máy tính theo lý lịch cưa
Znd - Giá bán buôn của cưa
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hàm chỉ tiêu.
a) Yếu tố thuộc về loại gỗ
Trang 39Các loại gỗ khác nhau có cơ lý tính khác nhau, nên lực cản cắt cũng khácnhau, từ đó ảnh hưởng đến năng suất, chi phí năng lượng hoàn thành m2 gỗ xẻ.
Các loại gỗ cứng thì vận tốc đẩy cưa cũng nhỏ, từ đó ảnh hưởng đến năngsuất của thiết bị, gỗ càng cứng thì năng suất xẻ càng thấp
Tóm lại: loại gỗ ảnh hưởng rất lớn đến các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của thiết
bị, trong quá trình tính toán lựa chọn thiết bị chúng tôi tiến hành thí nghiệm cho một
loại gỗ phổ biến nhất, xẻ nhiều nhất
b) Yếu tố thuộc về kích thước gỗ đưa vào xẻ
Kích thước gỗ mang vào xẻ cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chấtlượng của quá trình xẻ Kích thước gỗ càng lớn thì năng suất càng cao vì không phảitốn thời gian vam kẹp gỗ lên bệ xẻ, kích thước gỗ càng lớn thì đòi hỏi công suất cưaphải lớn, từ đó ảnh hưởng đến công suất của thiết bị cũng như loại thiết bị cưa vòng
Kích thước gỗ lớn thì chất lượng mặt gỗ xẻ giảm, do vậy kích thước gỗ ảnhhưởng đến chất lượng mạch xẻ
Tóm lại: Kích thước của gỗ ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của quátrình xẻ gỗ, khi tính toán lựa chọn loại cưa phải căn cứ vào yếu tố này
c) Các yếu tố thuộc về cưa
Các loại cưa khác nhau có các thông số kỹ thuật khác nhau, chi phí nănglượng điện khác nhau, độ bền khác nhau, từ đó dẫn đến năng suất khác nhau, chi phíkhác nhau
Công suất của máy là yếu tố quan trọng nhất của máy, đây là yếu tố tổng hợpđặc trưng cho các thông số của máy, công suất máy lớn thì vận tốc đẩy cưa cao, từ
đó có thể năng suất cao nếu như bề rộng tấm gỗ xẻ lớn, còn nếu như diện tích tấmván nhỏ thì năng suất chưa chắc đã cao Như vậy yếu tố về công suất của máy nóchi phí các yếu tố khác
Loại máy khác nhau, vận tốc độ cắt và tốc độ đẩy cũng khác nhau và chi phínăng lượng cũng khác nhau, chi phí sửa chữa cũng khác nhau, vốn đầu tư cũng khácnhau, nên các loại máy của các hãng sản xuất khác nhau cho năng suất và hiệu quả
Trang 40kinh tế khác nhau.
Vận tốc của lưỡi cưa trong quá trình làm việc cũng ảnh hưởng đến năng suất củamáy, vận tốc cắt lớn thì năng suất cao, chất lượng mạch xẻ tốt, nhưng vận tốc của máylại phụ thuộc vào công suất của động cơ, công suất động cơ lớn thì vận tốc cao
- Bước răng của lưỡi cưa cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng suất của máy, bướcrăng càng lớn thì năng suất cao, nhưng chất lượng mạch xẻ thấp, từ đó ảnh hưởngđến chất lượng sản phẩm của thiết bị bước răng của lưỡi cưa phụ thuộc vào côngsuất của thiết bị, công suất càng lớn thì bước răng càng lớn
- Độ mở của lưỡi cưa: lưỡi cưa mở càng rộng thì tiêu hao gỗ càng lớn, từ đóảnh hưởng đến tỷ lệ thành khí, độ mở của lưỡi cưa nhỏ ảnh hưởng đến độ ma sátgiữa lưỡi cưa với thành mạch xẻ, từ đó ảnh hưởng đến chi phí năng lượng điện vàtốc độ đẩy của cưa, làm cho năng suất giảm
Tóm lại: Yếu tố về kỹ thuật của thiết bị là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến các
chỉ tiêu như năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, các yếu tố về máy là các yếu
tố có thể điều khiển được, lựa chọn được Trong các yếu tố về máy thì công suấtđộng cơ là yếu tố đặc trưng nhất, nó chi phối các yếu tố khác, do vậy chúng tôi chỉcần chọn yếu tố về công suất của máy làm yếu tố ảnh hưởng Để lựa chọn công suấtcủa máy bằng bao nhiêu là hợp lý phải tiến hành tính toán
d) Nhóm yếu tố về kỹ thuật sử dụng máy.
Công nghệ sử dụng máy là nhóm yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chi phísản xuất, công nghệ sử dụng bao gồm các yếu tố sau:
- Kỹ thuật sử dụng máy: Người công nhân vận hành có kỹ năng tốt thì năng suất cao, công nhân vận hành máy không thành thạo thì năng suất thấp
- Kỹ thuật bảo dưỡng, sửa chữa máy cũng ảnh hưởng lớn đến chi phí sản xuất, nếumáy được bảo dưỡng đúng kỹ thuật thì tăng tuổi thọ của máy, từ đó dẫn đến hiệuquả kinh tế cao
Tóm lại: Nhóm yếu tố thuộc về công nghệ sử dụng cũng ảnh hưởng đến năng
suất và chi phí sản xuất, nhóm yếu tố này có thể điều khiển theo ý muốn của người sử