1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu thực trạng, đề xuất biện pháp bảo tồn và phát triển cây xanh đường phố quận hoàn kiếm thành phố hà nội​

194 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 11,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (16)
    • 1.1. Nghiên cứu bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đô thị trên thế giới (16)
      • 1.1.1. Thời kỳ trung đại (16)
      • 1.1.2. Thời kỳ cận đại (17)
      • 1.1.3. Thời kỳ hiện đại (18)
    • 1.2. Nghiên cứu bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đô thị ở Việt Nam (20)
      • 1.2.1. Thời kỳ phong kiến (20)
      • 1.2.2. Thời kỳ Pháp thuộc (1858-1945) (21)
      • 1.2.3. Thời kỳ từ năm 1945 đến nay (23)
    • 1.3. Bảo tồn và phát triển cây xanh đô thị trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội (25)
  • Chương 2 MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (27)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (27)
      • 2.1.1. Mục tiêu tổng quát (27)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (27)
    • 2.2. Đối tƣợng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu (27)
      • 2.2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (0)
      • 2.2.2. Phạm vi nghiên cứu (27)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (27)
      • 2.3.1. Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố khu vực quận Hoàn Kiếm 14 2.3.2. Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đường phố trên địa bàn nghiên cứu (27)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (28)
      • 2.4.1. Phương pháp ngoại nghiệp (28)
      • 2.4.2. Công tác nội nghiệp (29)
  • Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU (30)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (30)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (30)
      • 3.1.2. Địa hình (30)
      • 3.1.3. Khí hậu (31)
      • 3.1.4. Thổ nhƣỡng (0)
      • 3.1.5. Độ ẩm không khí (33)
      • 3.1.6. Thủy văn (33)
    • 3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (34)
      • 3.2.1. Diện tích và dân số (34)
      • 3.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (34)
      • 3.2.3. Lịch sử hình thành và phát triển (35)
      • 3.2.4. Cảnh quan thiên nhiên (36)
  • Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (37)
    • 4.1. Hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố khu vực quận Hoàn Kiếm (37)
      • 4.1.1. Hiện trạng thành phần loài cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm (37)
      • 4.1.2. Hiện trạng cây xanh đường phố trên các khu vực của quận Hoàn Kiếm (42)
      • 4.2.1. Các căn cứ làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển cây xanh đường phố trên địa bàn quận Hoàn Kiếm (123)
      • 4.2.2. Giải pháp bảo tồn các cá thể cây cổ thụ và cây quý hiếm (126)
      • 4.2.3. Đề xuất giải pháp phát triển cây xanh đường phố địa bàn quận Hoàn Kiếm (128)

Nội dung

Nghiên cứu bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đô thị trên thế giới Qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài người ,quá trình đô thị hóa ở cácnước ngày càng tăng, số liệu tổng hợp

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đô thị trên thế giới

Qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài người ,quá trình đô thị hóa ở các nước ngày càng tăng, số liệu tổng hợp của Liên Hiệp Quốc (1991) chỉ ra rằng vào giữa năm 1990, khoảng 45% dân số thế giới sống ở các thị trấn và thành phố, con số này sẽ tăng lên 51% trong năm 2000 và 65% trong năm 2025 Quá trình phát triển đô thị quá nhanh sẽ làm mất cân bằng hệ sinh thái và tác động tiêu cực tới sự phát triển bền vững của đô thị Trên thế giới đã đƣa ra nhiều quan niệm khác nhau về tạo lập môi trường sinh thái, tuy nhiên ở bất cứ quan điểm nào thì cây xanh đô thị cũng là một thành phần rất quan trọng để tạo nên một môi trường sống tốt và sự tham gia của cộng đồng là yếu tố then chốt, là phương thức hiệu quả để quản lý và phát triển cây xanh đô thị Qua đó các nghiên cứu về bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đô thị trên thế giới đã trải qua nhiều thời kỳ.

Các công trình kiến trúc, công trình tôn giáo trong xã hội phong kiến đã đƣợc kết hợp trồng cây xanh Đến thế kỷ IX, hệ thống đô thị với 3 loại hình: đô thị tôn giáo, đô thị quân sự và đô thị thương mại Trong đó, không gian xanh đa dạng hơn, nổi bật là xuất hiện không gian xanh công cộng, quảng trường, cung điện [21].

Công tác trồng cây xanh dọc theo các tuyến đường bắt đầu có từ khoảng thế kỉ X trước Công nguyên Với mục đích vì quân sự, người ta đã cho trồng cây trên tuyến đường nối từ Kolkata của Ấn độ đến Afghanistan nằm ở chân dãy Himalaya. Cây trên đường được trồng thành 3 hàng, một hàng chính giữa trung tâm đường và hai hàng cây hai bên đường Vào thời kỳ đó đường còn có một tên gọi khác là

“Grand trunk road” - Đường cây lớn [27].

Sau đó đến khoảng giữa thế kỉ VIII trước Công nguyên vùng Lưỡng hà(Mesopotania), khi xây dựng cung điện người ta đã trồng các hàng cây Tùng, CâyBách Italia (Italian crypress) thành hàng đối xứng dọc theo các tuyến đường trong khu vực cung điện Đây cũng được xem là mốc lịch sử trồng cây xanh đường phố của các quốc gia vùng châu Âu [27].

Từ thế kỉ VII trước Công nguyên đến thế kỉ IV Công nguyên (thời kỳ Hi Lạp cổ đại), người ta thấy hai bên các đường dạo phía trước các sân vận động (Stadium) và quảng trường (Forum) trước các đền thờ đều có trồng cây Ngô đồng Pháp Còn ở những tuyến đường chính trong các khu thành cổ La mã thì lại chủ yếu trồng Bách Italia Tiếp đến thời kỳ từ thế kỉ V cho đến thế kỉ XIV, nhiều quốc gia châu Âu cũng đã trồng Bách Italia trên các tuyến đường hành lễ [27].

Sau thời kỳ văn hóa phục hƣng tại một số quốc gia vùng châu Âu, công tác trồng cây đường phố phát triển khá nhanh Năm 1552, ở nước Pháp, Henri 2 đã từng công bố pháp lệnh trồng cây, phát động nhân dân trong cả nước trồng cây trên các tuyến đường chính trong các khu ở và trồng cây trên các tuyến đường quốc lộ. Cũng trong thời kỳ này, Đế chế Áo – Hung (Austro-Hungarian empire) cũng đƣa ra kế hoạch trồng cây Ngô đồng Pháp dọc theo các tuyến đường chính trong cả nước với mục đích là bổ sung nguồn gỗ cung cấp cho các hoạt động quân sự [27].

Chủ nghĩa tƣ bản xuất hiện vào thế kỷ 17 đã tạo điều kiện để đô thị phát triển với qui mô lớn Các nghiên cứu về đô thị học ra đời làm lý luận về cây xanh đô thị càng đƣợc chú trọng hơn Năm 1647, ở Đức sau khi xây dựng tuyến đại lộ tại thành phố Beclin, người ta đã trồng 4-6 hàng cây bóng mát lớn hai bên đường Tuyến đường này sau đã được các nhà quy hoạch đô thị Pháp nghiên cứu và áp dụng trong việc xây dựng loại hình đường Boulvars tại thành phố Pari sau này [22]. Ở Anh vào năm 1652, công viên St.Jame‟s Park tại vùng Moore Phils, thủ đô Luân Đôn đã được thiết kế các đường dạo bóng mát công cộng có độ dài khoảng 1 km, hai bên đường trồng 4-6 hàng cây Ngô đồng Pháp tạo bóng mát với mục đích phục vụ Nữ Hoàng đi dạo trên xe ngựa Sau đó mô hình dạng đường bóng mát này được sử dụng rộng rãi để tạo nên các đường cây bóng mát trong các đô thị ở nướcAnh [22].

Nước Anh cũng là một trong những quốc gia có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu về cây xanh đô thị Jame Lyte (1578) trong cuốn Dodens đã sử dụng thuật ngữ “Nhà trồng cây” (Chadwich, 1970) Năm 1618, William Lawson đã viết khá chi tiết về việc chăm sóc cây trồng đô thị trong cuốn “Vườn và vườn giống mới” John Evelyn, năm 1662 đã đề cập đến tất cả các lĩnh vực cây trồng (CAT, cây lâm nghiệp) trong một cuốn sách có tên Sylva (Eve, 1970) Trong cuốn sách này ông chú trọng đến việc nghiên cứu cây trồng đường phố, cây cảnh.

Năm 1825, ở Pháp Chính phủ đã công bố pháp lệnh về việc bắt buộc phải trồng cây xanh bóng mát trên các tuyến đường phố Pháp lệnh này chính là cơ sở để xây dựng những quy phạm kỹ thuật về tuyển chọn cây trồng, kiểm nghiệm chất lƣợng cây giống đưa trồng, cắt tỉa và duy trì cây xanh trên các tuyến đường đô thị [23].

Năm 1858, kiến trúc sƣ Georges E.H Smann chủ trì thiết kế xây dựng tuyến đường bóng mát Champs Elysees ở thành phố Senna Tuyến đường này đã trở thành mẫu đường bóng mát điển hình thời kỳ cận đại và có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển mô hình đường bóng mát ở các thành phố của Mỹ và các quốc gia khu vực châu Âu Năm 1872, kiến trúc sư người Pháp Pierre Charles L.Enfant thiết kế các tuyến đường bóng mát tại thành phố Washington cũng đa số là áp dụng các mô hình đường bóng mát của Pháp Đặc biệt để chọn loài cây trồng cho các tuyến đường thiết kế ở Mỹ, nhà thiết kế đã tiến hành thử nghiệm 30 loài cây và chọn ra được 12 loài cây thích hợp nhất dùng cho trồng đường phố [23].

Cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật ra đời và phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ 19 đã thúc đẩy sản xuất phát triển, dân cƣ đô thị ngày càng đông đúc hơn. Các nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí cho dân cƣ đô thị do cuộc sống Công nghiệp hóa ngày càng cao đặt cho các nhà quản lý đô thị phải tính đến việc xây dựng nhiều mảng xanh hơn nữa Việc thiết kế không chỉ ở nội đô, mà phải mở rộng ra bên ngoài, nơi đất đai còn khá dồi dào.

Trong quá trình phát triển, mặc dù châu Âu đã có một lịch sử lâu dài và phong phú của các thiết kế mảng xanh, cách thức quản lý cây xanh [22], nhƣng lâm nghiệp đô thị chính thức được nghiên cứu như một lĩnh vực khoa học đầu tiên tại Vương quốc Anh trong thập niên 1980 Jorgensen giới thiệu các khái niệm về lâm nghiệp đô thị tại Đại học Toronto, Canada, vào năm 1965 [24] “Lâm nghiệp đô thị không chỉ liên quan đến cây xanh thành phố hay quản lý cây cá thể, mà còn quản lý cây xanh trong toàn bộ khu vực chịu ảnh hưởng và sử dụng bởi cư dân đô thị” Năm 1978, Hiến chương lâm nghiệp phối hợp (The Coopperative Forestry Act) đã định nghĩa lâm nghiệp đô thị

“Lâm nghiệp đô thị nghĩa là trồng và tạo lập, bảo vệ và quản trị cây xanh và các thực vật kết hợp dưới dạng cá thể, nhóm nhỏ hay dưới hoàn cảnh rừng trong các thành phố, ngoại ô của thành phố và nông thôn ngoại thành”. Ở Mỹ, theo Nowak (1994) đƣa ra rằng diện tích phủ xanh ở Mỹ trải từ 55% ở Baton Rouge, Louisiana tới 1% ở Lancaster, California, tỷ lệ phủ xanh lớn nhất là ở những vùng đất trống, công viên và khu dân cư Cây xanh đường phố chiếm 1/10 số cây trong đô thị Riêng thành phố Chicago nơi có cây xanh bóng mát phát triển mạnh nhất trên các tuyến đường phố Toàn thành phố có khoảng 3,1 triệu cây xanh, trong đó 10% là cây xanh đường phố chiếm 24% tổng diện tích phủ xanh của thành phố [26]. Ở Liên Xô cũ (trước khi giải thể năm 1991), công tác phát triển cây đường phố cũng đạt đƣợc nhiều thành tựu cả về lý luận lẫn thực tiễn, đặc biệt vào những năm sau cách mạng tháng 10 Nga thành công [25] Trong hệ thống cây đường phố, nhấn mạnh việc kết hợp giữa những đường bóng mát, các dải rừng phòng hộ để tạo thành những hành lang xanh trong đô thị Số lượng đường bóng mát tại thành phố Matxcova đã tăng lên đáng kể, từ 40 tuyến đường vào năm 1957 lên 100 tuyến đường vào năm 1973 [22] Những tuyến đường này đã góp phần đáng kể bảo hộ và cải thiện môi trường của thành phố.

Trong các công trình nghiên cứu của L.B.Lunx A.C Xalatyn, L.X Dalexcaia và nhiều nhà nghiên cứu khác đã tìm tòi những tỷ trọng cây xanh đường phố thích hợp, đề ra những nguyên tắc cơ bản và các vấn đề thiết kế cây xanh đường phố Kết quả của các công trình nghiên cứu đã đƣợc vận dụng trong thực tiễn xây dựng ởLiên Xô, Đức, Mỹ, Anh, Pháp.

7 Ở khu vực châu Á, nước có lịch sử trồng cây đường phố sớm nhất là Trung Quốc Theo kết quả nghiên cứu của Wang Hao, thì lịch sử trồng cây trên các tuyến đường giao thông ở Trung Quốc đã thực hiện trước đây khoảng 3500 năm Sau đó đến Nhật Bản, cây xanh đường phố phát triển từ những năm đầu của thế kỉ 17 [29]. Điển hình nhƣ thành phố Sendai bắt đầu đƣợc biết tới là một thành phố của cây xanh từ trước Thế chiến thứ hai Các lãnh chúa của Sendai đã khuyến khích dân trồng cây xanh trong sân nhà và ngoài đường phố Kết quả mọi ngôi nhà, ngôi đền và điện thờ, trên đường phố ở trung tâm thành phố đều có những khu rừng gia đình đƣợc sử dụng với mục đích nguồn cung cấp gỗ và nguyên liệu hàng ngày Sau Thế chiến thứ hai, thành phố Sendai đã bị oanh tạc và mọi thứ hầu hết bị phá huỷ nhƣng Sendai vẫn đƣợc biết đến nhƣ "Thành phố của cây xanh" vì tất cả mọi cố gắng to lớn nhằm phục hồi lại cây xanh [29].

Nghiên cứu bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đô thị ở Việt Nam

Công tác trồng cây xanh ở các đô thị đã được tiến hành từ hàng trăm năm trước.

Từ xa xƣa, cha ông ta khi xây dựng các công trình kiến trúc cũng đã chú ý đến việc trồng cây xanh Những tài liệu lưu lại không còn nhưng những thành quả của việc trồng cây xanh còn lại đến ngày nay thể hiện ở các đình, đền, chùa hoặc các công trình lăng tẩm và đây cũng thể hiện truyền thống và bản sắc dân tộc riêng của Việt Nam Đặc biệt tại thành phố Huế, vào thời kỳ Triều Nguyễn cây xanh đã đƣợc chú trọng trồng trên các con đường, trong mỗi vườn nhà tạo nên nét đặc trưng riêng.

Vào những năm 1925-1935, Hà Nội được người Pháp xây dựng thành một trong 3 thành phố đẹp nhất châu Á thời đó (Hà Nội, Tokyo và Thƣợng Hải) Các kiến trúc sư từ nước Pháp với nhiều ý tưởng canh tân và chọn Hà Nội là mảnh đất thực nghiệm “Thành phố – Vườn cây” của mình Khu vườn Bách Thảo đã được quy hoạch xây dựng vào năm 1896.

Từ năm 1884, Hà Nội đã có những bản thiết kế đường phố đầu tiên do các

Kỹ sư công chính lập ra thay đổi diện mạo của kinh thành hoang phế phương Đông sau những biến cố lịch sử … chỉ còn lại làng quê với nhiều ngôi nhà mái tranh và đường đất.

Cây đầu tiên đƣợc trồng theo chỉ dẫn tại Hà Nội là cây Phƣợng vĩ trên phố Tràng Tiền – Hàng Khay, đồng thời với việc làm vỉa hè và xây nhà gạch theo quy hoạch, loại cây này có nhiều muỗi và ve sầu kêu đinh tai vào mùa hè đã sớm bị thay thế. Để tìm kiếm các loại cây, hoa trồng trong đô thị thích hợp hơn, năm 1888, người Pháp lập “Jardin d‟essal” (Vườn thí nghiệm thực vật) rộng 33ha, ta thường gọi là vườn Bách Thảo.

Vườn chia thành hai khu: khu cao (bên đường Hoàng Hoa Thám) là vườn cây, nuôi thú là nơi đi dạo, giải trí… Khu thấp (bên đường Thụy Khuê) làm vườn ƣơm – có tên là Laforge, ƣơm các giống cây bản địa, giống nhập từ Châu Phi, Châu

Năm 1902, Thành phố treo biển tên phố, đánh số nhà Năm 1903, Thành phố quy định cây xanh chỉ trồng trên các phố có vỉa hè rộng hơn 3 mét trở lên và phải tuân theo tiêu chí: có bóng mát, bảo đảm mỹ quan, không có nhựa và khí độc hại, không đổ trước các trận bão vừa phải… Phạt tiền người nào phá hoại cây trên phố và

9 phải trồng lại đúng giống cây đó Ở các phố lớn, Chính quyền cho lát vỉa hè và trồng cây lấy bóng mát Ban đầu, cây Xà cừ được trồng thử ở vườn Bách Thảo và chỗ đất trống xung quanh Cây Xà cừ lớn nhanh cho bóng mát rộng… Tuy nhiên, các nhà thực vật phát hiện ra giống cây này có nhƣợc điểm là không chịu đƣợc ở khu vực đất trũng, rễ cây ăn ngang gây nguy hiểm cho các nhà mặt phố, đồng thời rễ nông, dễ đổ khi mƣa bão lớn Lá Xà cừ rụng rải rác trong các mùa làm cho công nhân vệ sinh phải quét lá quanh năm Trong khi các giống bản địa: Sấu, Sao đen, Cơm nguội, Sƣa đỏ… lại có ƣu điểm là rễ cọc, tán gọn, thân thẳng, chống chọi đƣợc với gió.

Các nhà thực vật vẫn cho trồng Xà cừ với số lƣợng hạn chế ở những nơi xa các công trình, nhà cửa để lấy bóng mát Thành phố cho trồng mỗi phố một loài để tạo kiến trúc phong cảnh Ở các phố phía nam hồ Gươm và các phố lớn quận Ba Đình, hay các phố Hai Bà Trƣng, Trần Hƣng Đạo, Lê Thánh Tông, đầu phố Bà Triệu, cuối phố Đinh Tiên Hoàng… chỉ trồng Sấu, Lý Thường Kiệt trồng Cơm nguội, nửa trên phố Lò Đúc trồng cây Sao đen Các vườn hoa Lý Thái Tổ trồng Sưa, vườn hoa Lênin, vườn Cửa Nam trồng Cọ Châu Phi, Muồng; các công thự trồng Hoàng lan, Cọ Cây Sấu tuy phát triển chậm nhƣng có nhiều ƣu điểm: lá đẹp, lại chỉ rụng vào một mùa Rất lãng mạn khi hoa rụng trắng vỉa hè tỏa mùi thơm dịu. Quả sấu còn được dùng làm thức ăn, nước giải khát.

Hình 1.1 Hàng cây trên phố Lý Thường Kiệt 1983

(Triển lãm “ Nơi mảnh đất hóa tâm hồn “ của John Ramsden- HN 2014)

Giống cây Sao đen có rễ cọc và nhìn hàng sao thẳng tắp nom khỏe khoắn và uy nghi vô cùng Cây Cơm nguội chân chất, Cọ Châu Phi vươn cao lên trời, khát khao tự do, còn Hoàng lan sang trọng và gần gũi Còn cây hoa Sữa đƣợc trồng để át mùi hôi do thu thùng nhà vệ sinh vào giờ ăn cơm tối (ngày trước chưa có xí máy trên nhiều phố) được thơ ca làm nên mùi hương lãng mạn Nhưng nếu ngửi thường xuyên thì là cực hình và thu hút nhiều muỗi, sâu bọ Có ý kiến cho rằng: các nhà khoa học đã nghiên cứu trồng cây Sấu xen kẽ để trung hòa mùi Hoa sữa) (theo Trần Huy Ánh - Một thời “thành phố trong vườn cây” của Hà Nội - VietNamNet ngày 21/03/2015).

1.2.3 Thời kỳ từ năm 1945 đến nay

Việc nghiên cứu về lâm nghiệp đô thị một cách khoa học đƣợc thực hiện tập trung khoảng một vài chục năm gần đây Từ sau ngày miền Bắc đƣợc giải phóng, nhiều tuyến đường phố mới được xây dựng với hệ thống cây xanh ổn định, tạo cảnh quan đô thị Công tác trồng cây xanh ở các đô thị đã đƣợc Trung ƣơng Đảng, Chính phủ và đặc biệt Hồ Chủ Tịch hết sức quan tâm Đảng và Chính phủ đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị vạch ra phương hướng và nhiệm vụ cho công tác trồng cây, gây rừng thực hiện việc trồng cây trong cả nước Trong hoàn cảnh đất nước trải qua cuộc chiến tranh phá hoại tàn khốc của giặc Mỹ, công tác cải tạo và xây dựng đô thị bị đình đốn, công tác cây xanh không phát triển Nơi nào nhận thức đƣợc lợi ích của cây xanh đô thị và quan tâm chỉ đạo thì phong trào trồng cây đường phố, bảo vệ cây và các công viên, vườn hoa làm tốt, điển hình là Hà Nội, Hải Phòng Nhiều nơi công tác cây xanh không đƣợc chú ý, không có tổ chức chuyên trách, thiếu kế hoạch ƣơm và trồng cây Nhiều nơi đã trồng cây một cách tuỳ tiện và cây trồng không đúng tiêu chuẩn quy phạm xây dựng đô thị đã làm hƣ hỏng nhà cửa và các hệ thống công trình ngầm, hạn chế ánh sáng và gió mát Nhƣng từ những nỗ lực ban đầu đó, kết quả đã trồng đƣợc nhiều cây bóng mát, cây phong cảnh cho đường phố, khu nhà ở, những nơi sinh hoạt văn hoá công cộng Trồng đƣợc những đai cây xanh ở ngoại ô có tác dụng phòng hộ cho thành phố, diện tích cây xanh đô thị đƣợc tăng lên so với thời gian trước khi miền Bắc giải phóng [2].

Tính đến năm 1954, Hà Nội có 1.512 cây Sấu, chiếm tới 60% trong tổng số cây xanh ở bốn quận nội thành: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trƣng và Đống Đa.

Song có một điều khó hiểu là cây Xà cừ có nhiều nhƣợc điểm lại đƣợc trồng khá phổ biến sau 1954.

Trận bão lớn năm 1967 và năm 1969 cho thấy các cây bị đổ trong hai trận bão này chủ yếu vẫn là Xà cừ, Phƣợng Cuối thời bao cấp, lấy lý do giống Cơm nguội hay bị sâu bên trong thân gây nguy hiểm nên họ đã chặt gần hết để thay vào đó là Phƣợng Cây này hay trong các kỷ niệm ngày hè thuở học trò nhƣng rất giòn và hay gãy khi mùa mưa bão, cành giòn dễ gãy gây nguy hiểm cho người và xe cộ.

Cây xanh đường phố đã từng làm nên nét đẹp Hà Nội, nhưng để có duy trì tiếng thơm ấy, Hà Nội còn nhiều việc dang dở để viết tiếp câu chuyện „„Thành phố cây xanh‟‟.

Sau ngày giải phóng Sài Gòn năm 1975, trong thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 8.000 cây xanh đường phố, tập trung chủ yếu ở các quận trung tâm như quận 1, 3 và 5 Bên cạnh công tác chăm sóc, cải tạo, thay thế cây già cỗi, sâu bệnh, công tác trồng mới cây xanh đƣợc thực hiện theo kế hoạch hàng năm Trong thập niên đầu sau năm 1975, cây đƣợc trồng phủ xanh với số lƣợng lớn (trên các tuyến đường đô thị, đất dự kiến làm công viên nhưng chưa có quy hoạch cụ thể, nghĩa trang đƣợc công viên hóa v.v ) nhƣng tỷ lệ cây sống và phát triển tốt rất thấp do cây đưa ra trồng có kích thước tương đối nhỏ nên sức sống kém và dễ bị bẻ phá. Chỉ có các dải cây xanh trồng trên đường phố ở khu vực nội thành trên một số tuyến ở Quận 1, 3 và một số các trục đường lớn ở các Quận khác có từ trước năm

1975 phát triển tốt tạo bóng mát cho người đi bộ [17].

Từ những năm 1990, kế hoạch trồng mới cây xanh hàng năm có giảm về chỉ tiêu số lượng nhưng tăng về chất lượng; quy cách cây đưa ra trồng trên đường phố lớn hơn nhằm tạo thuận lợi cho cây sinh trưởng, phát triển và hạn chế sự xâm hại cây xanh một cách vô ý thức, đồng thời, cây nhanh chóng phát huy tác dụng cải thiện môi trường và tạo cảnh quan đẹp cho các tuyến đường ngay sau khi được trồng mới Tuy nhiên, theo thống kê mới nhất của Phòng Quản lý công viên cây xanh - Sở Giao thông vận tải đến nay toàn bộ diện tích công viên, vườn hoa và cây xanh dải phân cách trên địa bàn thành phố chỉ còn khoảng 535 héc ta, giảm gần 50% so với năm 1998 [17]. Ở Huế, cây xanh đƣợc trồng nhiều tại các địa điểm công cộng nhƣ công viên, đường phố, vườn đồi, ven sông, góp phần quan trọng để tạo nên một nét Huế riêng Theo danh mục các loài thực vật quý hiếm ở Thừa Thiên Huế có tên trong sách đỏ Việt Nam 1996 và Nghị định số 48/2002/NĐ-CP (trên Cổng Thông tin điện tử Thừa Thiên Huế) có 43 loài trong đó một số loài đang đƣợc trồng làm cây bóng mát nhƣ Chò chỉ, Kim Giao, Pơ mu, Sao lá to, Sến mủ…

Nhiều công trình nghiên cứu và bài viết liên quan đến quy hoạch xây dựng đô thị, phát triển cây xanh và quản lý trong môi trường đô thị, kiến trúc cảnh quan đô thị, chủng loại cây xanh đô thị…đã đƣợc các tác giả nhƣ Hàn Tất Ngạn, Phạm Kim Giao, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Trần Hợp, Nguyễn Thế Bá, Chế Đình Lý…công bố.

Bảo tồn và phát triển cây xanh đô thị trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

Thực hiện mục tiêu xây dựng thành phố Hà Nội xanh, sạch, đẹp, văn minh,hiện đại, một trong những nhiệm vụ quan trọng là xác định quy hoạch và phát triển đồng bộ hệ thống cây xanh đô thị với các hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác của Thành phố Các loài cây xanh, cây bóng mát trong nhiều năm qua đã phát huy tác dụng cải thiện môi trường và tô đẹp thêm cho đường phố Tuy vậy, hệ thống cây xanh bóng mát hiện nay còn một số vấn đề tồn tại cần phải đƣợc điều tra đánh giá một cách

13 khoa học và thực tiễn Những loài cây có giá trị, phát huy tác dụng tốt cần đƣợc bảo tồn, phát triển Những loài có tác dụng xấu đến môi trường cần phải loại bỏ, thay thế bằng những loài cây mới.

Trong 12 quận nội thành, quận Hoàn Kiếm đã có hệ thống cây bóng mát với số lượng lớn và phát triển tương đối ổn định đặc biệt trên các tuyến phố cổ, phố cũ. Tuy nhiên trong quá trình phát triển, chất lƣợng của hệ thống cây xanh đang giảm dần do chịu tác động từ các yếu tố tự nhiên và con người Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của xã hội, do ý thức của người dân nhiều cây cổ thụ trước cửa nhà do cản trở đến kinh doanh, buôn bán đã bị xâm hại làm cây bị chết. Ngoài ra, trên nhiều tuyến đường phố người dân tự phát trồng nhiều loài cây không thuộc chủng loại cây đô thị cũng nhƣ không theo quy hoạch Nhiều cây trong quá trình phát triển chịu các tác động khách quan hoặc chủ quan làm thân cong, nghiêng, chết ngọn, sâu mục ở thân, gốc làm cây bị đổ gẫy trong mùa mƣa bão, một số cây già cỗi không phát huy hiệu quả về cảnh quan đô thị, tác dụng về môi trường, tiềm tàng mối nguy hiểm khi bị đổ, gẫy. Để có đƣợc hệ thống cây xanh đạt chuẩn, đáp ứng đƣợc các yêu cầu cho sự phát triển bền vững riêng của quận Hoàn Kiếm và Thủ đô Hà Nội cần có các giải pháp bảo tồn và phát triển đồng bộ gắn với quy hoạch để phát huy đƣợc hiệu quả của hệ thống cây xanh đô thị trước mắt và lâu dài Đây là nhiệm vụ quan trọng cần được quan tâm của toàn xã hội gồm Nhà nước, các cơ quan, đoàn thể, tổ chức và người dân.

MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Góp phần đề xuất giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển bền vững hệ thống cây xanh đường phố trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

- Đánh giá được hiện trạng cây xanh trên toàn bộ các tuyến đường phố của quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

- Đề xuất đƣợc biện pháp bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh trên các tuyến đường chính, đảm bảo phù hợp với điều kiện môi trường, cảnh quan của khu vực nghiên cứu.

Đối tƣợng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu

Hệ thống cây trồng bóng mát và cây cổ thụ trên đường phố của quận Hoàn Kiếm.

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài thực hiện nghiên cứu hệ thống cây xanh của 152 tuyến phố, thuộc địa bàn 18 phường, trong đó khu phố cổ: 76 tuyến; khu phố cũ: 71 tuyến và khu vực phố ngoài đê: 5 tuyến.

Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố khu vực quận Hoàn Kiếm 2.3.1.1 Đánh giá hiện trạng cây xanh đường phố khu vực phố cổ

2.3.1.2 Đánh giá hiện trạng cây xanh đường phố khu vực phố cũ

2.3.1.3 Đánh giá hiện trạng cây xanh đường phố khu vực phố ngoài đê

2.3.2 Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đường phố trên địa bàn nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

- Các văn bản có liên quan

- Các tài liệu kết quả nghiên cứu hệ thống cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm

- Các số liệu thống kê hệ thống cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm.

- Các sơ đồ, bản đồ hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm

2.4.1.2 Phương pháp điều tra hiện trạng

- Điều tra, đo đếm và mô tả ghi chép các tuyến đường, hệ thống cây xanh đường phố, gồm khu phố cổ 76 tuyến, khu phố cũ 71 tuyến, khu phố mới ngoài đê 05 tuyến

- Đo đếm cụ thể và tổng hợp vào phiếu: Khảo sát hiện trạng cây xanh đường phố Nội dung đo đếm ghi chép gồm:

+ Loài cây: gồm tên thường gọi và tên địa phương

+ Đơn vị quản lý: Công ty, cơ quan, gia đình

+ Sở hữu: Nhà nước, tập thể, tư nhân

+ Số nhà: kèm theo tên, phố, đường.

+ Đường kính thân cây ở độ cao 1,3m

+ Chiều cao cây: Chiều cao vút ngọn

+ Chiều cao dưới cành: Chiều cao tới chỗ phân cành lớn nhất.

- Đánh giá chất lượng cho cây đường phố: tạo bóng mát, cảnh quan, chịu cắt tỉa, ít đổ gẫy, mức độ sinh trưởng, phát triển

- Hình thức phối trí và thiết kế cây trồng: điều tra khoảng cách cây, trồng trên dải đất hay theo hố trồng, trồng đan xen hay trồng lẫn, trồng theo hàng hay theo khóm…

- Nhận xét đánh giá mối quan hệ giữa cây xanh và các yếu tố xung quanh (con người, động vật, các cơ sở hạ tầng kĩ thuật như giao thông, điện nước, nhà cửa…) c Phương pháp phỏng vấn

Kết hợp trong quá trình tiến hành điều tra hệ thống cây xanh, tiến hành thực hiện phỏng vấn người dân và các nhà chuyên môn với những nội dung chính sau:

- Vai trò cây xanh trong cảnh quan đô thị.

- Ảnh hưởng của hoạt động sống con người tới sinh trưởng, phát triển cây xanh.

- Mong muốn, nguyện vọng người dân về vấn đề cây xanh đường phố

- Vai trò của người dân trong bảo vệ, duy trì cây xanh

- Phỏng vấn các nhà quản lý và chuyên môn về công tác quản lý cây xanh đô thị và định hướng lựa chọn loài cây trồng…

- Tìm đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm có thêm các thông tin và luận cứ để vận dụng trong quá trình phân tích đánh giá cũng như xây dựng các phương án đề xuất.

- Các số liệu điều tra đƣợc tổng hợp vào máy tính và đƣợc xử lý phân tích bằng phần mềm Excel.

- Phân tích đánh giá đánh giá hiện trạng cây xanh đô thị ở khu vực nghiên cứu: + Theo Phường và đường phố.

+ Theo các loài cây và cấp đường kính.

+ Tổng hợp đánh giá chất lƣợng cây gồm 3 cấp: Tốt (T), Trung bình (TB) và+ Tham khảo các tài liệu và đề xuất các nhóm giải pháp cho việc bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đô thị trên địa bàn quận Hoàn Kiếm.

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện tự nhiên

Quận Hoàn Kiếm nằm ở trung tâm của Thủ đô Hà Nội có tọa độ địa lý:

- Từ 21 0 01' đến 21 0 02' vĩ độ Bắc

- Từ 105 0 51' đến 105 0 52' kinh độ Đông

- Phía Tây giáp quận Đống Đa

- Phía Tây Bắc giáp quận Ba Đình và quận Đống Đa

- Phía Nam giáp quận Hai Bà Trƣng.

- Dọc từ phía Bắc xuống phía Nam là sông Hồng

- Phía Đông giáp sông Hồng, bên kia sông là Quận Long Biên

Quận Hoàn Kiếm có 18 phường: Chương Dương, Cửa Đông, Cửa Nam, Đồng Xuân, Hàng Bạc, Hàng Bài, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Buồm, Hàng Đào, Hàng Gai, Hàng Mã, Hàng Trống, Lý Thái Tổ, Phan Chu Trinh, Phúc Tân, Tràng

Tiền, Trần Hƣng Đạo Tổng diện tích quận Hoàn Kiếm 5,287km 2

Quận Hoàn Kiếm nằm trong khu vực có địa hình tương đối bằng phẳng, thoải dần từ Đông sang Tây và từ Bắc xuống Nam Cao độ cao nhất là 11,0m và thấp nhất là 6,5m Qua nhiều năm xây dựng, địa hình đã đƣợc bồi nền nhân tạo cao thờm 1á2 m so với địa hỡnh tự nhiờn ban đầu

Diện tích đất chƣa sử dụng trên địa bàn quận hầu nhƣ không đáng kể, chỉ khoảng 0,4 ha ở phường Chương Dương Thế nhưng đây là vùng đất nằm trong hành lang thoát lũ nên cũng rất khó có khả năng khai thác Điều này chứng tỏ tình hình sử dụng đất của quận rất tốt nhƣng đây cũng là khó khăn cho quận trong việc tiếp tục phát triển thêm các dự án kinh tế - xã hội khi có nhu cầu.

Quận Hoàn Kiếm có 21,26 % diện tích tự nhiên là mặt nước sông Hồng Diện tích này có giá trị lớn về cảnh quan, môi trường nhưng đến nay vẫn chưa được khai thác Nếu các biện pháp tổng thể của Chính phủ về chỉnh trị sông Hồng đƣợc triển khai, khi đó ý tưởng xây dựng thành phố ven sông được thực hiện, thì diện tích mặt nước sông Hồng mới thực sự được khai thác phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Hoàn Kiếm nói riêng và của cả thành phố nói chung.

Khí hậu Hà Nội khá tiêu biểu cho kiểu khí hậu Bắc Bộ với đặc điểm là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mƣa nhiều và mùa đông lạnh, mƣa ít.

Nằm trong vùng nhiệt đới, Hà Nội quanh nǎm tiếp nhận đƣợc lƣợng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao Lƣợng bức xạ tổng cộng trung bình hàng nǎm ở Hà Nội là 122,8 kcal/cm ² với 1641 giờ nắng và nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là 23,6ºC, cao nhất là tháng 6 (29,8ºC), thấp nhất là tháng 1 (17,2ºC) Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn Ðộ ẩm tương đối trung bình hàng nǎm là 79% Lƣợng mƣa trung bình hàng nǎm là 1.800mm và mỗi nǎm có khoảng 114 ngày mƣa.

Quận Hoàn Kiếm có điều kiện khí hậu chung của Thành phố Hà Nội, một năm chia thành 2 mùa rõ rệt Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình cao nhất là 38 0 C, mƣa tập trung nhiều từ tháng 7 đến tháng 9 Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3, nhiệt độ trung bình thấp nhất từ 8 0 C đến 10 0 C Độ ẩm trung bình trong năm: 84,5%.

Biểu đồ nhiệt độ không khí trung bình các tháng (ºC)

Biểu đồ lƣợng mƣa trung bình các tháng (mm)

Một nhà khoa học nước ngoài khi nghiên cứu về Đồng bằng Bắc Bộ đã phát biểu: "Vùng Đồng bằng Sông Hồng đã chết ở tuổi vị thành niên" Cha ông ta từ xa xƣa trong quá trình trị thủy Sông Hồng đã xây dựng nên hệ thống đê điều hoàn chỉnh Toàn bộ phù sa Sông Hồng bị che chắn bởi đê đã bị đẩy ra tận cửa sông Tất cả các loại đất trong đê hầu nhƣ không còn đƣợc tiếp tế từ nguồn phù sa tự nhiên.

Phù sa Sông Hồng từ xƣa đã bồi tụ lấp vào vùng trũng giữa núi đƣợc gọi là

"Vùng trũng Hà Nội" làm cho trầm tích ở đây có chiều dày khá lớn Đây là loại phù sa mới rất phì nhiêu đƣợc bồi tụ một cách tự do trong điều kiện ngày xƣa chƣa có đê nên phần đất nổi cao hơn nhiều so với mực nước biển. Đất quận Hoàn Kiếm nằm trong quy luật chung của Đồng bằng Sông Hồng,chủ yếu là loại đất trong đê hầu nhƣ đã mất hẳn nguồn bổ sung từ phù sa tự nhiên.Đất có hiện tƣợng rửa trôi theo chiều thẳng đứng từ trên xuống, nghèo một phần các chất kiềm và hơi chua, đến một chừng mực nhất định do bị ẩm nên có hiện tượng "Glây" làm cho tầng đất sét ở dưới có màu xám xanh.

Trải qua thời gian dài canh tác và bón phân của con người đất ở đây đã biến đổi mạnh, nhất là luôn nằm trong trạng thái bị ngập nước, mạch nước ngầm luôn ở mức cao. Đất trên các đường phố quận Hoàn Kiếm chủ yếu cũng là đất bồi tụ từ xa xƣa, cộng thêm những yếu tố tác động của các công trình xây dựng sẽ là những khó khăn trong quá trình trồng cây xanh bóng mát.

3.1.5 Độ ẩm không khí Độ ẩm tương đối trung bình năm là 79%, biên độ trung bình các năm không lớn, biến động từ 1 - 2%.

Tháng thấp nhất vào mùa khô lạnh tới 69%, tháng ẩm nhất vào mùa mƣa nóng có thể tới 85%.

Quận Hoàn Kiếm chạy dọc theo Sông Hồng Vì vậy mực nước lên xuống của các con sông ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động mọi mặt của quận Mực nước Sông Hồng thay đổi rất lớn theo mùa, mực nước trung bình hàng năm biến động từ 3,31m đến 4,43m.

Bảng 3.1: Mực nước trung bình Sông Hồng qua các năm Đơn vị: m

Một điều dễ nhận thấy là mực nước Sông Hồng ngày càng có xu hướng giảm thấp, mức độ giảm rất đều Kéo theo mức độ giảm mực nước Sông Hồng là sự thiếu nước sản xuất trong mùa khô và hè nước ngầm cũng giảm thấp Một vài năm gần đây phần lớn những nơi dùng nước giếng khoan đều cho biết phải nối dài ống nước bơm mới đủ nước dùng.

Mực nước Sông Hồng cũng thay đổi rất lớn theo mùa Mùa khô lạnh mực nước Sông Hồng trung bình xuống thấp làm cho tàu thuyền đi lại trên sông cũng gặp khó khăn Về mùa mưa, mức nước trung bình cao nhất trên Sông Hồng đạt7,63m (tháng 7/2006).

Điều kiện kinh tế - xã hội

3.2.1 Diện tích và dân số

- Mật độ dân số: 33.662người/km 2

3.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Quận Hoàn Kiếm tập trung nhiều đầu mối giao thông đường sắt, đường thuỷ, đường bộ Yếu tố này đã gắn kết Hoàn Kiếm với các quận, các tỉnh, thành khác tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy giao lưu phát triển kinh tế - văn hoá và du lịch Đó là một ƣu thế đặc biệt mà không phải quận nào cũng có thể có đƣợc.

Quận Hoàn Kiếm là nơi tập trung dân cƣ có nhiều ngành nghề thủ công truyền thống, là nơi sản xuất ra những mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao nhƣ: chạm, khắc, kim hoàn, may, thêu, ren, đồ da, song, mây tre đan, hoa lụa, hoa giấy Đây là nơi tập trung nhiều Bộ, Sở, Ban, ngành và các cơ quan quản lý Nhà nước (10 Bộ trong tổng số 17 Bộ của Trung ương đóng trên địa bàn toàn Thành phố Hà Nội) và cũng là nơi tập trung của nhiều đại sứ quán và nhà riêng đại sứ (17 đại sứ trong tổng số 60 nước có đại sứ quán tại Hà Nội), các văn phòng đại diện nước ngoài, nơi tập trung của các cơ quan chính trị - xã hội - tôn giáo, Hoàn Kiếm xứng đáng là trung tâm hành chính, chính trị của Thành phố.

Trên địa bàn quận Hoàn Kiếm có chợ Đồng Xuân là đầu mối giao lưu hàng hoá của cả khu vực phía Bắc Ngoài chợ Đồng Xuân, Hoàn Kiếm còn có các chợ lớn như: Hàng Da, Cửa Nam, Hàng Bè và những tuyến phố thương mại sầm uất nhƣ Hàng Gai, Hàng Bông, Hàng Ngang, Hàng Đào

Với chợ Đồng Xuân - một khu thương mại và dịch vụ lớn, là đầu mối giao lưu hàng hoá của cả khu vực phía Bắc cùng với một loạt chợ lớn như: Hàng Da,Cửa Nam, Hàng Bè và những tuyến phố thương mại sầm uất như Hàng Gai, HàngBông, Hàng Ngang, Hàng Đào , Hoàn Kiếm đã và đang trở thành trung tâm thương mại lớn của Thủ đô Hà Nội Chợ đêm Đồng Xuân cũng là một nhân tố phát triển kinh tế của quận đồng thời có thể thu hút khách du lịch, tạo điều kiện cho quận phát triển hơn nữa ngành du lịch của địa phương Chợ đêm Đồng Xuân - một hình thức dịch vụ thương mại mới - tuy đang trong giai đoạn hình thành nhưng nếu phát huy có hiệu quả thì không những khẳng định vị trí trung tâm thương mại của Hoàn Kiếm mà còn là một nhân tố thu hút khách du lịch.

Thời gian gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội là sự đầu tƣ mạnh mẽ trong xây dựng các công trình cao ốc, các toà văn phòng nổi tiếng nhƣ Hà Nội Tower Đó là lợi thế về vị trí địa lý mà không quận nào có thể có đƣợc Các cơ quan, đơn vị đều muốn có văn phòng đặt trên địa bàn Quận Chính vì vậy, Hoàn Kiếm phát triển rất mạnh dịch vụ cho thuê văn phòng và là Quận có nhiều tiềm năng nhất để phát triển loại hình dịch vụ cao cấp này Điều đó tạo cho Hoàn Kiếm một bộ mặt mới, văn minh bên cạnh những công trình kiến trúc cổ, đồng thời khẳng định vị thế trung tâm dịch vụ của Quận.

Với hệ thống các trung tâm tài chính, ngân hàng đầu não tập trung tại quận, Hoàn Kiếm có tiềm năng phát triển mạnh các giao dịch về kinh tế tài chính Trong

10 năm tới, trên cơ sở Nhà nước đổi mới chính sách tài chính ngân hàng và sự phát triển của các thành phần kinh tế, Hoàn Kiếm sẽ trở thành trung tâm tài chính lớn của

Hà Nội Đây chính là một loại hình dịch vụ cao cấp - một hình thức dịch vụ dựa trên trí thức và dựa trên sự tiến bộ, văn minh của nền kinh tế. Ở vị trí trung tâm Thành phố với vai trò trung tâm hành chính, chính trị, trung tâm thương mại, dịch vụ, quận Hoàn Kiếm có nhiều điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội.

3.2.3 Lịch sử hình thành và phát triển

Quận Hoàn Kiếm luôn là trung tâm của Hà Nội và của Việt Nam, đƣợc hình thành cách đây gần 1000 năm, có một bề dày lịch sử phát triển.

Khu phố cổ (36 phố phường) được hình thành từ đầu thế kỷ XIX thuộcTriều Nguyễn Cùng với việc xây dựng Hoàng Thành, Kinh Thành, nhiều đình, đền,chùa đƣợc xây dựng nhƣ: đình Kim Ngân, chùa Báo Ân, Báo Thiên, đền Vua Lê,Ngọc Sơn, Bà Triệu

Từ năm 1886, quận Hoàn Kiếm đƣợc phát triển về phía Nam hồ Hoàn Kiếm theo kiểu khu phố của người Châu Âu, với hệ thống bàn cờ được hoạch định trước. Đây là một giai đoạn phát triển mới, mang phong cách xây dựng đô thị Châu Âu với nhiều công trình kiến trúc có sắc thái riêng mang nhiều đường nét kiến trúc Pháp.

Từ năm 1955, đặc biệt là sau năm 1975, việc xây dựng phát triển của quận Hoàn Kiếm đẩy mạnh ra phía ngoài đê, các khu nhà ở tập thể của các cơ quan đƣợc hình thành.

Do sự hình thành các khu vực theo từng giai đoạn nhƣ vậy, quận Hoàn Kiếm đƣợc phân rất rõ ràng với đặc điểm của từng giai đoạn lịch sử:

- Khu phố cổ: gồm các phường Hàng Bạc, Hàng Bồ, Hàng Đào, Cửa Đông, Hàng Buồm, Hàng Mã, Hàng Gai, Đồng Xuân và một phần của hai phường Lý Thái

- Khu phố cũ: gồm các phường Cửa Nam, Trần Hưng Đạo, Phan Chu Trinh, Tràng Tiền, Lý Thái Tổ, Hàng Bông, Hàng Trống, Hàng Bài.

- Khu ngoài đê: gồm 2 phường Phúc Tân và Chương Dương.

Bề dày lịch sử hình thành và phát triển với sự tập trung của các khu phố cổ là một đặc thù riêng có của quận Hoàn Kiếm, tạo cho Quận một thế mạnh đặc biệt trong phát triển dịch vụ, thương mại và du lịch.

Quận Hoàn Kiếm nổi tiếng với Hồ Gươm "viên ngọc quý của Thủ đô" một danh thắng, di tích quan trọng mang nhiều dấu ấn lịch sử Không những thế, với130.000 m2 mặt nước và 32.250 m2 diện tích cây xanh ven hồ ở giữa trung tâmThủ đô, Hồ Gươm còn là một cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn và là hồ điều hoà của trung tâm Hà Nội Cùng với Hồ Gươm, không thể không kể đến những tài nguyên sinh tạo, với những vườn hoa lớn, đã tạo nên vẻ đẹp của Thủ đô và tăng thêm tính hấp dẫn của du lịch sinh thái - văn hoá.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố khu vực quận Hoàn Kiếm

4.1.1 Hiện trạng thành phần loài cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm

Tổng hợp kết quả điều tra cây xanh trên 152 tuyến phố trên địa bàn quận

Hoàn Kiếm đƣợc khoảng trên 7.000 cây, thuộc 44 loài và 21 họ thực vật Trong đó, một số loài cây gắn liền với lịch sử phát triển của thành phố Hà Nội nhƣ Hoa sữa,

Cơm nguội, Bàng, Xà cừ, Phƣợng vĩ, Lộc vừng, Nhội, Si, Sấu, Sƣa, Thàn mát…

(chi tiết tại phụ biểu 2).

2 Họ Bồ hòn Sapindaceae 1 loài

3 Họ Dâu tằm Moraceae 5 loài

9 Họ Ngọc Lan Magnoliaceae 2 loài

11 Họ Long não Lauraceae 1 loài

12 Họ Lộc vừng Lecythidaceae 1 loài

14 Họ Thầu dầu Euphorbiaceae 2 loài

16 Họ trinh nữ Mimosaceae 1 loài

17 Họ Tử vi Lythraeae 1 loài

18 Họ Trúc đào Apocynaceae 1 loài

Thành phần loài, tỉ lệ, tình hình sinh trưởng của một số loài cây chủ yếu trên đường phố quận Hoàn Kiếm được thể hiện trong bảng 4.1.

Bảng 4.1: Tổng hợp thành phần loài và tình hình sinh trưởng các loài cây chủ yếu trên đường phố quận Hoàn Kiếm

STT Loài cây Tên khoa học lƣợng H dc

STT Loài cây Tên khoa học lƣợng H dc

Tổng cộng 7.120 100 thuộc) Trong khu vực phố cổ, phố cũ còn tồn tại rất nhiều cây cổ thụ lâu niên với

27 tuổi đời hơn trăm năm Một số loài cây đƣợc trồng nhiều nhƣ Bằng lăng, Bàng, Lim xẹt, Phƣợng vĩ, Xà cừ, Sấu và có thể coi đây là cây xanh truyền thống của Hà Nội.

Sau năm 1954 đến nay, cơ bản các khu phố cũ vẫn giữ đƣợc nét đặc trƣng của hệ thống cây xanh trên đường phố từ thời Pháp Tuy nhiên trong quá trình xây dựng phát triển đô thị, các công trình xây dựng, giao thông đƣợc đầu tƣ mạnh mẽ, đi kèm theo là hệ thống hạ tầng kỹ thuật ngầm nổi và các yếu tố khách quan, chủ quan của xã hội thì hệ thống cây xanh trên các đường phố có chịu tác động không nhỏ và ngày càng giảm dần về số lƣợng cây.

Từ bảng 4.1 cho thấy số lượng loài cây trồng trên các đường phố lớn có tới

44 loài, trong đó 21 loài có số lƣợng lớn, 23 loài còn lại chỉ có 126 cây (1,77%). Những loài cây có số lƣợng lớn nhƣ Bằng lăng (1.178 cây), Xà cừ (1.106 cây), Sấu

(857 cây), Lim xẹt (724 cây), Phƣợng vĩ (601 cây), Bàng (563 cây), Chẹo (421 cây), Hoa sữa (350 cây) Các loài cây này đã chứng minh đƣợc sự thích nghi với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng hiện đang sinh trưởng, phát triển tốt Ngoài ra, còn có một số loài do người dân tự ý trồng để lấy bóng mát như Dâu da (244 cây), Trứng cá (77 cây), Dướng (47 cây), Vông (35 cây)…không thuộc danh mục cây trồng đô thị gây lộn xộn trong tổ chức cây xanh trên đường phố, ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị Phân theo đặc điểm cảnh quan, trong số 44 loài đƣợc khảo sát có tới tới 10 loài cây rụng lá, gồm: Bằng lăng, Phƣợng vĩ, Bàng, Dâu da, Sƣa đỏ, Trứng cá, Cơm nguội, Xoan, Dướng, Vông (chiếm 22,72%); 5 loài có hoa đẹp gồm: Bằng lăng, Lim xẹt, Phƣợng vĩ, Sƣa đỏ, Vông (chiếm 23,80%) Nhóm cây không thích hợp trồng đường phố 7 loài (11,36%).

4.1.2 Hiện trạng cây xanh đường phố trên các khu vực của quận Hoàn Kiếm 4.1.2.1 Đánh giá hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố khu vực phố cổ

Khu phố cổ có 76 tuyến phố thuộc địa bàn của 10 phường: phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Gai, Hàng Mã, ĐồngXuân, Cửa Đông, Lý Thái Tổ (theo quyết định số 70/BXD/KT-QH ngày 30 tháng 3 năm 1995 của Bộ Xây dựng) Mặc dù các phố cổ của Hà Nội còn nằm cả bên ngoài khu vực này, nhƣng do đây là khu vực tập trung phố cổ nhiều nhất và còn giữ đƣợc những đặc trƣng nên chỉ khu vực theo quy định trên đƣợc gìn giữ, bảo tồn là khu phố cổ.

Khu phố cổ đƣợc quy hoạch, thiết kế từ thời Pháp, chủ yếu là nhà ở kết hợp với cửa hàng bán nhiều mặt hàng truyền thống Mật độ xây dựng cao với các khu nhà dạng ống, đường giao thông nhỏ, hẹp, ngắn kiểu ô bàn cờ, vỉa hè hai bên có độ rộng khác nhau Hiện nay, hè của các tuyến phố cổ đã đƣợc Thành phố cho cải tạo lát đá.

- Các tuyến phố có mặt cắt ngang vỉa hè từ 1-2m gồm (17 tuyến): Chả Cá, Chợ Gạo, Đào Duy Từ, Đông Thái, Hà Trung, Hàng Cá, Hàng Cân, Hàng Chai,

Hàng Giầy, Hàng Quạt, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Quang Bích, Ngõ Trạm, Nhà Hỏa, Thanh Hà, Tô Tịch, Yên Thái.

- Các tuyến phố có mặt cắt ngang hè từ 2 - 2,5m (36 tuyến phố): Bát Đàn, Bát Sứ, Cầu Đông, Cầu Gỗ, Đinh Liệt, Đồng Xuân, Gầm Cầu, Gia Ngƣ, Hàng Bè,

Hàng Bồ, Hàng Buồm, Hàng Bút, Hàng Chĩnh, Hàng Da, Hàng Đào, Hàng Đậu, Hàng Điếu, Hàng Đồng, Hàng Đường, Hàng Giấy, Hàng Hòm, Hàng Khoai, Hàng Ngang, Hàng Nón, Hàng Phèn, Hàng Rươi, Hàng Thiếc, Hàng Tre, Hàng Vải, Lò Rèn, Lương Ngọc Quyến, Lương Văn Can, Ngõ Gạch, Nguyễn Thiện Thuật, Tạ Hiện, Thuốc Bắc.

- Các tuyến phố có mặt cắt ngang hè 3,0m (16 tuyến phố): Cao Thắng, Hàng Bạc, Hàng Bông, Hàng Chiếu, Hàng Gà, Hàng Gai, Hàng Lƣợc, Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Mành, Hàng Thùng, Lãn Ông, Mã Mây, Nguyễn Siêu, Nguyễn Thiếp, Ô Quan Chưởng.

- Các tuyến phố có mặt cắt ngang hè trên 3,0m - 4,5m (04 tuyến phố): Đường Thành, Hàng Cót, Hàng Muối, Phùng Hưng.

- Riêng phố Nguyễn Hữu Huân có mặt cắt ngang hè từ 5-6m, phố Cửa Đông có mặt cắt ngang hè rộng 7m.

Ngoài ra trên hè có các công trình giao thông, dân sinh nhƣ hệ thống dây điện,điện thoại, hệ thống cấp thoát nước, cáp thông tin, điện lực… Trong quá trình thi công,đào bới, các hệ rễ ngang của cây bị cắt bỏ làm giảm khả năng hút nước, hút

29 chất dinh dƣỡng cũng nhƣ khả năng bám đất của cây và đó là nguyên nhân làm cây dễ đổ trong mùa mưa bão Bên cạnh đó, người dân còn cơi nới mái đua, mái vẩy, ban công, đặt biển quảng cáo và sử dụng mặt bằng hè trước nhà cho mục đích kinh doanh làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hệ thống cây xanh hiện có và khó khăn trong việc trồng bổ sung thêm cây xanh. Để có đánh giá chung hiện trạng hệ thống cây xanh bóng mát đường phố khu phố cổ nêu trên, tác giả tập trung nghiên cứu, phân tích trên một số tuyến phố chính nhƣ sau:

Chiều dài tuyến phố là 510 m, mặt cắt ngang hè trung bình 5,5m Trên hè có

91 cây bóng mát thuộc 13 loài cây, trong đó những loài có số lƣợng lớn nhƣ: Chẹo

(24 cây, chiếm 26,37%); Xà cừ (18 cây, chiếm 19,78%); Lim xẹt (16 cây, chiếm 17,58%); Bằng lăng (10 cây, chiếm 10,99%) Trong đó, nhóm cây có kích thước lớn, gồm Xà cừ có D 1,3 = 73,17 cm, H vn = 17,53 m, D t = 6,62 m, Đa lông có D 1,3

= 55 cm, H vn = 11 m, D t = 6 m Tuyến phố này có vỉa hè rộng nên hiện trường nhiều cửa hàng kinh doanh lấn chiếm để xe máy và đồ dùng sát gốc làm ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của cây.

Bảng 4.2: Hiện trạng cây xanh trên phố Nguyễn Hữu Huân

STT Loài cây lƣợng H dc

Từ bảng 4.2 cho thấy, hệ thống cây xanh bóng mát sinh trưởng, phát triển tốt đa dạng về chủng loại, phù hợp với không gian đường phố, tạo được cảnh quan kiến trúc Tuy nhiên với chiều dài đường 510m có tới 13 loài cây trong đó 8 loài với số lượng cá thể ít (dưới 3 cây) Để tạo nên sự đồng nhất trên tuyến phố nên hướng tới phát triển một số loài cây trồng chính trong tương lai.

Chiều dài là 1.350 m, mặt cắt ngang hè trung bình 4,0m Trên hè có 251 cây bóng mát thuộc 14 loài cây trong đó những loài có số lƣợng lớn nhƣ: Sữa (56 cây,chiếm 22,31%); Bằng lăng (51 cây, chiếm 20,32%); Bàng (47 cây, chiếm 18,73%).

Trong đó những cây có kích thước lớn, gồm: Xà cừ có D 1,3 = 67,28 cm, H vn 12,68 m, D t = 7,07 m, Đa lông có D 1,3 = 64,29 cm, H vn = 8,86 m, D t = 6,33 m, Si có D 1,3 = 53,75 cm, H vn = 8,38 m, D t = 5,33 m, Bàng có D 1,3 = 51,91 cm, H vn 9,60 m, D t = 5,71 m Đây là tuyến phố có chiều dài lớn nhất trong khu vực phố cổ với một đoạn hè dài khoảng 800m nằm sát đường tàu, không có nhà dân.

Bảng 4.3: Hiện trạng cây xanh trên phố Phùng Hƣng

STT Loài cây lƣợng H dc

Ngày đăng: 22/06/2021, 14:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Đoàn Thu Trang (2003), Tổ chức kiến trúc cảnh quan trong các khu ở của Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng môi trường sống đô thị, Luận án tiến sĩ kiến trúc, trường Đại học Xây Dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức kiến trúc cảnh quan trong các khu ở của Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng môi trường sống đô thị
Tác giả: Đoàn Thu Trang
Năm: 2003
14. Lê Phương Thảo – Phạm Kim Giao (1980), Cây trồng đô thị tập 1, Nxb. Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây trồng đô thị tập 1
Tác giả: Lê Phương Thảo – Phạm Kim Giao
Nhà XB: Nxb. Xây dựng
Năm: 1980
15. Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp nghiên cứu Thực vật, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu Thực vật
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia
Năm: 2007
16. Tổng cục Môi trường (2010), Chương trình quan trắc tổng thể môi trường vùng kinh tế trọng điểm phía bắc giai đoạn 2010 – 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình quan trắc tổng thể môi trường vùngkinh tế trọng điểm phía bắc giai đoạn 2010 – 2015
Tác giả: Tổng cục Môi trường
Năm: 2010
17. Nguyễn Ngọc Tiệp (2012), Nghiên cứu chọn loài cây trồng và giải pháp phát triển cây đường phố cho thành phố Thanh Hóa, Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp, trường Đại học Lâm Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chọn loài cây trồng và giải pháp phát triển cây đường phố cho thành phố Thanh Hóa
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tiệp
Năm: 2012
18. UBND Thành phố Hà Nội (2000), Quyết định số 68/2000/QĐ-UB ngày 5/8/2000 về Phê duyệt quy hoạch tổng thể quận Hai Bà Trưng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 68/2000/QĐ-UB ngày 5/8/2000 về Phê duyệt quy hoạch tổng thể quận Hai Bà Trưng đến năm 2020
Tác giả: UBND Thành phố Hà Nội
Năm: 2000
19. UBND thành phố Hà Nội (2010), Quyết định số 19/2010/QĐ-UBND ngày 14/5/2010 về ban hành quy định về quản lý hệ thống cây xanh đô thị, công viên, vườn hoa, vườn thú trên địa bàn thành phố, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 19/2010/QĐ-UBND ngày 14/5/2010 về ban hành quy định về quản lý hệ thống cây xanh đô thị, công viên, vườn hoa, vườn thú trên địa bàn thành phố
Tác giả: UBND thành phố Hà Nội
Năm: 2010
20. UBND thành phố Hà Nội (2013), Kế hoạch số 134/KH-UBND ngày 16/8/2013 về đầu tư phát triển hệ thống cây xanh, công viên, vườn hoa, hồ nước thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2015, Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 134/KH-UBND ngày 16/8/2013 về đầu tư phát triển hệ thống cây xanh, công viên, vườn hoa, hồ nước thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2015
Tác giả: UBND thành phố Hà Nội
Năm: 2013
21. Ahern, Jack, J (1995), Greenways as a planning strategy, volum: 12, pp. 30-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Greenways as a planning strategy
Tác giả: Ahern, Jack, J
Năm: 1995
22. Forest, M. And Konijnendijk, C (2005), A history of urban forests amd trees in Europe, In: C.C. Konijnendijk, K.Nilsson, T.B. Randrup and J.Schipperijn, Editors, Urban Forests and Trees, Springer, Berlin Sách, tạp chí
Tiêu đề: A history of urban forests amd trees in Europe, In: C.C. Konijnendijk, K.Nilsson
Tác giả: Forest, M. And Konijnendijk, C
Năm: 2005
23. Flores A, Pickkett S.T.A, Ziperer W.C., Pouyat R.V., and Pirani.R (1998), Adopting a modern ecological view of the metropolitan landscape: the case of agreenspace system for the New York City region, Landscape and Urban Planning, Vol.39, pp. 295-308 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adopting a modern ecological view of the metropolitan landscape: the case of a "greenspace system for the New York City region
Tác giả: Flores A, Pickkett S.T.A, Ziperer W.C., Pouyat R.V., and Pirani.R
Năm: 1998
25. Konijnendijk, C.C., Nilsson, K., Randrup, T.B., and Schipperijn, J. (ed) (2005), Urban Forests and Trees, Springer, Heidelberg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Urban Forests and Trees
Tác giả: Konijnendijk, C.C., Nilsson, K., Randrup, T.B., and Schipperijn, J. (ed)
Năm: 2005
27. Randrup, T.B., Konijnendijk, C.C., Dbbertin.,M.K. and Pruller, R (2005), the concept of Urban forestry in Europe, Konijnendijk, C.C., Nilsson, K., Randrup, T.B., and Shippertijn, J. (ed). Urban Forests and Trees, Spinger, Heidelberg Sách, tạp chí
Tiêu đề: the concept of Urban forestry in Europe, Konijnendijk, C.C., Nilsson, K., Randrup, T.B., and Shippertijn, J. (ed)
Tác giả: Randrup, T.B., Konijnendijk, C.C., Dbbertin.,M.K. and Pruller, R
Năm: 2005
28. Searms, rober, J (2001), The evolution of greenways as adptive urban landscape, Volume:33, pp. 65-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The evolution of greenways as adptive urban landscape
Tác giả: Searms, rober, J
Năm: 2001
29. Wang, R (1999), Ecological thingking about sustainable developmen, In: Study on Sustainable Development for Social-Economic-Natural Complex Ecosystem, Zhao, J., Quyang, Z, and Wu, G.(Eds), China Environmental Scinece Press, Beijing, pp. 1-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ecological thingking about sustainable developmen, In: Study on Sustainable Development for Social-Economic-Natural Complex Ecosystem, Zhao, J., Quyang, Z, and Wu, G.(Eds)
Tác giả: Wang, R
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w