BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNTTRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHỆP ---TRẦN VĂN LONG NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ CÁC YẾU TỐ SINH THÁI ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC LOÀI CHIM LÀM TỔ Ở VƯỜN CHIM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHỆP
-TRẦN VĂN LONG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ CÁC YẾU TỐ SINH THÁI ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC LOÀI CHIM LÀM TỔ Ở VƯỜN CHIM NGỌC NHỊ, XÃ CẨM LĨNH,
BA VÌ, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Trang 4BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHỆP
-TRẦN VĂN LONG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ CÁC YẾU TỐ SINH THÁI ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC LOÀI CHIM LÀM TỔ Ở VƯỜN CHIM NGỌC NHỊ, XÃ CẨM LĨNH,
BA VÌ, HÀ NỘI
TÀI LIỆU GỐC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2010
Trang 5TRẦN VĂN LONG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ CÁC YẾU TỐ SINH THÁI ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC LOÀI CHIM LÀM TỔ Ở VƯỜN CHIM NGỌC NHỊ, XÃ CẨM LĨNH,
BA VÌ, HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Mã số: 60.62.68
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Lê Đình Thủy
Hà Nội, 2010
Trang 6Công trình được hoàn thànht tại:
Trường Đại Học Lâm Nghiệp Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Đình Thủy
Trang 8LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn Thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp này, tôi xin cảm
ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của Khoa Sau Đại học, trường Đại học Lâmnghiệp Tôi cũng xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới PGS TS LêĐình Thuỷ - người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trìnhnghiên cứu cũng như phân tích và tổng hợp số liệu để hoàn thành luận vănnày
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Viện Điều tra Quy hoạch rừng,lãnh đạo Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Tây Bắc Bộ cùng cán bộ củaPhân viện đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời giannghiên cứu và học tập
Trong quá trình thu thập số liệu tại thực địa, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ rất tận tình, chu đáo của UBND xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố HàNội đã tạo điều kiện, cung cấp các tài liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh
tế của xã Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quí báu đó
Xin cám ơn gia đình ông Phùng Đoài Học - chủ vườn chim Ngọc Nhị
xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôitrong thời gian nghiên cứu thực địa tại vườn chim
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã chia sẻ, giúp đỡ độngviên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận vănnày
Tôi xin cam đoan số liệu trong đề tài là số liệu thu thập thực tế, nếu cósai sót gì tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 09 năm 2010
Tác giả
Trang 9MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các chữ viết tắt iv
Danh mục bảng v
Danh mục hình vi
ĐẶT VẤN ĐỀ ……… 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Lược sử nghiên cứu chim ở Việt Nam 3
1.2 Giới thiệu các sân chim, vườn chim ở Việt Nam 5
1.3 Quá trình hình thành và phát triển của vườn chim Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, Hà Nội 7
1.4 Tình hình nghiên cứu chim ở vườn chim Ngọc Nhị 8
Chương 2 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU ……… 9
2.1 Vị trí địa lý 9
2.2 Điều kiện tự nhiên 13
2.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 16
Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……… 21
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 21
3.2 Đối tượng nghiên cứu 21
3.3 Nội dung nghiên cứu 21
3.4 Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 23
Trang 10Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Thành phần loài chim, các loài làm tổ ở vườn chim 29
4.1.1 Thành phần loài 29
4.1.2 Tính đa dạng về các bậc taxon phân loại học khu hệ chim ở vườn chim Ngọc Nhị 34
4.1.3 So sánh tính đa dạng về thành phần loài chim của vườn chim Ngọc Nhị với các vườn chim khác 35
4.2 Thành phần loài và đặc điểm các loài chim làm tổ tập đoàn tại vườn chim Ngọc Nhị 36
4.2.1 Thành phần loài 36
4.2.2 Thành phần thức ăn của các loài chim làm tổ ở vườn chim 37
4.2.3 Đặc điểm sinh học, sinh sản của các loài chim làm tổ tập đoàn ở vườn chim 39
4.3 Hiện trạng và các yếu tố sinh thái ảnh hướng, tác động đến các loài chim làm tổ ở vườn chim 42
4.3.1 Thảm thực vật và các loài cây chim dùng làm tổ ở vườn chim Ngọc Nhị 42
4.3.2 Hiện trạng về các hoạt động quản lý, khai thác vườn chim 46
4.3.3 Các yếu tố sinh thái ảnh hưởng 51
4.4 Đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát triển bền vững vườn chim 61
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
5.1 Kết luận 63
5.2 Kiến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 12DANH MỤC BẢNG
2.1: Số liệu khí tượng thuỷ văn khu vực Ba Vì năm 2008 - 2009 14
4.1: Danh lục chim ở vườn chim Ngọc Nhị 29
4.2: Danh sách các loài chim mới ghi nhận tại vườn chim Ngọc Nhị 33
4.3: Cấu trúc các bậc taxon khu hệ chim vườn chim Ngọc Nhị 34
4.4: So sánh thành phần loài chim ở vườn chim Ngọc Nhị với một số vườ vườn chim khác 36
4.5: Các loài chim làm tổ tập đoàn tại vườn chim Ngọc Nhị 36
4.6: Thành phần thức ăn của các loài chim làm tổ tập đoàn 38
4.7: Đặc điểm sinh sản của các loài chim làm tổ ở vườn chim 40
4.8: Nguyên liệu làm tổ của chim 41
4.9: Các loài thực vật là giá thể của chim làm tổ tập đoàn 44
4.10: Khả năng thích ứng của các loài trong lựa chọn loài cây 46
Trang 13DANH MỤC HÌNH
2.1: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất 2009 10
2.2: Sơ đồ vườn chim Ngọc Nhị 11
2.3: Bản đồ dẫn hướng đến vườn chim Ngọc Nhị 12
4.1: Thức ăn của chim 39
4.2: Lòng hồ Suối Hai bị bồi lấp 47
4.3: Hàng rào bảo vệ vườn 48
4.4: Nhà của du khách 49
4.5: Chòi quan sát chim 49
4.6: Nội quy của vườn 50
4.7: Một góc của vườn 51
4.8: Thuốc bảo vệ thực vật đã được sử dụng 54
4.9: Du khách đến thăm vườn 55
4.10: Rác thải của vườn 56
4.11: Các món ăn chế biến từ chim 56
4.12: Xác cò chết do dính bẫy 57
Trang 14ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nguồn tài nguyên động, thựcvật phong phú và đa dạng Trong những năm gần đây, riêng về chim các nhàkhoa học đã xác định được có 828 loài [17] trong đó có một số loài chim mới
được phát hiện ở Việt Nam như: Khướu vằn đầu đen (Actinodura sodangorum), Khướu ngọc linh (Garrulax ngoclinhensis) và Khướu kon ka kinh (Garrulax konkakinhensis) Hàng loạt các sân chim, vườn chim tự nhiên
là nơi tập trung số lượng lớn các loài chim đã thu hút hàng vạn khách du lịchtrong nước và quốc tế tới thăm quan Cụ thể như sân chim Bạc Liêu tỉnh BạcLiêu, Đầm Dơi, Cái Nước ở tỉnh Cà Mau Ngoài ra các vườn chim với diệntích nhỏ hơn cũng đóng góp một phần không nhỏ vào sự đa dạng về số lượng
và thành phần loài chim của Việt Nam
Từ những năm 60 trở về trước, ở đồng bằng sông Hồng có nhiều nơihình thành những điểm tập trung sinh sống và làm tổ tập đoàn của một số loàichim nước, nhất là những loài cò, như ở Văn Hà, Mạch Tràng (tỉnh VĩnhPhúc), Núi Chè (tỉnh Bắc Giang) Ngay như ở Hà Nội cũng đã từng có cả mộtphố cò đó là phố Lò Đúc Tuy nhiên trong quá trình phát triển của xã hộinhiều khu đầm lầy, đất ngập nước bị bỏ hoang đã được khai phá làm nôngnghiệp, nhiều rặng tre, rừng cây bị chặt phá làm đất thổ cư hay khu côngnghiệp Do đó, môi trường sống ngày càng bị thu hẹp nên các vườn chim ởvùng đồng bằng sông Hồng trở nên ít dần chỉ còn lại một số vườn như vườnchim Ngọc Nhị (xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, Tp Hà Nội), vườn chim xã TiếnXuân (huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá), vườn chim Hải Lựu (huyện LậpThạch, tỉnh Vĩnh Phúc), vườn chim xã Chi Lăng Nam (huyện Thanh Miện,tỉnh Hải Dương) Mặc dù trên thực tế, vai trò giá trị khoa học và kinh tế củacác vườn chim là rất lớn, nhưng cho đến nay việc nghiên cứu về các vườn
Trang 15chim còn rất hạn chế, đặc biệt là về các vấn đề như: lịch sử hình thành, cácyếu tố sinh thái ảnh hưởng đến vườn chim, thành phần loài chim làm tổ tậpđoàn, thức ăn, phạm vi kiếm ăn vv
Để có cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát
triển bền vững vườn chim Ngọc Nhị, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên
cứu thành phần loài và các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến các loài chim làm tổ ở vườn chim Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh, Ba Vì, Hà Nội ”.
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lược sử nghiên cứu chim ở Việt Nam
Việt Nam là một trong các nước có khu hệ chim phong phú và đa dạng
ở Đông Nam Á Lịch sử nghiên cứu chim ở Việt nam có thể chia thành hai giai đoạn chính: trước năm 1975 và sau năm 1975
Giai đoạn trước năm 1975
Trong giai đoạn này, các nghiên cứu chim đầu tiên ở Việt Nam đều do các
nhà khoa học nước ngoài thực hiện Loài Gà rừng Gallus gallus là loài chim đầu
tiên được nghiên cứu ở Việt Nam, tiêu bản mẫu thu được ở Côn Đảo và đượcnhà sinh vật học Linnaeus mô tả vào giữa thế kỷ XVIII Sau đó 30 năm, năm
1789 Gmelin mô tả loài chim thứ hai bắt được ở Đông Dương, đó là loài Chim
xanh Nam bộ Chloropsis cochinchinensis Vào khoảng giữa thế kỷ XIX, một vài
loài chim nữa ở Đông Dương được mô tả thêm Sau khi xâm chiếm miền Nam,người Pháp bắt đầu chú ý đến việc nghiên cứu thiên nhiên vùng này Thời gianđầu họ không tổ chức một cuộc sưu tầm nào lớn, nhưng từ năm 1862 đến năm
1874 nhiều đợt nghiên cứu chim khá qui mô do các nhà tự nhiên học nghiệp dưtiến hành, đã sưu tầm một số lượng mẫu vật rất lớn và được chuyển về Pháp đểxác định Từ những năm 1874 đến 1903, M.E.Oustalet cho xuất bản công trình:
“Chim Campuchia, Lào, Nam Bộ và Bắc Bộ Việt Nam” Từ năm 1905 đến 1907,Oustalet và Gmelin cho xuất bản tập “ Danh sách Chim miền Nam Nam Bộ”.Vào thời gian đó, Bắc Bộ Việt Nam có Butan tổ chức sưu tầm chim và kết quảđược công bố trong tập “ Mười năm nghiên cứu động vật” Tác giả đã ghi nhậnđược 90 loài và một số dẫn liệu về sinh học của một số loài Năm 1918, cuộc sưutầm chim dưới sự chỉ đạo của Boden Kloss, với kết quả thu được là 1.525 tiêubản Kết quả này
Trang 17được Robinson và Kloss thông báo trong tập: “ Chim Trung Bộ và Nam BộViệt Nam” Công trình này ghi nhận 235 loài và loài phụ trong đó có 34 dạngmới cho khoa học Trong khoảng thời gian đó, nhà điểu học người Nhật BảnKuroda phân tích bộ sưu tập chim do S.Txikia đã ghi nhận được 130 loài vàloài phụ Công trình tổng hợp về “Chim Đông Dương” gồm 4 tập với 954 loài
và phân loài Năm 1951, danh sách chim Đông Dương được Delacour bổ sunghoàn thành và công bố gồm 1.085 loài và phân loài Trong giai đoạn này đángchú ý là năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, đánh dấu mốc khởiđầu hoạt động nghiên cứu chim của các nhà khoa học Việt Nam
Giai đoạn từ năm 1975 đến nay
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, nghiêncứu chim ở các tỉnh phía nam được tiếp tục bởi các nhà khoa học Việt Nam.Một số chương trình điều tra tổng hợp về tài nguyên sinh vật trong đó có chim
đã được tiến hành như: chương trình điều tra tổng hợp tài nguyên sinh vậtđồng bằng sông Cửu Long, chương trình điều tra tổng hợp Tây Nguyên 1 vàTây Nguyên 2 Đặc biệt là chương trình điều tra tổng hợp nghiên cứu giữaViện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật với Viện Hình thái tiến hoá Mátsơcơva, Viện Động Vật Lêningrat (Viện Hàn lâm khoa học Nga) Trong nhiềunăm, các nhà khoa học Việt Nam và Nga đã phối hợp khảo sát nghiên cứu vềđộng vật, trong đó có chim tại trạm nghiên cứu rừng nhiệt đới Kon Hà Nừng,tỉnh Gia Lai
Công trình về chim trong giai đoạn này đáng chú ý là cuốn sách “ChimViệt Nam, Hình thái và phân loại” tập I (1975) và Tập II (1981) của Võ Quý.Sau nhiều năm điều tra, khảo sát, danh sách chim Việt Nam từ 773 loài (VõQuý, 1983) đã lên tới 828 loài (Võ Quý, Nguyễn Cử, 1995) Một số loài chim
quý hiếm, đặc hữu được nghiên cứu và tái phát hiện như: Sếu cổ đỏ (Grus antigone), Gà lôi lam mào đen (Lophura imperialis ), Gà lôi làm mào trắng
Trang 18(Lophura edwardsi), Gà so cổ hung (Arborphila davidi), Ngan cánh trắng (Cairina stuculata ), Quắm cánh xanh (Pseudibis davisoni), Mi núi bà (Crocias langbianus) và gần đây nhất là loài Vạc hoa (Gorsachius magnificus) Một số loài mới cho khoa học đã được công bố Gà lôi làm đuôi trắng (Lophura hatinhensis), Khướu ngọc linh (Garrulax ngoclinhensis), Khướu vằn đầu đen (Actinodura sodangorum), Khướu kon ka kinh (Garrulax konkakinhensis) Điều đó cho thấy mặc dù công tác nghiên cứu chim đã tiến
hành một thế kỷ nay, nhưng vẫn còn các phát hiện mới về khu hệ chim cầnkhám phá ở các vùng miền khác nhau ở Việt Nam
1.2 Giới thiệu các sân chim, vườn chim ở Việt Nam
Hệ thống sân chim, vườn chim thực ra đã có lịch sử hình thành và pháttriển từ lâu trên mọi vùng miền trong cả nước Các vườn chim có lịch sử hìnhthành và diện tích không giống nhau, một số chỉ bó hẹp trong phạm vi từ 1-3
ha thường gọi là vườn chim, số khác rộng đến 5 - 10 ha hoặc hàng trăm ha vàgọi là sân chim như sân chim Bạc Liêu Các sân chim, vườn chim được hìnhthành là do nhiều loài chim nước có tập tính làm tổ tập đoàn tụ tập sinh sống.Tại các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, những năm trước đây đã cótrên 30 vườn cò [9] Đó là vườn chim ở Thới An (Cần Thơ), Duyên Hải vàTrà Cú (Trà Vinh), Cái Bẹ (Cà Mau), Vàm Hồ (Bến Tre) và Đầm Dơi (CàMau) Một số sân chim đã được nghiên cứu là sân chim Duyên Hải, sân chimBạc Liêu, sân chim Cà Mau, sân chim Thới An, sân chim Trà Cú, sân chimChùa Hang, sân chim Vàm Hồ Nhiều nghiên cứu bước đầu về các loài chim
ở các sân chim vùng này đã được một số tác giả công bố Các nghiên cứu nàybước đầu đã xác định được khoảng 20 loài chim nước làm tổ tập đoàn các sânchim như Cò trắng, Cò ngàng nhỡ, Cò ruồi, Cốc đế Có một số loài có
Trang 19tên trong Sách Đỏ Việt Nam ( 2007) như loài Quắm đầu đen Số lượng cá thể các loài ở các sân chim có thể lên đến vài chục ngàn con.
Ở miền Đông Nam Bộ, tại khu vực cửa khẩu Mộc Bài, xã Lợi Thuận,huyện Bến Cầu, Tây Ninh, từ năm 2005, đàn cò trắng ước tính hàng ngàn con bay
về trú ngụ trong khu rừng tràm nước rộng khoảng 600 ha [9] Ở miền Nam Trung
bộ có thể kể đến vườn cò của gia đình ông Nguyễn Văn Hưng, thôn Vĩnh Xuân, xãVĩnh Thái (Nha Trang) với hàng ngàn cá thể bay đi, bay về trong vườn Nghiêncứu về các loài chim di cư vùng châu thổ sông Hồng, tập trung nhiều vào các loàichim di cư có công trình của Pedersen và cộng sự
(1996) Ở miền Bắc, cũng tập trung một số vườn chim như vườn chim NgọcNhị (Hà Tây), vườn chim Núi Đấu (Hải Phòng), vườn chim Hải Lựu (VĩnhPhúc), đảo Cò Chi Lăng Nam (Hải Dương), vườn cò Đông Xuyên (Bắc Ninh)[9]
Nghiên cứu tại vườn chim Ngọc Nhị, Nguyễn Lân Hùng Sơn (1999) đãxác định có 55 loài chim thuộc 30 họ, 10 bộ, trong đó có 5 loài chim nước làm
tổ tập đoàn tại vườn Cò bợ, Cò trắng, Cò ngàng nhỏ, Cò ruồi,Vạc [18]
Nghiên cứu ở vườn chim Đạo Trù (Vĩnh Phúc), Hoàng Thị Luyến(2008) đã xác định có 44 loài chim thuộc 7 bộ, 19 họ, với các loài chim nướcxuất hiện ở vườn là Cò trắng, Cò ngàng nhỏ, Cò ruồi, Cò bợ, Cò xanh, Vạc
Quan Thị Dung (2008) khi nghiên cứu ở vườn chim Hải Lựu, LậpThạch, Vĩnh Phúc đã xác định được 40 loài chim, thuộc 21 họ, 6 bộ [9]
Trần Thị Miên (2008) [9], nghiên cứu tại vườn chim Chi Lăng Nam(Hải Dương), đã thống kê được 12 bộ, 30 họ và 51 loài Tác giả cũng đã bướcđầu nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài chim nướccủa khu vực về: biến động số lưọng, phân bố, thức ăn, mùa sinh sản vv
Như vậy, những nghiên cứu về các vườn chim chưa nhiều, một số vườnchim chưa được nghiên cứu kỹ và chưa có sự quan tâm thích đáng để bảo tồn
Trang 20các loài chim này Do đó cần tiếp tục có những nghiên cứu thêm về đặc điểmsinh học, sinh thái của từng loài, đặc điểm tự nhiên của từng vườn chim đểđưa ra biện pháp bảo tồn và phát triển hợp lý các vườn chim
1.3 Quá trình hình thành và phát triển của vườn chim Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, Hà Nội
Ba Vì là một huyện của thành phố Hà Nội, có nguồn tài nguyên thiênnhiên đa dạng, có giá trị lớn về kinh tế và khoa học nhất là về cảnh quan môitrường Phục vụ phát triển du lịch sinh thái trong những năm gần đây, ở Ba Vì
đã hình thành một cụm cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn nhiều khách thamquan, nghỉ ngơi và giải trí Đó là VQG Ba Vì, hồ Suối Hai, Ao Vua, thácHương, rừng thông Đá Chông, khu du lịch Đầm Long… Đặc biệt vườn chimNgọc Nhị ở thôn Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh đã thu hút nhiều khách tới thamquan
Vườn chim được hình thành chính thức bắt đầu từ năm 1975, trước đóvào năm 1972 có một vài đôi Cò trắng, Cò ngàng, Vạc bay đến làm tổ ở haiquả đồi khu vực xã Cẩm Lĩnh Ở quả đồi Rận phía Bắc, chúng bị những nhàdân ở đây săn bắt, riêng quả đồi Đưng ở phía Nam là đất của gia tộc anhPhùng Đoài Học, chim được bảo vệ tốt Tổng diện tích vườn chim sau khiđược mở rộng cho đến nay là 10,6 ha
Từ vài cặp bay đến làm tổ, đến nay số lượng cá thể của loài chim làm
tổ tập đoàn ở vườn chim vào mùa sinh sản khi nhiều nhất tới 6000 - 7000 cáthể Việc nghiên cứu sinh thái, sinh học của các loài chim làm tổ ở vườn làcần thiết để làm cơ sở khoa học cho việc bảo vệ, bảo tồn và phát triển bềnvững vườn chim
Trang 211.4 Tình hình nghiên cứu chim ở vườn chim Ngọc Nhị
Trong những năm gần đây, vườn chim Ngọc Nhị đã được một số nhàkhoa học và sinh viên đến nghiên cứu Năm 1991, Nguyễn Ngọc Chính khinghiên cứu khu hệ chim ở đây đã ghi nhận được 17 loài trong đó có 9 loài còvới số lượng vào khoảng 5.000 – 7.000 cá thể Năm 1992, Đỗ Tước ghi nhậnđược 6 loài cò có số lượng khoảng 1.000 – 2.000 cá thể
Đáng chú ý nhất là công trình được nghiên cứu trong thời gian 2 năm
1993 - 1994 và đưa ra được nhiều số liệu là đề tài: “ Bảo vệ, khai thác và sửdụng lâu bền vườn chim Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, Hà Nội” do Sở Khoa họccông nghệ và Môi trường Hà Tây (nay là Hà Nội) cùng với Viện Sinh thái vàTài nguyên sinh vật tổ chức nghiên cứu Ngoài ra cũng phải kể đến bảng danhlục thực vật đồi cò Ngọc Nhị của PTS Trần Ninh (Khoa Sinh học, Trường Đạihọc KHTN Hà Nội) tiến hành xác định vào năm 1997 Luận văn tốt nghiệpĐại học của Nguyễn Lân Hùng Sơn “ Một số nghiên cứu bước đầu để bảo vệ,phát triển và sử dụng hợp lý trong du lịch sinh thái vườn chim Ngọc Nhị, xãCẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, Hà Tây” năm 1999, đã ghi nhận được 55 loài chimvới 6.800 cá thể và 96 loài thực vật
Trang 22Chương 2
VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tác động qua lại giữa các yếu tố điều kiện tự nhiên và kinh
tế xã hội đối với vườn chim, do đặc điểm vùng sống, phạm vi kiếm ăn rộngcủa các loài, phải xét đến trong phạm vi khu vực, không thể chỉ xét trongphạm vi nhỏ hẹp ngay tại vườn chim Chúng tôi đã xét điều kiện tự nhiên vàkinh tế xã hội có liên quan hữu cơ với vườn chim ở phạm vi xã Cẩm Lĩnh,chứ không chỉ ở phạm vi thôn Ngọc Nhị
2.1 Vị trí địa lý
Xã Cẩm Lĩnh là một trong những xã có diện tích lớn nằm ở phía Tâyhuyện Ba Vì, Tp Hà Nội, cách trung tâm huyện 10 km, có diện tích tự nhiên2.662 ha
Toạ độ địa lý: 21o23’ vĩ độ Bắc, 105015’ kinh độ Đông
Cách Sơn Tây khoảng 18 km và trung tâm Hà Nội khoảng 63 km theođường Láng- Hoà Lạc- Sơn Tây - Suối Hai- Ngọc Nhị Cách sông Đà 2,8 km
và hồ Suối Hai 3,7 km
Phía Bắc giáp 2 xã Phú Sơn và Tòng Bạt
Phía Tây giáp xã Sơn Đà
Phía Đông giáp hai xã Vật Lại và Thuỵ An
Phía Nam giáp xã Ba Trại
(xem bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Cẩm Lĩnh ở trang sau)
Trang 23Hình 2.1: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất 2009
Trang 24Hình 2.2: Sơ đồ vườn chim Ngọc Nhị
Trang 25Hình 2.3: Bản đồ dẫn hướng đến vườn chim Ngọc Nhị
Trang 262.2 Điều kiện tự nhiên
Địa hình, thổ nhưỡng
Xã Cẩm Lĩnh là một xã miền trung du của huyện Ba Vì, có độ cao và
độ dốc trung bình Diện tích gò đồi chiếm khoảng 45% tổng diện tích tựnhiên Ngoài những cánh đồng lúa trải rộng về phía Bắc, Đông và Đông Namxen kẽ nhiều đầm hồ và đồi gò thấp [26] Một cách tổng quan có thể đánh giáhiện trạng đất đai trong khu vực như sau:
+ Đất đồi gò: chủ yếu là đất feralite nâu vàng phát triển trên đá mẹ
phiến thạch sét Chất đất từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, kết cấu viên hạt rất thíchhợp cho cây rừng sinh trưởng và phát triển
+ Đất trồng lúa: có thành phần cơ giới thay đổi, song phổ biến nhất là
Khí hậu, thuỷ văn
Theo số liệu của Phòng dự báo Đài khí tượng thuỷ văn khu vực đồngbằng Bắc Bộ tại khu vực Ba Vì hai năm 2008, 2009, các số liệu đo được ở Đàitrình bày trong bảng sau
Trang 27Bảng 2.1: Số liệu khí tượng thuỷ văn khu vực Ba Vì năm 2008 – 2009
Trang 2809/2009 27 9 84 240 6 160 1 10 59 4
( Nguồn: phòng dự báo Đài khí tượng thuỷ văn khu vực đồng bằng Bắc Bộ)
Qua số liệu ở bảng trên cho thấy, khí hậu ở đây là khí hậu nhiệt đới giómùa Khí hậu trong năm phân biệt thành bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông rõ rệt.Mùa đông lạnh đôi khi có sương muối và ít mưa, mùa hè nóng nhiều mưadông và mưa bão Lượng mưa trong năm tập trung từ tháng 4 đến tháng 10 vàrất ít từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Chế độ bức xạ của vùng nội chí tuyến,
Trang 29hàng năm có hai lần mặt trời qua thiên đỉnh Lần thứ nhất vào hạ tuần tháng 5,lần thứ hai vào trung tuần tháng 7 Nhờ thời gian chiếu sáng của mặt trờitrong ngày đồng đều, nên hàng năm ở đây có khả năng thu được một lượngbức xạ mặt trời khá lớn, cân bằng bức xạ của các tháng đều dương.
Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm tại khu vực nghiên cứu dao độngquanh trị số trung bình 240C, tháng có nhiệt độ không khí cao nhất là tháng 6,trung bình là 29,80C Nhiệt độ thấp nhất là tháng 1, trung bình là 14,40C
Độ ẩm không khí dao động quanh trị số trung bình là 85% Tháng có độ
ẩm trung bình cao nhất là tháng 4, độ ẩm trung bình lên tới 90% Tháng có
độ ẩm thấp nhất là tháng 1, độ ẩm trung bình là 82%
Lượng mưa trung bình năm dao động từ 1515,7 – 1766,2 mm, nhưngphân bổ không đều trong năm mà tập trung vào mùa mưa Lượng mưa trongmùa mưa chiếm 80% - 93% lượng mưa của cả năm Tháng có lượng mưa caonhất là tháng 7 là 374,2 mm và cũng có số ngày mưa nhiều nhất là 20 ngày.Tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 12 và cũng có số ngày mưa ít nhất là
6 ngày
Lượng bốc hơi nước trung bình năm là 49,7 mm Lượng bốc hơi nướclớn nhất thường xuất hiện vào thời gian từ tháng 5 đến tháng 6, lượng bốc hơilên tới 75,1 mm
Mùa mưa và mùa khô ở khu vực chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính:gió đông nam và gió đông bắc Gió đông nam vào mùa hạ từ tháng 4 đếntháng 10, mang nhiều hơi nước và gây mưa lớn Gió mùa đông bắc có kèm
Trang 30theo mưa phùn gió rét thổi về từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Ngoài ra, đầumùa hạ có gió mùa tây nam khô nóng thổi từng đợt vào các tháng 5, 6,7 Đặcbiệt, đây cũng là khu vực thường xẩy ra dông lớn, đồng thời chịu ảnh hưởngtrực tiếp của bão mỗi khi có bão đổ bộ vào đồng bằng Bắc Bộ
2.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
An Thái
Tổng giá trị sản xuất của xã ước đạt 70 tỷ 744 triệu đồng, bình quân giátrị làm ra 6,6 triệu đồng/người/năm Tổng sản lượng lương thực cây có hạtquy thóc ước đạt 4.649 tấn, bình quân lương thực đầu người đạt 460 kg/người/năm
- Sản xuất nông nghiệp
Trang 31+Về trồng trọt: tổng diện tích gieo trồng đạt 1.068,0 ha Tổng sảnlượng quy thóc năm 2009 là 4.649 tấn Tổng giá trị từ trồng trọt cả năm đạt
+ Vụ mùa: diện tích gieo trồng đạt 465,0 ha trong đó diện tích cây lúa
là 438,0 ha, năng suất đạt 51 tạ/ha, sản lượng đạt 2.325 tấn Cây màu vụ hè thudiện tích 27,0 ha; trong đó cây ngô 10,0 ha, năng suất 45 tạ/ha, sản lượng 45 tấn.Cây khoai lang diện tích 12,0 ha, năng suất 60 tạ/ ha, sản lượng 72 tấn Cây raumàu khác 5,0 ha
+ Làm tốt công tác khuyến nông, dự báo kịp thời tình hình sâu bệnhtrên cây lúa và cây màu Tổ chức chiến dịch thu mua được 2.578 kg ốc và trứng ốcbươu vàng
- Sản xuất lâm nghiệp, vườn hộ
Trồng mới được 18,0 ha rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng theo dự
án 661 được 48,0 ha, các hộ đã chú trọng đến công tác chăm sóc cây ăn quả ởvườn hộ kết hợp trồng xen các cây ngắn ngày tăng thêm thu nhập và giữ độ
ẩm cho đất Bình quân thu thập từ vườn hộ và trồng rừng là 1,5 triệu đồng/hộ
- Chăn nuôi
+ Phong trào chăn nuôi tiếp tục được duy trì và phát triển tại các thôn Tổng đàn trâu hiện có 603 con Đàn bò hiện có 1.239 con Đàn lợn hiện có là
Trang 32Nghề nuôi ong lấy mật tiếp tục được duy trì ở các thôn và cho thu nhập
ổn định, năm 2009 toàn xã có khoảng trên 1.200 đàn ong, tổng sản lượng mậtthu được là 20 tấn, giá trị ước đạt 1 tỷ 400 triệu đồng
Tổng thu nhập từ chăn nuôi đạt 39,6 tỷ đồng
+ Công tác thú y: làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn
Các hoạt động kinh doanh, dịch vụ ngày được phát triển và cho thunhập khá Các nghề phụ như: xây dựng, mộc được nhân rộng và phát triển ởcác thôn tạo công ăn việc làm lúc nông nhàn, tăng thêm thu nhập cho ngườilao động
- Văn hoá, giáo dục
Xã có một tổng đài truyền thanh công suất 800w với 25 loa phân bốđều ở 11 thôn Toàn xã thực hiện phong trào nếp sống văn hóa trong việccưới, việc tang, mừng thọ, lễ hội và phong trào xây dựng Gia đình văn hóa,làng văn hóa Toàn xã có 2296 hộ đăng kí xây dựng gia đình văn hóa đạt92%, có 1880 hộ đạt gia đình văn hóa cấp xã năm 2009 đạt 75,4% Đã có 6/11thôn đạt làng văn hoá
Xã có hai đình chính là đình Bằng Tạ và đình Vô Khuy Tiến hànhtrùng tu di tích lịch sử văn hóa đình làng Vô Khuy, đề nghị xếp hạng di tíchlịch sử đền Cẩm An
Trang 33Phong trào thể dục thể thao được phát triển đều ở 11 thôn và các nhàtrường với các môn thi đấu như bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn, cờtướng… Tham gia giải bóng chuyền tại huyện Ba Vì đạt giải ba Các câu lạc
bộ thể dục dưỡng sinh của Hội người cao tuổi tại các thôn được duy trìthường xuyên
Trường mầm non: tổng số có 24 lớp với 438 cháu; số cháu đến lớp nhàtrẻ là 103 cháu Mẫu giáo số cháu đến lớp là 335 cháu Năm học 2008 -2009nhà trường được UBND huyện Ba Vì công nhận là trường tiên tiến xuất sắc
Trường tiểu học: tổng số có 30 lớp; với 671 học sinh Năm học 2008
-2009 nhà trường đạt trường tiên tiến xuất sắc cấp huyện, 7 giáo viên đạt giáoviên dạy giỏi cấp huyện, 4 giáo viên có sáng kiến, kinh nghiệm cấp thành phố,100% giáo viên đạt chuẩn về trình độ chuyên môn
Trường trung học cơ sở: tổng số có 17 lớp với 547 học sinh Năm học
2008 - 2009 nhà trường đạt trường tiên tiến xuất sắc cấp huyện, 100% giáoviên đạt chuẩn về trình độ chuyên môn
Trong năm 2009 toàn xã có 51 em thi đỗ vào các trường đại học, caođẳng Trong đó thi đỗ đại học 23 em và thi đỗ cao đẳng 28 em
Trạm Y tế với 1 bác sĩ và 3 y sĩ đã thực hiện tốt các chương trình mụctiêu quốc gia, góp phần chăm lo sức khoẻ ban đầu cho nhân dân trong xã.Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản Quản lý chặt chẽ công tác
vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn, không để xảy ra dịch bệnh
Công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình; Tỷ lệ sinh tăng 0,8% so với cùng kỳ năm ngoái Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 8,6% giảm 5,9% so với cùng
kỳ năm ngoái
- Giao thông
Trang 34Giao thông trong xã chưa phát triển Toàn xã có 5 km đường nhựa,khoảng 15km được đổ bê tông và còn lại là đường đất, mặt đường nhỏ hẹpchất lượng xấu nên đi lại khó khăn nhất là vào mùa mưa
- Công tác quản lý và hoạt động du lịch sinh thái vườn chim Ngọc Nhị
Vườn chim Ngọc Nhị thuộc sở hữu tư nhân của gia đình ông Phùng
Đoài Học, luôn có 3 người của gia đình và 5 lao động thường xuyên làm côngtác bảo vệ và phục vụ du khách Do chủ nhân vườn chim đã có những đầu tưban đầu trong phục vụ, nên vườn chim đã thu hút một lượng khách du lịchtương đối lớn Khách đến thăm vườn chim, họ là những du khách đến từhuyện Ba Vì, các huyện khác trong tỉnh Ngoài ra, hàng năm vườn chim cònđón một lượng khách lớn đến từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng Đặc biệt, vàomùa hè nhiều khách đến vườn chim từ thủ đô Hà Nội vào những ngày nghỉcuối tuần
Trang 35Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm đặt được các mục tiêu sau:
- Xác định tương đối đầy đủ thành phần các loài chim có ở khu vực nghiên cứu và các loài chim làm tổ ở vườn chim
- Xác định các yếu tố sinh thái chủ yếu tác động đến các loài chim làm
tổ ở vườn chim Ngọc Nhị
- Đề xuất các giải pháp khoa học nhằm bảo tồn, phát triển bền vững vườn chim
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng được tập trung nghiên cứu của đề tài là các loài chim hiệndiện ở khu vực vườn chim Ngọc Nhị , các yếu tố môi trường tạo nên các dạngsinh cảnh của vườn chim
Nghiên cứu các loài thực vật mà chim chọn làm giá thể, làm tổ haychọn dùng làm vật liệu làm tổ Nghiên cứu các loài động vật là thức ăn củacác loài chim ở các vùng đất ngập nước trong mùa sinh sản
3.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đề ra, đề tài đã tiến hành các nội dung nghiêncứu như sau:
- Điều tra thành phần loài chim tại vườn chim Ngọc Nhị
- Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài chim của vườn chim
Trang 36- Thành phần loài và đặc điểm các loài chim làm tổ tập đoàn tại vườn chim
- Nghiên cứu thức ăn của các loài chim làm tổ tập đoàn tại vườn chim
- Điều tra thành phần thực vật và xác định các loài cây chim dùng làm giá thể và vật liệu làm tổ ở vườn chim
- Hiện trạng và các yếu tố sinh thái tác động, gây ảnh hưỏng đến các loài chim ở khu vực nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp khoa học để bảo tồn và phát triển bền vững vườn chim
3.4 Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành tại vườn chim Ngọc Nhị, thôn Ngọc Nhị, xã CẩmLĩnh, huyện Ba Vì, Tp Hà Nội
Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2010 Trong khoảng thời gian trên chúng tôi tiến hành 5 đợt nghiên cứu thực địa cụ thể như sau:
Tổng số thời gian thực địa là 50 ngày
Trang 373.4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt các nội dung và mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, chúngtôi đã tiến hành các phương pháp nghiên cứu sau đây:
Cách tiếp cận để nghiên cứu
Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu đa dạng sinh học mang tínhtổng hợp, đa ngành, đa lĩnh vực Do vậy, mặc dù phạm vi đề tài này là cácloài chim và các yếu tố sinh thái nhưng các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trườngvẫn được quan tâm
+ Phương pháp kế thừa
Phương pháp kế thừa được nhiều nhà nghiên cứu chim thực hiện, đặcbiệt đối với chim là những động vật nhạy cảm và có khả năng vận độngnhanh Do thời gian thực thực hiện đề tài có hạn, nên việc điều tra thực địakhông thể có được đầy đủ thông tin về các loài chim Vì vậy, chúng tôi đã ápdụng phương pháp kế thừa có chọn lọc những tài liệu, số liệu và các báo cáo
đã được công bố của các nhà khoa học về tính đa dạng thành phần loài củakhu hệ chim ở vườn chim Ngọc Nhị Các số liệu, kết luận tham khảo sẽ đượckiểm chứng trong quá trình điều tra thực địa để có được kết luận chính xác.+ Phương pháp điều tra trao đổi thông tin với nhân dân
Đây là công việc được tiến hành theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp.Nội dung phỏng vấn bao gồm các vấn đề: các loài chim có trong khu vực, tênđịa phương, đặc điểm bên ngoài, nơi thường kiếm ăn, mùa sinh sản
Phỏng vấn là hoạt động rất quan trọng đối với việc điều tra chim vìngưòi dân địa phưong là những người biết rõ khu mình đang sống cũng nhưcác sản phẩm họ khai thác được Qua phỏng vấn ta có cái nhìn nhanh, kháiquát về khu hệ chim ở đây
Trang 38Nguyên tắc nhất quán của việc phỏng vấn đó là phải tôn trọng ý kiếncủa người dân đưa ra, không được phản bác hoặc tỏ thái độ không vừa lòng.Trước khi phỏng vấn chuẩn bị sẵn hệ thống câu hỏi với những câu hỏi đơngiản, rõ ràng, có mục tiêu nhất định Trong khi phỏng vấn cần giao tiếp nhẹnhàng, thoải mái để tạo không khí thân mật thuận lợi cho việc phỏng vấn Câuhỏi cần được lặp lại với nhiều người khác nhau đảm bảo thông tin thu được làtương đối chính xác
Chuẩn bị các hình vẽ, ảnh màu các loại chim, các sách nhận dạng chim
có màu Các hình và ảnh màu này được sử dụng khi phỏng vấn người dân ởkhu vực vườn chim
Quá trình phỏng vấn được chia làm các bước:
Bước 1: Để người dân địa phương tự kể tên các loài chim mà họ đã
nhìn thấy hoặc biết được trong vùng, trong đó gợi ý để người được phỏng vấn
mô tả đặc điểm nhận dạng của từng loài
Bước 2: Đưa người được phỏng vấn xem các ảnh hoặc hình vẽ màu
trong tài liệu
Bước 3: Phân tích mẫu vật, tiến hành thu thập số liệu hoặc mẫu vật còn
lưu giữ ở các gia đình như: loài chim được nuôi, lông, mỏ, chân Kết quả thuđược ghi vào mẫu biểu sau:
Mẫu biểu: Phiếu điều tra qua nhân dân
STT Người được phỏng Loài chim Nơi gặp Số lượng Ghi chú
vấn
Trang 39Những thông tin mà người dân cung cấp là một phần quan trọng trongnghiên cứu khu hệ chim Thông tin của nhân dân ban đầu giúp chúng ta biếtđược lịch sử hình thành vườn chim, thành phần loài, tập tính sinh hoạt, mùasinh sản Các thông tin này là cơ sở giúp chúng ta xây dựng lịch thời gianquan sát vào các thời điểm khác nhau trong ngày sao cho phù hợp nhất.
+ Phương pháp quan sát chim ngoài thiên nhiên
Đây là phương pháp nghiên cứu cơ bản truyền thống và cho kết quảchính xác nhất trong nghiên cứu chim Các kỹ năng cơ bản trong phươngpháp này được chúng tôi tham khảo các hướng dẫn trong một số tài liệu ởtrong và ngoài nước
Việc nghiên cứu chim ngoài thiên nhiên đòi hỏi người quan sát phải cónhững kiến thức nhất định về phân loại thông qua quá trình tìm hiểu, tích lũykiến thức từ các tài liệu tham khảo, các mẫu lưu giữ trong bảo tàng và quathực tế quan sát, đối chiếu thông qua các mẫu sống tại các cửa hàng chimcảnh, tập dượt định loại trong thiên nhiên tại những địa điểm dễ quan sátthông qua hướng dẫn của các chuyên gia nghiên cứu chim giàu kinh nghiệm
Quan sát nhận biết chim ngoài thiên nhiên được thực hiện như sau:Quan sát trực tiếp bằng mắt thường khi tiếp cận được chim ở cự ly gần.Khi đi quan sát, cần ngụy trang quần áo, mũ và các dụng cụ phụ trợ có màuphù hợp với màu sắc của thảm thực vật Đi lại nhẹ nhàng, không gây tiếngđộng mạnh Chọn những điểm thuận lợi để quan sát, hạn chế tối đa việc làmchim sợ hãi khiến trứng rơi vỡ hoặc chim non rời tổ và hoảng sợ và rơi xuốngđất có thể chết
Quan sát bằng ống nhòm ở cự ly xa Đồng thời chúng tôi cũng sử dụngmáy ảnh để chụp hình chim từ xa Để định loại chính xác các loài chim, cần
Trang 40Mật độ các loài được đánh giá theo chỉ số phong phú, dựa vào tần suấtbắt gặp trên thực địa (theo phương pháp của Trịnh Tác Tân,1973) Mật độđược đánh giá theo 4 cấp:
- Cấp hiếm: ( + ) loài tần suất bắt gặp nhỏ hơn 10%, hoặc không gặptrong quá trình điều tra, chỉ còn lại dấu vết hoặc nghe được từ thông tin của ngườidân địa phương
- Cấp ít: ( ++ ) loài ít gặp trong quá trình điểu tra, tần suất bắt gặp từ10% - 20%
- Cấp trung bình: ( +++ ) loài trong quá trình điều tra có tần suất bắt gặp từ 20% - 30%
- Cấp nhiều: ( ++++ ) loài trong quá trình điều tra có tần suất bắt gặp lớn hơn 30%
+ Phương pháp xác định thức ăn
Để xác định thành phần thức ăn của các loài chim nước làm tổ tập đoàntại vườn, chúng tôi tiến hành như sau:
- Quan sát trực tiếp các loài chim nước kiếm ăn ngoài tự nhiên
- Thu thập thức ăn do chim tha về và làm rơi vãi ở trong vườn