BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNTTRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP ---TRẦN HẬU SƠN NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG KÉO BÁM VÀ ỔN ĐỊNH CỦA MÁY KÉO BÁNH HƠI CỠ NHỎ ĐỂ LÀM NGUỒN ĐỘNG LỰC CHO HỆ TH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-TRẦN HẬU SƠN
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG KÉO BÁM VÀ ỔN ĐỊNH CỦA MÁY KÉO BÁNH HƠI CỠ NHỎ ĐỂ LÀM NGUỒN ĐỘNG LỰC CHO HỆ THỐNG
MÁY CHĂM SÓC MÍA GIỮA HÀNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
Hà Nội, 2011
Trang 2TRẦN HẬU SƠN
“NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG KÉO BÁM VÀ ỔN ĐỊNH CỦA MÁY KÉO BÁNH HƠI CỠ NHỎ ĐỂ LÀM NGUỒN ĐỘNG LỰC CHO HỆ THỐNG
MÁY CHĂM SÓC MÍA GIỮA HÀNG”
Chuyên ngành : Kỹ thuật máy và thiết bị cơ giới hoá NLN
Mã số : 60.52.14
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐẬU THẾ NHU
Hà Nội, 2011
Trang 4MỞ ĐẦU
Mía là cây công nghiệp trồng cạn, là cây nguyên liệu duy nhất cho ngành đường củanước ta Ngoài đường, cây mía còn cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành chế biếnkhác Ngày nay, từ mía người ta có thể sản xuất ra khoảng hơn 50 sản phẩm khác nhaunhư giấy, sợi nhân tạo, gỗ, chất hoá dược mà tổng sản lượng của nó còn gấp 2 ¸ 3 lầngiá trị của đường Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng mía là cây lấy sợi và cung cấp nănglượng của thế kỉ 21 Khi các nguồn năng lượng truyền thống như dầu mỏ, khí đốt, than
đá khai thác ngày càng cạn kiệt thì loài người sẽ tìm đến nguồn năng lượng có thể táitạo hàng năm Trong số cây xanh có thể sản xuất ra nhiên liệu lỏng thì cây mía đượcxếp hàng đầu do có sản lượng cao và phương pháp điều chế không phức tạp Cây mía
là loại cây cao sản, sản lượng sinh khối có thể đạt 150-200 tấn/ha Riêng mía nguyênliệu có thể đạt 50¸100 tấn/ ha Cây mía không kén đất mà ngược lại còn có khả năngbảo vệ và cải tạo đất, chống xói mòn rửa trôi đất
Do vị trí địa lý của nước ta mà các điều kiện tự nhiên về nhiệt độ, ánh sáng, đất đai
và độ ẩm rất phù hợp cho cây mía phát triển Trong chương trình mía đường, diện tíchtrồng mía phát triển lên 280 000 ha và đưa sản lượng đường đạt 1 triệu tấn đến năm
2000 Cho đến vụ 2005¸2006 diện tích trồng mía cả nước khoảng 265.000 ha (giảm 15nghìn ha so với năm trước), sản lượng mía đạt 13,5 triệu tấn, năng suất bình quân đạt50,9 tấn/ ha Sản lượng đường đạt 1.237.200 tấn đường (nếu tính đường công nghiệp là1,87 triệu tấn) Năm 2010, diện tích trồng mía trong tỉnh khoảng 9.600 ha, ước năngxuất đạt hơn 60 tấn/ha Đặc biệt, một số hộ nhờ áp dụng triệt để các tiến bộ khoa học
kỹ thuật nên năng suất đạt tới hơn 100 tấn/ha, lợi nhuận tăng thêm 1,5-2 lần
Thâm canh tăng năng suất cây mía là giải pháp quan trọng nhất để nâng cao năngsuất trữ đường Ngoài việc cần giống tốt, phân bón đủ và chất lượng, cần áp dụng cơgiới hoá canh tác để đảm bảo thời vụ, đáp ứng đúng yêu cầu nông học của cây mía vàđặc biệt là giải quyết vấn đề cải tạo đất ứng dụng cơ giới hoá canh tác mía sẽ đem lại
Trang 5cho người trồng không chỉ thâm canh tăng năng suất cây trồng mà còn giảm nhẹ cường
độ lao động và nâng cao năng suất lao động sản xuất
Hiện nay, tình hình các khâu canh tác mía như làm đất, rạch hàng, trồng và bạt gốc
đã được nghiên cứu cũng như đã được áp dụng khá phổ biến ở trong nước Tuy nhiên,
do hạn chế về nguồn động lực, hiện nay vẫn chưa có một hệ thống máy chăm sóc phùhợp với điều kiện canh tác của nước ta Để có một hệ thống thích hợp cần có mộtnghiên cứu tổng thể chung từ nguồn động lực tới các máy canh tác Đề tài nghiên cứu
"
Nghiên cứu thiết kế và chế tạo máy xới, vun hàng cây mía" là cần thiết trong điều kiện
hiện nay
Hiện nay, tình hình các khâu canh tác mía như làm đất, rạch hàng, trồng và bạt gốc
đã được nghiên cứu cũng như đã được áp dụng khá phổ biến ở trong nước Tuy nhiên,
do hạn chế về nguồn động lực, hiện nay vẫn chưa có một hệ thống máy chăm sóc phùhợp với điều kiện canh tác của nước ta
Với mục tiêu thiết kế, cải tiến và chế tạo máy kéo cỡ nhỏ có công suất 15-20HP vàthiết kế chế tạo hệ thống máy phục vụ chăm sóc giữa hàng mía Đề tài nghiên cứu
trọng điểm cấp bộ: “Nghiên cứu, thiết kế, và chế tạo máy xới, vun hàng mía“ do TS.
Đậu Thế Nhu Viện Cơ Điện và Công nghệ sau thu hoạch chủ trì Đã thiết kế cải tiến vàchế tạo được máy kéo công suất 18HP có các đặc tính kỹ thuật đáp ứng yêu cầu chocông việc chăm sóc mía giữa hàng Đồng thời thiết kế và chế tạo thành công hệ thốngmáy canh tác phục vụ việc chăm sóc mía giữa hàng với các đặc tính kỹ thuật đáp ứngđược các yêu cầu về nông học
Tuy nhiên, khác với sản xuất nông nghiệp thông thường, hệ thống máy thực hiệncông việc chăm sóc mía thường làm việc ở những nương mía nằm trong vùng bán sơnđịa, trên các sườn dốc, mặt đường không bằng phẳng, nhiều chướng ngại vật cục bộ,nhiều chỗ có độ dốc dọc và dốc ngang lớn đòi hỏi chúng phải có tính ổn định cao, khảnăng vượt dốc lớn Chính vì vậy, để làm cơ sở cho việc nâng cao khả năng ứng
Trang 6dụng máy kéo đã được sáng chế vào các điều kiện làm việc khác nhau của thực tế sảnxuất, cần thiết phải nghiên cứu tính chất động lực học của máy Được sự đồng ý củaBGH Trường Đại học Lâm nghiệp và Ban chủ nhiệm khoa sau Đại học, tôi thực hiện
luận văn Thạc sỹ khoa học kỹ thuật với tên đề tài: “Nghiên cứu khả năng kéo bám và
ổn định của máy kéo bánh hơi cỡ nhỏ để làm nguồn động lực cho hệ thống máy chăm sóc mía giữa hàng”
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình trang bị máy kéo và áp dụng cơ giới hóa trong canh tác mía
ở nước ta
Trong một vài năm gần đây thực hiện chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta về côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Quá trình chuyển dịch cơ cấu nôngnghiệp gắn với cơ khí hóa để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnhtranh của nông sản hàng hóa trên thị trường đã góp phần nâng cao trình độ cơ giới hóasản xuất trong nông nghiệp
Cả nước ta hiện nay có trên 400 nghìn máy kéo các loại với công suất khoảng 4,5triệu mã lực tăng 2,7 lần so với năm 2001, trong đó máy kéo hai bánh dưới 12 mã lựcchiếm 67,5%, máy kéo 12-35 mã lực chiếm 26,5% và máy kéo lớn trên 35 mã lựcchiếm khoảng 6% Bình quân trang bị động lực cho một ha canh tác cả nước đạt 1,16
mã lực/ha Do điều kiện phát triển kinh tế ở từng vùng khác nhau nên việc trang bịđộng lực cũng khác nhau Vùng đồng bằng sông Cửu Long là nơi có trang bị máy kéocao nhất toàn quốc với 1,85% mã lực/ha và cùng miền núi phía Bắc là nơi có trang bịđộng lực thấp nhất toàn quốc 0,39 mã lực/ha
Cùng với việc thay đổi chính sách trong sản xuất nông nghiệp, chủ sở hữu nôngnghiệp cũng chuyển dần từ doanh nghiệp hoạt động theo mô hình nhà nước sang sởhữu tư nhân, hộ gia đình, đây là những đối tượng có tiềm năng lớn áp dụng máy mócvào sản xuất nhờ đó mà hàng nghìn máy kéo, máy nông nghiệp đã đến với bà con nôngdân Nhiều loại máy kéo cỡ nhỏ đã nhập vào Việt Nam với số lượng lớn từ các nướcnhư là Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc
Các loại máy kéo này được sử dụng ở nước ta đã góp phần cơ giới hoá nhiều khâucông việc trong sản xuất nông nghiệp Những năm gần đây tỷ lệ cơ giới hóa làm đấtbình quân cả nước đạt 63,8% cao nhất là đông bằng sông Cửu Long đạt 87%; Đông
Trang 8Nam Bộ 75%; Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Nam Trung Bộ trên 65%, các vùngkhác xấp xỉ 41%.
Trung bình canh tác mía thì việc cơ giới hóa các khâu sản xuất chưa đồng bộ và chưacao Việc cơ giới hóa canh tác mía tập trung chủ yếu ở các đơn vị, công ty phục vụnhững nhà máy đường lớn thuộc cùng trọng điểm sản xuất mía đường như đồng bằngsông Cửu Long, Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung Việc nghiên cứu cơ giới hóacác khâu canh tác mía được một số trung tâm nghiên cứu lớn tiến hành như trường Đạihọc Nông nghiệp Hà Nội, trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, Viện cơđiện Nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch Một số mẫu máy phục vụ canh tác mía
đã được chế tạo và áp dụng trong sản xuất
Khâu làm đất: Cày ngầm CN20, dùng để cày sau phá tầng đế dày, cày cải tạo tầng canh tác mới cho đất, cắt đứt rễ già, giữ ẩm, làm đất tơi xốp
Khâu trồng mía có các loại máy trồng mía MTM-1, MTM-2, MT1, MT2 đã thực hiệnđược nhiệm vụ trồng mía hàng đơn hoặc hàng đôi với các thao tác rạch hàng, bónphân, giải hom, cày lấp và nén đất
1.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng CGH chăm sóc mía
1.2.1 Về mặt quy trình
Chăm sóc mía được chia thành hai giai đoạn [13]: giai đoạn mía mới mọc và giai đoạnmía phát triển ra lóng Đối với giai đoạn thứ nhất các thiết bị cần đáp ứng cho hai loạimía: phục vụ cho mía trồng mới và phục vụ cho mía lưu gốc
* Chăm sóc trong giai đoạn mía chưa phát triển ra lóng:
Đối với mía trồng mới đất còn tơi xốp chưa bị nén chặt, cỏ cũng mới mọc cònnon dễ bị đứt khi có tác động cơ học vào nên cần có một thiết bị xới móc để diệt cỏ, đồngthời phá váng ở giữa luống mía, tạo độ thông thoáng cho đất Sau đó khi cây mía đã lớn,phát triển ra lóng thì cần phải cày lật đất ra, bón thúc rải
Trang 9phân chạy dọc theo 2 bên của hàng mía, sau đó lại cày lật lại vun đất vào gốcmía để tránh phân hoá học bay hơi hay cỏ ăn hết, đồng thời vun cao luống míatạo sự vững chắc cho cây mía
Đối với mía lưu gốc do gốc mía sau thu hoạch còn cao hơn mặt đất từ 50 - 150
mm nên mầm mía mọc từ gốc ở phía trên mặt đất sẽ yếu, kém phát triển, ảnhhưởng tới năng suất mía vụ sau.Vì vậy cần phạt bỏ phần gốc mía còn lại ở trên
mặt đất để mía mầm mọc từ dưới đất sẽ to khoẻ Ngoài ra cần cắt đứt rễ cũ đểxuân hoá rễ, tạo bộ rễ mới khoẻ là rất cần thiết để tạo ra năng suất cao cho vụsau.Vì vậy cần cày lật hai bên cách gốc từ 150 - 200 mm, với độ sâu từ 180 -
200 mm Cuối cùng là cày úp, lấp phân và vun gốc mía Bốn công việc chăm
sóc mía lưu gốc này cần được tiến hành ngay sau thu hoạch, càng sớm càng tốt, trước khi gốc mía nảy mầm
* Chăm sóc trong giai đoạn mía đã phát triển ra lóng:
Khi cây mía phát triển ra lóng, đến giai đoạn bón thúc thì cũng giống như chăm sócmía trồng mới, công việc yêu cầu lúc này là cày lật đất ra, bón thúc phân hoá học, sau
đó cày lật trở lại, lấp phân vun đất vào gốc mía Tuy nhiên khó khăn nhất của việcchăm sóc trong giai đoạn này là thuộc về phần thiết bị Hiện nay vẫn chưa có một loạithiết bị nào có thể đi lại thuận tiện giữa hàng mía
1.2.2 Về mặt thiết bị
Những năm qua nông dân trồng mía ở nước ta có tập quán canh tác thủ công, trừ khâuchuẩn bị đất trồng đã được cơ giới hoá Việc chăm sóc mía sau thu hoạch được bà conquan tâm chủ yếu đến các khâu: đốt lá dọn ruộng, băm sửa gốc bằng dao sau đó đểnguyên không cày bừa hoặc dùng trâu bò để cày bừa xả gốc Các biện pháp này khôngđảm bảo về yêu cầu chất lượng kĩ thuật, hiệu quả thấp Để giải quyết vấn đề này cầnphải có một số máy móc, thiết bị xử lý, chăm sóc mía
Trang 10Các thiết bị đã được nghiên cứu hiện nay ở nước ta chủ yếu phục vụ cho việc chăm sócmía còn non chưa ra lóng [11,14]:
- Với mía lưu gốc hiện đã có nhiều mẫu máy được nghiên cứu như: máy bạt gốckết hợp với cày móc rễ và bón phân của Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thuhoạch nghiên cứu chế tạo; máy bạt gốc, sản phẩm của đề tài
KC.07.09;
- Với mía trồng mới, ở giai đoạn mới mọc cũng đã có nhiều loại máy đã đượcnghiên cứu và ứng dụng như: máy xới vun giữa hàng mía (Viện CĐNN & CNSTH); máybón phân, vun gốc mía [14] (Trường Đại học Nông lâm Tp
HCM), v.v
Đặc điểm chung của các máy này là liên hợp với máy kéo lớn Do mía còn bé nên gầmmáy kéo có thể đi trên các hàng mía mà không gây hư hại cho cây mía Nói chung ởgiai đoạn mía còn bé, các máy chăm sóc đã được nghiên cứu ở nước ta đáp ứng khá tốtcác yêu cầu về chăm sóc mía
Tuy nhiên về mặt chi phí công suất, các công đoạn này thường yêu cầu công suất chiphí không lớn nên khi liên hợp với máy kéo lớn thường không sử dụng hết công suấtcủa máy kéo Với giá thành đầu tư của máy kéo lớn, việc không sử dụng hết công suấtgây lãng phí và làm tăng giá thành của các công đoạn này Vấn đề đặt ra nếu chúng ta
có một liên hợp máy vừa có khả năng thực hiện tất cả các công đoạn chăm sóc, từ míalưu gốc, mía còn nhỏ cho đến khi mía đã ra lóng sẽ tiết kiệm được đáng kể chi phí sảnxuất
Trang 11Hình 1.1 Máy xới, vun giữa hàng mía (của Viện cơ điện NN & CNSTH ) .
Hình 1.2 Máy bón phân, vun gốc mía (Trường Đại học Nông lâm Tp HCM).
* Giai đoạn mía đã ra lóng:
Trang 13máy kéo Bông sen cho việc chăm sóc giữa hàng Tuy nhiên khoảng cách giữa hai vệtbánh của máy kéo Bông sen 12 vẫn còn lớn nên máy chỉ sử dụng cho những nơi cókhoảng cách giữa 2 hàng mía từ 1200 - 1400 mm nên và rất khó điều khiển máy đigiữa hai hàng, do đó gây hư hại đáng kể cho mía Ngoài ra theo nhận định của một sốchuyên gia, công suất 12 mã lực cho công việc chăm sóc mía ở những vùng mía tậptrung là nhỏ và cho năng suất thấp
Một số nghiên cứu gần đây của Trường ĐH Nông nghiệp I đã thử nghiệm sử dụng máykéo cỡ nhỏ 6 - 7 mã lực dùng động cơ xăng có phay lắp trên trục di động của máy kéo
để chăm sóc Các máy này chỉ thực hiện được công việc chủ yếu là làm cỏ giữa haihàng mía Các công đoạn như rạch rãnh bón phân, vun gốc hiện không thực hiện được
do công suất có hạn
Như vậy, việc cơ giới hoá chăm sóc giữa hàng mía không chỉ đơn thuần là vấn đề hệthống máy chăm sóc mà quan trọng bậc nhất hiện nay là có được một nguồn động lực
đủ lớn và có thể đi vào giữa hàng mía
Hiện có hai giải pháp để nguồn động lực có thể vào nương mía là sử dụng các máy kéogầm cao hoặc nâng cao khoảng cách giữa hai hàng mía và giảm bề rộng của máy kéo.Phương án nâng cao gầm máy kéo là không hợp lý, một mặt do công nghệ chế tạo máykéo lớn ở nước ta chưa phát triển nên việc cải tiến nâng cao hệ di động là rất khó khăn,mặt khác với địa hình các nương mía ở phía Bắc thường là đồi dốc, các máy kéo gầmcao sẽ có độ ổn định rất thấp Phương án tăng bề rộng giữa hai hàng mía lên 1,4 - 1,6 mnhư các nước đang phát triển cũng là một phương án khả thi, tuy nhiên hiện nay cácquy trình nông học của nước ta hiện đang khuyến cáo là từ 1 - 1,2 m Để tăng khoảngcách giữa hai hàng mía cần có một nghiên cứu kỹ lưỡng nhiều năm về mặt nông học,điều này nằm ngoài phạm vi và khả năng của đề tài
Trang 14Hình 1.3 Máy cày, vun gốc lắp với máy kéo nhỏ (Viện Cơ điện NN & CNSTH).
Hình 1.4 Máy cày, vun gốc lắp với máy kéo nhỏ (Trường đại học nông lâm ).
Các phân tích trên cho thấy cần thiết phải có nguồn động lực có công suất tương đốilớn (khoảng 17 - 20 HP) có bề rộng nhỏ liên hợp với các thiết bị chăm sóc như xớimóc, vun luống và bón phân phù hợp cho việc chăm sóc mía trong giai đoạn này.Ngoài ra cần thiết phải duy trì đồng bộ quy trình trồng mía với khoảng cách giữa hànglớn nhất có thể (1,2 m)
Trang 15- Thiết bị vun luống.
Ở nước ta, những năm vừa qua đã có một số loại máy chăm sóc mía được đưa raứng dụng trong thực tế sản xuất như của Trường Đại học nông lâm Tp HCM, Viện Cơđiện NN & CNSTH, Trường Đại học NN I, Các thiết bị này mới đáp ứng được côngviệc chăm sóc khi mía còn nhỏ chưa có lóng bằng việc sử dụng các công cụ liên hợpvới các loại máy kéo lớn 4 bánh Tuy nhiên do nhu cầu tiêu thụ của các máy chăm sóckhông lớn nên việc sử dụng máy kéo lớn sẽ gây lãng phí, tăng giá thành sản xuất.Năm 2009, thực hiện đề tài nghiên cứu cấp bộ "Nghiên cứu thiết kế và chế tạo máyxới, vun hàng mía" Tiến sĩ Đậu Thế Nhu, viện cơ điện nông nghiệp và công nghệ sauthu hoạch đã thiết kế, chế tạo máy kéo 4 bánh 2 cầu chủ động công suất 18HP, lực kéocực đại 3,3KN đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật cho công việc chăm sóc mía giữa hàngvới khoảng cách hai hàng mía 1,2 m Đã thiết kế và chế tạo thành công hệ thống máycông tác phục vụ công việc chăm sóc mía giữa hàng với các đặc tính kỹ thuật đáp ứngđược các yêu cầu về nông học bao gồm:
1 Máy phay chăm sóc mía PCS-0,6 Độ sâu phay 5-7cm
Bề rộng làm việc 0,6mTrọng lượng 65kgKích thước 800x800x800mm
2 Máy vun luống mía CVL-1,2
Trang 16Độ sâu làm việc của lưỡi xới vun sâu 20-30cm
Độ sâu làm việc lưỡi vung 10-15cm
3 Máy bón phân cho mía MBM-0,2 Số cụm bón phân: 2
Kích thước chính của máy (dài x rộng x cao) 1200 x 900 x
1350 Khối lượng máy khi chưa có phân: 110kgKhối lượng máy khi có phân: 160kg
Số hàng mía được bón phân trong một lượt: 2Lưỡi rạch đất với độ sâu: 5-8cm
Máy có thể bón được nhiều loại phân NPK, phân vi sinh
Lượng bón 10-30kg/sào
Độ sâu bón phân: 8-12cm
4 Máy bạt gốc mía BGMR-01 Bề rộng làm việc 800mm Khối lượng máy 80kg
Kích thước phủ bì (dài x rộng x cao) 880 x 800x 700Các sản phẩm nghiên cứu trên đã góp một phần vào việc cơ giới hóa khâu sản xuấttrong canh tác mía đường ở nước ta Tuy nhiên, mức độ cơ giới hóa sản xuất trongcanh tác mía đường nói riêng và cơ giới hóa sản xuất trong nông lâm nghiệp đối vớicây trồng cạn (lạc, đậu, mía) còn ở mức thấp: 23% [ ] Vì vậy, việc nghiên cứu, chế tạođược mẫu máy kéo phù hợp với điều kiện sản xuất của cây trồng cạn và canh tác mía
Trang 17nói riêng cũng như nghiên cứu những đặc tính sử dụng của các thiết bị đã được hoàn thiện, mở rộng khả năng sử dụng chung trong sản xuất là rất cần thiết
Hình 1.5 Liên hợp: máy kéo nhỏ 4 bánh, phay chăm sóc PCS – 0,6
Hình 1.6 Máy vun luống cho mía đang làm việc
1.2.3 Đặc điểm canh tác mía ảnh hưởng đến khả năng làm việc của máy kéo
Do hầu hết diện tích trồng mía ở nước ta trồng nhờ nước mưa nên có hai vụ trồng mía đó là vụ đầu mùa mưa và tháng 4, tháng 5 để sau khi mía nảy mầm sẽ có đủ nước
Trang 18cho mía sinh trưởng, phát triển, kịp thu hoạch vào tháng 12 đầu tháng 3 năm sau Vụcuối mùa mưa trồng vào tháng 9 đến tháng 11, vụ này giúp cho mía kết thúc nảy mầm
và bắt đầu đẻ nhánh khi sang mùa khô và chịu đựng được khô hạn để đầu mùa mưa sẽvươn cao nhanh, đảm bảo thu hoạch cho vụ ép sớm
Mía là cây trồng cạn không kén đất nên có thể trồng trên nhiều loại đất như đất phù
sa, đất xám, đất phèn, đất cát Tuy nhiên, để đạt được năng suất cao, chất lượng tốtngay từ khâu làm đất phải tuân thủ theo yêu cầu kỹ thuật nông học: cày lần đầu sâu 40-50cm, bừa kỹ, dọn sạch rác Vì vậy, để thực hiện khâu công việc này phải có máy kéocông suất lớn Khâu trồng mía là khâu quan trọng, ảnh hưởng đến năng suất mía và quátrình làm việc của các thiết bị cơ giới trồng, chăm sóc mía
Độ sâu trông tùy thuộc vào đất canh tác và điều kiện sản xuất ở địa phương Vùngđất khô hạn phải trồng sâu, vùng đất bằng phẳng, đất chua phèn độ sâu nhỏ hơn Thôngthường độ sâu trồng từ 15-20cm
Mật độ trồng hợp lý làm cho số cây hữu hiệu tăng lên, cây phân bố đều, mỗi cây cómột diện tích dinh dưỡng nhất định, đủ điều kiện thuận lợi để phát triển, mía đẻ ngọnnhiều hơn, giảm số nhánh vô hiệu, tiết kiệm được chất dinh dưỡng, chống khép tán,giảm được cỏ dại, chống xói mòn, bảo vệ đất
Mật độ hợp lý của mía khi thu hoạch tương ứng với các giống mía
Giống mía cây to: 65000-75000 cây hữu hiệu/ha
Giống mía cây trung bình: 75000-78000 cây hữu hiệu/ha
Giống mía cây nhỏ: 80000-100000 cây hữu hiệu/ha
Khoảng cách trồng mía phổ biến 1-2m ngoài ra ở một số nơi như miêng Trung Nam
Bộ dùng giống mía nhỏ, trình độ chưa cao, khoảng cách hàng từ 0,7 đến 0,8m; vùngđất phù sa ven sông, đất tốt thường trồng thưa 1,3-1,4m Để thuận lợi cho việc cơ giớihóa, khoảng cách giữa hàng mía thường phải từ 1,2m trở lên
Trang 19Khâu chăm sóc mía được tiến hành hai giai đoạn là giai đoạn mía mới mọc và giaiđoạn mía phát triển ra lóng Đối với giai đoạn thứ nhất các thiết bị cần đáp ứng cho hailoại mía đó là mía trông mới và mía lưu gốc
Chăm sóc trong giai đoạn mía chưa phát triển ra lóng:
- Đối với mía trồng mới đất còn tơi xốp chưa bị nén chặt, cỏ cũng mới mọc, còn non
dễ bị đứt khi có tác dụng cơ học vào nên việc chăm sóc ở giai đoạn này có tác dụngdiệt cỏ và đồng thời phá ở giữa luống mía, tạo độ thông thoáng cho đất Khi mía đãlớn, phát triển ra lóng thì cần phải cày lật đất ra, bón thúc, rải phân chạy dọc theo haibên của hàng mía, sau đó lại cày lật lại vun đất vào gốc mía để tránh phân hóa học bayhơi, đồng thời vun cho cao luống mía tạo sự vững chắc cho cây mía
Đối với mía lưu gốc, do gốc mía còn lại sau khi thu hoạch, cào hơn mặt đất từ 50-150
mm nên mầm mía mọc từ ở phía trên mặt đất sẽ yếu, kém phát triển, ảnh hưởng đếnnăng suất vụ sau Vì vậy cần phải phạt bỏ phần gốc mía còn lại ở trên mặt đất để chomía mầm mọc từ dưới đất sẽ to khỏe Ngoài ra, cần cắt đứt rễ cũ để xuân hóa bộ rễ, tạo
ra bộ rễ mới khỏe giúp cây mía phát triển tốt Vì vậy, cần cầy lật hai bên cách gốc mía
từ 150-200mm với độ sâu từ 180-200mm Sau cùng là cày úp, lấp phân và vun gốcmía Bốn công việc chăm sóc mía lưu gốc trên cần tiến hành ngay sau thu hoạch mía,càng sớm càng tốt, trước khi gốc mía nảy mầm Ở giai đoạn mía đã phát triển lóng tiếnhành giống như chăm sóc mía trồng mới
Việc chăm sóc mía ở hai giai đoạn trên được tiến hành bốn lần chăm sóc theokhoảng thời gian như sau:
Chăm sóc lần 1: sau khi trồng 10-15 ngày mầm bắt đầu lên khỏi mặt đất và kéo dài
2-3 tuần tùy theo giống mía và thời vụ trồng Thời gian chăm sóc lần một khi mía kếtthúc nảy mầm và bất đầu đẻ nhanh Nội dung công việc của chăm sóc lần một gồm:kiểm tra, trồng dặm, trừ cỏ và xới đất cho thông thoáng, bón phân đạm đợt một để tăngsức đẻ nhánh
Trang 20Chăm sóc lần hai: Thời gian khi mía kết thúc đẻ nhánh và bắt đầu vươn lóng (khoảng7-8 tuần sau khi trồng) Nội dung chăm sóc đợt hai gồm cày xới giữa hàng để diệt cỏ
và làm thông thoáng cho đất, bón thúc phân đạm, phân kali lần hai; vun đất để mía pháttriển gốc và vươn lóng
Chăm sóc lần ba: được tiến hành khi mía đã ra lá (có 1-3 lóng) Nội dung chăm sóclần ba là làm cỏ lần cuối, nếu mía kém phát triển cần bổ sung 20-25 kg phân đạm/ha,vun luống ca từ 20-25cm để cây mía vững chắc
Từ những phân tích trên cho thấy rằng:
- Trừ khâu làm đất trồng mía thì các khâu chăm sóc mía không đòi hỏi công suấtlớn, nhưng một điều quan trọng là kích thước máy phải nhỏ gọn có thể đi vào giữa
hàng mía với khoảng cách không vượt quá 1,2m Do việc trồng mía bằng tay nên nhiềukhi khoảng cách giữa hai hàng còn 1,1m và với mía lưu gốc bề rộng thông thoáng giữahai luống thường chỉ còn 1m Với điều kiện như vậy bề rộng máy kéo không thể vượtquá 0,8m
- Đất giữa hàng mía do quá trình canh tác thường không bằng phẳng, đặc biệt là ở
vụ đầu tiên, khi đất được cày xới và rạch rãnh, để lại giữa hai luống các sống trâu cómấp mô lớn Điều này gây ảnh hưởng đến ổn định hướng chuyển động và khả năngbám của máy kéo
- Đất trồng mái thường là đất đồi có độ chặt lớn hơn nhiều so với đất ruộng trônglúa hoặc cây trồng cạn Vì vậy, để đảm bảo năng suất cần thiết máy kéo có công suất
và lực kéo khá lớn
- Độ dốc dọc của các tuyến đường vào nương mía và độ dốc ngang khi làm việctrong ruộng mía đòi hỏi các máy kéo làm việc có kích thước nhỏ gọn và đảm bảo được
độ ổn định khi làm việc
Trang 21di động, nguồn dự trữ công suất của động cơ để cân bằng những mất mát công suất dotrượt và cản chuyển động, phụ thuộc vào tính chất của đất, kích thước chiều cao gầmmáy, độ êm dịu khi di chuyển, đặc điểm kết cấu hình dạng của bánh xe chủ động và lựccản của máy nông nghiệp.
Để máy kéo bánh hơi làm việc trên nền đất cứng di chuyển được trên ruộng cần
- hệ số phân phối tải trọng của máy kéo lên cầu chủ động;
G – trọng lượng máy kéo
Mặt khác để tăng tính chất kéo bám cho máy kéo cần phải tăng hiệu suất kéo
Trang 22Như vậy muốn tăng hiệu suất kéo của máy kéo T cần phải tăng hệ số bám k ,
giảm hệ số cản lăn f và độ trượt [10].
Svixepski V.S [105] đã nêu: hao hụt công suất tăng lên với sự tăng lực kéo, do
đó độ trượt phụ thuộc vào lực kéo PT Đối với máy kéo bánh, tác giả khẳng định rằng
độ trượt tăng khi lực kéo tăng và tải trọng lớn Giữa chúng có mối liên hệ:
Trang 23Để dễ dàng tính toán và cho kết quả chính xác hơn, một số nhà khoa học khác
đã tính đến biến dạng của đất trong quá trình tương tác đất máy Năm 1796, Phue N.I
Ở Viện hàn lâm Petecbua – Nga đã kết luận lực cản của đất chống lại sự biến dạng tăng
Trang 24khi tải trọng tác dụng lên máy kéo tăng [56].
Năm 1875, Viut đã đề nghị một phương pháp đơn giản để thiết kế bánh xe Đểxác định độ sâu của vết bánh xe Viut đã thống nhất tất cả các thành phần phụ thuộcđiều kiện đất trong một hệ số không đổi [56]
(1.5)Tác giả đã đưa ra công thức:
trong đó: K 1 - hệ số phụ thuộc vào tình trạng đất; d
- đường kính bánh xe của máy kéo, m;
b - chiều rộng của bánh xe, m;
h 1 - độ lún sâu của bánh xe, m;
K - lực cản của đất khi bị biến dạng, N.
Thời kỳ từ 1910 đến 1930, luận thuyết về mối quan hệ đất – máy trong nghiêncứu lực cản của đất ngày càng được phát triển, luận thuyết đề cập đến sự phụ thuộctuyến tính giữa độ sâu nén và lực cản của đất [98][116]
Năm 1913 Bectain đã đi đến kết luận về sự cần thiết sử dụng đại lượng lực cản
a’, a’’ - hệ số phụ thuộc vào điều kiện đất;
h 1 - độ sâu biến dạng của đất khi ép, m.
Năm 1915 Suns V.V nghiên cứu bản chất sự lăn của bánh xe trên bề mặt đàn
Trang 25hồi và kết luận là năng lượng được chi phí cho sự lăn là đáng kể
Ở Liên Xô (cũ), công tác nghiên cứu thực nghiệm về khả năng di động của máykéo được tiến hành ở NATI và nhiều cơ sở nghiên cứu khác Nhiều thực nghiệm tính toántương tự cũng được tiến hành ở Mỹ và Đức Từ công tác nghiên cứu về máy kéo bánh xeđến khả năng di động của máy kéo, nhưng những nghiên cứu trên là đơn yếu tố, nên chưaxác định được ảnh hưởng của đa yếu tố đến khả năng di động và làm việc của liên hợp máy
Giai đoạn sau vào những năm 1940-1942, nghiên cứu trong lĩnh vực di độngcủa liên hợp máy và các vết rãnh đã phát triển lý thuyết về vết rãnh qua áp dụng về cơhọc đất, nổi bật là các tác giả Trankevit A và Tesaghi – Gôrentogeer, Calyzoski I A.,giáo sư Pocroski V.V [106][107][108][111], đề nghị tính toán lực cản của đất khôngchỉ lực ép khi lăn mà còn tính lực dịch chuyển theo mặt đất, sự cản của đất được đưa ra
từ điều kiện cân bằng giới hạn Xác định lực cần thiết để ép lên đất dưới bánh xe củamáy kéo, sự phụ thuộc giữa lực kéo và độ sâu của vết bánh xe Nghiên cứu khả năng diđộng của máy kéo trên đất có độ ẩm cao có không ít tác giả quan tâm, về lĩnh vực này
có giáo sư Karenski D.K và Critsli M.K [85][92] Đã đưa ra phương pháp làm chínhxác kết cấu thông qua kết quả khảo nghiệm giảm công suất cho tự chạy trên đất có độ
ẩm cao và tăng khả năng đẩy được gắn liền với sự thay đổi kết cấu hệ thống di động
Trepenhecop I.I [107][108] xác định rằng độ ẩm của đất không ảnh hưởng đến
độ trượt khi sử dụng bánh cao su có áp suất thấp nếu độ ẩm thay đổi trong giới hạn từ
25 27%
Salôcốp A.V [103] khi quan sát độ căng của bánh xe cao su được coi như làbánh cứng khi làm việc với áp suất tối thích Nếu tăng độ ẩm của đất và tải trọng trênlốp xe chi phí cho tự chạy tăng Kết quả đạt được từ thực nghiệm cho thấy lực tự chạytăng đáng kể khi máy kéo làm việc với tốc độ trên 2,1 2,2 m/s
Mingen E.M [96] coi lực tự chạy chịu ảnh hưởng của tình trạng đất, dạng hệ
Trang 26thống di động, công suất kéo, độ trượt và tốc độ chuyển động Sự phụ thuộc của lực tự chạy được biểu thị theo phương trình sau:
(1)N
T
VTrong đó: N K - công suất truyền lên khung máy;
mát do cản lăn; V- tốc độ chuyyển động của máy kéo.
(1.8)
- độ trượt; N T - công suất mất
Với những nghiên cứu trên đã phản ánh được khá đầy đủ quá trình tác động của
hệ di động bánh lốp với nền đất có tính đến biến dạng
1.3.2 Tình hình nghiên cứu khả năng kéo bám của máy kéo ở nước ta
Nghiên cứu động lực học của máy kéo ở nước ta tuy không nhiều vì chưa thành hệthống nhưng trong một vài năm gần đây bước đầu đã có những thành quả đáng ghinhận
Trong chương trình nghiên cứu của Viện cơ điện và chế biến nông sản 1981-1985, đãtiến hành nghiên cứu thực nghiệm liên hợp máy kéo nhỏ hai bánh theo mô hình mộtmức, đã xây dựng được hàm truyền cho liên hợp máy kéo nhỏ làm việc với cày và cónhân xét rằng: máy kéo cỡ nhỏ khi làm việc có độ ổn định thấp hơn nhiều so với máykéo MTZ-50 Tuy nhiên còn các vấn đề động lực học của quá trình kéo bám ổn địnhcủa liên hợp máy khi làm việc trên địa hình đồi dốc, các quá trình điều khiển, điềuchỉnh cũng như tính chất tải trọng của các sản phẩm chưa đề cập đến
ThS Nguyễn Văn An đã xác định bằng lý thuyết các chỉ tiêu kéo, bám của máy kéonông nghiệp khi làm việc ở vùng đồi dốc
ThS Đoàn Văn Thu đã đề cập đến ảnh hưởng của độ dốc ngang đến khả năng kéobám của máy kéo bánh xích trên cơ sở đó xác định một số thông số tối ưu cho liên hợpmáy cày
Trang 27ThS Nguyễn Văn Hiếu đã xây dựng được phương pháp tính toán lực cản kéo của
cày, lực bám của bánh xe khi liên hợp máy làm việc ngang sườn dốc Trên cơ sở xây
dựng mô hình lý thuyết chuyển động của liên hợp máy và giải toán bằng phần mềm
Matlab-Simulink đã tính toán được chuyển vị của liên hợp máy Đã xác định được điều
kiện làm việc ổn định của máy kéo không bị trượt ngang
TS Đặng Thế Hòa đã xây dựng được mô hình và chương trình tính toán các tính chất
hoạt động của bộ truyền đai, trong đó có tính chất đàn hồi phi tuyến, sự hao tán năng
lượng và độ trượt Đông thời mô hình hóa được quá trình biến đổi năng lượng của
động cơ một xi lanh trong đó có tính đến ảnh hưởng của các yếu tốt kết cấu, tác động
qua lại của máy điều chỉnh với chế độ tải trọng và quá trình xảy ra bên trong động cơ
Tác giả đã đề xuất một số biện pháp nhằm cải tiến chế độ các bộ phận truyền lực, chế
độ khởi hành sang một số cách hiệu quả nhất
Một công trình nghiên cứu khá công phu về đặc tính kéo bám của máy kéo bám
của máy kéo bánh hơi với nền đất khô do TS Nông Văn Vìn đã cho thấy: Với một mức
độ chính xác nhất định độ trượt của bánh chủ động trong một điều kiện nhất định của
mặt đường chỉ phụ thuộc vào chỉ số sử dụng bám C= Fk / N; trong đó Fk là lực chủ
động; N là áp lực thẳng đứng lên bánh xe Tác giả đã đưa ra công thức thực nghiệm
tính toán độ trượt như sau:
Aln
(***)
Trong đó A ,B,Cmaxlà hệ số thực nghiệm, phụ thuộc vào loại đường ;
Chỉ số sử dụng bám C được tính theo công thức:
Trang 28TS Đậu Thế Nhu trong công trình Đề tài nghiên cứu trọng điểm cấp bộ: “Nghiên cứu, thiết kế, và chế tạo máy xới, vun hàng mía" đã thiết kế cải tiến và chế tạo được
máy kéo MK- CS công suất 18 HP có đặc tính kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu trongchăm sóc mía và đã chế tạo thành công hệ thống các thiết bị công tác phục vụ công tácchăm sóc mía giữa hàng với đặc tính kỹ thuật đáp ứng được các yêu cầu về nông họcnhư điều chỉnh độ sâu phay, độ vun cao luống Hệ thống thiết bị nghiên cứu và máykéo đã được khảo nghiệm tại công ty mía đường Lam Sơn - Thọ Xuân - Thanh Hóacho biết kết quả tương đối tốt như chi phí lao động, chi phí sản xuất giảm từ 59-64% sovới lao động thủ công
Tuy nhiên, trong công trình này vấn đề động lực học của liên hợp máy kéo cải tiếnchưa nghiên cứu đầy đủ và rõ ràng Để có một cơ sở khoa học cho việc thiết kế, chế tạocác loại máy canh tác liên hợp với máy kéo cần thiết phải nghiên cứu tính chất kéobám và ổn định làm việc của máy kéo MK- CS khi làm việc trên các điều kiện khácnhau
Trang 29Chương II.
ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU,ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tính năng ổn định, kéo bám của máy kéo MK- CS để phục vụ công việc chăm sócgiữa hàng mía
2.2 Địa điểm nghiên cứu
- Hệ thống thiết bị của phòng thí nghiệm đo lường - thử nghiệm quốc gia Vilas-019
và Trung tâm Khảo nghiệm máy nông nghiệp thuộc Viện Cơ điện nông nghiệp vàCông nghệ Sau thu hoạch;
- Nghiên cứu thực nghiệm tại Nhà máy đường Thanh Hóa;
- Khảo nghiệm đánh giá các chỉ tiêu chất lượng làm việc của mẫu máy chặt mía rảihàng liên hợp với máy kéo 4 bánh và triển khai ứng dụng tại Gia Lai
2.3 Mục tiêu của đề tài;
Xác định được khả năng ổn định, kéo bám của máy kéo MK- CS làm cơ sở choviệc thiết kế chế tạo các máy công tác chăm sóc mía giữa hàng nhằm tăng năng suất, giảm chi phí lao động , ứng dụng vào các vùng trồng mía nguyên liệu tập trung
2.4 Nội dung nghiên cứu
a) Nghiên cứu lý thuyết
- Lựa chọn kết cấu của máy kéo MK-CS
- Xây dựng mô hình xác định đặc tính kéo bám của máy kéo ;
- Xây dựng mô hình xác định khả năng ổn định ngang của máy kéo ;
- Khảo sát một số điều khiện khác nhau ảnh hưởng tới đặc tính kéo và ổn định của máy kéo
Trang 30b) Nghiên thực nghiệm
- Khảo nghiệm đặc tính kéo của máy kéo trên đường bê tông ;
- Khảo nghiệm một số chỉ tiêu của một số LHM chăm sóc trong điều kiện sản xuất
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp xác định toạ độ trọng tâm của máy kéo
a) Toạ độ trọng tâm theo phương ngang.
Toạ độ trọng tâm theo phương ngang của máy kéo được xác định thông qua tảitrọng của bánh trước G1 và bánh sau G2 của máy kéo khi nằm trên mặt phẳng nằmngang
Khoảng cách từ trọng tâm tới bánh trước được xác định bởi công thức:
Trang 31Hình 2.1 Sơ đồ tính toán chiều cao trọng tâm máy kéo.
Gọi G1i là tải trọng của bánh trước khi máy kéo bị nghiêng một góc i G1i được tính theo công thức:
G l i
áp và nhờ khuếch đại ten-sơ được số hoá và chuyển số liệu vào máy tính
- Gây tải về mặt nguyên tắc có thể thực hiện theo nhiều phương pháp khác nhau,
Trang 32nhưng hiện nay thông dụng nhất là phương pháp gây tác bằng máy kéo có sức kéo lớnhơn Việc thay đổi của lực kéo được thông qua tốc độ của máy kéo gây tải Đề tài lựcchọn phương pháp này để gây tải cho máy kéo.
Trong đó: vt, v là vận tốc lý thuyết và vận tốc thực tế của máy kéo;
Lt, L - quãng đường lý thuyết và quãng đường thực tế của máy kéo;
nt, n - số vòng quay lý thuyết và số vòng quay thực tế của bánh chủ động máy kéotương ứng với một quãng đường hay thưòi gian xác định;
Trên hình 2.2 thể hiện sơ đồ lắp đặt các thiết bị đo lường lực kéo và độ trượt củamáy kéo
Trang 334
Hinh 2.2 Sơ đồ bố trí các sen sơ trong khảo nghiệm lực kéo.
1.Sen sơ đo số vòng quay bánh trước; 2 Sen sơ đo số vòng quay bánh sau;
3 Sen sơ đo số vòng quay bánh trước (đo quãng đường); 4 Ten sơ đo lực kéo.
Máy kéo khảo nghiệm được gây tải bằng máy kéo MTZ-50 Đầu đo ten-sơ 4 đượclắp giữa 2 cáp kéo Một đầu cáp kéo được bắt vào hệ thống nâng hạ của máy kéo khảonghiệm đầu kia được bắt vào máy kéo gây tải Cáp kéo phải được giữ song song vớimặt đường
Đầu đo số vòng quay 1 và 2 được lắp ở hai cầu của máy kéo gây tải đo số vòngquay thực tế của các cầu này Thông qua đầu đo số vòng quay 3 lắp trên bánh trước củamáy kéo gây tải, để xác định số vòng quay lý thuyết của máy kéo
Trang 34Chương III.
NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT ĐẶC TÍNH KÉO, BÁM VÀ ỔN ĐỊNH CỦA
MÁY KÉO MK-CS
3.1 Chọn đối tượng
3.1.1 Chọn kết cấu máy kéo cải tiến
a) Các điều kiện làm việc của máy kéo.
Như đã nêu trong phần về quy trình chăm sóc giữa hàng mía, máy kéo và máycông tác phải có khả năng đi giữa 2 hàng mía Với các ruộng mía hiện nay, bề rộng củaluống mía thông thường không vượt quá 1,2 m (đây là khoảng cách hàng mía đượckhuyến cáo) Do việc trồng mía bằng tay, nên nhiều khi khoảng cách hàng chỉ còn 1,1
m, và với mía lưu gốc bề rộng thông thoáng giữa 2 luống thường chỉ còn khoảng 1 m.Với điều kiện như vậy bề rộng của máy kéo không thể vượt quá 0,8 m
Đất trồng mía hiện nay chủ yếu là đất đồi, có độ chặt khá lớn Do đó để đảm bảođược năng suất cần thiết máy kéo cần có công suất và lực kéo khá lớn
Đất giữa hàng mía do quá trình canh tác thường không bằng phẳng, đặc biệt là ở vụđầu tiên, khi đất được cày xới và rạch rãnh, để lại gữa hai luống các sống trâu có mấp
mô rất lớn
b) Các loại máy kéo sẵn có ở nước ta hiện nay.
* Máy kéo hai bánh 12-15 mã lực:
Máy kéo hai bánh 12- 15 mã lực có khoảng cách 2 vệt bánh nhỏ có thể điều chỉnhdưới 800 mm, chiều cao trọng tâm thấp (500 mm) Với kích thước như vậy, hiện nay cónơi đã sử dụng máy kéo hai bánh BS-12 để chăm sóc giữa hàng, nhưng đã bộc lộ nhiềunhược điểm đặc biệt là :
Trang 35* Máy kéo bốn bánh
Hiện nay công việc chăm sóc mía ở một số nơi đã được thực hiện bằng máy kéo 4bánh cỡ lớn Máy kéo di chuyển phía trên ngọn mía Việc chăm sóc này được thực hiệnkhi cây mía còn bé Khi mía đã khoảng sáng gầm máy sẽ không còn đủ cho thân mía
và có thể làm hư hại cây mía
Hiện nay chưa có một máy kéo 4 bánh cỡ nhỏ nào có bề rộng đủ nhỏ để có thể đivào giữa 2 hàng mía Qua khảo sát trên thực tế các máy kéo 4 bánh cỡ nhỏ nhưKUBOTA, ISEKI 14 mã lực bề rộng 2 mép bánh cũng đã lên tới 1,05 m Máy kéo 4bánh Bông sen 17 mã lực có bề rông 2 bánh trên 1,1 m
Như vậy trên thi trường hiện chưa có một loại máy kéo nào có bề rộng thích hợpcho việc chăm sóc giữa hàng mía được trồng hiện nay ở nước ta
Việc cải tiến máy kéo cho phù hợp với công việc chăm sóc có thể thực hiện theo 2hướng sau:
- Cải tiến thu nhỏ bề rộng của máy kéo 4 bánh cỡ nhỏ hiện nay cho phù hợp;
- Cải tiến máy kéo cỡ nhỏ 2 bánh thành máy kéo 4 bánh, có bổ sung thêm các cơcấu nâng hạ thuỷ lực
Theo phương án 1 đề tài cũng đã đặt ra cùng Công ty Máy kéo và máy Nông
Trang 36nghiệp cải tiến máy kéo 4 bánh bông sen 17 mã lực phù hợp với việc chăm sóc giữahàng Tuy nhiên trong quá trình thiết kế tính toán đã gặp những khó khăn không thểgiải quyết được như sau:
- Các máy kéo 4 bánh có chiều cao trọng tâm thường khá lớn trên 700 mm, việc thu nhỏ khoảng cách 2 vệt bánh sẽ làm giảm tính ổn định ngang của máy
- Khoảng cách 2 bánh sau của máy kéo về mặt nguyên tắc có thể thu nhỏ được khithiết kế lại bộ phận truyền lực cuối cùng của hộp số Tuy nhiên với 2 bánh trước, việc thunhỏ khoảng cách bánh là không khả thi vì, không đủ không gian xoay cho bánh lái khi quayvòng Bánh bị vướng phần động cơ máy kéo Điều này chỉ có thể giải quyết bằng cách đưa 2bánh lái lên phía trước, nhưng lúc đó chiều dài cơ sở của máy kéo quá
lớn Máy kéo khó di chuyển và bán kính quay vòng lớn
c) Lựa chọn phương án cải tiến
Đề tài đã lựa chọn phương án 2 trên cơ sở học tập kết cấu của máy kéo vận chuyểncông nông đầu dọc Máy kéo vận chuyển cùng với moóc thực tế là một máy kéo gậpthân Phần thân sau chính là bộ phận rơ moóc Việc lái gập 2 thân của máy vận chuyểnnày được thực hiện nhờ bộ phận bánh răng rải quạt Vấn đề là cần phải thiết kế lại thânsau của máy kéo cho phù hợp Với phương án này chúng ta có được những lợi thế sau:
- Bề rộng hai mép bánh của máy kéo nhỏ có thể điều chỉnh từ 700 tới 1200mm
- Máy kéo lái bằng phương pháp gập thân có bán kính quay vòng bé, giảm được diện tích quay vòng đầu bờ
- Các chi tiết của máy vận chuyển sẵn có và được chế tạo hoàn toàn ở trong nước
Tuy nhiên việc sử dụng máy kéo vận chuyển để cải tiến thành máy kéo chăm sóc
có những hạn chế cần khắc phục như sau:
- Bánh chủ động của máy kéo là bánh trước Điều này giảm khả năng bám của máykéo
Trang 37- Máy kéo chưa có hệ thống trích công suất cho các máy công tác chủ động nhưphay, bạt gốc
Qua những nhận xét trên đề tài đã đề xuất kết cấu máy kéo được mô tả trên hình 3.1
Hình 3.1 Hình ảnh tổng thể của máy kéo chăm sóc.
Máy kéo có các bộ phận sau:
1 Hệ thống truyền động hai cầu
3.1.2 Hệ thống truyền động của máy kéo
Như đã nêu ở phần trên, máy kéo cải tiến bao gồm 2 hộp số truyền động [5]:
Trang 38Hộp số cầu trước là hộp số của máy kéo vận chuyển bông sen 12 Sơ đồ hộp số được
miêu tả trên hình 3.2
Hình 3.2 Cấu tạo hộp số máy kéo BS- 12.
Các số truyền của hộp số được thể hiện trên bảng 3.1
Bảng 3.1 Tỷ số truyền của hộp số bông sen 12
Trang 39Hình 3.3 Sơ đồ truyền động của cầu sau máy kéo.
Mô tơ thuỷ lực 3 được cung cấp dầu từ bơm thuỷ lực 1 lắp sau ly hợp làm quay bánhrăng 4, thông qua 3 cặp bánh răng của hộp số sau truyền động tới vi sai và tới hai bántrục
Trang 40Do không có khả năng thay đổi tỷ số truyền trong quá trình làm việc, hộp số sauđược thiết kế dành cho những công việc cần có lực kéo lớn Như đã nêu ở trên công tácchăm sóc thường làm việc ở số truyền 3 nên đề tài đã chọn tỷ số tryền này cho việcthiết kế hộp số cầu sau
Để đảm bảo không phát sinh công suất ký sinh, tốc độ hai cầu phải xấp xỷ bằngnhau Tỷ số tryền cầu sau được tính theo công thức:
v - Tổng tổn thất thể tích của hệthống thuỷlực (bơm + mô tơ thuỷlực)
ih là tỷ số truyền động lý thuyết của bơm và mô tơ thuỷ lực bằng tỷ số lưu lượngriêng giữa mô tơ và bơm
Hiệu suất v phụ thuộc vào áp suất làm việc của bơm Dựa trên đường đặc tính lý thuyết chúng tôi đã xác định được công thức tính toán của tổng tổn thất thể tích như sau: