Tuy nhiên để đạt được sự phát triển lớn mạnh như ngày nay ngành chếbiến gỗ nước ta cũng phải trải qua một giai đoạn khó khăn trả giá rất lớn về ônhiễm môi trường như bụi từ quá trình gia
Trang 1-VŨ VĨNH PHƯỚC
TÍNH TOÁN THIẾT KẾ LÒ SẤY GỖ
SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
Hà nội, 2011
Trang 2-VŨ VĨNH PHƯỚC
TÍNH TOÁN THIẾT KẾ LÒ SẤY GỖ
SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI
CHUYÊN NGÀNH: KỸ THUẬT MÁY, THIẾT BỊ VÀ CÔNG NGHỆ GỖ GIẤY
MÃ SỐ: 60.52.24
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS HỨA THỊ HUẦN
Hà nội, 2011
Trang 3MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, ngành côngnghiệp sản xuất và chế biến gỗ ngày càng phát triển Sản phẩm của ngành làmặt hàng xuất khẩu mang nhiều nét đặc trưng độc đáo của nền văn hóa dântộc, do vậy nó cũng là thông điệp giới thiệu cho bạn bè quốc tế về đất nước,cảnh quan thiên nhiên và con người Việt Nam Bên cạnh đó, các sản phẩm đồ
gỗ xuất khẩu của Việt Nam còn đem lại giá trị ngoại tệ rất lớn Chính bởinhững lợi ích kinh tế – xã hội lâu dài và tiềm năng phát triển của chúng màhiện nay nhà nước đang có nhiều biện pháp và chính sách để khuyến khíchngành chế biến sản xuất gỗ xuất khẩu phát triển
Tuy nhiên để đạt được sự phát triển lớn mạnh như ngày nay ngành chếbiến gỗ nước ta cũng phải trải qua một giai đoạn khó khăn trả giá rất lớn về ônhiễm môi trường như bụi từ quá trình gia công chế biến, như các hóa chất từquá trình tẩm gỗ, như khói từ các lò sấy gỗ mà phần lớn các lò sấy ở ViệtNam hiện nay sử dụng lò sấy bằng hơi nước, với cách làm như trên ngoàiviệc gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng thìnghành chế biến gỗ còn tiêu tốn tài nguyên thiên nhiên quốc gia, trong điềukiện thế giời hiện nay đang cạn kiệt về tài nguyên thiên nhiên cũng như thếgiới đang bị ảnh hưởng nặng nề về biến đổi khí hậu mà các hội nghị về biếnđổi khí hậu trên thế giới đã và đang đề cập đến và tìm hướng giải quyết.Hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam đã và đang ứng dụng cáccông nghệ mới nhằm tránh ô nhiễm môi trường, tiết kiệm tài nguyên và tránhbiến đổi khí hậu như sử dụng các nguồn năng lượng như: năng lượng hạtnhân, năng lượng có trong tự nhiên như năng lượng gió, năng lượng mặt trời
Trang 4Tuy nhiên nguồn năng lượng hạt nhân hiện nay nhiều nước đang loại bỏdần do hai thảm họa về hạt nhân xảy ra như: Thảm hoạ nguyên tử Chernobylxảy ra vào ngày 26 tháng 4 năm 1986 khi nhà máy điện nguyên tử Chernobyl
ởPripyat, Ukraina (khi ấy còn là một phần của Liên bang Xô viết) bị nổ Haymới đây nhất là thảm họa hạt nhân xảy ra tại Nhật Bản sau sóng thần
Với những lý do nêu trên trong phạm vi đề tài này tôi xin được đề cậpđến một phương án góp phần nhỏ nhằm tiết kiệm năng lượng và giảm ônhiễm môi trường cũng như làm giảm sự biến đổi khí hậu và tiết kiệm đượcmột phần tài nguyên thiên nhiên đó là thiết kế lò sấy gỗ với tên đề tài “ thiết
kế lò sấy gỗ năng lượng mặt trời kiểu CAXE -2011 công suất 10 m3 /mẻ”.Ứng dụng năng lượng mặt trời trong sấy gỗ để thay thế một phần các phươngpháp sấy truyền thống hiện đang được sử dụng trong công nghiệp chế biến gỗ
ở nước ta
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung vào tính toán thiết kế lò sấy gỗ năng lượng mặt trời hấpthụ nhiệt kiểu (Air Collector) công suất 10 m3/mẻ Xác định các thông số kỹthuật của lò sấy
Tìm hiểu cấu tạo và tính chất của gỗ ASH làm cơ sở để phục vụ cho tínhtoán thiết kế lò sấy
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu lý thuyết
Tính toán thiết kế lò sấy gỗ năng lượng mặt trời nhằm tiết kiệm nănglượng góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tăng hiệu quả kinh tế cũngnhư gia tăng chất lượng gỗ sấy trong gia công chế biến gỗ và đảm bảo sứckhỏe cho người lao động
3.2 Mục tiêu thực tiễn
Tính toán thiết kế lò sấy gỗ gia nhiệt bằng năng lượng mặt trời (Air
Trang 5Xác định các chỉ tiêu thông số kỹ thuật của lò sấy
Thiết lập hồ sơ thiết kế và Thuyết minh vận hành lò sấy
4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
4.1 Nội dung nghiên cứu
4.1.1 Tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, tính chất về sấy của gỗ dùng cho tính toán thiết kế (gỗ ASH) Gỗ nhập ngoại
4.1.2 Lựa chọn kiểu dáng, phác họa thiết kế lò sấy gỗ NLMT
4.1.3 Tính toán thiết kế lò sấy gỗ (NLKT) CS=10 m 3 / mẻ
Tính toán công nghệ
Tính toán nhiệt
Tính toán khí động lực
Tổng hợp các chỉ số kỹ thuật công nghệ lò sấy
4.1.4 Thiết lập hồ sơ thiết kế (Các bản vẽ thiết kế )
4.1.5 Thuyết minh vận hành lò sấy
4.1.6 Dự trù vật tư, thiết bị của lò sấy
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp tiếp cận đề tài
Để tiếp cận đề tài một cách khoa học chúng tôi áp dụng phương pháp kếthừa các thành tựu nghiên cứu khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam vềnhững lĩnh vực có liên quan đến đề tài nghiên cứu
4.2.2.Phương pháp tìm hiểu các tính chất về sấy của các loại gỗ sấy
Thông qua các tài liệu tham khảo, các đề tài nghiên cứu trong nước cũngnhư ngoài nước về cấu tạo, tính chất gỗ Ash
4.2.3 Tìm hiểu và lựa chọn kiểu dáng lò sấy gỗ NLMT áp dụng trong nghiên cứu
Trang 6Được sự giúp đỡ của PGS TS Hồ Xuân Các, tham khảo tài tài liệu trênmạng trong nước và thế giới để thu thập các thông tin phục vụ cho việc lựachọn kiểu dáng lò sấy NLMT áp dụng trong nghiên cứu.
4.2.4 Tham khảo tài liệu về các phương pháp tính toán thiết kế lò sấy
4.2.5 Kiểm tra đánh giá chất lượng lò sấy
Sử dụng các phương pháp đo đạc dựa trên các quy chuẩn về đo lường đểlàm các tiêu chí kiểm tra , đánh giá chất lượng lò sấy
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Năng lượng mặt trời là gì?
Năng lượng Mặt Trời là năng lượng của dòng bức xạ điện từ xuất phát từMặt Trời, cộng với một phần nhỏ năng lượng của các hạt hạ nguyên tử khácphóng ra từ ngôi sao này Dòng năng lượng này sẽ tiếp tục phát ra cho đến khiphản ứng hạt nhân trên Mặt Trời hết nhiên liệu, vào khoảng 5 tỷ năm nữa.Năng lượng bức xạ điện từ của Mặt Trời tập trung tại vùng quang phổnhìn thấy Mỗi giây trôi qua, Mặt Trời giải phóng ra không gian xung quanh3,827×1026 joule
Năng lượng Mặt Trời là một nguồn năng lượng quan trọng điều khiểncác quá trình khí tượng học và duy trì sự sống trên Trái đất Ngay ngoài khíquyển Trái Đất, cứ mỗi một mét vuông diện tích vuông góc với ánh nắng MặtTrời, chúng ta thu được dòng năng lượng khoảng 1.400 joule trong một giây.Việt Nam là một trong những quốc gia có nguồn năng lượng mặt trời khổng
lồ Mặc dù các hoạt động nghiên cứu đã được triển khai gần 30 năm, nhưngđến nay những sản phẩm sử dụng nguồn năng lượng này vẫn chưa được ứngdụng rộng rãi…
Trang 7Vị trí địa lý đã ưu ái cho Việt Nam một nguồn năng lượng tái tạo vô cùnglớn, đặc biệt là năng lượng mặt trời Trải dài từ vĩ độ 23023’ Bắc đến 8027’Bắc, Việt Nam nằm trong khu vực có cường độ bức xạ mặt trời tương đối cao.Năng lượng mặt trời có những ưu điểm như: Sạch, chi phí nhiên liệu vàbảo dưỡng thấp, an toàn cho người sử dụng… Ngành công nghiệp sản xuấtpin mặt trời và việc ứng dụng năng lượng nhiệt mặt trời sẽ góp phần thay thếcác nguồn năng lượng hóa thạch, giảm phát khí thải nhà kính, bảo vệ môitrường Vì thế, đây được coi là nguồn năng lượng quý giá, có thể thay thếnhững dạng năng lượng cũ đang ngày càng cạn kiệt Từ lâu, nhiều nơi trên thếgiới đã sử dụng năng lượng mặt trời như một giải pháp thay thế những nguồntài nguyên truyền thống Tại Đan Mạch, năm 2000, hơn 30% hộ dân sử dụngtấm thu năng lượng mặt trời, có tác dụng làm nóng nước Ở Brazil, nhữngvùng xa xôi hiểm trở như Amazon, điện năng lượng mặt trời luôn chiếm vị tríhàng đầu Ngay tại Đông Nam Á, điện mặt trời ở Philipines cũng đảm bảonhu cầu sinh hoạt cho 400.000 dân.
Đối với cuộc sống của loài người, năng lượng Mặt Trời là một nguồnnăng lượng tái tạo quý báu có thể trực tiếp thu lấy năng lượng này thông quahiệu ứng quang điện, chuyển năng lượng các photon của Mặt Trời thành điệnnăng, như trong pin Mặt Trời Năng lượng của các photon cũng có thể đượchấp thụ để làm nóng các vật thể, tức là chuyển thành nhiệt năng, sử dụng chobình đun nước Mặt Trời, hoặc làm sôi nước trong các máy nhiệt điện của thápMặt Trời, hoặc vận động các hệ thống nhiệt như máy điều hòa Mặt Trời, hoặc
có thể sử dụng trực tiếp bức xạ nhiệt mặt trời tạo không khí nóng (làm nóng)dùng trong sấy gỗ
1.2 Công nghệ sấy gỗ sử dụng năng lượng mặt trời ở Việt Nam
Trang 8Nước ta là nước nông nghiệp, nhu cầu phơi sấy để bảo quản nông sản vànguyên liệu là rất lớn Một số ngành công nghiệp khác nhu cầu phơi sấy hàngcũng đang tiêu thụ nhiều nhiên liệu như ngành chè, gốm, gỗ, thủ công mỹnghệ,… và các nhu cầu dân sinh khác.
Sấy là quá trình tách ẩm từ vật liệu Điều kiện cần thiết để sấy khô làphải cấp nhiệt làm bay hơi nước trong vật sấy, đồng thời dùng không khí thổivào để mang hơi nước đi Bẫy nhiệt từ năng lượng mặt trời (NLMT) sử dụngnguyên lý hiệu ứng nhà kính Hơi nước sinh ra được mang đi bởi không khí đingang qua vật sấy Không khí chuyển động nhờ quá trình đối lưu tự nhiênhoặc do cưỡng bức (sử dụng quạt)
Công nghệ sấy sử dụng NLMT là nguồn năng lượng sẵn có, siêu sạch vàmiễn phí, chi phí bảo dưỡng thấp, an toàn đối với người sử dụng, nhiệt độ sấykhông quá cao, hơi ẩm được đưa ra khỏi sản phẩm từ từ, an toàn cho chấtlượng sản phẩm (khác nhiều so với sấy cưỡng bức)
Với thiết bị sấy sử dụng NLMT gián tiếp, bức xạ mặt trời không trực tiếpchiếu vào sản phẩm sấy mà thông qua không khí được làm nóng bởi bộ thunhiệt từ NLMT, quá trình tuần hoàn không khí thường sử dụng quạt cưỡngbức, sẽ làm cho nhiệt độ sấy cao hơn, thời gian sấy ngắn hơn và chất lượngsản phẩm sấy được tốt hơn
Đối với một số thiết bị sấy cho các sản phẩm đặc biệt hoặc cần có thờigian sấy dài, ta thường dùng thêm nguồn năng lượng phụ để đề phòng nhữnglúc trời không nắng hoặc sấy vào ban đêm Công nghệ khí hóa nhiên liệu sinhkhối rất thích hợp để làm nguồn năng lượng phụ này NLMT có thể dùng đểsấy nhiên liệu sinh khối, chính là tích năng lượng thêm cho nhiên liệu sinhkhối Hai công nghệ đều sạch và thân thiện với môi trường, khi kết hợp vớinhau đem lại lợi ích lớn về kinh tế cũng như thỏa mãn về yêu cầu kỹ thuật
Trang 9Công nghệ sấy sử dụng năng lượng mặt trời (NLMT) ở nước ta đã đượcTrung tâm Năng lượng – Máy nông nghiệp thuộc Đại học Nông lâm thànhphố Hồ Chí Minh nghiên cứu triển khai mạnh mẽ Trong khoảng 20 năm pháttriển, nhiều kiểu dàn sấy NLMT đã được thử nghiệm Lò sấy NLMT dạngsàng phẳng (Flat –bed) cho chất lượng sấy hạt tốt, giá thành hạ lại dễ lắp đặt
và vận hành, được thị trường chấp nhận và chiếm khoảng 25 – 35% Hiện cóhơn 3.000 máy sấy lúa NLMT có công suất 4 – 8 tấn /mẻ đã được sử dụng, hỗtrợ đắc lực cho việc giảm thất thoát sau thu hoạch
Loại máy sấy SRA (sấy Reversible – Air ) bắt đầu nghiên cứu triển khai
từ năm 1999, được thử nghiệm với nhiều loại nông sản: gạo, ngô, cà phê, lạc,ớt,… bằng công nghệ vòng khí tuần hoàn Công suất sấy khá rộng từ 2 tấnđến 12 tấn/mẻ sấy Cho đến nay 600 máy sấy SRA đã được triển khai sử dụng.NLMT được coi là nguồn năng lượng ưu việt trong tương lai, đó lànguồn năng lượng sẵn có, siêu sạch và miễn phí Việt Nam là nước có tiềmnăng về NLMT, trải dài từ 8 độ vĩ Bắc đến 23 độ vĩ Bắc, có cường độ bức xạmặt trời tương đối cao, bình quân có 2.000 – 2.500 h nắng mỗi năm, trị sốtổng xạ từ 100 – 175 kcal/cm2/năm Việc sử dụng NLMT sẽ đem lại hiệu quảkinh tế lớn, đồng thời, bảo đảm sự bền vững của môi trường
1.3 Thực trạng sấy gỗ bằng năng lượng mặt trời ở Việt Nam
Thứ nhất: Theo dự án thí điểm sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
của Bộ Công Thương, Cty Lâm sản Giáp Bát (Hà Nội) mới đưa vào thực hiệncông nghệ sấy gỗ bằng năng lượng mặt trời dựa theo thiết kế của Trung tâmNăng lượng mặt trời (Đại học Bách Khoa)
Đây là công nghệ sấy sử dụng năng lượng mặt trời thay thế các lò sấybằng hơi nước đun than, điện trước đây Theo thiết kế, lò sấy có công suất
Trang 1030m3 gỗ/mẻ, mỗi mẻ sấy kéo dài 15- 20 ngày (tiết kiệm được 30 - 40% thờigian chi phí so với sấy bằng hơi).
Tuỳ từng nhóm gỗ, độ dày của gỗ mà người điều khiển đặt chương trìnhlàm việc để có chế độ sấy thích hợp Trường hợp thiếu ánh nắng mặt trời, lò
ấy sẽ được nồi hơi cung cấp nước nóng để bổ sung năng lượng nhiệt giúp lòhoạt động bình thường Đặc biệt, từ khi dùng năng lượng mặt trời giá thànhsấy gỗ giảm khoảng 20%
Thứ hai: Lâm trường M'Đrắc (Đắc Lắc) vừa đưa lò sấy gỗ bằng năng
lượng mặt trời vào sử dụng thay cho lò sấy bằng hơi không chỉ rút ngắn thờigian sấy, giảm chi phí về nhân công, chất đốt mà còn ổn định về hình dạng,nâng cao chất lượng sản phẩm gỗ Lò sấy có công suất 30 m3/ mẻ gia nhiệtphụ trợ bằng nồi nước nóng (Hình 1.1)
Đây là lò sấy gỗ bằng năng lượng mặt trời đầu tiên của Tây Nguyên vàcũng là lò sấy có các thiết bị tiên tiến nhất của Việt Nam hiện nay
Trang 11Lò sấy gỗ này hoạt động thông qua nguyên lý hiệu ứng nhà kính (bức xạnhiệt) và toàn bộ hệ thống được điều khiển bằng tự động hoá điều tiết độ ẩmcủa môi trường sấy, nhiệt độ sấy, qua hệ thống thông gió và tốc độ quạt Theothiết kế có phụ trợ bằng nước nóng công suất 30 mét khối gỗ/ mẻ, mỗi mẻ sấykéo dài 15-25 ngày tùy thuộc vào loại gỗ và chiều dày ván, Bộ điều khiểnEMC cài đặt chương trình làm việc tự động cho một số loại gỗ để có chế độsấy thích hợp Trường hợp thiếu ánh nắng mặt trời, lò sấy sẽ được nồi hơicung cấp nước nóng để bổ sung năng lượng nhiệt giúp lò hoạt động bìnhthường.Lò sấy gỗ bằng năng lượng mặt trời này do Chương trình Liên HiệpQuốc tài trợ, với tổng số vốn đầu tư 1,5 tỷ đồng.
1.4 Tổng quan các kiểu lò sấy gỗ sử dụng năng lượng mặt trời
Hiện nay trên thế giới đã đưa ra nhiều kiểu lò sấy NLMT hấp thụ khôngkhí nóng và nước nóng sau đây sau đây:
Trang 12Hình 1.2: Một số kiểu lò sấy NLMThấp thụ không khí nóng (Solar Air Collector)
Hình 1.3: Lò sấy NLMT hấp thụ nước nóng
Nguyên lý thiết bị hấp thụ Năng lượng mặt trời (NLMT Solar Colector)
Lò sấy gỗ bằng NLMT phù hợp cho sấy gỗ ở nhiệt độ thấp từ (40 – 60
0C) Trên thế giới có nhiều kiểu thiết bị hấp thụ NLMT phổ cập như:
- Hấp thụ không khí : Hấp thụ năng lượng trực tiếp làm nóng không khí
(Air
- Hấp thụ nước nóng : Hình (1.3)
Trang 13Hấp thụ nhiệt mặt trời tạo nước nóng (Solar Hot Water), với hai loạicollector ở dạng phẳng ( plate Collector) và dạng ống (Vaccum Tube Collector).
Theo PGS.TS Hồ Xuân Các, hong phơi tự nhiên cũng là một phươngpháp sấy bằng NLMT và trong nhiều tài liệu cũng thường gọi hong phơi là
sấy tự nhiên, nhưng ở đây PGS Hồ Xuân Các gọi là hong phơi bị động, phụ
thuộc chủ yếu vào thời tiết để phân biệt với một khái niệm mới đưa vào trong
lĩnh vực sấy đấy là hong phơi chủ động Xuất phát từ ý tưởng đó để khắc phục
những ảnh hưởng của thời tiết nắng mưa thất thường tác động đến chất lượng
gỗ sấy và đặc biệt là trong sấy nông sản theo thời vụ sản xuất nông nghiệp,mùa thu hoạch thường vào mùa mưa, thời tiết thay đổi đột ngột mưa nắng thấtthường, nông dân thường rất bận rộn trong thu hoạch và cả hong phơi ( chạymưa) để sản phẩm nông sản khỏi bị mốc ảnh hưởng đến chất lượng Do vậyông đã đề xuất giải pháp vừa hong phơi dưới nắng mà mưa không bị ướt vàhong phơi với nhiệt độ cao hơn mà không tốn kém năng lượng đó là giải pháphong phơi trong mái che bằng Plastic trong suốt lợi dụng hiệu ứng nhà kính
để tăng thêm hấp thụ nhiệt mặt trời theo nguyên lý hiệu ứng nhà kính (GreenHouse), đồng thời bổ xung thêm lớp trần chuyển hướng dòng không khí nóngđối lưu bằng tấm đen để tăng khả năng hấp thụ nhiệt, tạo được quá trình hongphơi hoàn toàn chủ động với kinh phí đầu tư thấp và được gọi là phương pháphong phơi chủ động Với kiểu Green house có thể sử dụng trong sấy gỗ đặcbiệt là giai đoạn tiền sấy, làm giảm độ ẩm của gỗ tươi xuống 25 hoặc 20 %sau đó tiếp tục đưa vào lò sấy nhanh ở nhiệt độ cao hơn, theo cách này cũngtiết kiệm được năng lượng đáng kể và đảm bảo chất lượng gỗ sấy Trong sấy
gỗ bằng NLMT cũng cần áp dụng giải pháp gia nhiệt hỗ trợ nhằm khắc phụchiện tượng suy giảm nhiệt độ sấy vào ban đêm hoặc những khi trời khôngnắng
Trang 14Trong công nghệ sấy hiện đại ( Sấy công nghiệp), chất lượng sấy cầnđảm bảo chặt chẽ và chính xác hơn, đòi hỏi quá trình sấy phải được điều tiết
ổn định hơn cho từng loại gỗ và từng quy cách gỗ sấy, điều đó đòi hỏi phảiđiều tiết quá trình sấy theo từng chế độ sấy thích hợp, đặc biệt phải điều tiếtcác thông số nhiệt độ (T0C) và độ ẩm tương đối của môi trường sấy (RH) Do
đó trong sấy gỗ bằng NLMT phải áp dụng giải pháp gia nhiệt hỗ trợ thích hợpnhằm khắc phục hiện tượng suy giảm nhiệt độ sấy khi không có ánh nắng mặttrời Tùy theo từng giải pháp gia nhiệt hỗ trợ khác nhau PGS Ts Hồ Xuân Các
đã đưa ra các kiểu lò sấy gỗ bằng NLMT ( với những nguyên lý ) sau đây:
- Sấy NLMT hỗ trợ gia nhiệt bằng thiết bị theo nguyên lý bơm nhiệt
- Sấy NLMT hỗ trợ gia nhiệt bằng hơi nước, hơi đốt
- NLMT hỗ trợ gia nhiệt bằng nước nóng NLMT
Trang 15Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH TOÁN THIẾT KẾ LÒ SẤY
2.1 Những số liệu cần thiết cho việc tính toán thiết kế
Trước khi bắt tay vào thiết kế, người cán bộ kỹ thuật làm công tác thiết
kế cần thu thập đầy đủ các số liệu cần thiết sau đây để làm cơ sở phân tích lựa
chọn phương án và tính toán thiết kế cụ thể [TLTK Hồ Xuân Các][1,2,3]
- Số lượng gỗ cần sấy trong năm (sản lượng năm theo yêu cầu của nhiệm
vụ thiết kế), tiến hành phân loại gỗ sấy theo loại gỗ, kích thước ván, bao gồm
cả khối lượng gỗ từng loại và tỷ lệ từng loại ván (dựa vào số liệu điều tra sổsách hoặc thu nhập xác định điểm) Trong đó cần chú ý loại ván có tỷ lệ lớnnhất (loại ván chiếm nhiều nhất trong toàn bộ sản lượng gỗ sấy), để sau này
có số liệu chính xác dựa vào đấy mà cân nhắc lựa chọn các thông số tính toánthiết kế cần thiết, thường loại ván này được chọn làm nguyên liệu tính toán
- Thu thập sơ bộ độ ẩm ban đầu của từng loại gỗ sấy và một số tính chất
cơ lý, cũng như một số đặc điểm cơ bản về cấu tạo của mỗi loại gỗ sấy
- Xác định cụ thể công dụng của từng loại gỗ sấy, yêu cầu kỹ thuật đốivới phạm vi sử dụng gỗ sấy như: hạng chất lượng, độ ẩm cuối cùng cần đạtđược
- Những số liệu về hơi nước như nguồn cung cấp và khả năng cung cấp hơi nước, các chỉ tiêu kỹ thuật cụ thể của hơi nước được phép sử dụng…
- Một số số liệu cần thiết về đất đai nơi sẽ xây dựng lò sấy như: diện tíchđất đai được sử dụng, loại đất, mực nước ngầm, hàm lượng nước trong đất, độchua của đất…
- Tình hình điện nước: mạng điện có thế hiệu bao nhiêu, công suất củatrạm biến thế, tình hình cung cấp điện…Nước sử dụng cho nồi hơi lấy ờ đây,
Trang 16độ cứng của nước ra sao, có bảo đảm sử dụng cho nồi hơi hoạt động đượckhông, cần tiến hành chuẩn bị những vấn đề gì trước khi dùng nguồn nướcđó…
- Một số số liệu về khí hậu chủ yếu ở vùng dự định sẽ xây dựng lò sấynhư nhiệt độ bình quân từng tháng, cả năm, nhiệt độ tối đa và tối thiểu cũngnhư độ ẩm của không khí, hướng gió chủ đạo, tình hình lụt lội,…
-Khả năng cung cấp thiết bị, khả năng chế tạo và vận dụng thiết bị
-Bản vẽ mặt bằng của toàn xí nghiệp và vị trí dự định đặt phân xưởngsấy
- Tình hình tổ chức, bố trí nhân lực, trình độ nghiệp vụ của công nhân vàcán bộ kỹ thuật
- Các số liệu khác có liên quan đến việc tính toán giá thành như tiềnlương, giá cả nguyên vật liệu xây dựng, vốn đầu tư thiết bị, các loại địnhmức…
- Ngoài ra, tùy tình hình cụ thể từng nơi, từng lúc mà điều tra thuthập
thêm những số liệu cần thiết có liên quan đến tính toán thiết kế
2.2 Trình tự tiến hành tính toán thiết kế
(lò sấy hơi nước)Việc tính toán lò sấy có thể tiến hành theo các bước sau đây:
[TLTK Hồ Xuân Các][1,2,3]
2.2.1 Tính toán công nghệ
Tổng hợp và phân tích số liệu, trên cơ sở đó lựa chọn phương pháp sấy
và kiểu lò sấy
Lựa chọn kích thước lò và tính toán số lượng lò sấy
Tính toán diện tích kho bãi và quy hoạch phân xưởng sấy
2.2.2 Tính toán nhiệt
Trang 17Lựa chọn nguyên liệu tính toán, lựa chọn chế độ sấy và tính toán thờigian sấy (Chọn gỗ ASH)
Xác định lượng nước bay hơi
Xây dựng quá trình sấy lý thuyết và xác định lượng không khí tuần hoàn.Tính toán tốc độ tuần hoàn của môi trường sấy
Xác định lượng nhiệt tổn thất qua vỏ lò và tiêu hao để làm nóng gỗ.Xây dựng quá trình sấy thực tế, xác định lượng không khí mới và khôngkhí thừa
Xác định lượng nhiệt tiêu hao để làm bay hơi nước và tính toán lựa chọnthiết bị tăng nhiệt
Tính toán nhiệt lượng sấy tiêu hao và lượng hơi nước tiêu hao
Xác định đường kính ống dẫn hơi nước, ống dẫn nước ngưng tụ
2.2.3 Tính toán khí động lực của lò sấy
Xác định lực cản của dòng không khí trong lò sấy
Lựa chọn quạt và xác định công suất cần thiết của quạt
Tính toán đường dẫn khí và thoát khí
Tính toán kinh tế và thống kê các chỉ tiêu kỹ thuật chủ yếu của thiết kế.Sau đây, chúng ta sẽ đi sâu vào từng phần tính toán cụ thể
2.3 Tính toán công nghệ
2.3.1 Lựa chọn phương pháp sấy và kiểu lò sấy
Việc lựa chọn phương pháp sấy cũng là một việc làm khá phức tạp, đòihỏi ở người cán bộ thiết kế có một trinh độ tổng hợp, phân tích tốt, vừa cóquan điểm kỹ thuật, am hiểu được các quá trình gia công chế biến gỗ vừa cóquan điểm kết hợp chặt chẽ và hợp lí giữa hai mặt kỹ thuật và kinh tế
Thông thường gỗ được sấy dưới các hình thức sau đây: sấy ván và sấyphôi
Trang 18Mỗi phương pháp sấy trên có những mặt tốt xấu nhất định, tùy theo tìnhhình cụ thể mà cân nhắc lựa chọn cho phù hợp.
Sấy ván có lợi cho quá trình cắt gọt, qua đó nâng cao được tỷ lệ thànhkhí, tỷ lệ lợi dụng gỗ, theo quan điểm tiết kiệm nguyên liệu thì đấy là một vấn
đề có có tính chất quyết định trong việc lựa chọn phương pháp sấy Ngoài raviệc sấy ván còn có lợi làm giảm nhẹ được sức lao động trong khâu bốc dỡ,vận chuyển tạo điều kiện thuận lợi cho việc cơ giới hóa sản xuất ở các khâugia công chế biến về sau
Còn việc sấy phôi còn có những mặt ưu điểm nổi bật của nó Với việcsấy phôi có thể rút ngắn được thời gian sấy, tăng được năng suất lò sấy(khoảng 20%) đồng giá thành gỗ sấy
Hiện nay các nhà thiết kế đã thiết kế và phát minh được rất nhiều kiểu lòsấy khác nhau, điều đó rất thuận lợi cho việc lựa chọn và cải tiến của chúng tatrong quá trình tiến hành thiết kế lò sấy, việc lựa chọn kiểu lò sấy thích hợpcho từng cơ sở cũng không phải là một việc làm đơn giản, nó đòi hỏi ở ngườicán bộ làm công tác thiết kê không những chỉ biết dựa trên cơ sở lý thuyết vềkhí động lực về nhiệt để phân tích lựa chọn, mà cần phải biết kệt hợp chặt chẽvới tình hình đặc điểm của cơ sở sản suất, điều kiện cụ thể từng nơi, yêu cầu
về trình độ kỹ thuật từng nơi mà cân nhắc lựa chọn, chỉ có so sánh phân tíchmột cách tổng quát và toàn diện như vậy mới có thể cân nhắc lựa chọn đượcmột kiểu lò sấy thích hợp để thiết kế
Trong khi cân nhắc lựa chọn 1 kiểu lò sấy cũng cần chú ý hết sức đếnviệc tiết kiệm nhiên liệu, hơi nước và tiết kiệm điện
2.3.2 Lựa chọn kích thước lò sấy và tính toán số lượng lò sấy
Kích thước lò sấy phụ thuộc vào kích thước của đống gỗ và số lượngđống gỗ cần xếp trong lò sấy Kích thước đống gỗ, người thiết kế tự phân tíchlựa chọn lấy sao cho phù hợp với kích thước của nguyên liệu sấy, quy cách
Trang 19xếp đống, khả năng của thiết bị xếp đống, cũng như có sự cận nhắc về qui mô
và về mặt mỹ thuật của cấu trúc lò sấy
2.3.3 Tính toán diện tích kho bãi và qui hoạch phân xưởng sấy
Dung tích của kho chứa gỗ (Ekho) phụ thuộc vào thời gian dự trữ gỗtrong kho (kho) và sản lượng ngày của phân xưởng sấy (Y ngày) tính theonguyên liệu tiêu chuẩn và tính bằng công thức sau:
Ekho = Yngày x kho
Trong đó:
Yngày
kho: thời gian chứa gỗ trong kho lấy theo những giá trị qui định sau đây:
-Đối với kho gỗ khô: 47 ngày
-Đối với kho gỗ ướt: 24 ngày
Biết dung tích của kho (Ekho) và dung tích của đống gỗ có thể tính toán được số lượng đống gỗ xếp trong kho theo công chức:
(2.3)Trong đó:
Tuy vậy việc tính toán kho bãi trong thiết kế phân xưởng sấy gỗ thôngthường tính toán một cách khái quát diện tích kho theo công thức
Fkho = Bđg x Lđg x Nđg xm2)
Trang 20Trong đó:
Bđg và Lđg: bề rộng và bề dài của đống gỗ, m
kho: hệ số đầy diện tích kho, thường lấy từ 0.35 – 0.45
Qui hoạch phân xưởng sấy bao gồm việc qui hoạch bố trí lò sấy, kho bãi
và hệ thống vận chuyển Việc bố trí các hệ thống trong 1 phân xưởng là kếtquả của việc phân tích cân nhắc chung toàn cục chứ không phải đơn thuần bốtrí riêng rẽ từng hệ thống
2.3.4 Tính Toán nhiệt
2.3.4.1 Lựa chọn nguyên liệu tính toán, lựa chọn chế độ sấy và tính toán thời gian sấy
a Lựa chọn nguyên liệu tính toán
Thông thường khi lựa chọn nguyên liệu tính toán chúng ta cần đề cậpđến những vấn đề sau đây
Nếu loại gỗ sấy do nhiệm vụ thiết kế đề ra tương đối ổn định (về loại gỗcũng như kích thước ván), muốn bảo đảm đủ khả năng cung cấp nhiệt củathiết bị tăng nhiệt, trong thiết kế ta thường chọn khả năng tối đa Khi lựa chọnnguyên liệu để làm cơ sở cho tính toán thiết bị tăng nhiệt, ta phải lựa chọn loạinguyên liệu cần sấy với chế độ sấy cứng nhất torng những loại gỗ sấy thiết kế,tức là loại gỗ dễ sấy nhất và có kích thước bé nhất trong các loại đó để làm cơ
sở tính toán Vì loại gỗ dễ sấy có thể sấy ở nhiệt độ cao, sấy nhanh được, cũngnhư loại gỗ có kích thước bé (mỏng) thì sấy chóng khô và có thể sấy ở nhiệt
độ cao hơn, đòi hỏi thiết bị tăng nhiệt phải có khả năng đảm bảo cung cấpnhiệt đến mức tối đa torng những trường hợp đó Còn nói chung khi sấy cácloại gỗ khó sấy, các loại ván dày thì việc cung cấp nhiệt đòi hỏi ít, công suấtnhiệt của thiết bị tăng đòi hỏi thấp cần giảm công suất thiết bị xuống, việc làm
ấy dễ dàng hơn nhiều so với trường hợp công suất thiết bị quá thấp so với yêucầu
Trang 21Nếu trong trường hợp nhiệm vụ thiết kế đề ra không cụ thể, có khi tìnhhình sản xuất ở nước ta như vậy, thì nên chọn loại gỗ dễ sấy và loại ván mỏngnhất trong tiêu chuẩn về kích thước gỗ xẻ để làm nguyên liệu tính toán.
Thông thường ta chỉ lựa chọn theo cách như vậy, nhưng cũng có khi người ta lựa chọn 2 loại nguyên liệu tính toán đối lập nhau, một loại dung để làm cơ sở toán thiết bị tăng nhiệt, một loại khác trái ngược hẳn (tức là loại khó sấy nhất) để làm nguyên liệu sản xuất phát điểm để tính toán các chỉ tiếu
khác như năng suất lò sấy, tính toán kinh tế, nhưng điều đó không cần thiết b.
Lựa chọn chế độ sấy
Đối với trường hợp cụ thể, nếu chưa có chế độ sấy, khi ta đã lựa chọnđược loại nguyên liệu tính toán rồi, thì việc chọn chế độ sấy đối với loạinguyên liệu cần thiết cho tính toán sẽ tiến hành như thế nào? muốn làm đượcviệc này phải dựa vào tài liệu thu thập về tính chất cơ lý của loại gỗ đó, đặcbiệt chú ý các loại đặc điểm sau đây: cấu tạo có gì đặc biệt, tính chất co rút,đặc biệt là chênh lệch co rút theo các chiều, nhất là giữa xuyên tâm và tiếptuyến, tính chất dẫn nhiệt, dẫn ẩm, tỷ trọng,…Sau đó đem so sánh với số liệu
về gỗ của tài liệu tham khảo, qua so sánh chọn lọc mà quyết định chọn loại gỗtương tự để có cơ sở sử dụng số liệu về chế độ sấy, của tái liệu tham khảo,tạm thời tong giai đoạn chưa xác lập được chế độ sấy [TLTK 14,15]
Sau khi chọn được chế độ sấy thích hợp ta sẽ tiến hành chọn cấp chế độsấy Chế độ sấy bao gồm nhiều cấp, trong lúc tính toán ta chỉ cần một giá trị,như thế tong tính toán thiết kế nên dựa vào cấp chế độ sấy nào để chọn cácthong số tính toán cho phù hợp Theo kinh nghiệm trong thiết kế lò sấy, nênchọn cấp chế độ sấy thứ nhất hoặc thứ hai
Cấp chế độ sấy thứ nhất dùng cho các loại gỗ lá kim
Cấp chế độ sấy thứ hai dùng cho các loại gỗ lá rộng
Đối với lò sấy liên tục thì sử dụng chế độ sấy cuối cùng
Trang 22c Tính toán thời gian sấy
Thời gian sấy xác định theo các phương pháp tính toán thời gian sấy, bao
gồm cả thời gian làm nóng gỗ ban đầu, thời gian xử lý nhiệt ấm
2.3.4.2 Xác định lượng nước bay hơi
Xác định lượng nước bay hơi bình quân 1m3 giờ theo công thức
(tấn/m3)Hoặc
(Wa – We) (kg/m3)
CB: khối lượng riêng cơ ẩn, nó tỷ lệ giữa khối lượng gỗ khô kiệt trên thể
tích gỗ tươi (ướt), tính bằng tấn/m3
Wa và We: độ ẩm ban đầu và độ ẩm cuối cùng của nguyên liệu sấy %
Xác định lượng nước bay hơi cho 1 mẻ sấy của 1 lò sấy
Mlò =x Elò (kg/lò)
Trong đó:
Elò: Dung tích gỗ của lò sấy bằng tích giữa dung tích đống gỗ và số
lượng đống gỗ có trong lò sấy
-Xác định lượng nước bay hơi bình quân mỗi giờ
sĐối với lò sấy kiểu liên tục, lượng nước bay hơi bình quân mỗi giờ tính
toán theo công thức trên, còn đối với lò sấy kiểu chu kỳ ta cần chú ý đến hiệu
tượng tốc độ sấy không đồng đều”, độ ẩm cuối cùng mà yêu cầu càng bé, thì
sự chênh lệch độ ẩm (Wa – We) càng lớn và dẫn đến mức độ sai lệch với giá
trị bình quân càng lớn, vì tốc độ sấy càng bé dần khi độ ẩm của gỗ giảm dần
đi Vì thế trong tính toán, lò sấy kiểu chu kỳ, để xác định lượng nước bay hơi
bình quân giờ, người ta nhân thêm giá trị tính toán theo công thức trên với
một hệ số điều chỉnh KX Hệ điều chỉnh KX phụ thuộc vào độ ẩm cuối cùng
Trang 23của gỗ sấy và nó càng lớn khi độ ẩm cuối cùng của gỗ sấy yêu cầu càng bé vàlấy những giá trị sau đây
W (%)
KX
Trong đó: W (%) Độ ẩm gổ
KX Hệ số điều chỉnh phụ thuộc vào độ ẩm cuối cùng (We)
Như vậy lượng nước bay hơi tính toán theo công thức:
2.3.4.3 Xây dựng quá trình sấy lý thuyết và xác định lượng không khí tuần hoàn
Xây dựng quá trình sấy lý thuyết ở đây chính là biểu diễn quá trình sấy
lý trên biểu đồ in Để biểu diễn một quá trình sấy nào đấy, ta phải xác địnhđược những thông số cần thiết để xác định các điểm cơ bản làm xuất phátđiểm để vẽ lên được đường biểu diễn quá trình sấy lý thuyết Do vậy, phải xácđịnh cho được các thông số đặc trưng cho các trạng thái không khí tương ứngvới các điểm trên
Điểm 0: là điểm biểu thị trạng thái không khí mới tức là trạng thái khôngkhí bên ngoài lò sấy Tùy theo điều kiện và cách bố trí hệ thống dẫn khí, điểm
0 có thể khác nhau Mặt khác trạng thái không khí của điểm 0 phụ thuộc rấtlớn vào điều kiện khí hậu, thời tiết Khi tính toán từng bộ phận của lò sấy, việclựa chọn các thông số của không khí cụ thể có khác nhau, ví dụ khi tính toánthiết bị tăng nhiệt thì tính theo điều kiện mùa đông (tức là tính với điều kiệnchi phí nhiệt và qua đó chi phí nhiên liệu lớn nhất), còn khi tính toán lượnghơi nước và nhiên liệu dùng để sấy thì lại tính theo điều kiện bình quân năm.Khi tính toán thiết bị thông gió thì tính theo điều kiện làm việc khó khăn nhấttrong mùa hè Với phương pháp tính toán như vậy sẽ đảm bảo cho việc
Trang 24lựa chọn thiết bị được chính xác, đảm bảo cho lò sấy và phân xưởng sấy hoạt động được bình thường trong suốt cả năm.
Xuất phát từ yêu cầu như vậy, ta sẽ tìm hiểu các thông số của không khí
ở điểm 0:
-Nhiệt độ tính toán thấp nhất của không khí ở mặt ngoài tường lò sấy
Tmin tính toán = 0,04 ttb.tháng + 0,6 tmin tuyệt đối
Độ ẩm của không khí tính toán (ttoán) lấy giá trị bình quân các tháng mùa đông
-Độ ẩm bình quân cả năm (tb năm)
- Độ ẩm và nhiệt độ dùng để tính toán hệ thống thông gió lấy theo giá trị của tháng nóng nhất trong mùa hè
- Trạng thái của không khí ở gian điều khiển phải bảo đảm yêu cầu vệsinh (bảo hiểm lao động) Do vậy, ở những nơi đó cần duy trì trạng thái củakhông khí; 70% và nhiệt độ t = 20 25oC, tùy điều kiện khí hậu từng nơi
sẽ bố trí các trang bị như quạt gió, lò sưởi để đảm bảo điều kiện trên
Điểm 1: được xác định bởi các thông số của chế độ sấy lựa chọn để tínhtoán thiết kế như ở phần trước đã đề cập đến
Điểm 2: để xác định được điểm 2 phải biết được tối thiếu 1 thông số củatrạng thái không khí ở điểm 2, thông thường ta phải biết nhiệt độ của khôngkhí đi ra khỏi đống gỗ (t2) hoặc chênh lệch nhiệt độ đống gỗ:
Giá trị t theo kinh nghiệm thiết kế của N.X Xeliugin thì nên lấy nhữnggiá trị sau đây:
Tuy vậy, độ ẩm tương đối của không khí 2 (q2) dùng để tính toán khôngđược lớn quá 90 – 95%
Dựa vào các thông số của các điểm nói trên, ta thiết lập được quá trìnhsấy lý thuyết và dựa vào quá trình sấy lý thuyết có thể tìm được các thông số
Trang 25chủ yếu của không khí thừa khi ra khỏi đống gỗ (t2, 2, d2), sau đó căn cứ vàocác công thức sau đây để xác định lượng không khí tuần hoàn.
Lượng không khí tuần hoàn bình quân 1kg nước bay hơi
[kg/kg nước bay hơi]
Thể tích không khí tuần hoàn mỗi giờ trong lò sấy
Vth = gth x M lò t.toán x V
Trong đó:
V: thể tích riêng của không khí
Khi đã biết được Vth, ta có thể tính toán khối lượng không khí tuần hoànbình quân mỗi giờ trong lò sấy theo công thức
-Xác định giá trị:
(2.14)
-Xác định giá trị
(2.15)Giá trị t phải nằm trong khoản 2 5oC hoặc cùng lắm đến 6oC thì giátrị Vth tính toán trên mới cho phép sử dụng để tính toán tiếp tục các bước vềsau
2.3.4.4 Tính toán tốc độ tuần hoàn của môi trường sấy
Trang 26Tốc độ chuyển động của mỗi trường sấy trong đống gỗ:
[m/s]
Trong đó:
f: diện tích tiết diện thông khí của đống gỗ (m2)
2.3.4.5 Xác định lượng nhiệt tổn thất qua vỏ lò và nhiệt lượng tiêu hao để làm nóng gỗ
Lượng nhiệt tổn thất qua vỏ lò sấy qui về 1 kg nước bay hơi xác địnhtheo công thức
Qvo =
Trong đó:
Co – hệ số dự trữ cdo điều kiện làm việc của lò sấy ở nhiệt độ cao, chênhlệch nhiệt độ giữa bên trong lò sấy với bên ngoài càng lớn sẽ làm tăng mấtmát nhiệt và lấy bằng 2
(tlò – to) (kcal/h)Trong đó:
F1 và k1 – diện tích và hệ số truyền nhiệt của từng bộ phận vỏ lò sấy nhưtường, cửa, trần
tlò – nhiệt độ trung bình của không khí trong lò =
,oC to – nhiệt độ của không khí ở bên ngoài vỏ lò sấy, oC
Để thuận tiện trong tính toán ta nên lập bảng tính toán nhiệt lượng mấtmát qua vỏ lò sấy theo biểu mẫu dưới đây
Hệ số truyền nhiệt của trần lò phải hạn chế trong phạm vi nhất định saocho khi sấy không có hiện tượng nước ngưng tụ trên trần lò sấy, giá trị của nóđược xác định theo công thức sau:
(2.19)
Trang 27Trong đó:
- hệ số tỏa nhiệt của không khí bên trong lò sấy, lấy bằng 7.8
Ts – nhiệt độ điểm sương, căn cứ vào cấp chế độ sấy tính toán và dựa vào biểu đồ in để xác định
Căn cứ vào giá trị khăn mà quyết định kích thước cấu kiện xây dựng trần
lò, đặc biệt là cấu kiện cách nhiệt, theo kinh nghiệm thiết kế, bề dày của lớpcách nhiệt cần lò có thể tính theo công thức:
Theo kinh nghiệm thiết kế lò sấy, hệ số truyền nhiệt của trần lò
(2.22)Trong đó:
Elò – dung tích của lò sấy, m3
Eđg – dung tích của đống gỗ, m3; Eđg = Vđg
vkh lò – thời gian làm nóng (khởi lò), ngày
Trang 28Mkhlò – số lượng đống gỗ đưa vào lò cùng một lúc thường bằng 1/5 số lượng đống gỗ trong cả lò, số lượng đống gỗ tính tròn, không lấy lẻ.
Lượng nhiệt tiêu hao để làm nóng gỗ qui về 1kg nước bay hơi theo công thức:
vì thế ở đây cũng cần tìm hiểu thêm về vấn đề này
Khi qua thiết bị tăng nhiệt, đáng lẽ ra theo lý thuyết thì không khí sẽđược làm nóng lên đến trạng thái 1, nhưng do trong quá trình từ thiết bị tăngnhiệt đến đống gỗ, không khí nóng tiếp xúc với tường lò sấy ở đoạn ấy nên bịtổn thất một lượng nhiệt là I1, muốn bảo đảm cho trạng thái của không khítrước khi vào đống gỗ có trạng thái đúng với chế độ sấy ta phải làm nóngkhông khí lên đến trạng thái 4 để không khí khi bắt đầu đi vào đống gỗ cótrạng thái điểm 1 đúng theo yêu cầu của chế độ sấy
Mặt khác, khi không khí đi ra khỏi đống gỗ có trạng thái 2’ (theo lýthuyết) nhưng cũng do tổn thất nhiệt trong đoạn từ đống gỗ đến bộ phận hỗnhợp không khí thừa và không khí mới nên trạng thái thực tế của không khíthừa 2 sẽ thấp hơn trạng thái lý thuyết 2’ một giá trị I2
Tính toán các giá trị tổn thất nhiệt I2 và I2 theo các công thức sau:
(2.24)
Trang 29(2.25)Trong đó:
– Tổng số nhiệt lượng tổn thất qua vỏ lò sấy trên đường từ thiết bịtăng nhiệt đến đống gỗ
– Tổng số nhiệt lượng tổn thất qua vỏ lò sấy trên đường từ đống gỗđến nơi hỗn hợp khí (kcal)
gth – lượng không khí tuần hoàn [kg/h]
Mt.toán – lượng nước bay hơi bình quân giờ tính toán [kg/g]
tM – nhiệt độ của nguyên liệu sấy, lấy bằng nhiệt độ của nhiệt kế ướtcủa cấp chế độ sấy tính toán Từ điểm 1 và điểm 2, theo đường d = const lấylên và lấy xuống 1 đoạn I1 và I2 ta sẽ có dược điểm 4 và điểm 2 Giao điểmgiữa đường 0 – 2 và đường 4 -1 là điểm 3
Nếu điểm 3 của quá trình sấy thực tế nằm dưới đường cong = 100% thìgiao điểm giữa đường d1 = const và = 100% mới là điểm trạng thái thực tếcủa bạn hợp khí 3
Khi vẽ quá trình sấy thực tế trên biểu đồ Id nói chung ta cần chú ý đến vịtrí thực tế của điểm 2 Độ ẩm của không khí thừa (2) ra khỏi đống gỗ cuốicùng nên lấy trong phạm vi từ 85 – 98% Khi vẽ nếu thấy vị trí của điểm 2nằm thấp hơn đường = 100%, thì ta phải tìm cách tăng lượng không khí mới
và thay đổi lại tính toán ở phần trước để đáp ứng được yêu cầu trên
Lượng không khí mới và không khí thừa được quyết định bởi lượngnước hay hơi của lò sấy và tính toán bằng công thức sau:
Đối với lò sấy làm việc theo sơ đồ (hình 11.1)
(2.26)
Trang 302.3.4.7 Xác định lượng nhiệt tiêu hao để làm bay hơi nước và tính toán lựa chọn thiết bị tăng nhiệt
Lượng nhiệt tiêu hao khi sấy gỗ bao gồm 3 loại chủ yếu sau đây:
-Nhiệt lượng tổn thất qua vỏ lò sấy
-Nhiệt lượng tiêu hao để làm nóng gỗ
-Nhiệt lượng tiêu hao để làm bay hơi nước trong gỗ ra
Hai phần nhiệt đầu ta đã đề cập ở phần trên, ở đây ta sẽ tìm hiểu cách xác định thành phần nhiệt thứ ba
Nhiệt lượng tiêu hao để làm bay hơi phụ thuộc vào trạng thái của không khí mới và không khí thừa và được xác định bởi các công thức sau:
-Đối với lò sấy hơi nước
(2.27)
-Đối với lò sấy hơi quá nhiệt
qnc’ = ro + Cn (tn – 100)
Trong đó:
ro – nhiệt hóa hơi của nước ở oC và p = 760mmHg, ro =
540kcal/kg Co – tỷ nhiệt của hơi quá nhiệt
Tính toán thiết bị tăng nhiệt của lò sấy chủ yếu là xác định diện tích tăngnhiệt Để tiến hành tính toán diện tích tăng nhiệt, trước tiên ta phải xác địnhđược nhiệt lượng tỏa ra của thiết bị tăng nhiệt, tức là nhiệt lượng cần thiết màkhả năng thiết bị tăng nhiệt có thể đảm bảo cung cấp được, và sau đó (hoặcđồng thời) chọn kiểu thiết bị tăng nhiệt
Khả năng tỏa nhiệt của thiết bị tăng nhiệt, hay cũng có thể nói cách khác
là công suất nhiệt của thiết bị tăng nhiệt bằng nhiệt lượng tiêu hao bình quângiờ lớn nhất của lò sấy, tức là ở thời điểm tiêu thụ nhiệt lớn nhất và đượcxácđịnh bằng cách sau đây:
Trang 31Quá trình sấy gồm các giai đoạn: giai đoạn khởi lò hay giai đoạn tăngnhiệt hay còn gọi là giai đoạn làm nóng, giai đoạn sấy và các giai đoạn xử lýnhiệt ẩm.
Tính toán lượng nhiệt để lựa chọn thiết bị tăng nhiệt, người ta tính toántheo giai đoạnu sấy, tức là lấy nhiệt lượng tiêu hao bình quân giờ trong giaiđoạn sấy để làm cơ sở tính toán công suất nhiệt của thiết bị tăng nhiệt vì ở giaiđoạn này tuy lượng nhiệt tiêu hao bình quân ít hơn trong giai đoạn khởi lò,nhưng nếu tính riêng nhiệt lượng do thiết bị tăng nhiệt cung cấp không thôi –điều mà ta muốn biết để tính toán thiết bị nhiệt – thì người lại trong giai đoạnsấy lại lớn hơn trong giai đoạn tăng nhiệt
Trong giai đoạn tăng nhiệt, nguồn cung cấp nhiệt ẩm chủ yếu không phải
là do thiết bị tăng nhiệt, mà là do hệ thống phun ẩm, và việc xả trực tiếp hơinước nóng trực tiếp vào lò sấy quyết định
Công suất nhiệt của thiết bị tăng nhiệt tính toán theo công thức sau (tínhbằng kcal/h)
- Đối với lò sấy kiểu chu kỳ
(2.31)
Trang 32Trong đó:
k – hệ số truyền nhiệt của thiết bị tăng nhiệt
tn và tkk – nhiệt độ của hơi nước nóng và nhiệt độ của không khí)oC
C3 – hệ số dự trữ, lấy từ 1,15 1,3, phụ thuộc vào trạng thái bề mặt củathiết bị tăng nhiệt như bẩn, han gỉ
Q1m2 400kcal/m2
2.3.4.8 Nhiệt lượng sấy tiêu hao và lương hơi nước tiêu hao
Xác định lượng nhiệt tiêu hao và lượng hơi nước tiêu hao cho 1 lò sấyhoặc cho cả phân xưởng sấy nên chia ra làm 2 loại: nhiệt lượng và lượng hơinước tiêu hao lớn nhất (tính theo điều kiện mùa đông) và nhiệt lượng và lượnghơi nước tiêu hao bình quân năm (tính theo điều kiện bình quân năm) Chỉtiêu đầu là để tính toán thiết bị tăng nhiệt, chỉ tiêu sau dùng để tính toán kinh
(kg/h)
- Giai đoạn tăng nhiệt (khởi lò)
(2.35)Chi phí hơi nóng bình quân giờ cho toàn bộ phân xưởng sấy (lò sấy kiểuchu kì)
Trang 33Df.xưởng = mkh.lò x Dkh.lò giờ + msấy x Dsấy giờ
Trong đó:
mkh.lò – số lượng lò sấy đồng thời ở trong giai đoạn khởi
lò msấy – số lò sấy đồng thời ở trong giai đoạn sấy
- Chi phí hơi bình quân năm để sấy toàn bộ sản lượng năm theo nhiệm
vụ thiết kế, xác định theo công thức:
Dnăm =
Trong đó
- sản lượng gỗ sấy thực tế, m3/năm
Ck.dài – Hệ số tính đến chi phí hơi do kéo dài thời gian sấy, phụ thuộcvào sản lượng của từng loại gỗ thực tế, phụ thuộc vào tỷ lệ giữa thời gian sấythực tế so với thời gian sấy nguyên liệu tính toán
2.3.4.9 Xác định đường kính ống dẫn hơi nước và ống dẫn nước ngưng tụ
Việc tính toán đường kính ống dẫn hơi nước và nước ngưng tụ chínhđược tiến hành sau khi vẽ xong bản vẽ lấp ráp thiết bị tăng nhiệt của mỗinhóm lò sấy tính toán hoặc cả phân xưởng sấy
Đường kính ống dẫn hơi nước chính của cả dãy (phân xưởng) sấy xácđịnh theo công thức:
dphân xưởng =
Trong đó:
- trọng lượng riêng và tốc độ của hơi nước, tính bằng kg/m3, tính bằng 30mls
Đường kính ống dẫn hơi đến từng lò sấy
a Đường kính ống dẫn hơi nối với ống phun hơi
Dvề phun = (m) (2.39)
Trang 34b Đường kính ống dẫn hơi nối với thiết bị tăng nhiệt
Dvề tg nh = (m) (2.40)
-Đường kính ống dẫn hơi nước cung cấp cho 1 đoạn thiết bị tăng nhiệt
Dvề tg nh =
Trong đó: Kđ – Số lượng đoạn tăng nhiệt
-Đường kính ống dẫn hơi nước cung cấp cho 1 nhóm thiết bị tăng nhiệt
Dnh.ng.nh = (m) (2.42)
Trong đó: Kc – số lượng nhóm tăng nhiệt
c Đường kính ống dẫn nước ngung tụ của 1 nhóm thiết bị tăng nhiệt
Trong: 960 – trọng lượng riêng của nước nóng
-Tốc độ chảy của nước trong ống, có thể lấy 0,51
-Đường kính ống dẫn nước ngưng tụ của cả lò sấy để thải nước ngưng tụ
Dlòng ngưng tụ = (m) (2.44)
-Đường kính ống dẫn nước ngưng tụ chính của cả phân xưởng sấy
2.4 Tính toán khí động lực lò sấy
Nhiệm vụ chủ yếu của việc tính toán khí động lực của lò sấy tuần hoàncưỡng bức là: chọn kiểu và kích thước quạt gió, xác định số vòng quay vàcông suất cần thiết của quạt, xác định kích thước chủ yếu của hệ thống dẫnkhí cũng như số lượng và kích thước lỗ phun (đối với lò sấy phun khí)
2.4.1 Xác định lực cản của dòng không khí trong lò sấy
Trang 35Áp suất cần thiết để khắc phục lực cản của dòng không khí (H) tuần hoàn toàn trong lò sấy được xác định theo công thức:
(2.46)Trong đó:
- khối lượng riêng của không khí, kg/m3
- tốc độ của dòng không khí, m/s
- hệ số ma sát của thành ống dẫn
u – chu vi của ống dẫn, m
l – chiều dài của ống dẫn, m
F – tiết diện ngang của ống dẫn, m2
- hệ số cản cục bộ
Khi tính toán lực cản của dòng không khí trong lò sấy ta phải vẽ sơ đồchuyển động (tuần hoàn) của dòng không khí trong lò sấy và cố đánh dấuphân chia các đoạn
Những đoạn chủ yếu trên sơ đồ tuần hoàn của dòng không khí trong lòsấy:
-Thiết bị tăng nhiệt
Trang 36Xác định lực cản của thiết bị tăng nhiệt đối với chuyển động của khôngkhí là không có thể xem như 1 ống dẫn khí có chiều dài và chu vi nhất định,tức là không có thể coi tổn thất áp suất ở đây là tổn thất áp suất do ma sát màphải coi tổn thất áp suất ở đây là tổn thất áp suất cục bộ, nó phụ thuộc vào loạithiết bị lăng nhiệt và cách bố trí thiết bị tăng nhiệt.
2.4.1.2 Bộ phận tấm chắn và quạt trục
Đối với lò sấy có lắp quạt trục ở trong lò sấy, lực cản tạo nên giữa vỏquạt trục và các tấm chắn có chuyển động của dòng không khí tương đối lớn,trong trường hợp ấy lực cản tính theo công thức sau:
ht.chắn = t chắn x (kg/m2) (2.47)
t chắn – hệ số lực cản của tấm chắn chuyển hướng, đối với các loại lò sấy
mà quạt lắp dọc lò lấy bằng 2,5; đối với lò sấy quạt lắp ngang lò lấy bằng 0,8;kiểm -24 lấy bằng 0,5
Tốc độ của dòng không khí đi qua quạt (không tính bằng công thức)
2.4.1.3 Đường dẫn khí thẳng có tiết diện cố định
Đường dẫn khí thẳng trong lò sấy tuần hoàn ngang là đường giữa đống
gỗ và tường lò sấy, giữa đống gỗ và trần lò Lực cản ở đây là lực cản ma sát
L, u, f là chiều dài, chu vi và tiết diện của mương dẫn khí, căn cứ vào sơ
đồ cấu tạo của là sấy và kích thước cụ thể của lò sất mà quyết định
Trang 37đống – tốc độ không khí đi vào đống gỗ
h – hệ số đầy theo chiều đống gỗ
gỗ - hệ số lực cản của đống gỗ xác định
2.4.1.5 Lực cản cục bộ
Khi dòng không khí chuyển động từ đoạn ống dẫn này sang đoạn ốngdẫn khác, khi thay đổi hướng chuyển động của dòng, khi đi vào và đi ra khỏiđống gỗ (đột thu, đột mở ) đều bị những lực cản khác nhau tạo nên sự tổnthất áp suất của dòng khác nhau, lực cản như vậy gọi là lực cản cục bộ
Trong bất kỳ trường hợp nào, lực cản cục bộ đều xác định theo côngthức:
2.4.1.6 Lựa chọn quạt và xác định công suất của quạt