Do vậy, đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp phục hồi rừng phòng hộ ven bờ tại một số xã thuộc lưu vực sông Cầu” được thực hiện với mong muốn sẽ trả lời được các câu hỏi trên đây và góp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS PHÙNG VĂN KHOA
Hà Nội, 2010
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Có thể nói, chưa khi nào vai trò của rừng lại được “tôn vinh” như hiệnnay - trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu Điều này chứng tỏ rằng, ngoàicác giá trị về kinh tế, văn hóa, khoa học,… thì rừng có vai trò vô cùng quantrọng trong bảo vệ môi trường, điều hòa khí hậu góp phần nuôi dưỡng sự sốngtrên trái đất Quả không sai, câu tục ngữ “Rừng vàng, biển bạc” Bởi trên tráiđất này, liệu còn có gì quý hơn “vàng, bạc” ấy? Song những năm gần đây, sựbùng nổ dân số, nhu cầu phát triển kinh tế, con người đang gia tăng sức épvào rừng và tàn phá tài nguyên rừng ngày càng nghiêm trọng
Việt Nam được đánh giá là đất nước có tài nguyên rừng nhiệt đới vô cùngphong phú và đa dạng nhưng đồng thời cũng là một trong những quốc gia cótốc độ phục hồi rừng nhanh trên thế giới Tuy nhiên, điều đáng quan ngại hiệnnay là sự suy thoái rừng tự nhiên, nhất là rừng tự nhiên phòng hộ đầu nguồn
và ven bờ sông suối lại đang ở mức báo động
Lưu vực sông Cầu là một điển hình về sự mất rừng phòng hộ đầu nguồntrong số đó với tốc độ mất rừng là 1 - 2%/năm, độ che phủ rừng của các tỉnhthuộc vùng đầu nguồn lưu vực sông Cầu chưa đạt 30%, trong khi độ che phủ của
vùng cần thiết phải là trên 50% (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Uỷ Ban sông Cầu, 2000) Thêm vào đó là sự khai thác không hợp lý các nguồn tài nguyên:
đất, nước, khoáng sản,… để phục vụ phát triển dân sinh kinh tế của hàng triệudân trên toàn lưu vực đã gây ra các hiện tượng ô nhiễm, xói lở, bồi lấp thuỷ vực.Bên cạnh đó, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan hai bên bờ sông cũngđang bị xuống cấp nghiêm trọng, gây ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống củangười dân vùng ven bờ cũng như sự phát triển bền vững của toàn lưu vực sôngCầu Do vậy, việc khôi phục lại các đặc điểm tự nhiên của dòng sông và tiếnhành các giải pháp quản lý, đầu tư, bảo vệ lưu vực sông Cầu một cách bền vữngđang là vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay Một trong những giải pháp đó là phụchồi rừng phòng hộ ven bờ sông Cầu Đây là giải pháp được áp dụng phổ biếntrong phục hồi sông và quản lý lưu vực trên thế giới do có tính ưu việt rõ nét khi
so sánh với các giải pháp công trình truyền thống (làm kè đá, đổ bê tông, …)như: là giải pháp phi công trình (non – structure); kinh phí thấp; gần với tự nhiên
Trang 3(close - to - nature), thân thiện với môi trường; dễ thực hiện; đặc biệt là gầngũi với người dân và góp phần làm đẹp cảnh quan sinh thái Tuy nhiên, giảipháp này lại ít được đề cập tới ở Việt Nam và gần như nó chưa được quan tâmđúng mức
Kết quả khảo sát sơ bộ ở hầu hết vùng ven bờ sông Cầu hiện nay đều chothấy, rừng phòng hộ ven bờ hay thảm thực vật ven bờ đã và đang bị suy thoáinghiêm trọng, không còn khả năng phòng hộ hay bảo vệ môi trường như đúngnghĩa của nó, tình trạng lũ lụt, xói mòn, sạt lở hai bên bờ sông đang ở mức báođộng Vậy, thực trạng cụ thể của vấn đề ra sao? Khả năng phục hồi rừng phòng
hộ ven bờ sông Cầu như thế nào? Cấu trúc không gian và tổ thành loài cây nhưthế nào cho phù hợp với các điều kiện đặc thù của địa phương?… đang là những
câu hỏi chưa có câu trả lời bằng các căn cứ khoa học Do vậy, đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp phục hồi rừng phòng hộ ven bờ tại một số xã thuộc lưu vực sông Cầu” được thực hiện với mong muốn sẽ trả lời được các câu hỏi trên
đây và góp phần cung cấp cho cộng đồng cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn vềvai trò quan trọng của rừng phòng hộ ven bờ trên các lưu vực sông, từ đó làm cơ
sở để đề xuất các giải pháp phục hồi rừng phòng hộ ven bờ nhằm cố định bờsông, ổn định dòng chảy và giảm ô nhiễm nguồn nước trong lưu vực sông Cầu
Những kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ là tài liệu tham khảo có giá trịcho các nghiên cứu khác có liên quan, cho quá trình giảng dạy về rừng phòng hộ
và các giải pháp phục hồi sông suối của các cơ sở đào tạo, cũng như cho côngtác quản lý tổng hợp và bền vững các lưu vực sông ở Việt Nam
Trang 4PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Hiện nay, trong khoa học đã xuất hiện rất nhiều quan điểm, khái niệm
khác nhau về rừng phòng hộ ven bờ Song một số khái niệm phổ biến gắn liền
với các tổ chức, các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực này được ghi nhận như:
Rừng phòng hộ ven bờ được hiểu là khu vực có nhiều cây xanh, ở đó luôn
có cây bụi thảm tươi và các thảm thực vật khác trải dài, dọc theo hai bờ sôngsuối Hay đó là vùng đất nằm sát về hai phía bờ sông - nơi được quản lý bảo vệ
để duy trì tính nguyên vẹn của dòng nước và giảm tốc độ ô nhiễm đồng thờicung cấp thức ăn, môi trường sống, điều hoà nhiệt độ cho các loài thuỷ sinh và
động vật hoang dã (Theo NRCS Planning & Design Manual, 2005) Còn theo
Julia C Klapproth và James E Jonhson (2000) lại có quan điểm rộng hơn, chitiết hơn và nhấn mạnh đến khía cạnh rừng phòng hộ ven bờ Theo đó, đây là khuđất trực tiếp nằm kề sát với sông suối, hồ hay các diện tích bề mặt nước Ranhgiới giữa rừng phòng hộ ven bờ và vùng đất phía trên gần kề thường thoải và khónhận biết rõ Dù vậy, nó được phân biệt bởi vị trí cao thấp khác nhau, vùng ven
bờ ẩm hơn và dễ bị ngập lụt - nơi thu hút đặc biệt bởi sự tập hợp nhiều cây vàcon ở đó Nhờ có sự tác động qua lại giữa các yếu tố đất đai, thổ nhưỡng, khíhậu, thuỷ văn, thảm thực vật và sự quan tâm của cộng đồng Rừng phòng hộ ven
bờ được nuôi dưỡng bởi nhiều quy luật tự nhiên quan trọng như: đặc điểm sinhvật học, các chức năng sinh thái học, và đặc biệt là các lợi ích của xã hội
Trang 5cứu của Julia C Klapproth và James E Johnson (2000); PaulM Mayer,Steven K Reynolds Jr, Timothy J Canfield, US Environmental ProtectionAgency (2005) về chức năng của rừng phòng hộ ven bờ cho phép chúng ta rút
ra một số chức năng cơ bản sau:
+ Chức năng phòng hộ và bảo vệ môi trường: bảo vệ đất vùng ven bờnhư giữ đất, giảm tình trạng xói mòn, sạt lở đất; làm tăng tính hiệu ích củanguồn nước như ổn định dòng chảy, giảm các nguy cơ lũ lụt, ô nhiễm môitrường nước,…
+ Chức năng bảo tồn: góp phần bảo tồn đa dạng sinh học nói chúng và tính đặc trưng hệ sinh thái vùng ven bờ
+ Chức năng cung cấp: rừng phòng hộ ven bờ là hệ sinh thái chuyểntiếp giữa hệ sinh thái dưới nước và trên cạn nên có tính đa dạng sinh vật khácao Do đó, đây là nơi cung cấp thức ăn, nơi ở của rất nhiều loài sinh vật trêncạn và dưới nước Đồng thời cũng là nơi cung cấp một phần lâm sản phục vụnhu cầu của cộng đồng địa phương
+ Chức năng văn hóa, thẩm mỹ: góp phần làm đẹp sinh thái cảnh quan,
như là hình ảnh một dòng sông trù phú, xanh mát tạo nguồn cảm hứng thi cacho các văn, nghệ sỹ…
Trên đây là những chức năng đặc biệt quan trọng của rừng phòng hộven bờ Tuy nhiên, để có được vai trò trên, NRCS đã đưa ra một số khuyếnnghị về rừng phòng hộ ven bờ như sau:
- Không nên để nước chảy thành khe, rãnh qua rừng phòng hộ ven bờ
- Vùng phòng hộ ven bờ cần thiết phải được khoanh vùng bảo vệ, nghiêm cấm việc chăn thả vật nuôi tuỳ tiện trong đó
Trang 7NH4+, song nếu nồng độ Nitơ quá lớn sẽ là căn nguyên gây ô nhiễm, suy thoáimôi trường nước đồng thời làm suy giảm đa dạng sinh học và ảnh hưởng xấuđến sức khoẻ con người Nhưng thật kỳ diệu thay khi các nghiên cứu về lĩnhvực này thêm một lần nữa đã chứng tỏ được chức năng chuyển hoá Nitơ,giảm ô nhiễm nguồn nước rất hiệu quả của rừng phòng hộ ven bờ.
b Về cấu trúc của rừng phòng hộ ven bờ
Như vậy, chức năng đặc biệt quan trọng của rừng phòng hộ ven bờ đãđược chứng minh bằng các căn cứ khoa học từ nhiều công trình nghiên cứu liênquan khác nhau Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, vai trò sinh thái củarừng phòng hộ ven bờ thường xuyên biến động và được coi như là một hàm sốvới nhiều biến số Hay nói cách khác là luôn tồn tại nhiều nhân tố cố hữu hay hyhữu ảnh hưởng đến vai trò sinh thái của vùng ven bờ Chẳng hạn, khả năng làmgiảm ô nhiễm nước của rừng phòng hộ ven bờ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tốnhư: kích thước của vùng đệm, cấu trúc, tổ thành loài cây, đặc điểm đất đai, thổ
nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, tiểu khí hậu, của khu vực đó (Lin và cộng sự,
2002, theo trích dẫn của Liu, 2006) Vậy, vấn đề đặt ra là: liệu có mối quan hệ
chặt chẽ nào giữa đặc điểm và vai trò của rừng phòng hộ ven bờ? Độ rộng baonhiêu là đủ? Cấu trúc của vùng đệm như thế nào để cho hiệu quả tối ưu nhất?
Để làm sáng tỏ cho vấn đề này, hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều cácnghiên cứu về đặc điểm rừng phòng hộ ven bờ được ghi nhận, điển hình như:
Trang 8- Theo NRCS và Planning & Design Manual, độ rộng của hệ sinh thái rừng phòng hộ ven bờ có thể biến đổi linh hoạt tuỳ thuộc vào vị trí mà dòng sông chảyqua, vào tiềm năng xói mòn và độ dốc của vùng đất tại đó Ngoài ra, độ rộng nàycòn tuỳ thuộc vào nhu cầu về hoàn cảnh môi trường sống, độ rộng hành lang di chuyển của các loài động thực vật, các loài thuỷ sinh đang sống ở đó và chức năng sinh thái tiên quyết nhất của vùng ven bờ ở đó Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn các chất lắng cặn bị giữ lại ngay trong khoảng 25% đầu tiên của
độ rộng vùng đệm Độ rộng tối thiểu của vùng đệm phải là 7,6 m cho khả năng lọc chất lắng cặn, dinh dưỡng, sỏi, đá Song, để thảm thực vật vùng đệm có thể hấp phụ, sàng lọc được thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hoá học và
các hợp chất khó hoà tan khác thì độ rộng cần thiết của thảm thực vật ven bờphải lớn hơn 30 m Kết luận này cũng trùng với kết quả nghiên cứu củaWenger Fowler (2000) Trên quan điểm của NRCS, thì độ rộng rừng phòng hộven bờ nói chung cho các trường hợp chỉ nên thiết kế vừa đủ cho việc thựchiện các chức năng của nó, do đó độ rộng này vào khoảng 61m
- Nghiên cứu của Jocobs (1985) và Lowrance (1992) đều xác nhận rằng, có tới >85% nitrat và 78% lượng amoni được khử nếu độ rộng vùng đệm khoảng 30 –
50 m Kết luận này tương tự với kết quả nghiên cứu của Schoonover và lard (2003) về chức năng khử nitrate của rừng phòng hộ ven bờ là: với độrộng 10 m, rừng phòng hộ ven bờ có khả năng giảm được 61% lượng Nitrate
Wil-có trong nước ngầm tại đó Cũng tương tự như vậy với 38m độ rộng rừngphòng hộ ven bờ thì khả năng này sẽ tăng lên là 78%, ngoài ra vùng đệm nàycòn có thể khử được 52% lượng Amonium (Vellidis et al, 2003)
- Barling và Moore (1994) đã nhấn mạnh hiệu quả ngăn chặn - khửthuốc bảo vệ thực vật, chất hoá học, các hợp chất khó hoà tan, chất độc hại,
là không cao nếu thiết kế rừng phòng hộ ven bờ nhỏ hơn 30 m
Trang 9- Khi nghiên cứu trên các loại rừng phòng hộ ven bờ khác nhau thì Parkin
et al (2003) và Lynch et al (1985) đều thống nhất rằng, hiệu quả đó sẽ gấp 2 - 3lần nếu rừng phòng hộ ven bờ là rừng truởng thành hoặc rừng già
Vậy thảm thực vật ven bờ nên là thảm cỏ hay là rừng? Và quan hệ giữacác dạng sống của thực vật với hiệu quả của chúng được NRCS nghiên cứu vàtổng hợp như sau:
Bảng 1.1 Quan hệ giữa các dạng sống của thực vật ven bờ với mức độ hiệu quả tương ứng
Tác dụng Giảm xói mòn
Lọc, ngăn chặn chất lắng cặn,
Lọc chất dinh dưỡng, thuốc trừ sâu,
Môi truờng sống (MTS) dưới nước
Động vật trên đồng cỏ và thảo nguyên
Trang 10Đồng thời, hầu hết các nghiên cứu đều thống nhất chung là xây dựng
mô hình rừng phòng hộ ven bờ thường có ba vùng chiến lược (Hình 1.1) là:
Trang 11(1) Vùng trong cùng, cận kề với đất nông nghiệp hoặc rừng trồng đặctrưng bởi trảng cỏ, cây bụi bảo vệ nhằm kiểm soát dòng chảy mặt, tăng tínhthấm cho đất và cũng có thể là nơi làm hàng rào bảo vệ các loài động vật ăn
cỏ vùng ven bờ;
(2) Tiếp sau đó là vùng rừng được phép tác động trong một giới hạn vàmức độ nhất định, đảm nhiệm chức năng chủ yếu là hấp thụ, làm lắng đọng vàchuyển hóa chất lắng cặn, các chất dinh dưỡng từ dòng chảy mặt và dòngchảy dưới mặt đất;
(3) Ngoài cùng, ven sông suối là vùng cây rừng - cây phòng hộ chínhven bờ, là những loài cây trưởng thành, phân bố tự nhiên ven bờ sông suối,vùng có mức độ khai thác, tác động rất hạn chế
Hình 1.1 Lát cắt mô hình rừng phòng hộ ven bờ
(Nguồn: EPA/600/R-05/118, 2005)
Ngoài ra, Amitha (2003) cũng nhấn mạnh, việc xây dựng các giải rừngphòng hộ ven bờ sông suối đòi hỏi phải dựa trên những thông tin đầy đủ và thíchhợp về cơ cấu các loài cây và cấu trúc tổ thành giữa chúng trong từng điều kiện
cụ thể Theo Klapporth (2000) thì, việc thiết kế các giải rừng phòng hộ ven bờ để
Trang 12cải thiện chất lượng nước phải tính tới những tác động của điều kiện thuỷ văn,đất đai, thổ nhưỡng, mức độ, nguồn gây ô nhiễm, đặc điểm lớp phủ thực vậtven bờ và phương thức sử dụng đất ở những vùng ven bờ có liên quan.
1.1.2 Nghiên cứu về phục hồi rừng
Việc nghiên cứu phục hồi rừng trên thế giới được bắt đầu từ rất sớm.Năm 1930, Richard P.W đã có những nghiên cứu đầu tiên về diễn thế tái sinhphục hồi rừng, qua đó ông cho rằng, trong mỗi ô dạng bản, các cây tái sinh tựnhiên có dạng phân bố cụm hoặc đều và thế hệ cây tái sinh có tổ thành giốnghoặc không giống lớp cây tầng cao Đây là những nghiên cứu mở đầu rất quantrọng cho khoa học phục hồi rừng, song nó chưa chỉ ra được những giải pháp
cụ thể để phục hồi rừng
Tuy nhiên, khoa học nghiên cứu về phục hồi rừng mới thực sự phát triểnvào những năm 1950 trở lại đây Điển hình là các nghiên cứu của Barnard(1950), Smith (1952) ở Malaysia và nghiên cứu của Lamprecht ở Venezuela(1954) Những kết quả nghiên cứu đó đều đi đến thống nhất rằng: cần lợidụng triệt để thảm thực vật hiện có với các điều kiện lập địa khác nhằm duytrì tái sinh tự nhiên kết hợp với trồng bổ sung để phục hồi lại cấu trúc rừng
gần giống ban đầu (Trích theo Đặng Xuân Quý, 2005).
Khi nghiên cứu về rừng nhiệt đới châu Á, Van Steenis (1956) đã đưa rakết luận sau: tái sinh vệt thích hợp với những cây ưa sáng mọc nhanh, vòngđời ngắn; cây tái sinh phân tán, liên tục phù hợp với các loài ban đầu chịu
bóng hoặc những loài ưa bóng (Trích theo Nguyễn Thị Ngọc, 2003).
Ngoài ra, vấn đề được quan tâm nhiều hơn cả trong quá trình nghiêncứu về phục hồi rừng nhiệt đới, vẫn là hiệu quả lợi dụng tái sinh rừng của cácbiện pháp kỹ thuật lâm sinh Trong đó, phải kể đến hệ thống các phương pháp
xử lý và hiệu quả của nó đối với tái sinh rừng trong “Cơ sở sinh thái học và
Trang 13kinh doanh rừng mưa” của G Baur (1964).
Năm 1996, các nghiên cứu của Fedlmaner đã chỉ ra rằng, các nhân tốảnh hưởng tới quá trình tái sinh phục hồi rừng chủ yếu là: điều kiện lập địa,thành phần loài, nguồn cây mẹ gieo giống, Song đó mới chỉ là nghiên cứutổng hợp mà chưa chỉ ra được nhân tố nào ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, và chưa
đề cập đến nhóm nhân tố quan trọng là kinh tế xã hội
Năm 1975, khi phân tích sự phát triển của thảm thực vật thứ sinh,Whitimore đã nhấn mạnh; khoảng thời gian để các khu rừng tái sinh hạt đạt đượctới trạng thái là rừng nguyên sinh có thể tới hàng trăm năm Các khu rừng thuầnloài được tạo thành bởi những loài mà hạt của chúng có thể nảy mầm và trụ đượctrên các khu đất trống vào thời điểm thích hợp và cần lợi dụng lớp cây chồi, xử
lý thực bì theo băng rạch tránh phát trắng để sớm tạo hoàn cảnh rừng Đặc biệt,các nghiên cứu về kỹ thuật làm giàu rừng cũng tương đối phát triển, từ năm 1965
đã nghiên cứu và đưa ra khái niệm làm giàu rừng là bổ sung các loài cây có giátrị kinh tế vào những nơi rừng đã phục hồi nhưng thiếu hụt loài cây có giá trị.Đến năm 1989, Han Lamprecht và Aubreulle đã bổ sung thêm rằng, làm giàurừng là lựa chọn tối ưu nhất cho lâm phần ban đầu không đủ loài cây tái sinh cógiá trị kinh tế, từ đó đã xây dựng hoàn chỉnh phương pháp làm giàu rừng theo
rạch (Trích theo Bùi Thị Vân, 2005).
Theo J.Wyatt - Smith (1995), làm giàu rừng là sự bổ sung những loàicây có giá trị kinh tế vào những nơi rừng đã phục hồi lớp cây che phủ thứ sinhhoặc cây bụi nhưng thiếu hụt những loài cây có giá trị Wan Yu Sof (1998)cũng lưu ý khi chọn loài làm giàu rừng cần quan tâm đến các tiêu chí như: dễtạo cây tái sinh, tỉ lệ nảy mầm cao, ra hoa kết quả hàng năm, sinh trưởngnhanh, đặc biệt thời kì đầu, chịu bóng nhẹ lúc non, có khả năng chịu đựng
được sự cạnh tranh các cây khác, tự tỉa cành tốt, (Trích theo Trần Minh Cảnh, 2009)
Trang 14Ngoài ra, việc phân loại rừng - đối tượng phục hồi là cơ sở quan trọngcho đề xuất các biện pháp phục hồi Hiện nay, trên thế giới có 2 quan điểmphân loại chính được ghi nhận là: quan điểm của E.F Bruenig (1998) dựa vàođặc điểm hiện trạng thảm thực vật che phủ, gồm 5 loại chính: các lâm phầnrừng hỗn loài tự nhiên bị khai thác quá mức, các lâm phần rừng thứ sinh ở cácgiai đoạn phát triển khác nhau, các đám cây gỗ thứ sinh, trảng cỏ và các dạngthảm thực vật khác trên các loại hình thổ nhưỡng khác nhau Theo quan điểmphục hồi rừng của tổ chức cây gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO, 2002) thì rừng thứsinh nghèo được phân chia làm 3 loại phụ đó là: rừng nguyên sinh bị suy thoái(Degraded primary forest); rừng thứ sinh (Secondary forest); đất rừng bị thoáihoá (Degraded forest land).
Các nghiên cứu trên, tuy ở những khía cạnh khác nhau song chủ yếutập trung vào các hướng chính là: nghiên cứu về tái sinh và động thái ở rừngthứ sinh nghèo, phân loại rừng thứ sinh nghèo, các biện pháp kỹ thuật lâmsinh tác động và hiệu quả của các biện pháp đó,… Đây chính là những cơ sởkhoa học, có ý nghĩa lớn lao, đặt nền móng cho khoa học phục hồi rừng nóichung và phục hồi rừng phòng hộ ven bờ sông suối nói riêng ngày nay Tuynhiên, về khía cạnh kinh tế xã hội - nhân tố có tác động lớn đến hiệu quả phụchồi rừng lại chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều
1.1.3 Quản lý lưu vực có sự tham gia
Quản lý theo lưu vực sông là một hoạt động cần thiết và mang tính tất yếucủa thời đại ngày nay Trong đó, theo Heinz I và cộng sự, 2007 để quản lý lưuvực có hiệu quả thì việc phân quyền, khuyến khích sự tham gia của cộng đồngđịa phương là thực sự cần thiết Richard Aspinall và cộng sự (2000) cũng chorằng, sự tham gia của người dân đã trở thành nhân tố đặc biệt quan trọng, ảnhhưởng quyết định đến sự thành bại của các chương trình quản lý tổng hợp tàinguyên nói chung và quản lý lưu vực sông nói riêng Còn Klapporth (2000) thì
Trang 15nhấn mạnh việc quản lý rừng phòng hộ ven bờ nên được xem như một phầncủa chương trình quản lý sử dụng đất bền vững của địa phương đó Đặc biệtnhững nơi được cho là điểm nóng về mức độ ô nhiễm, tình trạng xói mòn, sạt
lở đất thì cần thiết phải tiến hành các biện pháp quản lý tổng hợp có sự thamgia (BMPs) để bổ trợ cho rừng phòng hộ ven bờ
Ngoài ra, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về lâm nghiệp cộngđồng nói chung, phục hồi rừng trên cơ sở cộng đồng và đã trở thành bài họcthành công của rất nhiều quốc gia như: Ấn Độ, Băngladet, Philippin, TháiLan,… Theo Poffenberger (2000) và Thakur (2001) thì sự thiếu tin tưởng giữangười dân địa phương với cơ quan lâm nghiệp, thiếu chính sách minh bạch đểthực thi quản lý xã hội và quản lý rừng có người dân tham gia cũng là nguyênnhân dẫn đến mất rừng Còn Gymour và Fisher (1997) cho rằng các hoạt độngquản lý rừng cộng đồng có liên quan đến việc mở rộng trồng rừng trên diệntích đã mất rừng, ở mức độ nào đó khá hơn là việc phối hợp quản lý hoặc
chuyển giao việc kiểm soát cho các cộng đồng (Chương “Lâm nghiệp cộng đồn”, Cẩm nang Lâm nghiệp, 2006).
Vấn đề đặt ra là “Sự tham gia” đó đến đâu và ở mức độ nào thì hiệuquả? Nghiên cứu của Creighton (2004, trích theo Matthew, 2007) đã giảiquyết được vấn đề đó bằng 4 cấp độ đánh giá sự tham gia của người dân là:(1) Được cung cấp thông tin; (2) Được nghe về một quyết định nào đó trướckhi nó ra đời; (3) Được đóng góp ý kiến cho việc xây dựng quyết định; (4)Được quyền phủ quyết hay tán thành quyết định đó
1.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu về rừng phòng hộ ven bờ
Việc nghiên cứu về rừng phòng hộ ven bờ cũng như các giải pháp phục hồi rừng phòng hộ ven bờ vẫn còn là khá mới và hạn chế ở Việt Nam Phần lớn các nghiên cứu trước đây mới chỉ tập trung vào phân cấp đầu nguồn mà chưa đặt vùng
Trang 16ven bờ vào đúng vị trí tầm quan trọng của nó Tuy nhiên, vào những năm 70 củathế kỷ XX đã bước đầu có một số công trình nghiên cứu về thuỷ văn rừng ítnhiều đề cập đến vấn đề này, mà một trong những nghiên cứu điển hình đó là:
- Nghiên cứu của Bùi Ngạnh, Nguyễn Danh Mô (1977) và NguyễnNgọc Bích (1985) về sự biến đổi dòng chảy mặt của một số dạng rừng khácnhau Các tác giả đã đề xuất những mô hình bố trí đai rừng giữ nước trongvùng đất dốc và ven lưu vực sông
- Mặt khác, khi nghiên cứu về rừng phòng hộ ở các triền sông, Lê ĐăngGiảng và Nguyễn Hoài Thu (1981) đã đề nghị: cần phải thiết kế rừng phòng
hộ ở các triền sông sao cho phát huy tối đa khả năng giữ nước của nó Song,
đề tài chưa đưa ra được một mô hình hay biện pháp cụ thể nào cho rừngphòng hộ ở các triền sông
- Ngày 15/06/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ký Quyết định số 219-
CT về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng vùng kinh tế phòng hộ xung yếu ven
hồ Hoà Bình, theo đó thì vùng ven hồ Hoà Bình có chiều dài 200km, rộng trung
bình 2km Song, theo “Dự án đầu tư xây dựng hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn
sông Đà”, tháng 10 năm 1990 của Viện Điều tra Quy hoạch rừng thì vùng phòng hộ
xung yếu ven bờ hồ Hoà Bình chỉ được xác định trong phạm vi 200m Điều này chứng tỏ việc xác định ranh giới vùng phòng hộ ven hồ Hoà Bình là chưa thống
nhất và chưa có đầy đủ cơ sở khoa học (Trích theo Phùng Văn Khoa, 2009)
- Tác giả Vũ Anh Tuấn (2004), với luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu biến động của lớp phủ thực vật đến quá trình xói mòn trên lưu vực sông”, đã đánh giá lớp phủ thực vật, đặc biệt độ che phủ của rừng phòng hộ ven bờ có quan
hệ chặt đến rất chặt tới xói mòn lưu vực Đồng thời tác giả đã đề xuất theodõi, quản lý xói mòn trên các lưu vực sông bằng ảnh vệ tinh
- Năm 2005, với luận văn Thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp: “Nghiên cứu đặc điểm vùng bán ngập của một số hồ trọng điểm ở miền Bắc Việt Nam và đề xuất
Trang 17giải pháp trồng rừng phòng hộ ven hồ”, Âu Văn Bảy đã phân tích điều kiện lập
địa và đề xuất được mô hình trồng rừng ven hồ Song đề tài chưa đề cập nhiềuđến các giải pháp về kinh tế xã hội nên tính thuyết phục của đề tài không cao
- Nghiên cứu của GS Phạm Song, Phó trưởng Ban thường trực Ban chỉđạo Quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường, chỉ ra rằng: 1harừng ở ven bờ, về mùa lũ sẽ ngăn cản tối đa, khiến lượng đất đá đổ xuốngdòng sông là không đáng kể Nhưng nếu 1ha thảm thực vật rừng này bị suygiảm thì về mùa lũ lượng đất, đá đổ xuống dòng sông có thể lên đến 150tấn/năm gấp 1500 lần…Vì vậy, nếu không có biện pháp phục hồi rừng phòng
hộ ven bờ sông suối thì kết quả là dòng sông đó sẽ bị ô nhiễm và dần bị lấp
đầy (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Uỷ Ban sông Cầu, 2000).
- Gần đây (2006), một nghiên cứu được cho là khá mới và chuyên sâu
về rừng phòng hộ ven bờ ở nước ta, đó là luận án tiến sỹ: “Tổ thành loài cây
và động thái tăng trưởng của rừng phòng hộ ven bờ ở vùng Đông Bắc - Việt Nam” của Vũ Thị Quế Anh Với phương thức điều tra hệ thống theo các tuyến
cắt ngang dòng chảy, tác giả đã thống kê được các chỉ tiêu cấu trúc, tái sinh,
tổ thành loài cây, tính chất đất tại khu vực nghiên cứu Tuy nhiên, đề tài cũngcòn một số hạn chế như: chưa đề cập đến vấn đề quy hoạch rừng phòng hộven bờ, chưa phân tích được ảnh hưởng của các yếu tố về tự nhiên, kinh tế xãhội đến kết quả nghiên cứu và các giải pháp về phục hồi hệ sinh thái rừng đặc
thù này cũng chưa được tập trung làm rõ (Trích theo Phùng Văn Khoa, 2009).
1.2.2 Nghiên cứu về phục hồi rừng
Những nghiên cứu về biện pháp phục hồi rừng ở nước ta đã diễn ra từnhững năm 50 của thế kỷ XX Nhưng phải tới những năm 90 mới thực sự cócác công trình nghiên cứu chuyên sâu về phục hồi và diễn thế rừng Đó là một
số công trình nghiên cứu tiên phong phải kể đến sau:
Trang 18- Nghiên cứu phân loại đối tượng và đề xuất biện pháp phục hồi rừngbằng khoanh nuôi, xúc tiến, tái sinh vùng lưu vực Sông Đà, Chương trình lâmnghiệp tổng hợp, (Mã số 04.01), Giai đoạn 1986-1990.
- Năm 1993, khi nghiên cứu giải pháp phục hồi hệ sinh thái rừng ở miềnNam, Việt Nam, nơi rừng bị nhiễm chất độc màu da cam, Thái Văn Trừng đã kếtluận rằng, để phục hồi loại rừng này cần thiết phải qua hai bước là: trồng loài cây
có khả năng tổng hợp Nitơ tự nhiên để giải phóng đất, sau đó chặt bỏ lớp cây nàyrồi trồng cây rừng có giá trị Cùng năm đó khi nghiên cứu rừng tái sinh tự nhiêndưới tán rừng khộp ở Easup - ĐăcLăk, Đỗ Quang Điệp đã đưa ra kết luận: độ tànche của rừng, thảm mục, độ dày đặc của thảm tươi, điều kiện lập địa là nhữngnhân tố ảnh hưởng sâu sắc đến số lượng và chất lượng cây tái sinh
- Nguyễn Ngọc Lung (1995) và Nguyễn Luyện (1992) đều cho rằng,hiệu quả phục hồi rừng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện tự nhiên, đặctính sinh vật học của các loài, điều kiện kinh tế xã hội của khu vực đó
- Trần Đình Lý và các cộng sự (1996) đã tiến hành hệ thống các biệnpháp kỹ thuật, đồng thời liệt kê được 155 loài cây bản địa cho việc khoanhnuôi phục hồi rừng Từ đó, các tác giả đã xây dựng lên quy phạm khoanh nuôiphục hồi rừng Đây là công trình đầu tiên ở Việt nam đề cập một cách hệthống từ cơ sở khoa học đến quy phạm khoanh nuôi phục hồi rừng ở Việtnam Nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng quy phạm chưa xâydựng được quy trình khoanh nuôi cụ thể cho từng vùng và từng loại hình rừng
cụ thể
- Vũ Xuân Đê (1999) đã nghiên cứu và cho rằng: cần thiết phải hỗ trợtái sinh tự nhiên bằng tái sinh nhân tạo vì tiêu chuẩn cơ bản để xét đối tượnglàm giàu rừng là tái sinh tự nhiên không đủ khả năng đảm bảo cho rừng phục
hồi với chất lượng và trữ lượng cao (Trích theo Đặng Xuân Quý, 2003).
Trang 19- Theo Võ Đại Hải và cộng sự, 2003 thì phục hồi rừng trước hết là phụchồi lại thành phần chủ yếu của rừng là thảm thực vật cây gỗ, là một quá trìnhsinh học gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thế hệ mớithảm cây gỗ bắt đầu khép tán Quá trình phục hồi rừng sẽ tạo điều kiện cho sựcân bằng sinh học xuất hiện, đảm bảo cho sự cân bằng này tồn tại liên tục vàcũng vì thế chúng ta có thể sử dụng chúng liên tục được
Hầu hết các công trình nghiên cứu đều tập trung tìm hiểu quy luật củaquá trình diễn thế tái sinh phục hồi rừng, các vấn đề cơ bản của quá trình phụchồi rừng tự nhiên Những kết quả này sẽ là cơ sở khoa học nhằm xác định cácbiện pháp phục hồi rừng Song, để phục hồi rừng có hiệu quả rất cần thiết phải
có quy trình quy phạm cụ thể Do vậy, QPN (Quy phạm ngành)14 - 92, kèmtheo Quyết định 200 QĐ - KT năm 1993 về quy trình quy phạm các biện pháp
kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng đã lần lượt được ban hành Gần đây QPN 21
-98 đã bổ sung thêm các tiêu chuẩn mang tính lượng hoá nhằm xác định đốitượng, biện pháp, thời gian và kết quả đạt được của hoạt động phục hồi rừng
Một số kỹ thuật lâm sinh cho phục hồi rừng thứ sinh nghèo chủ yếu hiện nay ở nước ta là:
- Kỹ thuật phục hồi rừng bằng khoanh nuôi bảo vệ: là giải pháp tândụng triệt để khả năng tái sinh và diễn thế rừng tự nhiên để tạo lại rừng, thôngqua các biện pháp ngăn chặn có tính chất hành chính với các tác động có hại
từ bên ngoài; chặt phá, chăn thả, đốt rừng,
- Kỹ thuật xúc tiến tái sinh tự nhiên: là một biện pháp phục hồi rừngdựa vào năng lực tái sinh tự nhiên của rừng nghèo hiện có (hạt hoặc chồi) làchính, thông qua kỹ thuật người ta có thể trồng bổ sung mật độ và tổ thànhcây tái sinh để đảm bảo rừng được phục hồi tốt, đáp ứng các mục tiêu đề ra
- Kỹ thuật phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, kết hợpvới làm giàu rừng: là giải pháp lợi dụng triệt để khả năng tái sinh, diễn thế tựnhiên để phục hồi rừng thông qua các biện pháp bảo vệ, biện pháp kỹ thuậtlâm sinh và trồng bổ sung cần thiết
- Kỹ thuật làm giàu rừng: là biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm cải thiện
Trang 20tỷ lệ cây mục đích ở rừng thứ sinh nghèo (hoặc tỷ lệ cây tốt ở rừng trồng) mà
không loại bỏ thảm thực vật rừng cũ và các cây non mục đích có sẵn (QPN
14 - 92, QPN 21 - 98, Phạm Xuân Hoàn và Hoàng Kim Ngũ, 2003).
Đồng thời cũng theo các quy phạm này, các đối tượng tác động đượcphân loại dựa trên các tiêu chí như sau:
Bảng 1.2 Phân loại đối tượng tác động phục hồi rừng trong quy phạm lâm sinh
Trang 21Trồng rừng.
(Nguồn: QP 14 – 92 và QP 21 – 98, trích theo Trần Minh Cảnh, 2009)
Ngoài ra, về công tác trồng rừng phòng hộ cũng có nguyên tắc tương tự
Trang 22với trồng rừng nói chung như: kỹ thuật chọn giống cây trồng, kỹ thuật trồngrừng,… được trình bày chi tiết trong hai chương: “Cải thiện giống và quản lý
giống cây rừng ở Việt Nam” và “Trồng rừng” (Cẩm nang Lâm nghiệp, 2006).
Tuy nhiên, do có những tính chất và đặc trưng riêng mà trong quá trình trồngrừng phòng hộ cần lưu ý một số vấn đề sau:
+ Làm đất, xử lý thực bì cần được tiến hành theo phương thức cục bộ
và theo đường đồng mức
+ Tiêu chuẩn cây con trồng rừng phòng hộ, đặc biệt là giống cây trồngbản địa phải cao hơn so với tiêu chuẩn cây con trồng rừng nhằm sớm tạo lậpđược tiểu hoàn cảnh rừng, phát huy chức năng phòng hộ
+ Phương thức trồng là hỗn giao, có thể kết hợp giữa cây phòng hộchính với các cây phù trợ hoặc cây bạn Mật độ trồng thường phải dày hơn sovới rừng kinh tế
+ Quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng chỉ tiến hành làm cỏ, xới vun gốc,loại bỏ cây sâu bệnh, dây leo; không phát luỗng cây bụi, không tỉa cành;…chú ý chăm sóc cho tầng cây tái sinh nhằm dẫn dắt rừng theo hướng đa tầng,
có độ che phủ cao (Nguồn: Chương “Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng phòng hộ ven biển”, Cẩm nang Lâm nghiệp, 2006)
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu phục hồi rừng vùng ven bờ, vùng bánngập ở Việt Nam hiện nay còn hạn chế, mới chỉ tập trung ở các vùng đất chuaphèn, như nghiên cứu của Huỳnh Hữu To (1999), của Đỗ Đình Sâm (1999),
đã xác định được các loài thích hợp cho các vùng này như: Tràm (Melaleuca cajuputi), Gáo nước (Neolamarckia sp),… Một nghiên cứu gần đây (từ năm
2001-2007) của Trường Đại học Lâm nghiệp về “Xây dựng mô hình phục hồirừng trên đất bán ngập ven lòng hồ Hòa Bình” đã bổ sung thêm vào danh lục
các loài cây thích hợp cho vùng bán ngập như: Nhội (Bischofia javanica), Dâu da xoan (Baccaurea sp),… ( Âu Văn Bảy, 2005) Tuy nhiên, đây là một
trong số rất ít nghiên cứu về phục hồi và phát triển vùng bán ngập, trong khivới đặc điểm tự nhiên, nước ta có hàng trăm, hàng nghìn ha đất ven bờ bị mấtthảm thực vật, tình trạng xói lở, bồi lấp lòng sông, lòng hồ đang ở mức báo
Trang 23động Điều này, thêm một lần nữa chứng tỏ vấn đề nghiên cứu tiền khả thi cho vùng ven bờ ở nước ta đang bị bỏ ngỏ và tính cấp thiết của đề tài
1.2.3 Quản lý lưu vực có sự tham gia
Ở Việt Nam, hoạt động quản lý lưu vực nói chung và bảo vệ môi trườnglưu vực nói riêng có sự tham gia, đã được triển khai theo tinh thần Nghị quyết
số 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường, và đãđạt được những thành công nhất định Song sự tham gia này còn nhiều hạnchế, tiềm năng của cộng đồng vẫn chưa được phát huy đầy đủ, sự tham giacủa cộng đồng vào các quá trình ra quyết định và các hoạt động quản lý môi
trường lưu vực còn rất mờ nhạt và khá bị động (Uỷ ban sông Cầu, 2005).
Ngoài ra, sự tham gia trong lâm nghiệp cũng đang được Đảng và Nhà nướcđặc biệt quan tâm, chú trọng Đó sự ra đời và phát triển của lâm nghiệp xã hội(lâm nghiệp cộng đồng) có sự tham gia của người dân Điều mà theoFAO,1983 cho rằng, đó như là một sự hợp tác chặt chẽ của người dân tới mức
họ cảm thấy phải chịu trách nhiệm về thành công hay thất bại của một chương
trình, dự án nào đó Đồng thời, theo D.Messerschnidt (1992, trích theo
Nguyễn Bá Ngãi, 2006) thì sự tham gia cần phải được thể hiện xuyên suốt qua
5 bước: xác định vấn đề; lập kế hoạch và quyết định; huy động nguồn lực vàthực hiện; chia sẻ lợi ích; giám sát và đánh giá
Qua nghiên cứu phần tổng quan trên, chúng ta nhận thấy rằng: mặc
dù trên thế giới đã có những nghiên cứu khá đầy đủ về rừng phòng hộ ven bờ sông suối, cũng như các biện pháp phục hồi trong quản lý lưu vực bền vững Tuy nhiên, ở Việt Nam các nghiên cứu này chưa nhiều nếu như không muốn nói là đang bị bỏ ngỏ và chưa được quan tâm đúng mức Vì vậy, việc nghiên cứu của đề tài sẽ là rất cần thiết trong quản lý lưu vực bền vững ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, những kết quả nghiên cứu tổng quan này sẽ là tài liệu tham khảo quý báu trong quá trình triển khai, nghiên cứu đề tài.
Trang 24PHẦN II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất được giải pháp phục hồi rừng phòng hộ ven bờ tại một số
xã thuộc lưu vực sông Cầu, nhằm góp phần ổn định dòng sông và giảm ô nhiễm nguồn nước
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là rừng phòng hộ ven bờ tại một
số xã thuộc lưu vực sông Cầu
- Hiệp Hòa - Bắc Giang
- Thời gian: từ tháng 12/2008 - tháng 10/2010
2.4 Nội dung nghiên cứu
2.4.1 Nghiên cứu cơ sở kỹ thuật phục hồi rừng phòng hộ ven bờ sông Cầu tại các khu vực nghiên cứu bao gồm:
1 Đặc điểm điều kiện địa hình; đất đai, thổ nhưỡng; khí hậu,
2 Đặc điểm xói lở ven bờ sông Cầu
3 Đặc điểm tài nguyên thực vật ven bờ sông Cầu (phân loại trạng thái rừng, trữ lượng, độ tàn che, độ che phủ, cấu trúc, tổ thành,…)
4 Đặc điểm tài nguyên động vật ven bờ trong phạm vi nghiên cứu
2.4.2 Nghiên cứu cơ sở kinh tế xã hội phục hồi rừng phòng hộ ven bờ sông Cầu tại khu vực nghiên cứu bao gồm:
1 Sự ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất kinh tế, các loại hình sử dụng đất đến hiện trạng sông Cầu và công tác phục hồi rừng phòng hộ ven bờ
Trang 254 Sự ảnh hưởng của một chính sách, pháp luật trong xây dựng và bảo
vệ rừng phòng hộ ven bờ sông Cầu
2.4.3 Đề xuất một số giải pháp góp phần phục hồi rừng phòng hộ ven bờ sông Cầu tại khu vực nghiên cứu
1 Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật cho phục hồi rừng phòng hộ ven
2.5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nội dung trên, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
2.5.1 Quan điểm phương pháp luận
Rừng phòng hộ là rừng được sử dụng với mục đích chủ yếu để bảo vệnguồn nuớc, bảo vệ đất chống xói mòn, chống sa mạc hoá, hạn chế thiên tai, điều
hoà khí hậu góp phần bảo vệ môi trường (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2004) Như vậy, việc nghiên cứu các biện pháp phục hồi rừng phòng hộ
đặc biệt là rừng phòng hộ ven bờ sông suối - nơi có ảnh hưởng trực tiếp đến
Trang 26dòng chảy, nguồn nước và sự xói mòn của khu vực là rất quan trọng trong quản
lý lưu vực bền vững hiện nay Trên quan điểm của các nhà sinh thái học thì phụchồi rừng phòng hộ nói chung và rừng phòng hộ ven bờ sông suối nói riêng làphục hồi lại toàn bộ cảnh quan, sinh thái rừng như vốn có của nó Đồng thời giảipháp kỹ thuật cho phục hồi rừng là dựa trên cơ sở các quy luật tái sinh, diễn thế
tự nhiên và các đặc điểm khác nhằm đưa ra các tác động phục hồi rừng theo mục
tiêu đề ra Song, để phù hợp với quy luật của tự nhiên cho công tác phục hồi
rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ ven bờ sông suối thực sự có hiệu quả, chúng takhông chỉ đơn thuần dựa vào đặc điểm của đối tượng cần phục hồi mà còn dựavào nhiều yếu tố kinh tế xã hội khác Vì vậy, đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu cơ sở
kỹ thuật cũng như cơ sở kinh tế xã hội để từ đó đề xuất các biện pháp phục hồirừng phòng hộ ven bờ sông Cầu Các bước nghiên cứu được thể hiện trong sơ đồ
(Hình 2.1)
Thu thập thông tin và tài liệu phục
vụ cho ý tưởng nghiên cứu
Phân tích, xử lý các thông tin đã
thu thập được
Xác định địa điểm, kế hoạch nghiên cứu
Điều tra, thu thập, xử lý và thảo luận
sông Cầu tại khu vực nghiên cứu,
- Hiện trạng tài nguyên động vật
ven bờ
Cơ sở kinh tế xã hội
- Ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất; sự phân bố dân cư đến dòng sông
- Kiến thức bản địa trong nghiên cứu, phục hồi rừng ven bờ
- Nhận thức, ý thức của người dân trong xây dựng rừng phòng hộ ven bờ
- Ảnh hưởng của một số chính sách, pháp luật trong phục hồi rừng phòng hộ ven bờ
Giải pháp phục hồi rừng phòng hộ ven bờ tại một số xã thuộc lưu vực sông Cầu
Hình 2.1 Sơ đồ các bước nghiên cứu
Trang 272.5.2 Phương pháp tiến hành
1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp
Để hoàn thành những nội dung trên đề tài tiến hành nghiên cứu một số tài liệu sau:
+Điều kiện tự nhiên: khí hậu thuỷ văn, địa hình, đất đai, thổ nhưỡng, tài nguyên của khu vực nghiên cứu
+ Điều kiện kinh tế - xã hội: cơ cấu ngành nghề, sản xuất hàng hoá; dân số, phong tục tập quán,…
+Văn bản, quy phạm về khoanh nuôi phục hồi rừng, kế hoạch, chiến lược phát triển lâm nghiệp,… của địa phương
+ Hiện trạng tài nguyên rừng tại địa phương
2 Phương pháp chuyên ngành
a Sơ thám
Sơ thám qua tìm hiểu tài liệu, hiện trường và phỏng vấn cán bộ địaphương nhằm lập kế hoạch cụ thể, chuẩn bị cho điều tra chi tiết Phương phápnày cần đạt được kết quả sau:
+ Toàn cảnh về hiện trạng sử dụng đất, cảnh quan, môi trường ven bờ sông Cầu tại địa phương
+ Vị trí tương đối, đặc thù của các thôn, xóm (làng, bản)
+ Thu hẹp được không gian điều tra chi
tiết b Chi tiết
- Phương pháp điều tra theo tuyến (trong phạm vi độ rộng 100m ven
bờ sông Cầu tại khu vực nghiên cứu)
+ Khảo sát hiện trạng sử dụng đất ven bờ trong phạm vi nghiên cứu
theo Mẫu
biểu 01
Trang 28Mẫu biểu 01: Biểu khảo sát hiện trạng sử dụng đất
Ký
điểm
+ Điều tra tài nguyên động vật: trên tuyến điều tra tiến hành quan sát bằng
mắt thường, các thông tin được ghi vào Mẫu biểu 02:
Mẫu biểu 02: Biểu điều tra động vật theo tuyến
Tuyến điều tra:………… Địa điểm:…………
Ngày điều tra:……… Người điều tra:………
Thời gian bắt đầu:……… Thời gian kết thúc:……Quãng đường:
STT Tên loài gặp Thời gian Số lượng Sinh cảnh Dấu vết Mô tả
+ Xác định tình hình sạt lở ven bờ sông Cầu tại khu vực nghiên cứu bằng
cách sử dụng thước dây, thước sào theo Mẫu biểu 03a
Mẫu biểu 03a: Biểu xác định hiện trạng sạt lở đất ven bờ.
Vị trí:
TT điểm
+ Trên cơ sở kết quả điều tra tại Mẫu biểu 03a tiến hành chọn một số điểm
(có độ dốc lớn và sạt lở nghiêm trọng) để xác định tốc độ sạt lở và xói mòn bề
Trang 29- Phương pháp lập và điều tra trên ô tiêu chuẩn (ÔTC): Điều tra hiện
trạng tài nguyên thực vật (tại nơi có rừng):
Trong phạm vi bán kính 100 m ven bờ sông suối tại khu vực nghiên cứu,
Trang 3110m
Hình 2.2 Mô hình lập ô tiêu chuẩn
Trên mỗi (ÔTC) tiến hành điều tra những nội dung sau:
+ Điều tra tầng cây cao trên mỗi ÔTC theo Mẫu biểu 05
Mẫu biểu 05: Biểu điều tra tầng cây cao
Số hiệu ÔTC:……… ……….Ngày điều tra:………
Độ dốc:………Hướng phơi:……….Địa điểm:……….Độ tàn che (ĐTC):………
Tình hình sinh trưởng của cây được đánh giá ở 3 mức: tốt, trung bình và xấu,Trong đó: *) Cây tốt là những cây sinh trưởng phát triển tốt, tán cân đối, thân thẳng không bị sâu bệnh
*) Cây trung bình là những cây có chiều cao thấp hơn, sinh trưởng kém hơn, nhưng vẫn có triển vọng
*) Cây xấu là những cây cong queo, sâu bệnh, cụt ngọn phát triển kém không
có triển vọng
Trang 32Xác định độ tàn che: có thể áp dụng theo 2 cách:
Cách 1: Dùng phương pháp vẽ trắc đồ theo phương pháp của Richards vàDavis (1934) biểu diễn trên giấy kẻ ô ly được xác định cho từng ô thứ cấp theophương pháp vẽ trắc đồ ngang Độ tàn che tầng cây cao được xác định bằng tỷ sốgiữa tổng diện tích hình chiếu tán lá và tổng diện tích của ô thứ cấp
Cách 2: Dùng ống nhòm (được thiết kế để chuyên đo độ tàn che, độ chephủ mặt đất) có đường kính 0.5 cm, tiến hành đo tại các điểm trên các tuyến
đã được đánh dấu sẵn tại các ÔTC bằng cách người điều tra quan sát tán câyqua ống nhòm theo phương thẳng đứng và cho điểm theo 3 mức: 1 điểm nếután cây che kín tầm quan sát của ống nhòm, 0 điểm nếu tại đó không có táncây và còn lại là 0.5 điểm (cách điều tra độ che phủ mặt đất cũng tương tựbằng việc quan sát xuống mặt đất theo phương thẳng đứng) Hệ thống điểm sẽđược bố trí mang tính đại diện nhất, tùy vào độ đồng đều của các cây tầng cao
mà số điểm được thiết lập có thể dao động từ 50-100 điểm Kết quả độ tàn checủa ÔTC được điều tra là ∑xi/n (với xi là giá trị điểm tại điểm điều tra thứ i, n
là tổng số điểm điều tra)
+ Điều tra cây tái sinh: trên mỗi ÔTC (500 m2) tiến hành lập 5 ô dạng bản
(ÔDB), mỗi ÔDB có diện tích 9 m2 theo Các ÔDB được bố trí theo sơ đồ sau:
ÔDB (9m2)
ÔTC (500m2)
Hình 2.3 Sơ đồ bố trí điều tra các ÔDB
Trang 33Mẫu biểu 06: Biểu điều tra cây tái sinh
Số hiệu ÔDB:………Độdốc:……… Hướng phơi:………Ngày điều tra:………
+ Điều tra cây bụi thảm tươi trên các ÔDB:
Mẫu biểu 07: Biểu điều tra cây bụi thảm tươi
Số hiệu ÔDB:……… Độ dốc:……… Hướng phơi:………Ngày điều tra:………
- Phương pháp điều tra đặc điểm, lấy mẫu và phân tích đất
+ Điều tra các đặc điểm cơ bản về đất được tiến hành bằng cách đào và mô tảphẫu diện: tại mỗi địa điểm nghiên cứu, tiến hành đào và mô tả hai phẫu diện
(Bảng mô tả phẫu diện tại Phụ lục 08b) tại hai vị trí đại diện là đất canh tác
nông nghiệp và đất có rừng trong phạm vi nghiên cứu là 100 m độ rộng ven
bờ Kích thước của phẫu diện là rộng 1.2m, dài 1.5m, sâu 1.5 - 2m
+ Lấy mẫu đất và phân tích: mỗi phẫu diện lấy 2 mẫu để phân tích các chỉ tiêunhư: độ xốp, hàm lượng mùn, thành phần cơ giới,… trong phòng thí nghiệm
Trang 34Mẫu1: dùng ống dung trọng có thể tích (V = 100 cm3) để lấy mẫu tạitầng A ở thành phẫu diện.
Mẫu 2: dùng dao nhọn rạch 2 đường song song cách nhau 1-1.5cm tạichính giữa dọc theo chiều sâu của thành phẫu diện, sau đó tách nhẹ lấy lớp đấtmỏng giữa hai đường rạch đó từ trên xuống dưới làm mẫu tổng hợp các tầng đất
- Phương pháp tham dự PRA (Participatory rural appraisal): bao gồm kỹ thuật phỏng vấn và thiết kế bảng hỏi
Phương pháp này chủ yếu dựa vào hình thức trò chuyện thân mật giữangười phỏng vấn với người dân và cán bộ lãnh đạo của địa phương Mục đíchnhằm thu thập, bổ sung thông tin, kiểm tra lại những thông tin đã phỏng vấn.Ngoài ra, thì người phỏng vấn có thể khai thác thêm các thông tin về tri thức,kinh nghiệm và những nguyện vọng của người dân trong quá trình phỏng vấn
Để công tác phỏng vấn đạt hiệu quả cao sẽ cần đến ba hình thức phỏng vấn sau:+Phỏng vấn cá nhân: các cá nhân được lựa chọn một cách ngẫu nhiên, cótrình độ, lứa tuổi, giới tính, phân bố khác nhau nhằm thu thập thông tin mangtính khách quan, chính xác
+Phỏng vấn người cung cấp thông tin chính: người chọn phỏng vấn là người
có địa vị nhất định trong cộng đồng, nhằm thu thập những thông tin thốngnhất và chính xác cao
+Phỏng vấn nhóm người tại nơi nghiên cứu: trong quá trình trả lời phỏngvấn, những người này có dịp bàn bạc với nhau và đưa ra những thông tin toàndiện, sâu sắc hơn Song, những vấn đề mang tính nhạy cảm sẽ không đượckhai thác trong hình thức này
Trong thời gian và điều kiện cho phép, để kết quả phỏng vấn được chính xáckhách quan, chúng tôi sử dụng phương thức khai thác thông tin, trên cơ sở tròchuyện thân mật với nội dung hoặc mẫu bảng phỏng vấn đã được chuẩn bị trước
(Phụ lục 08c) Với phương pháp khai thác thông tin này sẽ có rất nhiều cá nhân
Trang 35được phỏng vấn, trò chuyện Song vì những lý do khách quan, chủ quan mà
đề tài chỉ tiến hành thống kê 30 kết quả phỏng vấn của 30 hộ gia đình cá nhân
và cán bộ địa phương cho mỗi địa điểm nghiên cứu
3 Phương pháp chuyên gia: trong suốt quá trình nghiên cứu, đề tài luôn
tham khảo và trao đổi ý kiến với các chuyên gia về các lĩnh vực liên quan
2.5.3 Xử lý nội nghiệp
1 Phương pháp thống kê, phân tích thống kê với sự hỗ trợ của phần mềm Office Excel, SPSS (Statistical package for Social Sciences)
i Xác định đặc điểm thảm thực vật tại các khu vực nghiên cứu
- Tính các đặc trưng của tầng cây cao
Từ kết quả điều tra các nhân tố D1.3, Hvn trên các ÔTC, qua chỉnh lý sốliệu đề tài tiến hành tính các chỉ tiêu sau:
Trong đó: G là tổng tiết diện ngang (m2/ha); g là tổng tiết diện ngang (m2/ÔTC);
gi là diện tích tiết diện ngang của cỡ kính i và gi =
d
4+ Xác định trữ lượng: M/ha
Xác định trữ lượng cho từng ÔTC, sử dụng biểu điều tra trữ lượng
cho hai nhân tố (Nguyễn Ngọc Lung, 1995).
- Xác định trạng thái thảm thực vật rừng
Theo tiêu chuẩn phân chia trạng thái rừng của Loeschau, một số trạngthái rừng được phân loại như sau:
Trang 36+I: Trảng cỏ cây bụi và được chia làm 3 loại Ia - Đất trống, trảng cỏ; Ib - Trảng cây bụi; Ic - Trảng cỏ cây bụi, có cây gỗ tái sinh rải rác.
+II: Đất có rừng non phục hồi sau nương rẫy, sau khai thác trắng và được chialàm 2 loại là IIa và IIb theo tiêu chí sau: DII < 10cm < DIIb;GIIa < 10m2/ha <
GIIb; MIIa < 30m3/ha < MIIb <60 m3/ha
+III là rừng qua khai thác chọn, trong đó có trạng thái IIIa là rừng qua khai thác chọn kiệt với:
IIIa1: Rừng mới qua khai thác chọn kiệt, cấu trúc rừng bị phá vỡ hoàntoàn, tầng cây cao còn sót lại chủ yếu là những cây kém phẩm chất, tổ thànhcây chỉ còn là dây leo bụi dậm, giang, nứa xâm lấn ĐTC< 0.3 và G < 10m2
IIIa2: Rừng qua khai thác chọn kiệt đã được phục hồi
IIIa3: Rừng qua khai thác chọn kiệt đã phục hồi tốt
- Xác định cấu trúc tổ thành tầng cây cao và lớp cây tái sinh
Tổ thành được xác định theo số cá thể và số loài cây tham gia: dựa vào số liệu điều tra tầng cây cao và tầng cây tái sinh trong các ÔTC, ta xác định công
thức tổ thành theo các bước sau:
+ Tính số cây trung bình cho các loài:
N tb =
ni
N ,Trong đó: Ntb là số cây trung bình cho từng loài; ni là tổng số cây của loài thứi; N là tổng số loài của toàn ÔTC và ni là tổng số cây của toàn ÔTC
+ Xác định loài tham gia vào công thức tổ thành: khi loài nào có tổng sốcây
(ni N tb ) thì loài đó được tham gia vào công thức tổ thành.
+ Tính hệ số tổ thành: Ki = ni
ni
Trang 37+ Cách viết công thức tổ thành: viết theo thứ tự loài có hệ số tổ thành (Ki) lớn nhất thì viết đầu tiên, sau đó theo thứ tự nhỏ dần, kèm theo tên viết tắt của loài.
Trang 38Loài có Ki ≥ 1 chỉ cần viết tên loài, loài có 0,5 < Ki < 1 thì trước hệ số tổ thành đặt dấu (+), loài có Ki< 0,5 thì trước đó đặt dấu (-).
Tổ thành được tính theo chỉ số quan trọng của loài (IV: Important Value)
+ Tỷ lệ tổ thành của từng loài cây trên 1ha đuợc tính toán theo phương phápcủa Daniel Marmillod, thông qua 2 chỉ tiêu: Tỷ lệ % mật độ (N%) và tiết diệnngang (G%) Mỗi loài được xác định tỷ lệ tổ thành IV%:
IV% = N%% G
2Trong đó: N% là tỷ lệ % số cây của loài so với tổng số cây;
G% là tỷ lệ % tiết diện ngang của loài so với tổng tiết diện ngang;IV% là chỉ số quan trọng của loài;
Nếu IV% > 5% thì loài đó có ý nghĩa về mặt sinh thái được tham giavào công thức tổ thành;
Nếu IV% < 5% thì loài đó không được tham gia vào công thức tổ
thành;
Mặt khác theo Thái Văn Trừng (1978): Trong một lâm phần, nhóm loàicây nào đó chiếm 40% tổng cá thể của tầng cây cao thì nhóm loài đó được coi lànhóm loài ưu thế Nhóm loài cây có trị số IV% > 40% được xem là loài ưu thế
- Xác định tính phân bố của cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang
Dựa vào chênh lệch giữa số trung bình và phương sai của cây trên ô thống kê để phán đoán xem phân bố theo hình thức nào
+Tính số cây trung bình trong ÔDB theo công thức: X = N/n
Trong đó: N là tổng số cây trong ÔDB; n là tổng ÔDB trong 1 ÔTC
+Tính phương sai theo công thức: S2 =
(Xi X )2
n 1 ,Trong đó: Xi là tổng số cây trong ÔDB thứ
i 2
Trang 39+ Mật độ cây tái sinh
(N/ha): N =
10000
Sodb
- Xác định các chỉ tiêu của cây bụi thảm tươi và thảm mục
+ Chiều cao trung bình của cây bụi
+ Độ che phủ (ĐCP) của cây bụi thảm tươi: ĐCP (%) = ĐCPi/ N
Trong đó, ĐCPi là độ che phủ của ÔDB thứ i (%)
+ Độ dày thảm mục: Dj = Di/N
Trong đó: Dj là độ dày thảm mục của ÔTC thứ j,
ii Xác định tình hình xói lở ven bờ sông Cầu
- Tốc độ sạt lở ven bờ vào mùa mưa (m 3 /tháng): VSL={1/3.(d.r.h)}/tTrong đó, d - độ dài điểm sạt lở, d=d2-d1(m)
r - độ rộng điểm sạt lở, r=r2-r1(m)
h - độ sâu điểm sạt lở, h=(h2+h1)/2(m)
t - khoảng thời gian giữa 2 lần đo (t=3 tháng)
Với d1, r1, h1 là các chỉ số đo được tại thời điểm tháng 5; d2, r2, h2 là các chỉ
số đo được tại điểm đó vào tháng 8
- Tốc độ xói mòn bề mặt đất ven bờ vào mùa mưa (mm/tháng)
Trang 40V XM =(E2-E1)/t={1/3∑(EL2.1-EL1.1+EL2.2- EL1.2+EL2.3-EL1.3)}/t
Trong đó, t - khoảng thời gian giữa 2 lần đo liên tiếp (t=3 tháng);
EL1.1, EL1.2, EL1.3 (cm) là khoảng cách trung bình đo được từ dây thăngbằng xuống mặt đất từ 3 cạnh tại lần đo 1; EL2.1, EL2.2, EL2.3 (cm) làkhoảng cách trung bình đo được từ dây thăng bằng xuống mặt đất tại lần đo 2
3i Đánh giá điều kiện lập địa
4i Đánh giá nhận thức, ý thức của người dân, cán bộ địa phương đến công tác phục hồi rừng phòng hộ ven bờ sông Cầu
5i Chọn loài cây trồng thích hợp theo phương pháp tự cho trọng số dựa vào mục tiêu chính.
2 Phương pháp phân tích đa tiêu chuẩn với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS để chọn loại cây trồng rừng phòng hộ ven bờ.
- Quan điểm: trên cơ sở điều tra thực địa, quan sát phỏng vấn và nghiên cứu,
sẽ tiến hành chọn những loài cây trồng:
Có mặt chủ yếu tại khu vực điều tra nghiên cứu, sinh trưởng tốt
Đa tác dụng, có giá trị kinh tế, sinh thái cao (ví dụ: bảo vệ đấtchống xói mòn tốt, khả năng cung cấp lâm sản có giá trị cao,…) đượcngười dân chấp nhận
Hoặc những loài cây không có mặt tại khu vực nghiên cứu,song được người dân gây trồng do mang từ nơi khác đến, có triển vọngcũng được xem xét đưa vào trồng rừng phòng hộ ven bờ
- Mục tiêu: Lựa chọn được các loài cây có khả năng phòng hộ, bảo vệ môi
trường tốt cho vùng ven bờ và một phần phải đáp ứng được mục tiêu kinh tếcũng như sự chấp nhận của người dân
- Trên cơ sở đó, nhằm xác định tiêu chí chọn loại cây trồng:
+ Tiêu chí về sinh thái thể hiện