LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành chương trình đào tạo hệ sau đại học của Trường Đại họcLâm nghiệp, gắn công tác khoa học với thực tiễn đồng thời đánh giá kết quảhọc tập, nghiên cứu, được sự nhất
QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trên thế giới
Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa Do nhiều ngành kinh tế phát triển nên nhu cầu về gỗ ngày càng tăng Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi nhuận lâu dài của các chủ rừng Hệ thống về lý luận quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng đã được hình thành, phát triển trong hoàn cảnh như vậy. Đến thế kỷ 18, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết các việc “Khoanh khu chặt luân chuyển” có nghĩa là đem trữ lượng hoặc diện tích tài nguyên chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn.
Sau cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ 19 phương thức kinh doanh rừng hạt ra đời với chu kỳ khai thác dài và phương thức “Khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho phương thức “Chia đều” của Hartig Phương thức của Hartig đã chia chu kỳ khai thác thành nhiều thời kỳ lợi dụng và trên cơ sở khống chế lượng chặt hàng năm Đến năm 1816 xuất hiện phương pháp phân kỳ lợi dụng của H.Cotta, ông đã chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để khống chế lượng chặt hàng năm.
Phương pháp “Bình quân thu hoạch” và sau này là phương pháp “Cấp tuổi” chịu ảnh hưởng của “Lý luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là yêu cầu rừng có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích và trữ lượng khai thác.Hiện nay công tác kinh doanh rừng này được dùng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phong phú.
Cuối thế kỷ 19, phương pháp “Lâm phần kinh tế” của Judeich xuất hiện, quan điểm của phương pháp này không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh.
Hai phương pháp “Bình quân thu hoạch” và “Lâm phần kinh tế” chính là tiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau.
Phương pháp “Bình quân thu hoạch” mà sau này là phương pháp “Cấp tuổi” chịu ảnh hưởng của “lý luận rừng tiêu chuẩn” có nghĩa là yêu cầu rừng phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như diện tích và trữ lượng vị trí và đưa vào các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác Hiện nay phương pháp kinh doanh rừng này được áp dụng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phong phú Còn phương pháp “Lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp “Lâm phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà căn cứ vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh, phương thức điều chế rừng Cũng từ phương pháp này còn phát triển thành “Phương pháp kinh doanh lô” và “Phương pháp kiểm tra”.
Ở Việt Nam
Quy hoạch lâm nghiệp áp dụng ở nước ta từ thời kỳ Pháp thuộc Như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi
Từ năm 1955 - 1975, công tác điều tra phân loại đất và phân loại rừng đã được tổng hợp một cách có hệ thống trong phạm vi miền Bắc Sau năm
1975, các số liệu nghiên cứu về phân loại đất, phân loại rừng mới được từng bước thống nhất trong cả nước Xung quanh chủ đề phân loại đất đã có nhiều công trình triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái (Ngô Nhật Tiến 1986, Đỗ Đình Sâm 1994 ) Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiều biện pháp đề xuất cần thiết để sử dụng đất, công tác điều tra phân loại đã không gắn liền với công tác sử dụng
5 đất Nhừng thành tự về nghiên cứu đất đai trong giai đoạn trên là cơ sở quan trọng góp phần bảo vệ, cải tạo, quản lý và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả trong cả nước.Ở nước ta vấn đề quy hoạch sử dụng đất cho cấp vi mô có sự tham gia của người dân mới được nghiên cứu áp dụng Liên quan đến quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô có một số công trình tiêu biểu như Nguyễn Bá Ngãi, Lê Sĩ Trung (đề tài tiến sĩ) và một số luận văn cao học và các tài liệu hướng dẫn áp dụng cho các dự án đầu tư quốc tế (Đức, Thụy Điển ).Năm
1975 - 1990, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới tiến hành cơ thám, mô tả ước lượng tài nguyên rừng và chỉ dừng lại ở việc cải tiến các phương pháp quy hoạch để phù hợp với trình độ và thực tế tài nguyên rừng của nước ta.
Từ năm 1990 đến nay, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ tiến hành sơ thám, mô tả để ước lượng tài nguyên hiện có, phát triển vốn rừng và đưa nghề rừng trờ thành một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu phát triển kinh tế của đất nước Vì vậy công tác quy hoạch sản xuất lâm nghiệp ngày càng được quan tâm nhiều hơn Ngày 8/7/1999, chính phủ ban hành nghị định 52/1999/NĐ-CP về việc ban hành các quy chế đầu tư và xây dựng Do đặc thù ngành lâm nghiệp (địa bàn rộng, địa hình chia cắt phức tạp, tư liệu sản xuất là đất đai, ) nên các phương án quy hoạch có những đặc thù riêng biệt Các công trình quy hoạch lâm nghiệp lâu nay vẫn được coi là “Các công trình quy hoạch và chuẩn bị đầu tư” Căn cứ vào mức độ và tính chất quy hoạch có thể phân chia thành các loại sau:
- Quy hoạch sơ bộ: Xây dựng các kế hoạch dài hạn mang tính chiến lược, trong đó đánh giá tình hình hoạt động và dự báo xu thế phát triển chung của ngành trên phạm vi thế giới, quốc gia hay lãnh thổ Đây là những nội dung cơ bản mang tính chất định hướng cho quy hoạch phát triển ngành trong cả thời kỳ quy hoạch, làm cơ sở cho việc triển khai các bước tiếp theo.
- Quy hoạch tổng thể: Nhằm đánh giá chính xác tiềm năng thông qua các yếu tố cần thiết cho mục tiêu phát triển tổng thể Quy hoạch tổng thể là cơ sở cho việc lập kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn và hoàn thiện các cơ chế chính sách, tổ chức quản lý sản xuất của các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội Quy hoạch phát triển ngành bao gồm các công trình mang tính chất chuyên ngành và các công trình này đòi hỏi sự phối hợp liên ngành nhằm tránh sự chồng chéo, hạn chế lẫn nhau giữa các ngành.
- Quy hoạch chi tiết: Là những dự án đầu tư được xây dựng cho từng công trình cụ thể, khi được cấp thẩm quyền phê duyệt sẽ được ghi vào kế hoạch chuẩn bị đầu tư.
Theo các cấp quản lý, quy hoạch lâm nghiệp được chia thành các cấp sau:
- Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh: Bao gồm quy hoạch cho các Tổng Công ty lâm nghiệp, Công ty lâm nghiệp, Lâm trường, các khu rừng phòng hộ, khu bảo tồn thiên nhiên, Các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh là khác nhau tùy theo điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị và thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất lâm nghiệp.
- Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ: Ở nước ta,các cấp quản lý lãnh thổ bao gồm các đơn vị quản lý hành chính: Từ toàn quốc tới tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương); huyện (thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, quận) và xã (phường) Để phát triển, mỗi đơn vị đều phải xây dựng phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển các ngành sản xuất và quy hoạch dân cư, phát triển xã hội, Đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh rừng như các Lâm trường, các Công ty lâm nghiệp, quy hoạch lâm nghiệp luôn giữ vai trò rất quan trọng, nó là phương án thực hiện kinh doanh trong một thời gian nhất định Các bước thực hiện một bản phương án quy hoạch:
- Thu thập tài liệu cơ bản (bản đồ, tài nguyên, một số quy luật lâm sinh và những thông số cơ bản về tăng trưởng quần thể, cấu trúc, khả năng tái sinh, dân số và lao động tại chỗ).
- Xác định các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh (chỉ tiêu về khai thác, nuôi dưỡng, làm giàu rừng, trồng rừng, các chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp và nông lâm kết hợp).
- Xây dựng phương án quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp.
Song song với việc tiến hành áp dụng các công tác quy hoạch lâm nghiệp trong thực tiễn sản xuất, môn quy hoạch cũng được đưa vào giảng dạy ở các trường đại học Trước năm 1975, bài giảng của môn này ở miền Bắc chủ yếu dựa vào giáo trình Điều tra thiết kế quy hoạch rừng dịch từ giáo trình của Trung Quốc và ở miền Nam là giáo trình Điều chế rừng của nước ngoài. Nội dung của giáo trình chủ yếu phục vụ cho việc tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức rừng đồng tuổi, ít loài cây phù hợp với điều kiện tài nguyên rừng nước ta, có một bộ phận rất lớn rừng tự nhiên khác tuổi, nhiều loài cây Đồng thời mới chỉ dừng lại ở tổ chức kinh doanh rừng chưa giải quyết sâu sắc về tổ chức quản lý rừng.
Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001 – 2010 và gần đây là chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 đã được Chính phủ phê duyệt trong đó có quy hoạch phát triển lâm nghiệp theo vùng (vùng gỗ trụ mỏ Đông Bắc – vùng nguyên liệu giấy sợi trung ương, ), quy hoạch các Lâm trường, Công ty trung tâm miền núi phía Bắc, quy hoạch các nhà máy chế biến ván ép, ván dăm, nhà máy chế biến bột giấy, nhà máy chế biến giấy,
Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển của các nước khác thì quy hoạch lâm nghiệp của nước ta hình thành và phát triển muộn hơn Hiện nay, công tác này đang trong giai đoạn tiếp tục vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng.
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh rừng trồng và sử dụng đất bền vững tại Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Hòa Bình (Từ nay gọi tắt là “Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình”).
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng của Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình nhằm xác định được những lợi thế, thách thức và nhu cầu phát triển sản xuất trong thời gian tới của Công ty.
- Đề xuất giải pháp quy hoạch và nâng cao hiệu quả sử dụng đất rừng trồng tại Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình theo hướng sử dụng có hiệu quả và phát triển bền vững tài nguyên rừng.
Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đặc điểm điều kiện sản xuất lâm nghiệp tại Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình
2.2.2 Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng của Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình
2.2.3 Phân tích những thuận lợi, khó khăn của Công ty từ đó nghiên cứu lựa chọn các nhân tố làm căn cứ quy hoạch sử dụng đất rừng trồng sản xuất bền vững cho Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình
2.2.4 Đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất phục vụ kinh doanh rừng trồng cho Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình
2.2.4.1 Xác định phương hướng, mục tiêu sản xuất kinh doanh của Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình
2.2.4.2 Quy hoạch sử dụng đất đai
2.2.4.3 Quy hoạch các biện pháp kinh doanh
2.2.4.4 Tổng hợp vốn đầu tư và hiệu quả
2.2.4.5 Quy hoạch các biện pháp thực hiện
Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1.1 Phương pháp kế thừa chọn lọc
- Thu thập các văn bản dự án, báo cáo tổng kết hàng năm.
- Thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, lược sử hình thành và phát triển của Công ty.
- Thu thập hệ thống bản đồ.
2.3.1.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
- Phỏng vấn các cán bộ và người dân xung quanh khu vực Công ty quản lý theo phương pháp PRA.
- Lập ô tiêu chuẩn 400m 2 (20 m x 20 m) đối với rừng trồng để đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của rừng: Chiều cao vút ngọn (H vn ), chiều cao dưới cành (H dc ), đường kính ngang ngực (D
2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu
- Tổng hợp phân tích các số liệu điều tra thực địa và ghi vào các bảng biểu để làm cơ sở đánh giá tiềm năng đất đai tài nguyên rừng.
- Tính toán các giá trị bình quân của một số chỉ tiêu như: H bq , D bq theo phương pháp bình quân gia quyền.
- Qua đó xác định được trữ lương (M) cho các loại rừng trồng, với rừng tự nhiên xác định được trữ lượng thông qua tổng tiết diện ngang thân cây ( g ), chiều cao vút ngọn và hình số thân cây.
- Dựa vào định mức công việc, tiềm năng nguồn lực từ đó xác định tiến độ các hoạt động sản xuất.
- Đề xuất phương án quy hoạch sản xuất dựa vào:
+ Kết quả điều tra điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội và hiện trạng tài nguyên rừng của Công ty.
+ Phương hướng, mục tiêu phát triển chung của vùng Bắc Bộ, của tỉnh Hòa Bình và của Công ty.
+ Các định mức, đơn giá, chỉ tiêu kinh tết kỹ thuật và vốn đầu tư hàng năm, định kỳ của Công ty.
- Dự đoán đánh giá hiệu quả kinh tế:
+ Phương pháp tĩnh: Coi các yếu tố chi phí là kết quả độc lập tương đối, không chịu tác động của các nhân tố thời gian.
Tỷ suất lợi nhuận: P cp Hiệu quả vốn đầu tư: P p
Trong đó: P : tổng lợi nhận 1 năm
+ Phương pháp động: Coi các yếu tố chi phí và kết quả đầu tư có quan hệ với mục tiêu đầu tư, thời gian và giá trị đống tiền Các chỉ tiêu kinh tế được tính toán bởi các hàm kinh tế như: NPV, BCR, IRR.
NPV: Giá trị hiện tại của thu nhập dòng, là hiệu số của thu nhập và chi phí hoạt động sản xuất của chu kỳ kinh doanh sau khi đã tính đến chiết khấu để quy về thời điểm hiện tại.
NPV BCR là tỷ lệ thu nhập so với chi phí, BCR là hệ số sinh lãi thực tế (tức là cứ một đồng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận) BCR phản ánh chất lượng đầu tư và mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất).
IRR là tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ, IRR là chỉ tiêu đánh giá khả năng phục hồi vốn đầu tư có tính đến yếu tố thời gian thông qua tính triết khấu, chính là tỷ lệ triết khấu làm cho NPV = 0
Trong đó: NPV : Giá trị hiện tại thuần của thu nhập dòng (đồng)
B t : giá trị thu nhập năm thứ t (đồng)
C t : giá trị chi phí năm thứ t (đồng) i : Lãi suất (%)
ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI CÔNG TY LÂM NGHIỆP HÒA BÌNH
Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình được thành lập theo quyết định 19/1999/QĐ - UB, là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, ngày 28/03/1998 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hòa Bình trên cơ sở đổi tên lâm trường Kỳ Sơn thành Công ty lâm nghiệp Hòa Bình và sáp nhập các lâm trường: Lương Sơn, Kim Bôi, Lạc Thủy và Tu Lý vào làm đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc Công ty được chuyển giao về làm đơn vị thành viên hạch toán độc lập trực thuộc Tổng Công ty lâm nghiệp Việt Nam tại quyết định số 431/QĐ/UB ngày 05/06/1998 của Uỷ ban nhân dân tỉnh tỉnh Hòa Bình.
Ngày 24/01/2003 Uỷ ban nhân dân tỉnh Hòa Bình có quyết định số 141/QĐ - UB V/v: Chuyển giao Lâm trường Tân Lạc và Lâm trường Lạc Sơn thuộc Sở Nông Nghiệp và phát triển nông thôn về Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình quản lý Hiện nay Công ty có 7 đơn vị thành viên, một đội thiết kế, quy hoạch rừng và bốn phòng ban chức năng.
Ngày 01/02/2008 Công ty đổi tên từ: Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Hòa Bình theo quyết định số 444/QĐ-BNN-ĐMDN của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Trụ sở chính Công ty: xã Dân Hạ - huyện Kỳ Sơn - tỉnh Hoà Bình.
Các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh chính của Công ty:
- Tổ chức trồng và kinh doanh rừng nguyên liệu, xây dựng các mô hình trồng rừng thâm canh, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việc cải tạo giống nâng cao hiệu quả rừng trồng, khai thác rừng trồng, thiết kế các hạng mục công trình lâm nghiệp.
- Sản xuất kinh doanh, dịch vụ hạt giống và cây giống để phục vụ trồng rừng, chế biến, xuất, nhập khẩu nông sản, lâm sản, hàng tiêu dùng, khai thác, mua bán lâm sản.
- Xây dựng các công trình dân dụng, công trình lâm, nông công nghiệp.
- Làm dịch vụ du lịch sinh thái, vận tải hàng hoá đường bộ, đại lý ký gửi hàng hoá và dịch vụ thương mại.
- Mua bán máy móc thiết bị vật tư kỹ thuật ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, vật liệu xây dựng và chất đốt.
Hiện tại Công ty có 07 chi nhánh là các Lâm trường, xí nghiệp hạch toán phụ thuộc Công ty:
1 Chi nhánh Lâm trường Lương Sơn Địa điểm: xã Lâm Sơn – huyện Lương Sơn – tỉnh Hòa Bình
2 Chi nhánh Xí nghiệp Lâm nghiệp Kỳ Sơn Địa điểm: xã Dân Hạ – huyện Kỳ Sơn – tỉnh Hòa Bình
3 Chi nhánh Lâm trường Lạc Thủy Địa điểm: xã Phú Lão – huyện Lạc Thủy – tỉnh Hòa Bình
4 Chi nhánh Lâm trường Tân Lạc Địa điểm: xã Tử Nê – huyện Tân Lạc – tỉnh Hòa Bình
5 Chi nhánh Lâm trường Lạc Sơn Địa điểm: xã Xuất Hóa – huyện Lạc Sơn – tỉnh Hòa Bình
6 Chi nhánh Lâm trường Tu Lý Địa điểm: Thị trấn Đà Bắc – huyện Đà Bắc – tỉnh Hòa Bình
7 Chi nhánh Lâm trường Kim Bôi Địa điểm: xã Kim Bình – huyện Kim Bôi – tỉnh Hòa Bình
* Cơ cấu tổ chức của Công ty
Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty được sắp xếp theo chiều dọc từ trên xuống dưới; bao gồm:
Phòng tổ Phòng kế chức toán tài hành chính chính
Quan hệ chỉ huy trực tuyếnQuan hệ tham mưu giúp việc
Tổng diện tích rừng và đất rừng để tổ chức sản xuất kinh doanh sau khi thực hiện rà soát quy hoạch theo Thông tư 04/2005/TT-BTN&MT là:
11.914,3 ha chi tiết theo bảng 3.1 dưới đây:
Bảng 3.1 Biểu chi tiết diện tích Công ty đang quản lý sử dụng
2 CN XN Lâm nghiệp Kỳ
3 CN Lâm trường Tu Lý
5 CN Lâm trường Kim Bôi
6 CN Lâm trường Tân Lạc
7 CN Lâm trường Lạc Sơn
Diện tích đất đai và tài nguyên Công ty quản lý nằm trên địa bàn 07 huyện của tỉnh Hòa Bình, trong đó diện tích quản lý của Xí nghiệp Lâm nghiệp Kỳ Sơn là lớn nhất 2.708,2 ha và của Lâm trường Kim Bôi là thấp nhất là 588,6 ha Công ty giao cho các đơn vị trực tiếp quản lý toàn bộ diện tích được giao dưới sự chỉ đạo của Công ty.
* Tổ chức lao động của Công ty
Bảng 3.2 Lực lượng lao động hiện tại của Công ty
Qua tìm hiểu và phân tích đặc điểm lao động của Công ty cho thấy chất lượng lao động của Công ty khá đảm bảo, tuy nhiên trong thời gian tới để hoàn thành tốt nhiệm vụ đề ra trong thời gian tới về tăng diện tích rừng các loại cần tuyển dụng thêm lao động thuộc loại lao động phổ thông Bên cạnh đó Công ty cũng cần chú trọng quan tâm tới việc tuyển dụng và đào tạo cán bộ quản lý để đưa Công ty ngày càng phát triển hơn.
Điều tra điều kiện tự nhiên
Công ty Lâm nghiệp Hoà Bình hiện nay gồm bảy lâm trường, một đội thiết kế, quy hoạch rừng và một xưởng chế biến gỗ hạch toán phụ thuộc Quản lý một phần diện tích rừng và đất lâm nghiệp của bảy huyện: Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Kỳ Sơn, Lương Sơn, Đà Bắc, Lạc Sơn và Tân Lạc với tổng diện tích đất tự nhiên là: 22.514,4 ha.
+ Phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ và Hồ Hoà Bình.
+ Phía Nam giáp tỉnh Ninh Bình, tỉnh Thanh Hoá
+ Phía Tây giáp tỉnh Sơn La
+ Phía Đông giáp thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Nam
- Trên toạ độ từ: 20 0 - 20 0 45 ‘ vĩ độ Bắc; 105 0 30 ’ đến 105 0 50 ’ kinh độ đông Cách Hà Nội nơi gần nhất 60 km và nơi xa nhất 150 km.
- Địa hình tương đối phức tạp bao gồm các dải đồi, núi lớn chạy theo hướng Bắc Nam xen kẽ các dãy núi đá vôi Có độ cao so với mặt nước biển
(200- 1300) m, độ dốc bình quân (20 0 - 30 0 ) được chia thành 02 vùng khác nhau.
+ Vùng núi thấp thuộc các huyện: Lạc Thuỷ, Kim Bôi, Lương Sơn, và một phần của các huyện: Kỳ Sơn, Tân Lạc, Lạc Sơn và Cao Phong.
+ Vùng núi cao thuộc huyện Đà Bắc và một phần các huyện: Kỳ Sơn, Tân Lạc, Lạc Sơn.
- Khu vực vùng dự án nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt.
+ Mùa mưa từ tháng 05 đến tháng 10 với lượng mưa bình quân (1600
– 1700)mm chiếm 90% lượng mưa bình quân năm.
+ Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa bình quân từ
(100-200) mm chiếm 10% lượng mưa bình quân cả năm.
- Nhiệt độ không khí bình quân 24 0 C, cao nhất 39 0 C (vào tháng 7) thấp nhất 5 0 C (vào tháng 12 và tháng 1 năm sau) có vùng nhiệt độ xuống 2 0 C (vùng núi cao).
- Ẩm độ không khí trung bình 85% , cao nhất 90% vào các tháng 8,9, thấp nhất 75% vào tháng 11,12.
- Chế độ gió: Có 3 loại gió chính:
+ Gió Đông Nam xuất hiện vào mùa hè, đặc điểm gió này mang theo hơi ẩm với cường độ mạnh.
+ Gió Đông Bắc xuất hiện vào mùa đông, mỗi đợt kéo dài từ (3-5) ngày mang theo mưa phùn và giá rét.
+ Gió Lào (Tây Nam) xuất hiện không thường xuyên thổi thành từng đợt mỗi đợt (3-5) ngày, mỗi năm có từ (2-3) đợt vào các tháng 5, 6, 7 có ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ con người và cây trồng.
Hoà Bình có mạng lưới sông, suối phân bố khắp trên các huyện có khả năng cung cấp nước cho phát điện, sản xuất nông lâm nghiệp và sinh hoạt của nhân dân.
- Sông Đà bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua tỉnh Lai Châu, Sơn La đến Hoà Bình chảy qua các huyện: Mai châu, Đà Bắc, Tân Lạc, Kỳ Sơn và Thành phố Hoà Bình chiều dài 127 km.
- Sông Bôi bắt nguồn từ xã Thượng Tiến huyện Kim Bôi chảy qua huyện Lạc Thuỷ chiều dài 67 km.
- Sông Bùi bắt nguồn từ xã Lâm Sơn, Trường Sơn- huyện Lương Sơn chảy qua huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội với chiều dài 25 km.
- Sông Đập bắt nguồn từ xã An Lạc - Lạc Thuỷ chảy qua huyện Nho Quan- Ninh Bình chiều dài 5 km.
- Sông Cầu Đường bắt nguồn từ xã Tân Thành- Kim Bôi chảy qua Xã Cao Thắng huyện Kim Bôi chiều dài 20 km.
- Các suối lớn: Hiền Lương, Ngòi Hoa, Oi Luông, Cái……đều có nước quanh năm nhưng có nhiều thác ghềnh, đá ngầm không có khả năng vận chuyển hàng hoà theo đường thuỷ.
- Hệ thống hồ đập: Trên diện tích 18.425,19 ha có 20 hồ lớn nhỏ như:
Hồ Đồng Bài huyện Kỳ Sơn rộng 55 ha, hồ Đại Thắng rộng 45 ha….
- Địa chất khu vực chia làm 03 nhóm đất chính:
+ Nhóm đất Feralít phát triển trên đá trầm tích và đá biến chất có kết cấu hạt thô trên các loại đá mẹ chủ yếu: Sa thạch, Poocfirít, Spilit….
+ Nhóm đất phát triển trên đá trầm tích và đá biến chất kết cấu hạt mịn trên các loại đá mẹ: Phiến thạch sét, Diệp thạch…
+ Nhóm đất Feralít phát triển trên đá vôi và đá biến chất của đá vôi.
Đặc điểm xã hội
Người dân trong vùng tập trung chủ yếu là người dân tộc Mường, Thái, Dao, Đây là nhóm dân tộc có truyền thống canh tác, sản xuất lúa nước, làm nương và có hiểu biết trong khai thác và sử dụng những sản phẩm từ rừng như cây thuốc, lâm sản phụ khác như mật ong, măng, và một số rau rừng Đời sống và sinh hoạt của họ chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp và chăn nuôi Do truyền thống sản xuất và văn hóa gắn liền với rừng nên nhu cầu về tài nguyên rừng và đất rừng của người dân khá cao.
- Dân tộc và dân số: Dân số toàn vùng là 421.276 người
+ Dân tộc Mường là 267.484 người chiếm 63,50%
+ Dân tộc Kinh là 151.544 người chiếm 35,8%
+ Dân tộc khác là 3.248 người chiếm 0,70%
Tổng số dân trong vùng là 421.276 người, trong đó dân tộc Mường chiếm đa số (63,50%) Trình độ dân trí thấp nên gây khó khăn cho việc đào tạo trình độ nghiệp vụ cho lực lượng lao động trong vùng Mật độ dân số bình quân toàn vùng khoảng 180 người/km 2 Tỷ lệ tăng dân số bình quân 1,7% phân bố không đều, ở vùng cao dân số thưa ngược lại ở vùng thấp mật độ dân số cao bình quân 680 người/km 2
3.3.1 Tác động của các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty tới địa phương
Với định mức khoán từ 56-60m3 cây đứng/ha tuỳ theo từng mô hình và đặc điểm riêng của từng lâm trường, theo từng lập địa với suất đầu tư hơn 17 triệu/ha Trong đó, trồng và chăm sóc năm đầu là 8,15 triệu, chăm sóc năm 2 là 3,9 triệu, chăm sóc năm 3 là 1,9 triệu, từ năm thứ 4 đến năm thứ 7 là 0,8 triệu Sản lượng trung bình, qua phỏng vấn cán bộ lâm trường và cán bộ các xã, khoảng 90 đến hơn 100m3/chu kỳ Do đó ngoài phần trả sảm phẩm cho Công ty người dân có nguồn thu khá ổn định từ việc nhận khoán trồng rừng.
Ngoài sản phẩm lâm nghiệp, trong năm đầu trồng và chăm sóc người dân còn trồng xen các loại cây nông nghiệp khác như sắn, đậu mang lại nguồn thu đáng kể.
Nhờ các hình thức giao khoán cùng với sự thuận lợi, ổn định về giá cả đầu ra nên người dân tích cực tham gia nhận đất thực hiện hợp đồng khoán trồng rừng kinh tế.
Một số đơn vị trực thuộc Công ty (Lâm trường Lương Sơn, Lâm trường
Tu Lý) có diện tích trồng rừng quốc doanh (trồng rừng của lâm trường) lớn nên hàng năm cần lượng lớn nhân công là những lao động tại địa phương tham gia các hoạt động lâm sinh theo công việc hoặc theo thời vụ như cuốc hố, trồng cây, làm cỏ, vun gốc các hoạt động này giúp tạo thêm thu nhập và việc làm cho lao động địa phương.
Trong diện tích rừng của Công ty đặc biệt là trên diện tích rừng tự nhiên của Lâm trường Tu Lý hiện vẫn còn có nhiều lâm sản phụ mà người dân trong vùng vẫn khai thác sử dụng như măng, cây thuốc, rau rừng, lá dong, củi
- Các hoạt động xã hội:
Tập thể cán bộ công nhân viên Công ty tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội như ủng hộ các quỹ vì người nghèo, ủng hộ đồng bào bị thiên tai, quỹ giáo dục, nạn nhân chất độc màu da cam, thiên tai, lũ lụt, Các tổ chức các hoạt động văn hóa - thể thao, văn nghệ, tuyên truyền công tác bảo vệ rừng và PCCCR tại địa phương.
Trên cơ sở các hộ nhận khoán trồng rừng, Công ty phụ trách hướng dẫn kỹ thuật, tập huấn biện pháp lâm sinh cho các hộ tham gia nhận khoán.
Hoạt động sản xuất của Công ty trên hầu hết diện tích rừng và đất rừng tại địa phương trong khi nhu cầu người dân về đất sản xuất ở các xã ngày càng cao nên người dân rất muốn nhận thêm đất để sản xuất lâm nghiệp theo hình thức giao khoán hoặc nhận khoán quản lý bảo vệ rừng.
Hiện nay việc mâu thuẫn trong quyền sử dụng đất giữa Lâm trường và người dân địa phương vẫn chưa được giải quyết triệt để Diện tích đất giữa các bên mới được ra soát lại và hoàn thành năm 2010, và đang chờ quyết định cấp sổ chính thức từ cơ quan có thẩm quyền.
3.3.2 Tác động của các hoạt động sản xuất kinh doanh của địa phương đối với Công ty
Chính quyền địa phương và người dân ủng hộ các hoạt động của Công ty Điều này được thể hiện qua mối quan hệ giữa các bên trong việc tham gia các hoạt động xã hội, hoạt động xử lý các vấn đề liên quan giữa các bên, hàng năm các xã và các Lâm trường vẫn thực hiện các cuộc họp thường xuyên (các cuộc họp tổng kết, báo cáo giữa kỳ) và các cuộc họp không thường xuyên (khi có những vấn đề liên quan) để cùng trao đổi và tìm cách giải quyết tích cực tham gia tổ chức thực hiện PCCCR, huy động lực lượng cần thiết khi cháy rừng xảy ra, thành lập các tổ đội bảo vệ rừng vào mùa khô,
- Đa số người dân ủng hộ các hoạt động của Công ty và tích cực tham gia tổ chức thực hiện PCCCR, sẵn sàng tham gia khi cháy rừng xảy ra, do đó các vụ cháy rừng luôn được phát hiện và xử lý kịp thời.
- Tích cực tham gia nhận khoán bảo vệ rừng, trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng theo các chương trình, dự án và làm công theo mùa vụ các hoạt động sản xuất của Công ty.
Bên cạnh các hộ tham gia nhận khoán trồng rừng cho Công ty thực hiện tốt hợp đồng giao khoán, còn một số ít hộ ý thức thực hiện hợp đồng chưa tốt cụ thể là khi đến hạn trả vốn và sản phẩm giao khoán đã cố ý dây dưa kéo dài không muốn trả nợ cho nhà nước, tự ý lén lút chặt bán cho tư thương gây khó khăn cho Công ty trong công tác thu hối vốn.
Điều tra tình hình sản xuất lâm nghiệp từ trước đến nay của Công ty 23 Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình là một trong số ít các Công ty Lâm nghiệp có mô hình sản xuất lâm nghiệp khép kín từ nghiên cứu, sản xuất giống cây lâm nghiệp đến trồng, chăm sóc quản lý bảo vệ rừng, khai thác rừng trồng và chế biến các sản phẩm từ gỗ rừng trồng Hàng năm Công ty đều nâng cao chất lượng và khối lượng sản phẩm để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
Trong lĩnh vực trồng rừng: Công ty hiện nay đang thực hiện hai mô hình trồng rừng quốc doanh và trồng rừng liên doanh với hộ trên đất của Công ty, sản phẩm của trồng rừng là các loại rừng như: rừng trồng nguyên liệu,rừng phòng hộ.
Diện tích đất sản xuất lâm nghiệp của Công ty là 11.334,3 ha, trong đó diện tích trồng rừng sản xuất là 9.175,7 ha Trước đây hoạt động vốn trồng rừng của Công ty do Nhà nước cấp Những năm trở lại đây Nhà nước xóa bỏ cơ chế bao cấp chuyển sang hoạch toán kinh doanh, hoạt động trồng rừng của Công ty chủ yếu nhờ vào nguồn kinh phí từ bán lâm sản Hiện nay Công ty đã chủ động được nguồn vốn trong sản xuất kinh doanh.
Hoạt động khai thác rừng cũng được tiến hành theo hình thức khoán hộ dân và đấu giá rừng đến tuổi khai thác theo kế hoạch cho các đơn vị tổ chức khác nhau thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như đăng báo và đài phát thanh,… sản phẩm chính của hoạt động khai thác rừng là các loại gỗ nguyên liệu theo quy cách kỹ thuật từ loại một đến loại sáu.
Sản phẩm của xưởng chế biến là các loại ván gỗ xẻ dùng cho sản phẩm mộc, công trình xây dựng, và các loại gỗ dùng cho công nghệ sản xuất ván ghép thanh.
Trong lĩnh vực sản xuất cây con giống: Công ty hàng năm sản xuất cây con giống để phục vụ trồng rừng và dịch vụ bán ra thị trường các loại cây giống như: cây keo tai tượng được sản xuất theo phương pháp thực sinh Cây keo lai được sản xuất bằng công nghệ dâm hom Cây bạch đàn được sản xuất bằng công nghệ nuôi cấy mô. Để tiến hành trồng và khai thác rừng theo đúng tiến độ và đạt hiệu quả kinh tế cao cần phải có các định mức kỹ thuật và các bản thiết kế phù hợp Từ yêu cầu của việc trồng và khai thác rừng Công ty đã thành lập một đội thiết kế và quy hoạch trồng rừng Sản phẩm của đội là các bản thiết kế trồng và khai thác rừng, các bản điều tra quy hoạch rừng Mỗi lĩnh vực kinh doanh Công ty luôn quan tâm phát triển sản phẩm sao cho đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế và môi trường sinh thái.
* Về công tác giao đất khoán rừng
Hàng năm sau khi cân đối khối lượng giữa các mô hình trồng rừng, Công ty tạo điều kiện cho công nhân lao động trực tiếp và người dân địa phương có cơ hội ký hợp đồng trồng rừng liên doanh với Công ty theo hình thức khoán sử dụng đất và vay vốn trồng rừng sản xuất Tuy nhiên, việc tranh chấp đất đai của người dân với đất của Công ty quản lý và vấn đề thu hồi vốn của chủ hộ khi đến hạn vẫn xảy ra gây khó khăn cho công tác quản lý bảo vệ rừng của Công ty.
* Khoanh nuôi bảo vệ rừng
Công ty đã xác định khoanh nuôi bảo vệ rừng là vấn đề quan trọng, phải ngăn chặn khai thác rừng trái phép, đốt rừng làm rẫy, lấn chiếm đất rừng bằng lực lượng các đội bảo vệ phối hợp cùng kiểm lâm, công an và chính quyền địa phương.
* Khai thác và chế biến lâm sản
Nguồn khai thác lâm sản chủ yếu là rừng trồng Trung bình mỗi năm Công ty khai thác khoảng 700,0 ha rừng sản xuất tương đương khoảng 56.000 m 3 gỗ cung cấp cho nhà máy ván dăm, ván MDF, ván ép thanh Trong tương lai, gỗ của Công ty còn là nguồn nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ tại các tỉnh lân cận và phục vụ xuất khẩu gỗ có chứng chỉ vì hiện nay Công ty đang trong quá trình nâng cao hệ thống quản lý rừng để xin cấp chứng chỉ rừng FSC.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong 3 năm gần đây được thể hiện ở bảng 3.3 dưới đây:
Bảng 3.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2009 – 2011 của Công ty Đơn vị : Triệu đồng
1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
3 Doanh thu thuần về bán hàng và dịch vụ
5 Lợi nhận gộp về bán hàng và dịch vụ (20-
6 Doanh thu từ hoạt động tài chính
- Trong đó chi phí lãi vay
9 Chi phí quản lý doanh nghiệp
10 Lợi nhận thuần từ hoạt động kinh doanh
14 Tổng lợi nhận kế toán trước thuế (500+40)
15 Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành
16 Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại
17 Lợi nhận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
(Nguồn : Phòng tài chính kế toán)
Nhìn chung lợi nhuận của Công ty qua ba năm tăng liên tục Sau khi đã bù đắp hết các khoản chi phí và nộp thuế cho Nhà nước, Công ty vẫn có lợi nhuận khá cao Điều này thể hiện sự phát triển ổn định của Công ty trong các năm trở lại đây.
Đặc điểm điều kiện sản xuất lâm nghiệp tại Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình
4.1.1 Đặc điểm điều kiện đất đai trồng rừng sản xuất:
- Địa chất tại khu vực chia làm 03 nhóm đất chính:
+ Nhóm đất Feralít phát triển trên đá trầm tích và đá biến chất có kết cấu hạt thô trên các loại đá mẹ chủ yếu: Sa thạch, Poocfirít, Spilit….
+ Nhóm đất phát triển trên đá trầm tích và đá biến chất kết cấu hạt mịn trên các loại đá mẹ: Phiến thạch sét, Diệp thạch.
+ Nhóm đất Feralít phát triển trên đá vôi và đá biến chất của đá vôi.
- Từ những đặc điểm địa chất nêu trên việc quy hoạch phục vụ cho sản xuất lâm nghiệp được thực hiện theo 02 nhóm cụ thể như sau:
+ Nhóm I: Lập địa khô có độ dốc trên 25 0 thuộc đầu nguồn của các con sông suối và hồ đập lớn được quy hoạch để trồng rừng phòng hộ bằng các loài cây bản địa thường xanh sống lâu năm như: Lát, Sấu, Trám……
+ Nhóm 2: Lập địa sườn thấp ẩm, mát độ dốc < 25 0 được chọn trồng rừng thâm canh bằng các loài cây mọc nhanh như: Keo Tai Tượng, Bồ Đề, Keo lá tràm, Bạch Đàn
4.1.2 Hiện trạng sử dụng đất đai, tài nguyên rừng của Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình
4.1.2.1 Hiện trạng sử dụng đất đai của Công ty
Số liệu hiện trạng tài nguyên rừng và đất rừng Công ty được giao quản lý, sử dụng:
Theo quyết định số 07/2000/QĐ-UB ngày 2/2/2000 của UBND tỉnh HòaBình về việc bàn giao rừng và đất lâm nghiệp cho Công ty và Quyết định141/QĐ-UB ngày 24/01/2003 về việc chuyển giao Lâm trường Tân Lạc vàLâm trường Lạc Sơn sang Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình quản lý thì diện tích rừng và đất rừng Công ty TNHH Hòa Bình được giao quản lý cụ thể như sau :
Bảng 4.1 Số liệu diện tích đất được UBND tỉnh giao theo hồ sơ sổ sách
Bảng 4.2 Số liệu hiện trạng tài nguyên rừng phân theo 3 loại rừng
Tổng tích Đơn theo rà vị
Tổng diện tích đất Đơn theo rà vị soát năm 2008
(Nguồn : Phòng Lâm nghiệp tổng hợp)
Có thể nhận thấy giữa số liệu diện tích Công ty được giao quản lý có sự sai khác với diện tích Nguyên nhân là do UBND tỉnh có Quyết định thu hồi
1.239,1ha đất của Công ty để bàn giao cho các Dự án theo quy hoạch phát triển của tỉnh.
Bảng 4.3 Diện tích đất biến động trong quá trình quản lý
Tổng diện tích theoQuyết định giao (ha)
Số liệu diện tích đất Công ty dự kiến giữ lại để sản xuất và trả về địa phương quản lý một số diện tích sử dụng không hiệu quả:
Bảng 4.4 Chi tiết diện tích đất công ty giữ lại để sản xuất và dự kiến trả lại địa phương
2 CN XN Lâm nghiệp Kỳ
3 CN Lâm trường Tu Lý
Công ty sẽ tiến hành quy hoạch trong phần diện tích giữ lại để sản xuất kinh doanh với mục tiêu năng suất và chất lượng là hàng đầu Tỷ lệ các loại đất trên tổng diện tích tự nhiên của Công ty được thể hiện ở biểu 4.5 dưới đây:
Bảng 4.5 Biểu hiện trạng tài nguyên Công ty đang quản lý
(Tính theo % các loại đất)
I Đất sản xuất nông nghiệp
1 Đất trồng cây hàng năm a Đất trồng lúa b Đất trồng cây hàng năm
2 Đất trồng cây lâu năm
1 Đất quy hoạch rừng sản xuất a Đất có rừng tự nhiên b Đất có rừng trồng c Đất trống
3 Đất quy hoạch rừng phòng hộ a Đất có rừng tự nhiên b Đất có rừng trồng c Đất trống
2 Đất trụ sở lâm trường
5 Đất sông, ngòi, kênh, rạch
7 Đất chuyền dẫn năng lượng
9 Đất phi nông nghiệp khác
Diện tích đất lâm nghiệp của Công ty là 11.334,3 ha chiếm tỷ lệ khá lớn (95,1%) trên tổng diện tích toàn Công ty, diện tích đất trống là 3.084,6 ha chiếm 25,9% tổng diện tích đất Đây là một thuận lợi lớn trong việc lựa chọn phương án trồng rừng sản xuất và phát triển lâm nghiệp trên quy mô lớn và lâu dài.
- Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng:
+ Công tác quản lý rừng và đất rừng được thực hiện tốt, tích cực giải quyết những phần đất tranh chấp, xâm lấn đất đai.
+ Diện tích đất được phủ kín bằng rừng trồng và rừng tự nhiên khoanh nuôi, tăng độ che phủ của rừng, nâng cao tác dụng của rừng tới điều hòa nguồn nước ao hồ, chống xói mòn, hạn hán, lũ lụt, sạt lở
+ Tạo việc làm cho nhiều lao động nhàn rỗi trong địa phương, góp phần xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, xã hội, ổn định tình hình sản xuất an ninh chính trị trong địa bàn, Công ty đã tham gia vào việc chuyển giao kỹ thuật thâm canh trồng rừng tới nhân dân trong địa bàn.
+ Diện tích rừng trồng sản xuất là 4.460,3 ha Trong đó trồng Keo, Bạch đàn là 4.342,2 ha, Thông 114,1 ha, Luồng 4,0 ha.
+ Từ năm 2002 trở lại đây Công ty tập trung vào trồng rừng nguyên liệu đáp ừng nhu cầu gỗ nguyên liệu cho các nhà máy (ván dăm, ván MDF, ván ghép thanh ), bột giấy, gỗ xây dựng cơ bản, băm dăm và các nhu cầu lâm sản khác của xã hội cho thị trường các tỉnh, thành phố thuộc Bắc Bộ.
+ Diện tích rừng tự nhiên là 1.627,7 ha Nhìn chung trạng thái rừng chủ yếu là nghèo kiệt đang phục hồi, ít tính đa dạng sinh học, trữ lượng thấp.
4.1.2.2 Thống kê trữ lượng các bộ phận tài nguyên rừng
Bảng 4.6 Tổng hợp diện tích, sản lượng rừng trồng từ năm 3 trở đi Công ty đang quản lý
Nhận xét: Sản lượng rừng trồng của Công ty còn chưa cao Nếu tính sản lượng rừng từ năm thứ 4 trở đi thì sản lượng bình quân rừng Công ty chỉ đạt 64,7m 3 /ha Mặt khác có thể nhận thấy mật độ cây rừng giảm dần theo từng năm, mật độ rừng đến tuổi khai thác chỉ đạt 625 đến 925 cây/ha Nguyên nhân chủ yếu là do:
- Quá trình tỉa thưa tự nhiên của rừng.
- Gió bão gây gãy, đổ cây.
- Tình trạng chặt trộm cây rừng.
Những thuận lợi, khó khăn trong kinh doanh và phát triển rừng trồng sản xuất và nghiên cứu lựa chọn các nhân tố làm căn cứ quy hoạch sử dụng đất cho Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình
sử dụng đất cho Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình
4.2.1 Những thuận lợi, khó khăn trong kinh doanh và phát triển rừng trồng sản xuất tại Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình
Hiện tại, Công ty lâm nghiệp Hòa Bình hiện nay đang tồn tại hai mô hình trồng rừng sản xuất chủ yếu:
- Mô hình trồng rừng quốc doanh trên đất của Công ty (đất giao khoán cho các doanh nghiệp Nhà nước để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong theo nghị định số 01/CP ngày 04/5/1995 của Thủ tướng Chính phủ.
- Mô hình trồng rừng liên doanh trên đất của Công ty với hộ dân địa phương và cán bộ công nhân viên của Công ty.
* Đối với mô hình trồng rừng Quốc doanh
Công ty hoàn toàn chủ động trong sản xuất kinh doanh.
Tổ chức thi công thuận lợi, chất lượng thi công đảm bảo quy trình kỹ thuật, chất lượng rừng đạt tốt hơn các mô hình khác.
Công ty được hưởng toàn bộ lợi nhuận.
Chủ động về hợp đồng cung ứng gỗ cho các đơn vị chế biến gỗ.
Công tác quản lý bảo vệ gặp khó khăn đối với những diện tích nhỏ, phân tán, xen kẽ với hộ dân địa phương dẫn đến tình trạng chặt phá rừng, lấn chiếm đất.
Quy mô sản xuất chỉ áp dụng đối với diện tích đất do Công ty quản lý, không áp dụng đối với diện tích đất đã giao khoán cho hộ gia đình nên không mở rộng được quy mô sản xuất.
* Đối với mô hình trồng rừng liên doanh Thuận lợi:
Công tác quản lý bảo vệ được người dân bảo vệ tốt, không xẩy ra tình trạng chặt phá cây rừng, lấn chiếm đất đai Nếu xẩy ra tình trạng mất rừng hộ gia đình phải chịu trách nhiệm trước bên giao giao khoán theo quy định của pháp luật.
Quy mô trồng rừng có thể mở rộng ra phần diện đất giao khoán cho hộ dân.
Không chủ động trong sản xuất kinh doanh từ khâu trồng rừng đến khâu thu hồi vốn.
Việc triển khai thực hiện phụ thuộc nhiều vào các hộ gia đình Công tác chỉ đạo sản xuất gặp nhiều khó khăn; chất lượng thi công, chất lượng rừng thấp hơn mô hình trồng rừng quốc doanh.
Khi rừng đến tuổi khai thác, công tác bảo vệ và thu hồi vốn gặp khó khăn bởi nhiều hộ tự khai thác bán cho tư thương, trốn trách nhiệm trả nợ cho doanh nghiệp.
Việc thu hồi vốn sau khai thác chỉ thực hiện được với các hộ trồng rừng có lãi, những hộ trồng rừng bị lỗ thì chỉ thu hồi được một phần. Đối với trồng rừng theo mô hình quốc doanh thì lô rừng có lãi nhiều có thể bù đắp cho lô rừng bị lỗ còn đối với trồng rừng theo mô hình hộ dân, hộ dân lãi nhiều thì họ được hưởng toàn bộ (sau khi đã nộp đủ sản phẩm), còn lại những lô rừng sản lượng thấp gây lỗ thì Công ty phải gánh chịu vì rất khó thu hồi vốn đầu tư.
Không chủ động nguồn nguyên liệu gỗ để cung cấp cho các đơn vị chế biến gỗ.
4.2.2 Các nhân tố làm căn cứ để đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất rừng trống sản xuất cho Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình
4.2.2.1 Các căn cứ pháp lý
- Quyết định số 147/ 2007/QĐ- TTg ngày 10 thàng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007- 2015 nhằm khuyến khích các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư trồng rừng và chế biến lâm sản theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng sản xuất phải gắn với công nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm lâm sản để tạo được nghề rừng ổn định và phát triển bền vững.
- Quyết định số 18/2007/QĐ - TTg ngày 5/2/2007 của Thủ tướng chính phủ đã ban hành về phê duyệt chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020.
- Căn cứ luật đất đai năm 2003 và luật bảo vệ và phát triển rừng 2004 của Thủ tướng Chính phủ.
- Căn cứ vào nghị định số 163/1999 ngày 16/11/1999 của Chính phủ về việc giao khoán, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài mục đích lâm nghiệp.
- Quyết định số 187/1999/QĐ - TTg ngày 16/9/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý lâm trường quốc doanh.
- Căn cứ vào thông tư số 04/2005/TT-BTNMT ngày 18/7/2005 của Bộ Tài nguyên môi trường về việc hướng dẫn các biện pháp quản lý, sử dụng đất đai khi sắp xếp, đổi mới và phát triển các nông, lâm trường quốc doanh.
- Quyết định số 676/ QĐ-UBND Ngày 4/4/2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hoà Bình về việc phê duyệt kết quả rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng.
- Căn cứ chủ trương chính sách và nghị quyết của Đảng bộ, chính quyền các cấp trong việc quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2010-2020.
- Căn cứ quỹ đất (hiện trạng đất) của Công ty sau khi rà soát đánh tiềm năng và điều kiện sản xuất lâm nghiệp trên cơ sở kết quả điều tra đo đếm, đánh giá điều kiện lập địa.
- Căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty từ trước đến nay và kết quả thực hiện các dự án lâm nghiệp.
4.2.2.2 Các căn cứ kinh tế
Trong hai mô hình trồng rừng sản xuất như đã phân tích ở trên, Công ty đều áp dụng chung một quy trình kỹ thuật trồng rừng, nhưng hình thức tổ chức, cơ chế thực hiện, mức độ đầu tư vốn, giá trị sản lượng thu hồi… khác nhau Để tìm hiểu các mô hình trồng rừng sản xuất tại Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình ta đi xem xét cụ thể của từng mô hình trồng rừng sản xuất. a Mô hình trồng rừng quốc doanh trên đất của Công ty
Hàng năm dựa vào điều kiện đất đai, nguồn lao động, tiền vốn, trình độ quản lý….hiện có của từng lâm trường trực thuộc Công ty tiến hành quy hoạch, lựa chon các địa điểm trồng rừng quốc doanh trên nguyên tắc:
- Về điều kiện đất đai: Đối với mô hình này sẽ lựa chọn nhưng khu vực có đất có điều kiện lập địa tốt, tầng đất thịt dày từ 30-50 cm, độ dốc thấp dưới 25 độ.
Đề xuất phương án quy hoạch đất rừng trồng sản xuất tại Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình
4.3.1 Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Công ty 4.3.1.1 Phương hướng phát triển lâm nghiệp trong thời kỳ hội nhập
- Tích cực khai thác tối đa tiềm năng của rừng và đất rừng, phát triển một nền lâm nghiệp đa dạng đáp ứng nhu cầu thị trường lâm sản trong nước và xuất khẩu.
- Nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên, góp phần xoá đói giảm nghèo tạo công ăn việc làm cho nhân dân trong vùng và tạo môi trường trong xanh, sạch đẹp.
- Huy động tốt và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn trong nội bộ, tranh thủ các nguồn vốn từ bên ngoài để đầu tư phát triển.
- Đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất.
- Từng bước cải thiện và hoàn chỉnh cơ cấu tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh gắn việc phát triển kinh tế trên địa bàn Công ty với việc đảm bảo ổn định chính trị và an ninh, quôc phòng.
Dự kiến diện tích rừng nguyên liệu khai thác hàng năm khoảng từ 700,0 đến 750,0 ha Sản lượng gỗ nguyên liêụ cung cấp hàng năm từ 56.000 m 3 đến60.000,0 m 3 trở lên
Bảng 4.18 Dự kiến diện tích, sản lượng khai thác rừng trồng sản xuất kế hoạch 2012 - 2018
* Giải quyết công ăn việc làm, số lao động có việc làm và có thu nhập ổn định
Những hoạt động của công ty trong việc trồng rừng, bảo vệ rừng đã và đang tạo công ăn việc làm, giải quyết nguồn nhân lực trong vùng, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, nâng cao dân trí của người dân địa phương, nâng cao nhận thức về trồng rừng, bảo vệ rừng và bảo vệ tài nguyên rừng Mục tiêu trong các năm tới của Công ty là:
- Bình quân hàng năm Công ty tạo công ăn việc làm ổn định cho hộ thông qua hình thức ký hợp đồng từ 150 - 200 hợp đồng nhận khóan trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng.
- Thu hút lực lượng lao động là người địa phương và các vùng phụ cận mỗi năm từ 20.000 - 30.000 ngày công thời vụ, thông qua các công việc trồng mới rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng.
* Cơ sở hạ tầng được xây dựng
- Làm mới từ 10km – 20Km đường mỗi năm.
- Sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng khoảng 30 km đường lâm nghiệp mỗi năm.
* Đóng góp cho địa phương:
- Góp phần hỗ trợ kinh phí xây dựng các công trình phúc lợi tại địa phương.
- Gắn phát triển rừng trồng với công nghiệp chế biến, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ lâm sinh, kết hợp với phát triển du lịch sinh thái Qua đó, góp phần thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho đồng bào miền núi, góp phần nâng cao độ che phủ của rừng, hình thành nghề rừng ổn định và phát triển bền vững.
Tôn trọng phong tục, tập quán, văn hóa, tín ngưỡng và quyền của cộng đồng địa phương trong quá trình quản lý rừng.
* Độ che phủ của rừng đạt được sau luân kỳ: Đến năm 2018 độ che phủ bình quân đạt 70%.
* Tính đa dạng sinh học được bảo vệ.
- Góp phần làm giảm áp lực lên rừng tự nhiên, hạn chế chặt phá rừng làm nương rẫy.
- Khi trồng rừng phối trí hàng cây trồng theo đường đồng mức và so le theo hình nanh sấu để tăng cường khả năng chống xói mòn rửa trôi.
- Trong một khu vực chia làm các lô nhỏ để trồng, chăm sóc và khai thác hạn chế tối đa xói mòn đất.
- Đường vận chuyển, đường vận xuất phải có rãnh biên dẫn nước không để cho nước chảy dọc tuyến đường là nguyên nhân chính gây ra xói mòn đất và phá hỏng đường.
- Ở những đoạn đường dốc phải có rãnh thoát nước ngang tránh cho nước chảy dọc theo đường ở đoạn dài làm phá vỡ mái taluy.
- Định kỳ chăm sóc bảo dưỡng đường để đường không bị đọng nước gây lầy lội tắc nghẽn giao thông.
* Bảo vệ nguồn nước, chất lượng nước
Phủ xanh đất trống đồi núi trọc, làm tăng lượng nước ngầm trong đất; hạn chế xói mòn rửa trôi.
- Ở hai bên bờ suối phải chừa ra hành lang bảo vệ với chiều rộng tùy thuộc vào chiều rộng lòng suối, độ dốc hai bên bờ suối Ở hành lang bảo vệ sẽ trồng những cây bản địa hoặc khoanh nuôi bảo vệ tạo điều kiện cho các loài thực vật bản địa tái sinh.
- Phế liệu của các hoạt động sản xuất lâm nghiệp như túi bầu, túi đựng cây, vỏ chai đựng dầu, xăng phải thu gom đem về để thuê công ty môi trường xử lý.
- Các dụng cụ, thiết bị máy móc sử dụng khi khai thác, vận chuyển gỗ, chuẩn bị đất trồng rừng phải được chăm sóc, bảo dưỡng để luôn luôn có trạng thái kỹ thuật tốt, tránh bị hỏng hóc phải sửa chữa trong rừng làm rò rỉ dầu trong lô rừng cũng như giảm lượng chất thải.
- Rác thải trên đường vận chuyển trong đó có vỏ cây, từ các lán trại của công nhân khai thác trong lô khai thác, phải thu gom vào một địa điểm nhất định để xử lý.
- Tổng diện tích khai thác tại một khu vực liền vùng liền khoảnh phải nhỏ hơn 50 ha để giảm thiểu tác động đến lưu lượng nước ở trên các dòng suối và mức nước ngầm.
- Để đạt được kết quả, mục tiêu cụ thể nêu trên, Công ty cần có những giải pháp tích cực từ khâu tổ chức, tài chính đến sản xuất kinh doanh.
4.3.2 Quy hoạch sử dụng đất đai, tài nguyên rừng cho Công ty
- Căn cứ vào hiện trạng tài nguyên rừng và nguồn lực của Công ty, căn cứ vào phương hướng, mục tiêu nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Công ty, căn cứ vào điều kiện sản xuất lâm nghiệp của Công ty và diễn biến thị trường nông lâm sản trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, phương án quy hoạch sử dụng đất đai tài nguyên rừng cho Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình được xác định như sau:
Bảng 4.19 Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2018 của Công ty
I Đất sản xuất nông nghiệp
1 Đất trồng cây hàng năm a Đất trồng lúa b Đất trồng cây hàng năm
2 Đất trồng cây lâu năm
1 Đất quy hoạch rừng sản xuất a Đất có rừng tự nhiên b Đất có rừng trồng
STT Hạng mục c Đất trống
3 Đất quy hoạch rừng phòng hộ a Đất có rừng tự nhiên b Đất có rừng trồng c Đất trống
2 Đất trụ sở lâm trường
5 Đất sông, ngòi, kênh, rạch
7 Đất chuyền dẫn năng lượng
9 Đất phi nông nghiệp khác
Kết luận
Qua thời gian thực hiện đề tài “Nghiên cứu, đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất rừng trồng sản xuất tại Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Hòa Bình” từ những kết quả thu được, đề tài đi đến một số kết luận như sau:
1 Công ty Lâm nghiệp Hòa bình có có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tương đối thuận lợi cho công tác trồng rừng sản xuất Từ 2002 đến nay Công ty chủ trương quan tâm phát triển rừng trồng sản xuất và đã đạt được những hiệu quả trên cả ba mặt kinh tế, xã hội, môi trường.
2 Hiện nay, diện tích đất lâm nghiệp của Công ty chủ yếu là rừng trồng sản xuất với hai loài cây trồng chính là Keo và Bạch đàn Rừng trồng của Công ty đa dạng về cấp tuổi tuy nhiên rừng trồng sinh trưởng chỉ ở mức độ trung bình, sản lượng trung bình chỉ đạt khoảng 80m3/ha.
3 Hiện tại Công ty thực hiện hai mô hình trồng rừng sản xuất là mô hình trồng rừng quốc doanh trên đất của Công ty và mô hình trồng rừng liên doanh trên đất của Công ty với hộ dân địa phương và cán bộ công nhân viên của Công ty Mô hình trồng rừng quốc doanh do thi công đảm bảo quy trình kỹ thuật nên chất lượng, sản lượng rừng cao hơn nhưng lại gặp khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ rừng Mô hình trồng rừng liên doanh được chủ hộ trực tiếp quản lý bảo vệ tuy nhiên khi rừng đến tuổi khai thác Công ty gặp nhiều khó khăn trong việc thu hổi vốn và giữ đất sản xuất chu kỳ tiếp theo. Vấn đề đặt ra là cân đối diện tích giữa hai mô hình trồng rừng quốc doanh và liên doanh đang được thực hiện tại Công ty Nhân tố được lựa chọn là dựa trên các căn cứ pháp lý của Tỉnh, huyện, Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam và các hiệu quả mang lại về kinh tế, môi trường, xã hội.
4 Từ những phân tích trên, đề tài đã xác định được các phương án quy hoạch sử dụng đất rừng trồng sản xuất tại Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình, bao gồm:
- Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2018 trên diện tích 11.914,3 ha Công ty được giao quản lý, với những mục tiêu chính: Trồng rừng sản xuất hàng năm đạt 750,0 ha để duy trì rừng trồng đa dạng về cấp tuổi, cân đối quy mô, diện tích giữa hai mô hình trồng rừng sản xuất để đảm bảo công tác quản lý bảo vệ rừng, thu hồi vốn được tốt hơn Tăng năng suất rừng trồng đạt trên 80 m 3 /ha đối với các mô hình trồng rừng Ước tính tổng lợi nhuận trước thuế cho cả giai đoạn đạt 110.457,93 triệu đồng.
- Quy hoạch các biện pháp sản xuất kinh doanh toàn diện để mang lại hiệu quả kinh tế ổn định, bền vững.
- Đề xuất một số giải pháp thực hiện từ việc tổ chức bộ máy quản lý, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đến việc áp dụng các tiến bộ về khoa học kỹ thuật, sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư.
- Xây dựng được bản đồ cho Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình, bao gồm: + Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2011.
+ Bản đồ quy hoạch sử dụng đất kế hoạch sản xuất giai đoạn 2012 - 2018.
Các kết quả nghiên cứu trên là cơ sở ứng dụng hiệu quả trong quản lý sử dụng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp của Công ty Lâm nghiệp HòaBình, góp phần phát triển kinh tế, xã hội và ổn định an ninh chính trị trong những năm tới.
Tồn tại
Do thời gian thời gian có hạn nên đề tài không tránh khỏi những tồn tại nhất định:
- Phần phân tích đánh giá điều kiện sản xuất lâm nghiệp mới chỉ dựa trên cơ sở là những thông tin kế thừa, phân tích đánh giá vẫn mang tính chất tổng quát, chưa có đủ điều kiện đi sâu vào tìm hiểu từng điều kiện cụ thể.
- Do diện tích rừng và đất rừng rất rộng lớn, nên những phương án quy hoạch cho toàn Công ty chỉ mang tính đại diện và phương hướng phát triển rừng trồng sản xuất tại Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình Để áp dụng trong thực tiễn cần phải bổ sung thêm các nghiên cứu về đất đai, tìm ra những loài cây trồng phù hợp.
- Việc đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình rừng trồng sản xuất chưa tính được mức độ rủi ro trong quá trình thực hiện phương án quy hoạch.
Kiến nghị 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Để những công trình nghiên cứu tiếp theo có tính khả thi hơn, đề tài có những kiến nghị như sau:
- Tiếp tục bổ sung những số liệu về sinh trưởng, các nghiên cứ về đất đai, thổ nhưỡng, loài cây trồng và bản đồ quy hoạch chi tiết cho từng năm.
- Bổ sung những chỉ tiêu, những yếu tố phân tích về hiệu quả kinh tế, dự báo về mức độ rủi ro trong quá trình thực hiện phương án quy hoạch, nhu cầu của thị trường trong tương lai để đảm bảo cho phương án quy hoạch đất rừng trồng sản xuất ổn định, lâu dài.
Văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh, Nxb Nông nghiệp, Hà nội.
2 Lê Sỹ Việt, Trần Hữu Viên (1999), Giáo trình Quy hoạch Lâm nghiệp, Nxb
3 Viện điều tra quy hoạch rừng (1995), Sổ tay điều tra quy hoạch, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
4 Bộ NN & PTNT (2006), Cẩm nang ngành lâm nghiệp, Nxb Nông nghiệp,
5 Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình (2011), Thuyết minh thiết kế trồng rừng,
Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
6 Bộ NN & PTNT (2002),Quyết định số 78/2002/QĐ/BNN – KL V/v Ban hành QTKT theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp trong lực lượng kiểm lâm.
7 Bộ NN & PTNT (2004), Hướng dẫn đánh giá rừng quản lý bền vững theo bộ tiêu chuẩn quốc gia.
8 Bộ NN & PTNT (2005), Quyết định số 62/2005/QĐ –BNN ngày 12/10/2005
V/v Ban hành qui định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng.
9 Bộ NN&PTNT (2005), Quyết định số 40/2005/QĐ – BNN ngày 07/07/2007 về việc quy chế khai thác gỗ và lâm sản khác.
10 Chi cục kiểm lâm Hoà Bình (2010), Báo cáo kết quả theo dõi diễn biến rừng năm 2009.
11 Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1994), Nghị định 02/CP ngày
15/1/1994 của Chính phủ ban hành “Quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp”
12 Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1999), Nghị định 163/1999/NĐ-
CP ngày 16/11/1999 về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
13 Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2004), Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về việc hướng dẫn thi hành Luật đất đai.
14 Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam (2003), Luật đất đai số
15 Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam (2004), Luật bảo vệ và phát triển rừng, số 29/2004/QH11, ngày 3/12/2004.
16 Thủ tướng Chính Phủ (1998), Quyết định 186/2006/QĐ – TTg ngày14/06/2006 về việc ban hành quy chế quản lý rừng.
17 Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2007 V/v Ban hành ‘‘Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020’’
18 UBND tỉnh Hòa Bình (2011), Chiến lược phát triển Lâm nghiệp tỉnh Hòa
Bình giai đoạn 2006 – 2010 định hướng giai đoạn 2010 – 2020.
19 Phân Viện Điều tra và Quy hoạch rừng Bắc Bộ (2010), Báo cáo kết quả rà soát 3 loại rừng tỉnh Hoà Bình, tỉnh Hòa Bình.
20 UBND tỉnh Hoà Bình (2006), Báo cáo tóm tắt quy hoạch phát triển lâm nghiệp tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2006 – 2020, tỉnh Hòa Bình.
21 Nguyễn Bá Ngãi (2001), Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp cấp xã vùng trung tâm miền núi phía Bắc Việt Nam, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, Trường đại học
22 Lê Thị Hường (2009), Nghiên cứu xây dựng phương án quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp cho công ty lâm nghiệp Lục Nam- BắcGiang, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học lâm nghiệp, Hà Nội.