1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả trồng rừng ngập mặn tại thị xã quảng yên, quảng ninh giai đoạn 1998 2018​

101 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Và Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Trồng Rừng Ngập Mặn Tại Thị Xã Quảng Yên, Quảng Ninh Giai Đoạn 1998-2018
Tác giả Lê Quang Trường
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Hải Hoà
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Quản Lý Tài Nguyên Rừng
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 11,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ (10)
  • PHẦN II:TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (0)
    • 2.1. Tổng quan về rừng ngập mặn (12)
      • 2.1.1. Khái niệm về rừng ngập mặn (12)
      • 2.1.2. Tác động của các yếu tố thuỷ văn (15)
    • 2.2. Phân bố của rừng ngập mặn trên thế giới và Việt Nam (0)
      • 2.2.1. Phân bố của rừng ngập mặn trên thế giới (0)
      • 2.2.2. Phân bố của rừng ngập mặn ở Việt Nam (0)
    • 2.3. Vai trò của rừng ngập mặn (23)
      • 2.3.1. Vai trò của rừng ngập mặn đối với tự nhiên (23)
      • 2.3.2. Vai trò của rừng ngập mặn đối với con người (27)
    • 2.4. Nghiên cứu về quản lý rừng ngập mặn (29)
  • PHẦN III: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (0)
    • 3.1. Mục tiêu nghiên cứu (0)
      • 3.1.1. Mục tiêu chung (33)
      • 3.1.2. Mục tiêu cụ thể (33)
    • 3.2. Đối tượng nghiên cứu (0)
    • 3.3. Phạm vi nghiên cứu (34)
      • 3.3.1. Phạm vi không gian (34)
      • 3.3.2. Phạm vi về thời gian (34)
      • 3.3.3. Phạm vi nội dung (34)
    • 3.4. Nội dung nghiên cứu (34)
      • 3.4.1. Thực trạng hoạt động trồng rừng và hoạt động quản lý rừng ngập mặn tại thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh giai đoạn 1998- 2018 (34)
      • 3.4.2. Đánh giá hiệu quả hoạt động trồng rừng ngập mặn khu vực nghiên cứu giai đoạn 1998- 2018 (34)
      • 3.4.3. Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động trồng rừng ngập mặn khu vực nghiên cứu (34)
      • 3.4.4. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả trồng rừng ngập mặn và quản lý bền vững tại khu vực nghiên cứu (35)
    • 3.5. Phương pháp nghiên cứu (35)
      • 3.5.1. Thu thập số liệu (35)
      • 3.5.2. Phương pháp xử lý số liệu (0)
  • PHẦN IV: ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU (0)
    • 4.1. Điều kiện tự nhiên (47)
    • 4.2. Điều kiện kinh tế xã hội (52)
  • PHẦN V: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (0)
    • 5.1. Thực trạng hoạt động trồng rừng và hoạt động quản lý rừng ngập mặn tại thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh giai đoạn 1998- 2018 (55)
      • 5.1.1. Hoạt động trồng rừng ngập mặn tại thị xã Quảng Yên (55)
      • 5.1.2. Thực trạng công tác quản lý rừng ngập mặn (59)
      • 5.1.3. Thực trạng hoạt động quản lý rừng ngập mặn tại thị xã Quảng Yên 49 5.2. Đánh giá hiệu quả hoạt động trồng rừng ngập mặn giai đoạn 1998- 2018 (60)
      • 5.2.1. Hiệu quả về diện tích rừng trồng ngập mặn (68)
      • 5.2.2. Đánh giá hiệu quả về chất lượng rừng trồng ngập mặn Quảng Yên 71 5.3. Thuận lợi, khó khăn đối với hoạt động trồng rừng và quản lý rừng ngập mặn (81)
      • 5.3.1. Những thuận lợi (89)
      • 5.3.2. Những khó khăn (91)
    • 5.4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả trồng rừng và quản lý rừng ngập mặn cho khu vực nghiên cứu (92)
      • 5.4.1. Giải pháp về quản lý (93)
      • 5.4.2. Giải pháp về kỹ thuật (93)
  • PHẦN VI: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ (0)

Nội dung

QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tổng quan về rừng ngập mặn

2.1.1 Khái niệm về rừng ngập mặn

Rừng ngập mặn là quần xã được hợp thành từ thực vật ngập mặn ảnh hưởng bởi nước triều ven biển nhiệt đới hoặc bán nhiệt đới.

Rừng ngập mặn là hệ sinh thái đặc biệt nằm giữa biển và đất liền, nơi sự tồn tại và phát triển của các loài cây chịu ảnh hưởng từ nhiều nhân tố sinh thái Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có đánh giá rõ ràng về mức độ quan trọng của các nhân tố này đối với sự hình thành và phân bố của rừng ngập mặn.

Sự phân bố của rừng ngập mặn:

Rừng ngập mặn chủ yếu phân bố ở vùng nhiệt đới và cận xích đạo, nơi mà nhiệt độ không khí là yếu tố đặc trưng Ở những khu vực có biên độ nhiệt thích hợp và ít dao động, cây ngập mặn phát triển mạnh mẽ, giúp hạt giống nảy mầm tối ưu Ngược lại, ở những nơi có biên độ dao động nhiệt lớn, quá trình sinh trưởng và phát triển của cây ngập mặn diễn ra chậm, ảnh hưởng đến sự phân bố của chúng.

Sự sinh trưởng và phát triển của rừng ngập mặn bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố tự nhiên như nhiệt độ, lượng mưa và chế độ thủy triều, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phân bố của chúng Rừng ngập mặn cũng chịu tác động từ môi trường không khí, nước và đất Môi trường nước cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết cho cây ngập mặn, trong đó lượng mưa đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì độ mặn, giúp hạt giống nảy mầm và phát triển tốt ở các khu vực khác.

Môi trường đất trong quần xã rừng ngập mặn chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố địa hình và địa mạo, trong đó sự thay đổi mực nước biển và quá trình xói mòn, sạt lở có tác động trực tiếp đến sự phân bố của rừng ngập mặn Các quần xã rừng ngập mặn phát triển tốt nhất ở những bãi bồi có đảo che chắn, tạo điều kiện thuận lợi cho cây ngập mặn Để hiểu rõ hơn về sự phân bố của rừng ngập mặn, chúng ta cần chú ý đến các nhân tố ảnh hưởng quan trọng.

Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phân bố rừng ngập mặn:

Rừng ngập mặn nhiệt đới và cận xích đạo có sự phân bố đa dạng về loài, với một số loài nằm sâu về phía nam hoặc bắc của vùng cận ôn đới Tuy nhiên, có rất ít dữ liệu về ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự sinh trưởng và phát triển của chồi, trong khi các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào sự tăng trưởng của lá Một nghiên cứu tại Glastone (vĩ độ 24 độ nam) của Saenger (1987) đã chỉ ra mối quan hệ rõ ràng giữa sự tăng trưởng của lá mới và nhiệt độ không khí.

Nhiệt độ không khí đóng vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng và phân bố của rừng ngập mặn, ảnh hưởng đến số lượng loài Nhiệt độ lý tưởng cho hoạt động sinh lý của lá cây ngập mặn dao động từ 25 đến 28 độ C, như thấy ở khu vực Nam bộ.

Số lượng loài cây ngập mặn ở miền Bắc Việt Nam thấp hơn so với miền Nam, đồng thời kích thước cây cũng nhỏ hơn Nguyên nhân là do miền Bắc chịu ảnh hưởng của nhiệt độ thấp vào mùa đông và nhiệt độ cao vào mùa hè, dao động từ 30 đến 34 độ C.

Các loài cây ngập mặn phát triển mạnh nhất ở các vùng xích đạo và nhiệt đới ẩm, nơi có nhiệt độ không khí cao và biên độ nhiệt độ hẹp Nhiệt độ lý tưởng cho sự phát triển của cây ngập mặn là từ 25 đến 28 độ C Sự thay đổi nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp trong môi trường có thể gây bất lợi cho quá trình phát triển của rừng ngập mặn.

Nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phân bố của rừng ngập mặn Ở những khu vực có biên độ nhiệt dao động hẹp, điều kiện sinh trưởng và phát triển của rừng ngập mặn sẽ được cải thiện.

Lượng mưa: Ở ven biển Nam Bộ, trong nhiệt độ bình quân năm ở Cà Mau và Vũng

Mặc dù nhiệt độ giữa Cà Mau và Vũng Tàu chỉ chênh lệch 0,7 độ C, nhưng lượng mưa ở Cà Mau đạt 2.360 mm/năm, cao hơn nhiều so với 1.375 mm/năm của Vũng Tàu Điều này dẫn đến sự phong phú hơn của rừng ngập mặn ở Cà Mau và kích thước cây cối cũng lớn hơn.

Cây ngập mặn xuất hiện ở cả vùng khí hậu ẩm ướt và khô hạn, nhưng phát triển tối ưu nhất tại các khu vực xích đạo ẩm như Trung Mỹ, Malaysia và quần đảo Indonesia Ở bán cầu Bắc, cây ngập mặn sinh trưởng tốt nhất ở những nơi có lượng mưa hàng năm từ 1800 đến 3000mm Tại các vùng nhiệt đới như Thái Lan, Australia và Việt Nam, rừng ngập mặn phát triển mạnh ở những khu vực có lượng mưa cao từ 1800 đến 2500mm, trong khi ở những vùng ít mưa, số lượng loài và kích thước cây sẽ giảm đáng kể.

Gió mạnh có khả năng làm xáo trộn độ mặn của mặt nước sông, dẫn đến sự thay đổi trong quy luật phân bố theo chiều sâu và ảnh hưởng đến sự phân bố của các loài cây Tại Bến Tre, các cây chịu mặn thường phân bố sâu vào các bãi lầy trong kênh rạch, trong khi các loài nước lợ bị đẩy ra phía cửa sông hoặc vào sâu trong nội địa.

Gió đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường độ thoát hơi nước, giúp phát tán hạt và cây giống, đồng thời thay đổi lực dòng triều và dòng chảy ven bờ, vận chuyển phù sa và trầm tích để hình thành các bãi bồi mới cho cây ngập mặn phát triển Ngoài ra, gió cũng làm tăng lượng mưa ở rừng ngập mặn, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phân bố rộng rãi của các loài thực vật, đặc biệt là các loài bì sinh Gió mùa đông bắc vào mùa đông mang không khí lạnh từ phía Bắc xuống miền Nam Việt Nam, ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phân bố của thực vật nhiệt đới, đặc biệt là rừng ngập mặn Ánh sáng cũng rất quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình quang hợp và các hoạt động sinh lý khác của cây như hô hấp và thoát hơi nước Cường độ ánh sáng lý tưởng cho cây ngập mặn là từ 3.000 – 3.800 kcal/m²/ngày, và ở miền Nam Việt Nam, cây ngập mặn phát triển tốt nhờ vào mức độ ánh sáng này.

Vào mùa khô, ánh sáng mạnh gây cản trở sự phát triển của cây ngập mặn do làm tăng nhiệt độ không khí, đất và nước Sự bốc hơi nước gia tăng khi triều xuống khiến cho đất và cây, vốn đã thiếu nước ngọt, lại càng khan hiếm hơn.

Mây ảnh hưởng đến lượng mưa và có thể làm giảm cường độ ánh sáng cũng như nhiệt độ không khí và đất Khi mây dày, độ ẩm tăng cao, giúp giữ cho hàm lượng muối trong đất không bị tăng lên Điều này dẫn đến việc cây cối giảm thoát hơi nước, từ đó hạn chế sự xâm nhập của muối thừa vào cơ thể cây.

2.1.2 Tác động của các yếu tố thuỷ văn

Thủy triều là hiện tượng nước biển, nước sông lên xuống trong một chu kỳ thời gian phụ thuộc biến chuyển thiên văn.

Vai trò của rừng ngập mặn

Rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường biển và hỗ trợ đời sống của cộng đồng ven biển, do đó việc bảo vệ chúng không chỉ duy trì đa dạng sinh học mà còn bảo vệ sinh kế của người dân Tuy nhiên, hiện nay, giá trị của rừng ngập mặn đang bị suy giảm nghiêm trọng do con người chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của chúng và tiến hành khai thác một cách bừa bãi Do đó, bảo vệ rừng ngập mặn trở thành một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.

2.3.1 Vai trò của rừng ngập mặn đối với tự nhiên

2.3.1.1 Chống lại xói mòn, sạt lở

Nghiên cứu gần đây cho thấy, trong các khu rừng ngập mặn, độ cao và tốc độ của sóng giảm khoảng 20% chiều cao của cột sóng trong khoảng 100m (Mazda và cộng sự, 1997) Thêm vào đó, một nghiên cứu khác chỉ ra rằng các bức tường seawalls rất hiệu quả trong việc bảo vệ xói mòn bờ biển so với các cấu trúc bê tông và kiên cố (Harada et al, 2002).

Nhóm khảo sát của Phan Nguyên Hồng nhận định rằng độ cao sóng biển giảm mạnh khi đi qua dải rừng ngập mặn, với mức biến đổi từ 75% đến 85%, giảm từ 1,3m xuống còn 0,2m - 0,3m.

Rừng ngập mặn không chỉ bảo vệ khỏi sóng và nhiễm mặn mà còn tạo ra môi trường sống đa dạng cho nhiều loài động vật như cua, cá, ong, khỉ và chim Ngoài ra, rừng ngập mặn còn có chức năng phòng hộ, ngăn chặn xói mòn đất liền và đóng vai trò quan trọng trong việc lọc không khí cho các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh.

Bảo vệ rừng ngập mặn là cần thiết để ngăn chặn xói mòn và sạt lở, từ đó duy trì diện tích rừng và đa dạng sinh học hiện có.

Rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng không chỉ đối với con người mà còn cho môi trường tự nhiên Cây ngập mặn là nguồn tài nguyên thiên nhiên tái tạo, đồng thời tạo điều kiện cho sự sinh sống của nhiều loài sinh vật, từ động vật nhỏ đến động vật có xương sống lớn, và từ sinh vật nước đến sinh vật trên cạn Điều này cho thấy rừng ngập mặn không chỉ là nơi cư trú mà còn cung cấp dinh dưỡng, hỗ trợ sự phát triển đa dạng của các quần thể sinh vật ven biển và là nơi ương ấp cho các sinh vật biển non, góp phần duy trì sự đa dạng sinh học của đại dương.

2.3.1.3 Bảo tồn đa dạng sinh học cho biển ven bờ

Hệ sinh thái rừng ngập mặn có mức độ đa dạng sinh học rất cao, tương đương với hệ sinh thái san hô ven bờ Rừng ngập mặn có sự phân hóa mạnh mẽ về nơi ở, bao gồm không gian trên không, mặt đất và trong nước với nhiều loại đáy khác nhau Điều kiện sống tại đây, đặc biệt là độ muối, thường xuyên biến động, phù hợp với nhịp điệu của dòng nước ngọt và thủy triều Các sinh vật trong rừng ngập mặn không chỉ phong phú về số lượng loài mà còn có nhiều biến dị để thích nghi với các điều kiện sống khác nhau Rừng ngập mặn là kho lưu trữ nguồn gen quý giá cho cả hệ sinh thái trên cạn và vùng biển ven bờ Tại Châu Á, đã ghi nhận 1.918 loài sinh vật trong rừng ngập mặn, bao gồm 100 loài vi khuẩn và tảo, 200 loài thực vật, 491 loài động vật không xương sống, 500 loài côn trùng và nhện, cùng 520 loài động vật có xương sống.

Việt Nam có sự đa dạng sinh học phong phú với nhiều nhóm động vật, trong đó tảo có 65 loài, thực vật hai lá mầm 110 loài, giáp sát 229 loài, thân mềm 211 loài, chim 117 loài, và đặc biệt là côn trùng và nhện với 500 loài Ngược lại, ếch nhái và da gai chỉ có 1-2 loài, cho thấy sự kém đa dạng Mặc dù thảm thực vật ngập mặn đã được khảo sát kỹ lưỡng, nhưng các nhóm sinh vật khác vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống Những số liệu này đến từ các nghiên cứu riêng lẻ và phản ánh mức độ đa dạng của các nhóm sinh vật chính tại Việt Nam.

2.3.1.4 Duy trì nguồn dinh dưỡng giàu có đảm bảo cho sự phát triển của sinh vật ngay trong rừng ngập mặn

Rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra năng suất sơ cấp cao và cung cấp một lượng lớn rơi rụng hàng năm, làm giàu cho đất rừng và cửa sông ven biển Lượng rơi rụng từ cây rừng ước tính khoảng 8 – 20 tấn/ha, trong đó 79,7% là từ các chất thải và xác chết của động vật (Hồng và cộng sự, 1988).

Các sản phẩm này có thể được một số loài động vật sử dụng trực tiếp, trong khi một phần nhỏ dưới dạng chất hữu cơ hòa tan (DOM) cung cấp dinh dưỡng cho một số loài thông qua con đường thẩm thấu Phần lớn còn lại biến thành nguồn thức ăn phế liệu hay cặn vẩn (detrit), nuôi sống đa dạng các loài động vật ăn mùn bã thực vật phong phú trong rừng ngập mặn.

Một trong những chức năng quan trọng của rừng ngập mặn là giữ lại các trầm tích, và do đó hoạt động trầm tích bị ngưng lại

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trầm tích hàng năm trong rừng ngập mặn có thể dao động từ 1 đến 8 mm (Bird & Barson, 1977) Mặc dù sự mở rộng đất không phải là nguyên nhân chính gây ra trầm tích ở các khu vực bảo vệ ven biển (Woodroffe, 1992), nhưng các khu rừng ngập mặn vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình lắng đọng.

Trầm tích trong rừng ngập mặn có khả năng hấp thụ gần như 100% các kim loại nặng như Fe, Zn, Cr, Pb, Cd trong hệ sinh thái Ở các vùng ven biển, trầm tích chứa 90% Mn và Cu, được các loài ngập mặn như cây đước (Đước mangle) hấp thụ, trong khi cây đước chỉ chứa ít hơn 1% tổng số các kim loại này (Silva và cộng sự, 1990).

Trầm tích rừng ngập mặn có khả năng lưu giữ chất dinh dưỡng, đặc biệt là nitơ và phốt pho, nhờ vào hệ thống rễ của cây Hệ thống rễ không chỉ giúp tái chế nitơ, cacbon và lưu huỳnh mà còn hạn chế dòng chảy của nước, góp phần bảo vệ môi trường.

2.3.1.6 Nơi cư trú cho các loài động vật

Rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp môi trường sống cho nhiều loài cá, hoạt động như một vườn ươm và nơi sinh sản Gần 80% sản lượng cá đánh bắt trên toàn cầu phụ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp vào rừng ngập mặn và các hệ sinh thái ven biển khác.

Rừng ngập mặn không chỉ là nơi sinh sống của nhiều loài cá mà còn hỗ trợ đa dạng động vật hoang dã như hổ Bengal, cá sấu, hươu, nai, heo, rắn, mèo, cá, côn trùng và chim Quá trình phân hủy chất hữu cơ tại đây cùng với sinh khối vi sinh vật dẫn đến sự hình thành của loài 2 mảnh vỏ, một sản phẩm quan trọng trong hệ sinh thái rừng ngập mặn, giàu protein và cung cấp dinh dưỡng cho nhiều sinh vật khác nhau.

Nghiên cứu về quản lý rừng ngập mặn

Theo kiểm kê rừng toàn quốc, tính đến ngày 21/12/1999, diện tích rừng ngập mặn (RNM) tại Việt Nam đạt 155.290 ha, trong đó rừng ngập mặn tự nhiên chiếm 38,1% với 59.732 ha, còn rừng ngập mặn trồng chiếm 61,95% với 96.876 ha (Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, 2009).

Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng là một chương trình quan trọng của Nhà nước Việt Nam, nhằm nâng cao độ che phủ rừng lên 43% vào năm 2010 Được Quốc hội phê duyệt và Thủ tướng chỉ đạo thực hiện, dự án đã trồng 1.424.135 ha rừng trong giai đoạn 1998-2005, đạt 28,5% mục tiêu đề ra Mặc dù còn nhiều tồn tại, dự án đã góp phần nâng độ che phủ rừng Việt Nam lên 36,7%, tăng 3,5% so với năm 1999, và khẳng định nỗ lực của Việt Nam trong công tác trồng rừng, đứng trong top 10 quốc gia có diện tích rừng trồng lớn nhất thế giới.

Việt Nam có 4 vùng được công nhận là khu Ramsar của Việt Nam: Xuân Thủy được công nhận là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam vào ngày 20/09/1988.

Bàu Sấu nằm trong Vườn Quốc gia Cát Tiên được công nhận là khu Ramsar thứ 2 của Việt Nam vào ngày 04/08/2005.

Ba Bể được công nhận là khu Ramsar thứ 3 của Việt Nam vào ngày 02/02/2011.

Vườn quốc gia Tràm Chim dự kiến sẽ trở thành khu Ramsar thứ 4 của Việt Nam vào ngày 21-22.5.2012, tuy nhiên, việc phục hồi rừng ngập mặn (RNM) để bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai đang gặp nhiều thách thức Mặc dù người dân ven biển từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế nhận thức được vai trò quan trọng của RNM, nhưng vẫn chưa có quỹ đất cụ thể để phục hồi và trồng mới RNM đã bị suy thoái Tương tự, các tỉnh ven biển Nam Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long cũng thiếu quỹ đất cho việc phục hồi, dẫn đến những thiệt hại lớn về nguồn lợi thủy hải sản khi thiên tai xảy ra Hơn nữa, việc bảo vệ và phát triển RNM vẫn gặp khó khăn do nhu cầu cuộc sống hàng ngày của người dân chưa được đáp ứng.

Trong thời gian qua, nỗ lực trồng rừng ngập mặn (RNM) mới chủ yếu chỉ tập trung vào một loài cây duy nhất như cây Trang ở miền Bắc và cây Đước đôi ở miền Nam, dẫn đến hiệu quả kinh tế và khả năng phòng chống thiên tai không cao Việc này làm cho RNM dễ bị tổn thương trước dịch bệnh, sâu hại và thiên tai Chúng ta cần các giải pháp kỹ thuật phù hợp và áp dụng cho từng vùng nhằm phục hồi RNM, cải thiện chất lượng rừng hiện có và trồng mới RNM, đáp ứng nhu cầu bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai tại các địa phương cụ thể.

Chúng ta đang lãng phí lớn khi chưa kết hợp các hoạt động của các đề án mới với các chương trình hiện có nhằm phục hồi và bảo vệ rừng ngập mặn (RNM) Thiếu sự phối hợp liên ngành và cơ chế tài chính bền vững đã cản trở việc huy động nguồn lực cho công tác quản lý và phục hồi các khu bảo tồn RNM, cũng như đề xuất thành lập các khu bảo tồn có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế.

Một số mô hình phục hồi và bảo tồn rừng ngập mặn (RNM) hiệu quả tại Ninh Hòa, Rú Trá, Thạch Hà, và Sóc Trăng chưa được nhân rộng Hiện nay, thiếu cơ chế huy động cộng đồng tham gia vào công tác phục hồi RNM, và việc xã hội hóa công tác này cho phòng chống thiên tai chưa được chú trọng, đặc biệt trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

RNM đang bị suy giảm nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân, trong đó có việc đổ chất phế thải trong khai thác than, làm vùi lấp các dải RNM Tại Quảng Ninh, nhiều mỏ than lộ thiên gần biển và sông nước mặn như Hà Tu, Cẩm Phả, và Mông Dương, khi khai thác than, các xí nghiệp đã xả thải xuống sông, biển, làm mất đi các bãi lầy có cây ngập mặn Bên cạnh đó, việc xây dựng các cảng than như cảng Uông Bí và Cửa Ông đã dẫn đến sự phá hủy nhiều khu vực RNM và làm thiệt hại đến các thảm cỏ biển cùng rạn san hô, nơi sinh sống của nhiều loài động vật và hải sản quý giá ở vùng ven bờ và biển nông.

Khai thác than với tốc độ cao đang đe dọa nghiêm trọng đến hệ sinh thái rừng ngập mặn (HST RNM) ở nhiều địa phương Lượng chất thải khổng lồ từ hoạt động này tiếp tục được xả ra sông và biển, trong khi mưa làm xói mòn đất, khiến than từ mỏ trôi xuống sông, vùi lấp rừng ngập mặn ven sông và phá hủy môi trường sống của các loài động vật hoang dã.

Phá RNM để phát triển đô thị, cảng biển.

Trong thời kỳ đổi mới và công nghiệp hoá, nhiều vùng rừng ngập mặn (RNM) ven biển và cửa sông đang bị lấp để xây dựng đô thị, khu công nghiệp và cảng biển, như Nghi Sơn, Vũng Áng, Tuần Lễ và thị xã Hà Tiên Diện tích RNM hiện nay đã giảm đáng kể, và nếu không có biện pháp bảo vệ, chúng ta sẽ không chỉ mất đi nguồn tài nguyên quý giá mà còn làm mất cảnh quan đặc trưng của vùng nhiệt đới Hiện tượng xói lở bờ sông và bờ biển ngày càng gia tăng, và chi phí để chống xói lở có thể gấp hàng trăm lần so với chi phí trồng và bảo vệ RNM.

Buông lỏng quản lý, chạy theo nguồn lợi trước mắt.

Các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của hệ sinh thái rừng ngập mặn (HST RNM), dẫn đến việc buông lỏng quản lý tài nguyên ven biển Việc không kiên quyết xử lý tình trạng phá rừng để nuôi tôm đã gây ra nhiều hệ lụy Nhiều địa phương chỉ tập trung vào lợi ích ngắn hạn từ việc đấu thầu đất bãi lầy có RNM để phát triển nuôi tôm xuất khẩu, mà không xem xét đến hậu quả lâu dài từ thiên tai và sự suy giảm tài nguyên khi rừng bị tàn phá.

Hiện tượng ấm lên toàn cầu chủ yếu do sự gia tăng khí thải công nghiệp và nông nghiệp như CO2 và CH4, cùng với sự mất mát rừng ngập mặn Dự báo cho thấy, trong thế kỷ này, Trái đất sẽ tăng nhiệt độ, dẫn đến mực nước biển dâng cao từ 60-100cm Kết quả là nhiều vùng đất thấp ven biển, đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long, sẽ bị ngập nước biển, làm mất đi các rừng ngập mặn và đầm tôm.

PHẦN III MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học quan trọng nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng ngập mặn ven biển Việt Nam.

1 Nghiên cứu thực trạng hoạt động trồng rừng và hoạt động quản lý rừng ngập mặn tại TX Quảng Yên, Quảng Ninh giai đoạn 1998- 2018.

2 Đánh giá hiệu quả hoạt động trồng rừng ngập mặn khu vực nghiên cứu giai đoạn 1998- 2013 và 2013- 2018.

4 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả trồng rừng ngập mặn và quản lý bền vững tại khu vực nghiên cứu.

3.2 Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng điều tra khảo sát của đề tài là dải đất ngập nước ven biển thuộc khu vực thị xã Quảng Yên – tỉnh Quảng Ninh bao gồm: Điều tra diện tích rừng trồng ngập mặn từ năm 1998 – 2018 từ đó xác định sự biến động tài nguyên rừng và đất ngập mặn, đánh giá hiệu quả hoạt động trồng rừng, xác định những thuận lợi khó khăn từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả trồng rừng ngập mặn và quả lý rừng bền vững tại khu vực nghiên cứu Cùng nằm trong tình trạng chung của các vùng đất ngập nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đây là khu hệ sinh thái rất nhạy cảm, dễ bị biến đổi bởi các tác động nhân sinh cũng như tự nhiên, đặc biệt là các tác động nhân sinh Đất ngập nước ở khu vực này có thể được sử dụng cho các mục đích khác nhau như rừng ngập mặn (mọc tự nhiên hoặc trồng), ao đầm nuôi trồng thuỷ sản, hệ thống thuỷ văn, đường giao thông, các bãi bùn hay các bãi bồi còn để trống.

Do hạn chế về thời gian và ngân sách, nghiên cứu này chỉ tập trung vào biến động diện tích rừng ngập mặn tại các xã, phường của thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, với sự chú ý đặc biệt đến sự thay đổi diện tích rừng trồng.

3.3.2 Phạm vi về thời gian Đề tài thực hiện từ tháng 4 năm 2018 – tháng 11 năm 2018, xác định hiện trạng tài nguyên rừng tại các năm 2008, 2015, 2018.

3.3.3 Phạm vi nội dung Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động trồng rừng ngập mặn (diện tích trồng, chất lượng rừng) tại khu vực nghiên cứu.

3.4.1 Thực trạng hoạt động trồng rừng và hoạt động quản lý rừng ngập mặn tại thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh giai đoạn 1998- 2018

Xác định hiện trạng tài nguyên rừng, rừng trồng tại các năm 1998,

Hoạt động quản lý rừng ngập mặn tại khu vực nghiên cứu.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 22/06/2021, 14:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Đài (1999), Giáo trình Hệ thông tin địa lý, Trường ĐH Khoa học tự nhiên Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Hệ thông tin địa lý
Tác giả: Nguyễn Văn Đài
Năm: 1999
2. Bùi Thị Điệp (2000), Ứng dụng Hệ thông tin địa lý (GIS) trong nghiên cứu biến động sử dụng đất ở khu vực ven biển phía nam cửa Ba Lạt. Luận văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng Hệ thông tin địa lý (GIS) trong nghiên cứubiến động sử dụng đất ở khu vực ven biển phía nam cửa Ba Lạt
Tác giả: Bùi Thị Điệp
Năm: 2000
13. Nguyễn Ngọc Lung (1998), “Hệ thống quản lý rừng và các chính sách lâm nghiệp Việt Nam”, Hội thảo quốc gia về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hệ thống quản lý rừng và các chính sáchlâm nghiệp Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lung
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1998
14. Trần Văn Con, Nguyễn Huy Sơn, Phan Minh Sáng, Nguyễn Hồng Quân, Chu Đình Quang, Lê Minh Tuyên, 2006, Cẩm nang ngành lâm nghiệp:chương Quản lý rừng Bền vững.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang ngành lâm nghiệp:"chương Quản lý rừng Bền vững
11. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2016, Quyết định số Khác
3158/QĐ/BNN-TCLN về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2016, Hà Nội Khác
12. Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2007, Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Khác
15. Paul A. Longley and Michael F. Goodchild (1997). Geographical Information systems,John Wiley & sons Ex Khác
16. Thomas. M Lilleran and Ralphw Kiefer (1994). Remote sensing and Image Intergration_Third edition. John Wiley & sons Ex Khác
17. Environmental Systems Research institute (ESRI), Inc, USA Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w