1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng mô hình 5 lực lượng điều tiết cạnh tranh của M.Porter phân tích và đánh giá cường độ cạnh tranh của ngành mía đường việt nam

16 153 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 589,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ việc phân tích theo mô hình các lực lượng điều tiết cạnh tranh của M.porter có thể thấy:Có rất nhiều rào cản khi mới gia nhập thị trường ngành mía đường (áp lực từ giá nguyên liệu cao, không có sự khác biệt trong sản phẩm, các chính sách của Chính phủ, vốn đầu tư ban đầu lớn...) làm cho việc gia nhập vào ngành này của các doanh nghiệp ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn, các công ty sẽ cân nhắc khi quyết định đầu tư vào ngành mía đường, dẫn đến mức độ gia nhập mới là không cao làm cho cường độ cạnh tranh của các công ty đang hoạt động trong ngành cũng giảm xuống.

Trang 1

Bộ môn: Quản trị chiến lược Lớp HP: H2102SMGM0111

GVHD : Cô Nguyễn Thị Vân

Nhóm : 09

Câu hỏi thảo luận: Vận dụng mô hình 5 lực lượng điều tiết cạnh tranh trong ngành của M.Porter, anh chị hãy phân tích và đánh giá cường độ cạnh tranh của ngành mía đường Việt Nam

BÀI THẢO LUẬN

I GIỚI THIỆU NGÀNH MÍA ĐƯỜNG VIỆT NAM

1 Lịch sử ngành mía đường Việt Nam

Theo ghi chép, nghề làm đường phèn và mật thủ công từ mía đã được phát triển tại Việt Nam khoảng 200 năm TCN Việt Nam là nước có điều kiện tự nhiên và lãnh thổ rất phù hợp cho sản xuất cây mía Mặc dù đã có từ lâu đời, ngành đường Việt Nam chỉ được thực sự phát triển từ năm 1995, khi chương trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ngành mía đường được khởi động Ngành đường Việt Nam đã trải qua 04 giai đoạn phát triển chính sau:

- Giai đoạn trước 1975: Quy mô rất nhỏ, chưa phát triển do chiến tranh

- Giai đoạn 1975 – 1994: Nền móng ngành mía đường được xây dựng

Sau khi thống nhất đất nước, ngành đường được mở rộng và được nhà nước quản lý Kinh phí xây dựng nhà máy đến từ viện trợ của Chính phủ và các quốc gia khác Các NMĐ có quy mô lớn được xây dựng tại mỗi vùng miền, là bước xây dựng nền móng cho giai đoạn phát triển thần tốc của ngành đường Việt Nam ở giai đoạn kế tiếp Tính đến năm 1995, cả nước đã sản xuất được khoảng

450 nghìn tấn đường, đạt tốc độ tăng trưởng kép 14% trong giai đoạn 1975 – 1995

- Giai đoạn 1995 – 2000: Tăng trưởng nhanh

Trước năm 1995, cả nước chỉ sản xuất được dưới 500 nghìn tấn đường mỗi năm, và phải nhập khẩu 200.000 – 300.000 tấn/năm để phục vụ nhu cầu trong nước Để đảm bảo nhu cầu nội địa, ngành đường tiến hành chương trình “01 triệu tấn đường” bắt đầu từ năm 1995 và kết thúc vào năm

2000 Chương trình có ý nghĩa về mặt kinh tế và giải quyết được các vấn đề xã hội, như đáp ứng việc làm cho hơn 700.000 lao động, đưa diện tích đất đồi vào sử dụng có hiệu quả

Trang 2

- Giai đoạn 2001 – nay: Tiến hành hội nhập, cạnh tranh trong khu vực

Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp không chỉ chú trọng phát triển đầu tư vào sản xuất, mà còn phát triển các sản phẩm đường, sản phẩm sau đường và cạnh đường; tái cấu trúc hình thành các tập toàn, công ty lớn; tiến hành hội nhập với các quốc gia trong khu vực và toàn cầu Tính tới niên

vụ 2017/18, toàn ngành đường ép hơn 14 triệu tấn mía, sản xuất được hơn 1,4 triệu tấn đường, nhập khẩu gần 500.000 tấn đường, bao gồm cả đường lậu

2 Vòng đời ngành mía đường Việt Nam

Ngành mía đường Việt Nam đang dần bước vào giai đoạn bão hõa, tốc độ tăng trưởng giảm dần Sản lượng tiêu thụ đường trong nước tăng với tốc độ trung bình khoảng 24%, từ 0,64 triệu tấn/ năm giai đoạn 1994 – 1998 lên tới 1,57 triệu tấn/năm trong giai đoạn 2013 – 2018 Tuy nhiên, tốc

độ tăng trưởng đang giảm dần qua từng giai đoạn

Theo dự báo của OECD-FAO, tiêu thụ đường nội địa tại Việt Nam sẽ đạt khoảng 1,8 triệu tấn vào năm 2023, mức tiêu thụ trung bình ước đạt khoảng 1,76 triệu tấn/năm cho giai đoạn 5 năm từ

2019 – 2023 Tốc độ tăng trưởng tiêu thụ của giai đoạn này so với 5 năm trước ước đạt ~12%

3 Vị thế ngành mía đường Việt Nam trên thế giới và khu vực ASEAN

Ngành mía đường Việt Nam có vị thế rất khiêm tốn trên bản đồ đường mía thế giới Theo số liệu năm 2017, cả nước sản xuất được:

• ~18,4 triệu tấn mía (+13% yoy), đứng thứ #14 trên thế giới

Trang 3

• Năng suất mía trung bình chỉ đạt 65 tấn mía/ha (+3% yoy), thấp hơn so với mức trung bình thế giới 71,2 tấn/ha

• Sản lượng đường mía sản xuất trong nước đạt ~1,5 triệu tấn (+14% yoy), tương đương với 1,1% sản lượng đường mía toàn cầu

Tại khu vực ASEAN, Việt Nam đứng thứ 4 trong sản xuất đường mía, xếp sau Thái Lan, Philippines và Indonesia, nhưng đứng thứ 2 về hiệu quả sản xuất

Trang 4

Tương tự như phần lớn các quốc gia ASEAN, ngành đường Việt Nam ở trong tình trạng nhập siêu Do vị trí địa lý gần với quốc gia xuất khẩu đường thứ 2 thế giới là Thái Lan, tỷ trọng đường Thái Lan nhập khẩu vào nước ta chiếm chủ yếu, tuy đang có dấu hiệu giảm dần nhưng vẫn ở mức cao (64%) Kim ngạch nhập khẩu đường vào Việt Nam trong năm 2017 đạt 87 triệu USD, với sản lượng ước đạt khoảng 118.000 tấn đường (-49% yoy) Nguồn cung trong nước vẫn đủ đáp ứng nhu cầu nội địa Tỷ trọng sản lượng đường nhập khẩu/tiêu thụ của Việt Nam thấp nhất (17%) trong các nước nhập siêu đường tại ASEAN

Trong khi đó, xuất khẩu đường của Việt Nam phụ thuộc chính vào thị trường Trung Quốc Các doanh nghiệp đường Việt Nam thường xuất khẩu đường qua Trung Quốc theo đường tiểu ngạch

II VẬN DỤNG MÔ HÌNH CÁC LỰC LƯỢNG ĐIỀU TIẾT CẠNH TRANH TRONG NGÀNH CỦA M.PORTER PHÂN TÍCH CƯỜNG ĐỘ CẠNH TRANH NGÀNH MÍA ĐƯỜNG VIỆT NAM

1 Đe dọa gia nhập mới

Ngành mía đường là ngành tiêu dùng thiết yếu quan trọng cho tiêu dùng trong nước Mối đe dọa từ các doanh nghiệp đã và đang có chiến lược gia nhập vào ngành phụ thuộc chủ yếu vào các rào cản gia nhập, bao gồm:

- Tính kinh tế của quy mô:

Ngành đường Việt Nam vẫn còn khá non trẻ, mang tính tự cung – tự cấp, sản lượng sản xuất trong nước xấp xỉ nhu cầu tiêu dùng, vì vậy năng lực cạnh tranh của ngành còn kém, xuất khẩu gặp nhiều khó khăn so với các nước trong khu vực và trên thế giới và nguyên nhân đến từ việc các doanh nghiệp trong ngành vẫn đang loay hoay giải quyết bài toán về nguyên liệu Trữ lượng đường

Trang 5

và năng suất mía Việt Nam còn thấp so với thế giới, làm cho giá thành mía nguyên liệu ở Việt Nam rất cao Trong khi, giá mía ở Thái Lan rơi vào khoảng 600 nghìn/ tấn thì tại Việt Nam là từ 900 – 1.200 nghìn/ tấn, cao gấp đôi so với Thái Lan Hơn nữa quy mô sản xuất mía còn nhỏ lẻ, dễ thay đổi diện tích, khó áp dụng cơ giới hóa, vùng nguyên liệu cả nước chưa phân bố phù hợp Chính vì thế nên các doanh nghiệp trong ngành đều đứng trước nguy cơ phải đối mặt với vấn đề rủi ro về tỷ giá, làm ảnh hưởng đến chi phí sản xuất của doanh nghiệp, làm cho các doanh nghiệp sản xuất gặp bất lợi về giá so với các sản phẩm nhập khẩu Quy mô sản xuất càng nhỏ thì ảnh hưởng của việc này càng lớn, tính kinh tế càng kém hiệu quả Để có thể cải thiện tình trạng này thì doanh nghiệp cần tìm kiếm các đơn hàng lớn, mở rộng nhà máy, nhập nguyên liệu với số lượng lớn Điều này đã

và đang tạo ra những khó khăn và trở ngại cho các doanh nghiệp muốn gia nhập thị trường Đối với doanh nghiệp nước ngoài muốn gia nhập thị trường có thể kết hợp đầu tư với các doanh nghiệp nội địa trong ngành để giảm bớt gánh nặng về bài toán kinh tế quy mô

- Chuyên biệt hóa sản phẩm:

Các sản phẩm của ngành mía đường là sản phẩm thiết yếu trong tiêu dùng, không có tính khác biệt nhiều và là nguyên liệu của ngành công nghiệp thực phẩm nên ít nhạy cảm so với giá Khách hàng của các NMĐ chủ yếu là khách hàng tổ chức, trung gian và các khách hàng công nghiệp, thường được đặt trong mối quan hệ hợp tác làm ăn lâu dài vì vậy điều này đã làm giảm sức cạnh tranh của ngành đường Việt Nam Các doanh nghiệp mới muốn tham gia vào thị trường đều phải đầu tư rất nhiều so với các doanh nghiệp đi trước, yêu cầu tạo ra sản phẩm nổi trội và phải đưa ra các chính sách thu hút để có thể tránh được nguy cơ bị “đá” ra khỏi ngành

- Nhu cầu vốn đầu tư ban đầu:

Một nhà máy đường phải có công suất thiết kế 6.000 tấn mía/ngày trở lên và diện tích vùng nguyên liệu tương ứng thì mới có thể đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô Nhu cầu vốn đầu tư ban đầu cho một NMĐ đạt tiêu chuẩn là 60 triệu USD, chưa tính đầu tư vùng nguyên liệu Hiện nay chỉ có 8/38 nhà máy đạt được tiêu chuẩn này Nếu một nhà đầu tư muốn gia nhập ngành chỉ muốn tham gia vào khâu tinh luyện trở đi thì có thể không cần phát triển vùng nguyên liệu mà chỉ cần thu mua đường thô từ trong nước và thị trường nước ngoài Điều này đã làm hạn chế các doanh nghiệp muốn tham gia và đầu tư, họ đều tỏ ra e ngại khi chi phí bỏ ra rất lớn nhưng thời gian thu hồi rất chậm, rủi ro cao

- Gia nhập vào các hệ thống phân phối:

Ngoại trừ số ít nhà máy phát triển được kênh bán lẻ tiêu dùng và bán sỉ trực tiếp đến khách hàng công nghiệp, 90% lượng đường sản xuất đều qua hệ thống thương lái trung gian mới đến được nơi tiêu thụ Điều này sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp gia nhập mới trong việc xây dựng hệ thống kênh phân phối phù hợp, cùng với đó đòi hỏi các doanh nghiệp mới phải đưa ra các chính

Trang 6

sách phá giá, khuyến mãi, chiết khấu,… hấp dẫn nhằm thuyết phục các kênh phân phối sẵn có chấp nhận sản phẩm của mình và thu hút nhiều kênh phân phối khác

- Chính sách của Chính phủ:

Theo quyết định 26/2007/QĐ-TTg và quy hoạch của bộ NN&PTNT giai đoạn 2020 - 2030, định hướng ngành mía đường đến năm 2020, không lập thêm nhà máy mới mà đầu tư chiều sâu cho các nhà máy hiện tại Không tăng nhiều diện tích mía mà tập trung vào quy hoạch vùng nguyên liệu, quy hoạch thành những cánh đồng lớn Từ những quyết định này cho thấy chính phủ rất quan tâm định hướng các nhà máy với mục tiêu giảm được chi phí nhờ việc tối ưu hóa năng suất, và tập trung hơn trong quá trình sản xuất, để nâng cao chất lượng ngành mía đường Đồng thời tạo ra rào cản gia nhập ngành cao cho các doanh nghiệp đã và đang có chiến lược gia nhập ngành mía đường Ngoài ra, rào cản gia nhập còn đến từ việc khả năng duy trì hay mở rộng diện tích mía gặp khó khăn do phụ thuộc rất lớn vào tính kinh tế của cây mía so với các hoạt động sản xuất khác, mà hiện tại nghề trồng mía đang trở nên kém hấp dẫn do giá đường liên tục giảm Đây cũng là một trong những rào cản lớn đặt ra đối với các doanh nghiệp đang có ý định gia nhập ngành mía đường

=>Từ những phân tích về các rào cản gia nhập ở trên có thể nhận định rào cản gia nhập ngành

mía đường cao đồng nghĩa với việc làm giảm cường độ cạnh tranh ngành mía đường Việt Nam

2 Đe dọa từ các sản phẩm thay thế

Hiện nay, nhu cầu của con người về sức khỏe ngày càng được nâng cao nên ngoài việc sử dụng dược phẩm và tập luyện, nhiều người dần quan tâm đến chế độ ăn uống và thành phần dinh dưỡng trong các thực phẩm họ sử dụng Do đường và các sản phẩm tạo ngọt thường được cho là nguyên nhân gây ra nhiều vấn đề sức khỏe, từ béo phì đến cao huyết áp, mọi người đều muốn tìm kiếm những sản phẩm thay thế các loại đường tinh luyện truyền thống Hơn nữa một lượng lớn nhà máy lựa chọn nhập đường thô về tinh luyện thay vì thu mua mía của dân Việc sản xuất ra đường từ mía hiện tại rất khó khăn về cả khâu sản xuất lẫn xuất khẩu, nên đã vô hình tạo điều kiện cho sự phát triển của một số chất tạo ngọt khác vươn lên và thay thế sản phẩm đường tinh luyện truyền thống có thể kể đến như mật mía, mật ong, đường thốt nốt, đường dừa, cỏ ngọt, đường chà là,… Mật mía: Đây là sản phẩm phụ của chế biến đường mía Nói cách khác, đó là chất lỏng còn sót lại sau khi đường kết tinh Các chất làm ngọt giữ lại một số các chất dinh dưỡng tự nhiên tìm thấy trong cây mía, bao gồm kali, magiê, vitamin B6, đồng, selen và mangan Nó cũng chứa 6% giá trị sắt và canxi hàng ngày và đã được chứng minh là có mức độ chất chống oxy hóa cao

Mật ong: Mật ong và bột mật ong không hề chứa chất béo và đặc biệt rất giàu chất chống oxy hóa, có khả năng làm giảm cholesterol, mỡ máu và viêm Tuy nhiên, hàm lượng dinh dưỡng của chúng rất ít, và mật ong vẫn là một dạng đường

Trang 7

Đường thốt nốt: Đường thốt nốt là loại đường nấu từ dịch chảy từ nhụy hoa thốt nốt Đường thốt nốt có vị ngọt thanh và hoàn toàn tự nhiên, có nhiều vitamin và khoáng chất tốt cho cơ thể giúp thanh lọc giải nhiệt, tốt cho hệ tiêu hóa, ngừa bệnh thiếu máu

Đường dừa: Đường dừa được làm từ nhựa chiết xuất từ các chồi của cây dừa Đường dừa cung cấp một lượng nhỏ các chất dinh dưỡng, bao gồm thiamin, sắt, đồng, kẽm, kali, phốt pho, magiê, canxi, và chất chống oxy hóa Chất ngọt này cũng chứa inulin, một carbohydrate ở hệ tiêu hóa, hoạt động như một chất tiền sinh học, hay "thức ăn" cho các vi khuẩn đường ruột có lợi

Cỏ ngọt: Cỏ ngọt là một loại thảo dược được nghiên cứu là có hàm lượng đường nhiều hơn gấp 300 lần so với đường mía Tuy nhiên, nó sẽ không làm tăng lượng đường trong cơ thể đối với người sử dụng, rất thích hợp với người bị tiểu đường, béo phì và huyết áp cao

Đường chà là: Đường chà là được làm từ quả chà khô nghiền thành bột vụn, chứa nhiều vitamin, khoáng chất và đặc biệt nó có hàm lượng chất xơ cao hơn nhiều so với các chất tạo ngọt khác

Các sản phẩm thay thế trên được làm từ nguyên liệu tự nhiên, ít chế biến, nhiều dinh dưỡng hơn đường trắng Thực tế các chất tạo ngọt này có lợi cho sức khỏe hay không vẫn còn nhiều tranh cãi Về giá cả, các sản phẩm này thường có giá cao hơn đường tinh luyện nhiều lần Trong tương lai, khi thu nhập được cải thiện, khách hàng sẵn sàng bỏ ra nhiều tiền hơn để mua các sản phẩm thay thế đường tinh luyện Tuy nhiên việc đe dọa từ các sản phẩm và dịch vụ thay thế của ngành mía đường vẫn là không cao bởi đây là nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của con người, và với mức giá cạnh tranh thì đường tinh luyện vẫn là sản phẩm tối ưu nhất trong ngành công nghiệp thực phẩm nói chung, tiêu dùng trong các mô hình kinh doanh ( quán ăn, nhà hàng…) hay các hộ gia đình có thu nhập trung bình – thấp , vì vậy nó khó có thể bị thay thế hoàn toàn

3 Quyền thương lượng của nhà cung ứng và khách hàng

a Quyền lực thương lượng của nhà cung ứng

- Mức độ tập trung của các nhà cung cấp:

Tính đến năm 2017, cả nước có 42 nhà máy đường phân bổ từ Bắc đến Nam Hiện tại sản xuất chưa đáp ứng đủ nhu cầu, hơn nữa các nhà máy lại được phân bổ theo vùng miền, nên sản xuất

và tiêu thụ tại chỗ Mặc dù Việt Nam có diện tích trồng mía lớn nhưng số lượng người trồng mía nhiều nên mức độ tập trung không cao, ảnh hưởng đến khả năng cung cấp của vùng nguyên liệu Cụ thể: Về nguồn cung, vụ 2015/2016, cả nước có 62 tỉnh trồng mía với tổng diện tích 284.367 ha Vùng Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung bộ là 3 vùng có diện tích mía lớn nhất

cả nước lần lượt là 58,8 ngàn ha, 56,3 ngàn ha và 54,8 ngàn ha, tương ứng với 21%, 21% và 20% tổng diện tích mía cả nước Trong đó, Gia Lai với 38,6 ngàn ha (chiếm 14% diện tích mía cả nước)

Trang 8

và Thanh Hóa với 32,2 ngàn ha (chiếm 11% diện tích mía cả nước) là 2 tỉnh có diện tích trồng mía lớn nhất nước Quy mô sản xuất mía còn manh mún nhỏ lẻ ,dễ thay đổi diện tích, khó áp dụng cơ giới hóa Vì thế mức độ tập trung của các nhà cung cấp là không cao, điều này làm giảm cường độ cạnh tranh trong ngành

- Đặc điểm hàng hóa dịch vụ:

Giá trị ngành mía đường phụ thuộc rất lớn từ nguyên liệu đầu vào là cây mía tuy nhiên năng suất mía của Việt Nam lại liên tục bị sụt giảm Cụ thể, theo báo cáo Hiệp hội Mía đường Việt Nam, kết thúc niên vụ 2016 - 2017, sản lượng đường trong nước đạt 1.227 triệu tấn, thấp hơn niên vụ 2014-2015 là 190 triệu tấn Diện tích mía cả nước gần 300.000 ha với năng suất 64,5 tấn/ha So với năng suất mía bình quân thế giới thì năng suất mía Việt Nam thấp hơn 9,2% Nguyên nhân do biến đổi khí hậu, tình hình xâm nhập mặn kết hợp với sự không ổn định trong giá thu mua nguyên liệu mía đã khiến nhiều hộ nông dân trồng mía không yên tâm sản xuất, dẫn đến sản lượng, năng suất mía bình quân thấp Nếu như giá mía ở Thái Lan chỉ khoảng 600 ngàn đồng/tấn thì ở Việt Nam con

số này cao hơn gần gấp đôi, vào khoảng 900-1.200 ngàn đồng/tấn Bên cạnh đó Công tác nghiên cứu và ứng dụng giống mía phù hợp với từng địa phương còn hạn chế Trình độ kỹ thuật của người dân trồng mía còn thấp; làm đất chưa kỹ; đầu tư phân bón còn ít, bón còn lãng phí và chưa đúng thời điểm Tổ chức sau thu hoạch còn nhiều bất cập, làm giảm hiệu suất thu hồi đường trong mía Những điều trên là nguyên nhân làm giảm quyền lực thương lượng của nhà cung cấp (những người trồng mía) dẫn đến làm giảm cường độ cạnh tranh trong ngành

- Chuyên biệt hóa sản phẩm:

Sự khác biệt giữa các sản phẩm của các nhà máy đường là rất thấp do các nhà máy có quy trình sản xuất tương đối giống nhau Sự chuyên biệt hóa sản phẩm đường dường như không có Do

đó khả năng thay thế sản phẩm của các doanh nghiệp đường là rất dễ khiến quyền lực thương lượng của khách hàng tăng lên (do khách hàng có thể sử dụng sản phẩm của bất kì doanh nghiệp nào cũng được) làm cho các nhà cung ứng giảm sẽ dẫn đến làm giảm cường độ cạnh tranh trong ngành

- Chi phí chuyển đổi nhà cung ứng:

Đa phần các nhà máy đường được quy hoạch một vùng nguyên liệu riêng và có kí kết hợp đồng với nông dân trồng mía Vì thế việc đổi nhà cung cấp là rất khó, trừ khi các nhà máy này được chấp nhận quy hoạch vùng nguyên liệu khác Ngoài ra vùng nguyên liệu bắt buộc phải ở gần nhà máy để tiết giảm chi phí vận chuyển và quan trọng hơn là tránh thất thoát trữ lượng đường trong mía Điều này khiến cho quyền thương lượng của nhà cung ứng (nông dân trồng mía) tăng lên khiến quyền lực thương lượng của doanh nghiệp chế biến mía giảm đi, làm tăng cường độ cạnh tranh trong ngành

b Quyền lực thương lượng của khách hàng:

- Chuyên biệt hóa sản phẩm:

Trang 9

Sự khác biệt giữa các sản phẩm của các nhà máy đường là rất thấp do các nhà máy có quy trình sản xuất tương đối giống nhau Sự chuyên biệt hóa sản phẩm đường dường như không có Do

đó khả năng thay thế sản phẩm của các doanh nghiệp đường là rất dễ khiến quyền lực thương lượng của khách hàng tăng lên (do khách hàng có thể sử dụng sản phẩm của bất kì doanh nghiệp nào cũng được) làm tăng cường độ cạnh tranh trong ngành

- Số lượng khách hàng và Tính tập trung của khách hàng:

Khách hàng tác động trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp khi yêu cầu doanh nghiệp cung cấp sản phẩm với giá thấp hơn hoặc sản phẩm chất lượng và dịch vụ tốt hơn Trong ngành mía đường nói riêng, khách hàng có quá nhiều sự lựa chọn đối với sản phẩm đường và doanh nghiệp Tuy nhiên số lượng khách hàng cá nhân quá lớn, vì thế Quyền thương lượng chủ yếu thuộc về khách hàng là tổ chức, với khách hàng cá nhân sẽ không có khả năng áp đặt giá

4 Cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh hiện tại

Cuộc cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành lúc nào cũng là cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất và biểu hiện rõ tốc độ cạnh tranh của ngành, và với ngành mía đường cũng không ngoại lệ:

- Số lượng các công ty và Mức độ tập trung của ngành:

Thống kê 2017 Việt Nam có khoảng 41 nhà máy đường phân bổ từ Bắc đến Nam, chủ yếu phân bố theo vùng miền, sản xuất và tiêu thụ tại chỗ

Về phía các công ty sản xuất đường:

+ 4 công ty: công ty CP đường Quảng Ngãi, công ty đường Biên Hòa, công ty CP Thành Thành Công và công ty CP mía đường Lam Sơn có quy mô sản xuất lớn nhất, đều đạt trên 100 ngàn tấn đường mỗi năm

+ Công ty CP đường Quảng Ngãi sản xuất được 11% tổng sản lượng đường cả nước, hiện đang sở hữu nhà máy đường An Khê

+ Công ty CP Thành Thành Công và công ty đường Biên Hòa là 2 doanh nghiệp sản xuất đường lớn nhất khu vực kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ, có vùng trồng mía lớn nhất so với các công ty cùng niêm yết

+ Các công ty còn lại có quy mô khá nhỏ, công suất thiết kế đều từ 3.500 tấn 1 năm trở xuống

Như vậy số lượng công ty và nhà máy đường khá lớn, tính cạnh tranh tăng cao, các hãng giành giật khách hàng và cơ hội xuất khẩu để cạnh tranh thị phần, tuy nhiên với tỷ lệ tập trung cao, ảnh hưởng từ mức độ tập trung ngành làm giảm cường độ cạnh tranh ngành mía đường Việt Nam

Trang 10

nói chung, phần gay gắt thuộc về các công ty lớn cố gắng để có được nhiều lợi thế cạnh tranh hơn

so với các đối thủ

- Mức độ tăng trưởng của ngành

Sau 22 năm phát triển và trưởng thành, ngành mía đường Việt Nam đã tạo dựng được chỗ đứng vững chắc, vụ 2014/2015 ngành sản xuất được 1.417.000 tấn đường, vụ 2015/2016 sản xuất được 1.237.300 tấn đường, doanh thu toàn ngành đạt 24,8 ngàn tỷ đồng, chiếm 0,53% GDP cả nước Tính đến 2016/2017 là niên vụ thứ 3 mà mức độ tăng trưởng âm, sản lượng thu hoạch sụt gảm, cụ thể tổng sản xuất là 1227 triệu tấn giảm so với niên vụ trước đó gần 10.000 tấn đường, giảm so với niên vụ 2014/2015 là 190.000 tấn Tốc độ của ngành tăng trưởng thấp nên thì áp lực cạnh tranh cao, đặc biệt là cạnh tranh về giá Vì vậy cường độ cạnh tranh trong ngành còn còn khá gay gắt và doanh nghiệp phải đi giành giật khách hàng của nhau Tới niên vụ 2017/2018, toàn ngành đường ép hơn 14 triệu tấn mía, sản xuất được hơn 1,4 triệu tấn đường, nhập khẩu gần 500.000 tấn đường, bao gồm cả đường lậu Điều đáng chú ý là trong niên vụ 2019/2020 ngành mía đường tại Việt Nam có sản lượng sản xuất thấp nhất trong vòng 19 năm do thiếu nguyên liệu, lượng tiêu thụ đường cũng giảm do sự bùng phát của dịch covid-19 Hiện tại nước ta đã kiểm soát dịch bệnh tương đối, số ca nhiễm mới giảm đi từng ngày, thị trường ngành mía đường dần xuất hiện nhiều dấu hiệu tích cực, cùng những nỗ lực vươn lên từ cả doanh nghiệp và phía nhà cung ứng, trong năm 2021, ngành mía đường Việt Nam được kỳ vọng sẽ từng bước khôi phục, mở ra triển vọng tăng cao vị thế cạnh tranh trên bản đồ mía đường quốc tế Mức độ tăng trưởng tăng sẽ tạo điều kiện cho sự gia nhập mới, các doanh nghiệp cũ thu được lợi nhuận, không chỉ chú trọng phát triển đầu vào sản xuất, mà còn phát triển các sản phẩm đường, sản phẩm sau đường và cạnh đường; tái cấu trúc hình thành các tập toàn, công ty lớn; với mục tiêu tiến hành hội nhập cùng các quốc gia trong khu vực và toàn cầu

- Sự đa dạng của đối thủ cạnh tranh:

Hoạt động xuất khẩu đường của Việt Nam hiện vẫn còn hạn chế vì chưa cạnh tranh được về giá Trong khối ASEAN, Thái Lan là nước có sản lượng đường lớn nhất, chiếm đến 62% sản lượng đường cả khu vực và cũng là quốc gia duy nhất xuất khẩu ròng mặt hàng này Thị trường xuất khẩu đường của Thái Lan chủ yếu là các nước trong khu vực ASEAN Ngành mía đường nhìn chung ở Việt Nam phải cạnh tranh trực tiếp với đường Thái Lan Tập đoàn Mitr Phol của Thái Lan có 5 nhà máy với tổng công suất ép 130.500 tấn mía/ngày hay tập đoàn Thai Roong Ruang có 7 nhà máy với tổng công suất ép 121.800 tấn mía/ngày Các công ty mía đường của Việt Nam chỉ bằng 1/8 quy mô của các tập đoàn lớn của Thái Vì vậy, vào đầu năm 2018, khi hiệp định ATIGA được thực hiện, mặt hàng đường từ các nước trong khối ASEAN vào Việt Nam sẽ được xóa bỏ hạn ngạch nhập khẩu, với thuế suất nhập khẩu chỉ là 5% Trước sức ép cạnh tranh với đường ngoại nhập giá rẻ trong

Ngày đăng: 22/06/2021, 14:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w