Kinh nghiệm thực tiễn tạiViệt Nam cũng cho thấy việc phát triển mô hình cộng đồng bảo tồn và sử dụng hợplý tài nguyên, đa dạng sinh học sẽ góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng trong
Trang 1TRIỆU ĐÌNH LÂM
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ TƯƠNG TÁC GIỮA CỘNG ĐỒNG VỚI CÁC HỆ SINH THÁI RỪNG TRONG KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN QUẦN ĐẢO CÁT BÀ
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ bất cứ một luận văn nào khác.
Số liệu và tài liệu được kế thừa từ đề tài khoa học và công nghệ cấp quốc
gia“Nghiên cứu xây dựng mô hình cộng đồng bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà”
(Mã số: ĐTĐL.CN-25/17), tác giả đã được sự đồng ý, cho phép sử dụng dữ
liệu của chủ nhiệm, cơ quan chủ trì đề tài.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Triệu Đình Lâm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành theo chương trình đào tạo Cao học Lâm nghiệp K25B (2017-2019) tại Trường Đại học Lâm nghiệp Được sự nhất trí của Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Phòng Đào tạo Sau đại học và
giáo viên hướng dẫn, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu m i quan h t ng tác giữa cộng đồng v i các h sinh thái r ng trong Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà”.
Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Bùi Thế Đồi-Trường Đại học Lâm Nghiệp vàTS Triệu Thái Hưng - Viện Nghiên cứu Lâm sinh, là những người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi tận tình về mặt chuyên môn cũng như tinh thần trong suốt thời gian thực hiện
đề tài.Tôi cũng xin cảm ơn Ban Giám hiệu trường, Khoa Lâm học, Phòng Đào tạo Sau Đại học, quý Thầy,Cô Trường Đại học Lâm nghiệp, các cơ quan, ban ngành liên quanđã tạo mọi điều kiện giúp tôi thực hiện đề tài.
Xin trân trọng cảm ơn TS Triệu Thái Hưng - Chủ nhiệm đề tài cấp Quốc gia đã cho phép tôi được sử dụng các số liệu nghiên cứu thí nghiệm trong luận văn.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới cơ quan, gia đình, bạn bè và những người luôn động viên, khích lệ tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Do kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên trong quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2019
Tác giả
Triệu Đình Lâm
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế gi i 3
1.1.1 Nghiên cứu về cộng đồng tới việc bảo tồn đa dạng sinh học 3
1.1.2 Một số nghiên cứu về cộng đồng địa phương và tài nguyên rừng 8
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Vi t Nam
10 1.2.1 Nghiên cứu về cộng đồng tới việc bảo tồn đa dạng sinh học 10
1.2.2 Một số nghiên cứu về cộng đồng địa phương và tài nguyên rừng 15
1.3 Một s kết luận rút ra t nghiên cứu tổng quan 17 Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
19 2.1.1 Mục tiêu chung 19
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 19
2.2 Đ i t ợng và phạm vi nghiên cứu
19 2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 19
2.3 Nội dung nghiên cứu
20 2.3.1 Nghiên cứu hiện trạng một số kiểu thảm thực vật tại rừng khu DTSQ quần đảo Cát Bà 20
2.3.2 Nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa cộng đồng với các hệ sinh thái rừng
Trang 5rừng và phát triển cây dược liệu 202.3.4 Đề xuất các giải pháp quản lý và sử dụng hợp lý TN, ĐDSH rừng ở khuDTSQ Cát Bà dựa vào cộng đồng. 20
2.4 Quan điểm và ph ng pháp nghiên cứu
20
Trang 62.4.1 Quan điểm và phương pháp luận 20
2.4.2 Phương pháp kế thừa số liệu 22
2.4.2 Phương pháp điều tra bổ sung về tài nguyên, ĐDSH hệ thực vật trên cạn 23
2.4.3 Xác định loài thực vật có giá trị bảo tồn và sử dụng 25
2.4.4 Phương pháp tổng hợp hiện trạng hệ sinh thái rừng, các thông tin về cộng đồng và thực trạng quản lý rừng trong Khu DTSQ quần đảo Cát Bà 25
2.4.5 Phuơng pháp đánh giá, phân tích mối quan hệ tương tác giữa cộng đồng và các hệ sinh thái rừng 26
2.4.6 Phương pháp nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo tồn bền vững, hài hòa cả về mặt tự nhiên và con người cho khu DTSQ quần đảo Cát Bà 27
2.4.7 Phương pháp phân tích số liệu 27
Chương 3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ -XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 29
3.1 Điều ki n tự nhiên
29 3.1.1 Vị trí địa lý 29
3.1.2 Địa hình địa mạo 29
3.1.3 Địa chất thổ nhưỡng 30
3.1.4 Khí hậu, thời tiết 31
3.2 Điều ki n kinh tế-xã hội
35 Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
4.1 Hi n trạng một s h sinh thái r ng điển hình khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà
38 4.1.1 Đa dạng thảm thực vật tại rừng khu DTSQ quần đảo Cát Bà 38
4.1.2 Đánh giá sự khác nhau về đa dạng sinh học giữa các kiểu thảm thực vật 42
4.2 Nghiên cứu ảnh h ởng của các nhóm cộng đồng địa ph ng đến vi c vi c sử dụng tài nguyên, đa dạng sinh học r ng trong khu DTSQ Cát Bà.
44 4.2.1 Ảnh hưởng của các nhóm cộng đồng địa phương đến việc việc sử dụng TN, ĐDSH rừng 44
Trang 74.2.4 Ảnh hưởng của hoạt động nuôi trồng thủy sản đến đa dạng Rừng ngập mặn
tại khu DTSQ Cát Bà 504.2.5 Hoạt động nông nghiệp 52
Trang 84.2.6 Nhận thức và thái độ của cộng đồng địa phương về việc sử dụng tài nguyên,
đa dạng sinh học rừng trong khu DTSQ Cát Bà 54
4.3 Tiềm năng sử dụng nguồn lợi LSNG thu hái t r ng và phát triển cây d ợc li u tại khu DTSQ Cát Bà
63 4.3.1 Thực trạng khai thác sử dụng các loài LSNG thu hái từ rừng Khu DTSQ quần đảo Cát Bà 63
4.3.2 Tiềm năng phát triển LSNG thu hái từ rừng và phát triển cây dược liệu tại khu DTSQ Cát Bà 70
4.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển cây dược liệu tại các xã vùng đệm VQG Cát Bà 77
4.3.4 Thuận lợi, khó khăn để phát triển cây dược liệu cho địa phương 81
4.4 Đề xuất các giải pháp quản lý và sử dụng hợp lý TN, ĐDSH r ng ở khu DTSQ Cát Bà dựa vào cộng đồng
83 4.4.1 Về mặt kinh tế 83
4.4.2 Về mặt xã hội 84
4.4.3 Về mặt môi trường 86
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 87
TÀI LIỆU THAM HẢO 91 PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3 1 Hiện trạng dân số và lao động các xã năm 2018 35
Bảng 3.2 Tình hình thu nhập của các xã năm 2018 36
Bảng 4.1 Chỉ số đa dạng Rẽnyi ở các kiểu thảm thực vật rừng 42
Bảng 4.2 Chỉ số tương đồng (SI) tầng cây gỗ của các kiểu thảm thực vật rừng 44
Bảng 4.3 Số lượt khách du lịch đến Cát Bà (ĐVT: triệu lượt) 48
Bảng 4.4 Đánh giá của cộng đồng về vai trò của cộng đồng với TNTN, ĐDSH 61
Bảng 4.6 Các loài cây dược liệu thường được khai thác tại VQG Cát Bà 63
Bảng 4.7 Danh sách các loài LSNG làm thức ăn thường được khai thác 65
Bảng 4.8 Danh sách một số LSNG làm cảnh thường được khai thác 66
Bảng 4.9 Giá cả một số loại LSNG được khai thác tại Cát Bà 68
Bảng 4.11 Đặc điểm một số loại đất chính khu vực VQG Cát Bà 74
Bảng 4.12 Thảm thực vật rừng và sử dụng đất 75
Bảng 4.13 Một số văn bản liên quan đến quản lý, sử dụng LSNG 79
Bảng 4.14 Sơ đồ phân tích SWOT về phát triển cây dược liệu 81
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ chỉ số đa dạng Rẽnyi của các kiểu thảm thực vật rừng khu DTSQ
quần đảo Cát Bà 43
Hình 4.2 Tỉ lệ % số hộ dân tham gia khai thác, sử dụng tài nguyên 55
Hình 4.3 Quan điểm về biến động của tài nguyên LSNG theo thời gian 56
Hình 4.4 Quan điểm về biến động nguồn tài nguyên LSNG 57
Hình 4.5 Quan điểm về biến động nguồn tài nguyên rừng ngập mặn 58
Hình 4.6 Biến động về tài nguyên cảnh quan theo thời gian 59
Hình 4.7 Đánh giá về mức độ tác động của các hoạt động sinh kế tại Cát Bà tới tài nguyên ĐDSH rừng 60
Hình 4.8 Tỉ lệ % các hộ tham gia khai thác LSNG tại VQG Cát Bà 67
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam vốn được biết đến như là quốc gia có nguồn tài nguyên phong phú
và đa dạng (Sterling, Hurley, & Le Duc Minh, 2007) Tuy nhiên, vì những hạn chếlịch sử và nhận thức chưa cao nên việc phát huy tối đa nguồn lực chưa thực sự manglại hiệu quả Chính vì mặt trái của các hoạt động phát triển Kinh tế-xã hội khôngbền vững đã làm suy giảm chất lượng môi trường và các chức năng sinh thái vốn cócủa tự nhiên Đặc biệt do thiếu nhận thức sâu sắc và đầy đủ tác động của các hoạtđộng sinh kế của cộng đồng dân cư địa phương đến nguồn tài nguyên ĐDSH nênchúng đang ngày càng suy giảm, nhiều loài biến mất hoặc trong tình trạng khó cóthể phục hồi Các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên luôn phải đối mặt vớirất nhiều nguy cơ tiềm ẩn như: khai thác quá giới hạn cho phép các tài nguyên thiênnhiên; quá trình đô thị hóa nhanh gây ô nhiễm môi trường, khó khăn trong việc xử
lý chất thải hay sức ép từ hoạt động du lịch… đây đều là những thách thức hàng đầucần được quan tâm giải quyết
Khu dự trữ sinh quyển (DTSQ) quần đảo Cát Bà là một trong 09 khu DTSQcủa Việt Nam, được thế giới công nhận ngày 02 tháng 12 năm 2004 Quần đảo Cát
Bà là Trung tâm đa dạng sinh học cao của thế giới với nhiều loài quý hiếm có giá trịtoàn cầu được Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) xếp loại Cũng giốngnhư một số khu bảo tồn ĐDSH khác, các hệ sinh thái đặc trưng của khu DTSQ Cát
Bà luôn phải đối mặt với nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học trước áp lực của việcphát triển nhanh kinh tế xã hội Rừng tự nhiên bị suy thoái do khai thác quá mức,các loài động thực vật suy giảm số lượng, một số loài động vật quý hiếm, đặc trưngcủa Cát Bà ngày càng hiếm gặp Để giải quyết tốt vấn đề này đòi hỏi có sự kết hợphài hòa giữa các nhóm giải pháp khác nhau Trong đó, nhân tố tăng cường nhậnthức cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy bảo vệ môi trường bềnvững Theo Nguyễn Thế Thôn (1993, 2000), cộng đồng là nhân tố quyết định rấtlớn đến sự duy trì và phát triển tài nguyên, bảo vệ đa dạng sinh học Kinh nghiệmquản lý bảo tồn trên thế giới cũng chỉ ra rằng trong công tác bảo tồn đa dạng sinhhọc cần có sự tham gia tích cực của cộng đồng, trên cơ sở nhận thức và sáng kiến
Trang 13của địa phương trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên Kinh nghiệm thực tiễn tạiViệt Nam cũng cho thấy việc phát triển mô hình cộng đồng bảo tồn và sử dụng hợp
lý tài nguyên, đa dạng sinh học sẽ góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng trongcác khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên,… đồng thờinâng cao đời sống người dân địa phương, thúc đẩy sự phát triển bền vững, hài hòagiữa con người và thiên nhiên tại khu vực
Tuy nhiên, mỗi một khu bảo tồn, vườn quốc gia lại có những đặc thù riêng về
hệ sinh thái, điều kiện kinh tế xã hội… dẫn đến những nét đặc trưng trong các môhình bảo tồn, thậm chí tập quán thói quen sinh hoạt của cộng đồng địa phương tạikhu vực bảo tồn cũng là một trong những yếu tố cần quan tâm khi muốn xây dựngnhững mô hình bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng thành công Chính vì vậy, đề
tài: “Nghiên cứu m i quan h t ng tác giữa cộng đồng v i các h sinh thái
r ng trong Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà”được thực hiện nhằm góp
phần bổ sung một số cơ sở khoa học và giải pháp bảo tồn các diện tích rừng có giá trị cao
về sinh thái, môi trường và kinh tế-xã hội tại khu DTSQ quần đảo Cát Bà
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về cộng đồng t i vi c bảo tồn đa dạng sinh học
1.1.1.1 Đánh giá nhận thức, thái độ và tác động của cộng đồng địa phương tới việc bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH)
Các nội dung ảnh hưởng đến nhận thức và thái độ của cộng đồng trong bảo tồntài nguyên thiên nhiên và động vật hoang dã thường được đánh giá bao gồm sự khácbiệt về nhận thức theo giới tính, dân tộc hay nhóm cộng đồng thiểu số, vị trí địa lícủa các làng hay khu vực sinh sống của các nhóm cộng đồng dân cư, điều kiện sốngcủa người dân sống quanh sinh cảnh và trình độ học vấn Các nghiên cứu đã chothấy sự khác biệt về nhận thức và thái độ giữa các nhóm cộng đồng theo những nộidung trên và chỉ ra rằng khi thiết kế các chương trình giáo dục bảo tồn và nâng caonhận thức cần phù hợp đối với từng cộng đồng dân cư (Caro và cs, 1994; Padua,1994; Engels và Jacobson, 2001; Johnson-Pynn và Johnson, 2005; Rajakaruna và
cs, 2009)
Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong các hoạt động bảo tồn
Theo Roe và cs (2000), phương thức bảo tồn truyền thống và có sự tham giađều có tính hạn chế Cụ thể, phương thức truyền thống không giải quyết được lợiích giữa các bên liên quan, và người dân không có quyền làm chủ các khu rừng mà
họ đã sử dụng lâu đời Tuy nhiên, phương thức có sự tham gia tùy thuộc rất nhiều
Trang 15vào cơ chế chính sách trong quản lý tài nguyên (Fred, 2009); tính minh bạch trongquá trình xây dựng cơ chế hưởng lợi và tiềm năng về tính không hiệu quả của cơchế; thiếu nguồn tài trợ thích hợp và khả năng quản lý của cộng đồng địa phươngvẫn là những vấn đề cần phải bàn.Để làm rõ hơn vấn đề này, Adams và Hulme(2001) lập luận rằng vấn đề quan trọng ở đây là đặt ra câu hỏi “Ai sẽ thiết lập cácmục tiêu cho chính sách bảo tồn? và làm thế nào để có sự thỏa hiệp giữa các mụctiêu khác nhau của các nhóm lợi ích khác nhau? Sự tham gia của cộng đồng địaphương vào quản lý các KBT ở mức độ nào là thích hợp? Trách nhiệm của cộngđồng địa phương cần được thể hiện như thế nào trong tất cả các hoạt động liên quanđến lợi ích chung của khu bảo tồn? Làm thế nào để hỗ trợ cộng đồng địa phương lập
kế hoạch quản lý lâu dài và xác lập cơ chế hưởng lợi rõ ràng, minh bạch, công bằng,đơn giản là những vấn đề rất cần phải tính đến
Trong những thập kỷ qua, các phương thức bảo tồn ở những nước đang pháttriển đã được cách mạng hoá bằng một loạt các ý tưởng liên quan đến cộng đồng địaphương sinh sống trong và xung quanh các khu bảo tồn Người dân và cộng đồngđịa phương sinh sống trong và gần các khu bảo tồn ở các nước đang phát triểnthường rất nghèo, và họ có ít cơ hội để phát triển (Scherl và Edwards, 2007) Vìvậy, sinh kế của họ phụ thuộc rất nhiều vào khai thác tài nguyên nhiên nhiên Tuynhiên, việc thành lập mạng lưới các khu bảo tồn đã ngăn cản họ sử dụng tài nguyênnhiên nhiên mà họ đã khai thác và sử dụng lâu đời Hơn thế nữa, thành lập các khubảo tồn thường làm hạn chế các cơ hội sử dụng đất trong tương lai, làm tăng chi phísản xuất và giảm cơ hội phát triển kinh tế cho người dân địa phương Hậu quả làngười dân địa phương săn bắt động vật hoang dã và khai thác gỗ bên trong các khubảo tồn là điều hiển nhiên (Stolton và cs, 1999)
Từ những vấn đề trên, các sáng kiến về bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh họctheo hướng phát triển bền vững đã ra đời Những sáng kiến này được đề cập đếnbằng nhiều thuật ngữ khác nhau như bảo tồn và phát triển tổng hợp, đồng quản lý,bảo tồn dựa vào cộng đồng, bản thỏa thuận chia sẻ lợi ích và sử dụng bền vững tàinguyên rừng Điều này được thể hiện qua sự thay đổi hình thức trong quản lý rừng
và phân quyền trong quản lý các khu bảo tồn của IUCN Dudley (2008) cung cấp
Trang 16một hệ thống phân loại về cách sắp xếp quản lý có thể làm việc một cách liên tục từtrách nhiệm quản lý duy nhất của một cơ quan duy nhất (bảo tồn truyền thống)thông qua các thoả thuận đồng quản lý (có sự tham gia bảo tồn) để bàn giao tất cảtrách nhiệm cho cộng đồng (bảo tồn dựa vào cộng đồng) Bên cạnh đó, Dudley(2008) cũng nhấn mạnh rằng một khu bảo tồn thiên nhiên phải có sự công bằng giữachi phí và lợi ích giữa các bên liên quan, trong đó chú trọng đảm bảo lợi ích củacộng đồng địa phương và đồng bào dân tộc ít người.
Những hình thái quản lý rừng này đã bước đầu có những ảnh hưởng tích cựcđến các mục tiêu quản lý của khu bảo tồn, đảm bảo an ninh sinh kế cho cộng đồng
và giảm thiểu mẫu thuẫn giữa ban quản lý khu bảo tồn và cộng đồng địa phương, vàgiảm áp lực hỗ trợ tài chính cho các nhà tài trợ Việc này đã được chứng minh ở một
số nơi, điển hình là Nam Phi qua việc phân quyền quản lý tài nguyên thiên nhiêncho cộng đồng địa phương, đã đóng góp rất lớn vào phục hồi tài nguyên rừng vàđộng vật hoang dã
1.1.1.2 Vai trò của cộng đồng địa phương tới việc bảo tồn ĐDSH
Sự tham gia của người dân địa phương và bản địa trong quản lý đa dạng sinh
học là cần thiết bởi hai lý do có tính nguyên tắc Thứ nhất là nếu thiếu điều này, sự bền vững lâu dài của nhiều hệ sinh thái sẽ bị đe doạ Thứ hai là người dân địa
phương và bản địa có quyền được hưởng lợi nhờ sử dụng bền vững đa dạng sinhhọc cho sinh kế, nghỉ dưỡng, các nhu cầu văn hoá xã hội và các lý do tâm linh của
họ Tuy nhiên đây là những lý do chính nhất cho sự tham gia của địa phương vàoquản lý đa dạng sinh học còn rất nhiều những lợi ích về quản lý khác cũng cần đượccân nhắc
Những quyết định về quy hoạch, kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học sẽ ảnhhưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống cộng đồng Những người trong cộng đồngchịu ảnh hưởng do sống, làm việc, học tập và thường qua lại trong khu vực đó Do
đó, sự cần thiết phải có được những ý kiến của họ về những gì họ đang làm, những
gì họ đang muốn có và trong nhiều trường hợp chính cộng đồng là những người raquyết định Thực tiễn đã cho thấy nếu những kế hoạch và phát triển đa dạng sinh
Trang 17học phù hợp với nguyện vọng và nhu cầu của cộng đồng thì cộng đồng cũng sẽ tự hào về xử sự của mình.
Việc tư vấn của cộng đồng đòi hỏi 2 yếu tố quan trọng:
- Thông tin thu được từ cộng đồng về ý kiến, thái độ của họ phải được chuyển tớicác nhà lập kế hoạch/quy hoạch, các nhà ra quyết định Về phần mình, các nhà ra quyết định,lập quy hoạch/kế hoạch có trách nhiệm thu thận các thông tin này một cách nghiêm túc vàxem xét trong mối quan hệ với quá trình lập kế hoạch/quy hoạch
- Các nhà lập kế hoạch, quy hoạch thông qua việc tham dự các cuộc họp toàndân để nghe ý kiến cộng đồng, hoặc những ý kiến cộng đồng được trình bày báo cáo, cótrách nhiệm phải đảm bảo giúp cộng đồng hiểu được ý kiến của họ đóng góp
cho các bản kế hoạch bảo tồn, phải có trách nhiệm đạt được thoả hiệp qua việc giảithích cho cộng đồng hiểu được lý do và chấp nhận việc ra quyết định như vậy.Nhìn chung, tiến trình có sự tham gia của cộng đồng góp phần xây dựng một
xã hội trong đó các bên liên quan ở địa phương tự mình gánh vác các chức năng vàtrách nhiệm xã hội Tuy nhiên, cần nhận thức được rằng sự tham gia của cộng đồngđịa phương trong các hình thức quản lý ngoài các lợi ích cũng có thể đòi hỏi phải cócác chi phí nhất định
Cộng đồng địa phương cùng bàn bạc để tìm ra các giải pháp bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học;
Cộng đồng địa phương là những người thực hiện việc bảo tồn và phát triển
đa dạng sinh học;
Cộng đồng địa phương là người theo dõi, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện các giải pháp bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học;
Cộng đồng địa phương là những người quản lý tài nguyên đa dạng sinh học.
Trong mọi hoạt động quản lý tài nguyên nói chung và quản lý đa dạng sinhhọc nói riêng, sự tham gia của cộng đồng là giải pháp đảm bảo hiệu quả cao Ngườidân địa phương đã thực hiện quản lý rừng qua nhiều thế kỷ và các tập quán truyềnthống của các nhóm dân tộc thiểu số là rất quý đối với việc quản lý đất rừng và bảotồn đa dạng sinh học
Trang 181.1.1.3 Công tác quản lý bảo vệ rừng của cộng đồng tới việc bảo tồn ĐDSH
Trên thế giới bảo tồn ĐDSH ở mọi mức độ về cơ bản là duy trì các quần thểloài đang tồn tại và phát triển Công việc này có thể được tiến hành bên trong hoặcbên ngoài nơi sống tự nhiên Hiện nay, cách thức và nguyên tắc để bảo tồn đa dạngsinh học được các nước áp dụng đó là bảo tồn nguyên vị (insitu) và bảo tồn chuyển
vị (ex-situ)
* Bảo tồn in-situ: Đây là một trong những hình thức bảo tồn được áp dụng phổbiến nhất tại nhiều quốc gia Hình thức này được áp dụng cho tất cả mọi đối tượng cầnđược bảo tồn, những đối tượng chưa có nguy cơ tuyệt chủng hoặc xâm hại, hoặc trongđiều kiện con người có thể can thiệp bằng các biện pháp để quản lý, bảo vệ Thôngthường bảo tồn nguyên vị được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và đề xuấtcác bịên pháp quản lý phù hợp
Ưu điểm của hình thức bảo tồn này là: chi phí thấp, phù hợp với điều kiện môitrường sống tự nhiên của các loài nên đảm bảo cho sự sinh trưởng và phát triển Tuynhiên, hình thức bảo tồn này cũng có những nhược điểm đó là: có thể xảy ra nhữngnguy cơ, rủi ro, thảm họa do con người hoặc tự nhiên gây ra bất cứ lúc nào
* Bảo tồn chuyển vị (ex-situ) là cách thức di chuyển đối tượng bảo tồn khỏi vịtrí mà chúng tồn tại Thường cách thức này được áp dụng đối với những đối tượng cónguy cơ bị đe dọa và tuyệt chủng cao, những loài đặc biệt quý hiếm trong tự nhiên, hoặcphân bố ở những nơi xa xôi, địa hình hiểm trở khó tiếp cận
Với hình thức bảo tồn chuyển vị, đối tượng bảo tồn có thể được lưu giữ trongngân hàng gien, bảo tàng hoặc cũng có thể di chuyển đối tượng cần bảo tồn đến vịtrí, địa điểm phù hợp Tuy nhiên, ưu điểm là khắc phục được những nhược điểm củahình thức bảo tồn nguyên vị, bảo tồn được tiêu bản của đối tượng lúc thu thập và cóthể lưu giữ lâu dài trong tương lai, tránh được những rủi ro do thiên nhiên gây ra.Bên cạnh đó, phương pháp này không chỉ làm tăng số lượng các quần thể, cá thể màcòn tránh được các nguy cơ suy thoái trong các giống, loài bản địa
Theo cách truyền thống, ban quản lý các VQG, KBT tập trung gìn giữ nhữnggiá trị đa dạng sinh học và họ không cho phép cộng đồng địa phương tham gia vào
Trang 19quá trình ra quyết định và chia sẻ lợi ích các giá trị tài nguyên Cách tiếp cận này đãđược hiểu như những rào cản và hình phạt (Williams và Albon, 1988) Colchester(1998) và Martin (1999) cho rằng cách thức quản lý này đã làm người dân địaphương xa lánh các khu bảo tồn và dẫn đến việc mất các giá trị về đa dạng sinh học,người dân địa phương vi phạm pháp luật bảo vệ rừng và mâu thuẫn với ban quản lýcác khu bảo tồn.
1.1.2 Một s nghiên cứu về cộng đồng địa ph ng và tài nguyên r ng
1.1.2.1 Những nghiên cứu về thực trạng quản lý rừng
Những nghiên cứu của Eva Wollenberg và cs (2004) ở Ấn độ cho thấy BộLâm nghiệp nước này cho phép người dân được trực tiếp tiếp cận với sản phẩmrừng, đất rừng, lợi ích từ tài nguyên rừng Ngược lại, Nhà nước cho phép người dânhợp tác với họ để quản lý rừng thông qua việc bảo vệ rừng hoặc trồng rừng, yêu cầungười dân chia sẻ lợi nhuận với các cơ quan quản lý rừng của Nhà nước Thông quaviệc chia sẻ quyền lợi giữa các nhóm người địa phương với Nhà nước, các chươngtrình Dự án cũng đã giúp hòa giải sự tranh chấp nguồn tài nguyên giữa người dân vàNhà nước
Ở Uganda khi tiến hành nghiên cứu về lĩnh vực đồng quản lý rừng tại Vườnquốc gia Bwindi Impenetrable và MgaHinga Gorilla hai nhà nghiên cứu Wild và Mutebi(1996) cho thấy hợp tác quản lý được thực hiện giữa ban quản lý VQG và cộng đồng dân
cư Hai bên thỏa thuận ký kết Quy ước cho phép người dân khai thác bền vững một sốlâm sản, đồng thời có nghĩa vụ tham gia quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trên địabàn của cộng đồng
Thái Lan được các nước trong khu vực và trên Thế giới đánh giá cao vềnhững thành tựu trong công tác xây dựng các chương trình BVR trên cơ sở cộngđồng Ở đây, đất đai được thông qua chương trình làng rừng, hộ nông dân được giaođất nông nghiệp, đất thổ cư, đất để trồng rừng Người nông dân được chính phủ cấpGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có nghĩa vụ và trách nhiệm quản lý đất,không được chặt cây hoặc sử dụng cây rừng Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất đã làm tăng độ an toàn cho người được nhận đất Do vậy ảnh hưởng tíchcực đến việc khuyến khích đầu tư và tăng khả năng sản xuất của đất
Trang 201.1.2.2 Những nghiên cứu về thực trạng sử dụng tài nguyên rừng của cộng đồng ở địa phương
Ở Nepal, một số nghiên cứu về đánh giá tác động của các hoạt động bảo tồn
và động vật hoang dã đến bảo tồn ĐDSH tại VQG Bardia và vùng đệm phía tâyNepal đã được thực hiện Nghiên cứu khẳng định, 73% người dân địa phương sốngtrong khu vực phụ thuộc vào nông nghiệp, nguồn chất đốt và thức ăn
Ở Madagascar, Shuchenmann 1999 đã đưa ra một ví dụ ở Vườn Quốc giaAndringitra Chính phủ có Nghị định đảm bảo các quyền của người dân như: quyềnchăn thả gia súc, khai thác tài nguyên từ rừng phục hồi để sử dụng tại chỗ, cho phépgiữ gìn những tập quán truyền thống khác như có thể giữ gìn các điểm thờ thầnrừng Để đạt được những thỏa thuận trên, người dân phải đảm bảo tham gia bảo vệ
sự ổn định của các hệ sinh thái trong khu vực
1.1.2.3.Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa cộng đồng người dân vào tài nguyên rừng trong các VQG, khu BTTN.
Bink Man W (1988) tnghiên cứu tại làng Ban Pong, Thái Lan chỉ ra rằng cáctầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyênlâm sản như: củi đun và hoa quả trong rừng Tuy nhiên đây là một minh họa rất cầnthiết của người dân địa phương tham gia vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự ánphát triển (FAO, 1996)
Ở Nepal, đã có một số mô hình thành công về chương trình Bảo tồn ĐDSHtheo hướng toàn cầu Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng của cuộc xung đột vũ trang tronggần một thạp kỷ đã tác động xấu đến các hoạt động bảo tồn và số lượng động vật hoang dã
Ở Ấn Độ, diện tích đất Lâm nghiệp đứng thứ 2 sau diện tích đất nông nghiệp,
và là nơi ước tính có 275 triệu người dân địa phương ở các vùng nông thôn phụthuộc vào rừng Một nghiên cứu về Lâm nghiệp cộng đồng bên ngoài khu rừng đặcdụng đã chỉ ra rằng các khu rừng không chỉ cung cấp tiềm năng to lớn để xóa đóigiảm nghèo và tăng trưởng kinh tế nông thôn ở Ấn Độ mà vẫn hỗ trợ tốt mục tiêuquan trọng là bảo tồn
Trang 21Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn ĐDSH và phát triển đã trở thành vấn đềnổi lên trong các cuộc Hội thảo, diễn đàn khoa học trong những năm gần đây Vàotháng 6 năm 1992, tại Hội nghị Liên hiệp quốc tế về Môi trường và Phát triển bềnvững ở Rio De Janeiro, vấn đề này đã chính thức được công nhận.
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu về cộng đồng t i vi c bảo tồn đa dạng sinh học
1.2.1.1 Đánh giá vai trò của cộng đồng địa phương
Cộng đồng v i vai trò là chủ r ng
Quyền sử dụng đất và quyền sử dụng rừng đều thuộc về cộng động Nhà nướccông nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng ổ định, lâu dài cho cộng đồng.Cộng đồng quản lý rừng thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng chung
của họ được hình thành theo ba cách: thứ nhất là tính cộng đồng rất cao thể hiện rõ nét ở các phương thức tổ chức lao động và ứng xử xã hội; thứ hai là tính di chuyển trong canh tác (du canh, du cư) và thứ ba là các lễ thức nông nghi p gắn chặt với
các công đoạn sản xuất trong chu trình canh tác Sinh hoạt nghi lễ trong nôngnghiệp là những phong tục, tập quán rất đặc thù do sự chi phối của hoàn cảnh môitrường sống và bản sắc dân tộc Trong tất cả các sinh hoạt mang tính phong tục đó,vai trò của già làng, trưởng bản và các chức sắc như thầy mo, thầy cúng là rất quantrọng Cộng đồng được khai thác lâm sản và các lợi ích khác của rừng phục vụ chomục đích công cộng và cung cấp gỗ gia dụng cho các thành viên trong cộng đồng.Cộng đồng được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích đất rừngthuộc quyền sử dụng của họ Hình thức này được gọi là quản lý rừng cộng đồng
Cộng đồng v i vai trò là bên liên quan
Quyền sử dụng đất và rừng không thuộc về cộng đồng mà thuộc về nhà nướchoặc các thành phần kinh tế khác nhưng lại có quan hệ trực tiếp đến đời sống, việclàm, thu nhập và các lợi ích khác của cộng đồng
Cộng đồng tham gia quản lý rừng dưới các hình thức: hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau,nhận khoán, làm theo hợp đồng và hưởng các lợi ích từ rừng theo thoả thuận
Trang 22Cộng đồng tham gia quản lý rừng với tư cách là một bên liên quan trực tiếp.Hình thức này gọi là quản lý rừng dựa vào cộng đồng.
Cộng đồng v i vai trò là nguồn nhân lực
Cộng đồng bản địa là nguồn lao động tại chổ rẻ tiền nhất, có khả năng tốt nhất
và hiệu quả nhất trong để quản lý rừng vì những thế mạnh sau đây:
Các hoạt động quản lý rừng chủ yếu tập trung vào việc: bảo vệ, khoanh nuôi,xúc tiến tái sinh tự nhiên, … Đây là những công việc không đòi hỏi yêu cầu kỹthuật phức tạp, rất dễ tiếp thu, thích hợp với trình độ của người dân
Các hoạt động sống truyền thống của cộng đồng vốn đã gắn liền với tàinguyên rừng, do đó: cộng đồng có kiến thức bản địa phong phú; họ là người hiểurừng sâu sắc hơn ai hết và cũng không có ai có khả năng quản lý, bảo vệ rừng tốthơn họ
Các hoạt đồng quản lý rừng mà cộng đồng tham gia, gắn với và/hoặc liên quanchặt chẽ với các hoạt động sinh kế hàng ngày của họ cho nên các chủ rừng khi thuê
họ không cần phải trả thù lao quá cao nếu thuê lao động từ nơi khác đến
Cộng đồng có vai trò nghĩa vụ trong quản lý, bảo tồn tài nguyên, ĐDSH và
Cộng đồng có trách nhiệm tuân thủ các qui định của pháp luật và qui ước,hương ước (nếu có) trong quản lý rừng
* Theo đề tài nghiên cứu thì quá trình quản lý rừng, bảo tồn ĐDSH cấu thànhbởi 5 thành tố liên quan chặt chẽ với nhau, bao gồm các vấn đề mang tính phương
pháp luận về kỹ thuật và xã hội Cả 5 thành tố này liên quan chặt chẽ với nhau và cần được áp dụng kết hợp với nhau một cách đồng bộ Không một thành tố nào bị
Trang 23thiếu mà không kéo theo sự thay đổi của các thành tố khác Tuy nhiên, chỉ riêng cácthành tố này cũng không thể dẫn đến kết quả mong muốn Chúng cần phải được liênkết với các giải pháp kinh tế-xã hội và các quan điểm, phương pháp tiếp cận tạothành một hệ thống để 5 thành tố đó là:
(1)Kế hoạch quản lý: đây là cẩm nang của quá trình quản lý rừng, nó phải
được xây dựng dựa trên cơ sở thỏa thuận của tất cả các bên liên quan và chia sẻ sựđiều chỉnh về lợi ích và trách nhiệm của các đối tác nhằm quản lý tài nguyên mộtcách bền vững với sự tham gia của tất cả các bên liên quan Chi tiết về nội dung củaphương án điều chế sẽ trình bày ở phần sau
(2) C chế giải quyết xung đột: bao gồm các nguyên tắc và qui chế để phân
tích và cân bằng các lợi ích của các bên liên quan khi xảy ra các xung đột hoặc tranhchấp; đặc biệt là khi có sự đối lập giữa lợi ích của sự bảo tồn và phát triển
(3) Phát triển các kỹ thuật có sự tham gia: Cộng đồng dân địa phương được
khuyến khích tham gia vào quá trình phát triển các kỹ thuật, các sáng kiến về kinh tế và
xã hội để hỗ trợ cho quá trình quản lý rừng Mục đích cuối cùng của các giải pháp này làtạo ra được các cơ hội để nâng cao thu nhập cho người dân và QLRBV
(4) Phát triển tổ chức cộng đồng: Cộng đồng thôn bản, sống trong và gần
rừng được thừa nhận có vai trò quan trọng trong QLRBV, vì vậy nâng cao năng lực củacộng đồng là hết sức cần thiết Việc đào tạo nâng cao năng lực tổ chức và quản lý củacộng đồng, đặc biệt là năng lực của người lãnh đạo cộng đồng để họ có khả năng đại diệnđược cho cộng đồng bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ trong quá
trình tham gia QLRBV
(5) T vấn bảo tồn tài nguyên: Các kiến thức khoa học kỹ thuật cần phải được
chuyển giao đến cho người dân Điều đó sẽ cải thiện nhận thức của người dân đối với cácquá trình sinh thái nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên; đấu tranh với các hành
vi sử dụng quá tải tài nguyên; tàn phá môi trường và sử dụng đất bền vững hơn.5 thành tốcủa quản lý rừng đa mục đích được hình thành trên 3 quan điểm: hỗ trợ cộng đồng, xoáđói giảm nghèo và bền vững cùng với hai phương pháp tiếp cận đó là tiếp cận hệ thống
và tiếp cận có sự tham gia và giới
Trang 241.2.1.2 Công tác quản lý bảo vệ rừng của cộng đồng tới việc bảo tồn ĐDSH
Cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng chủ yếu là các cộng đồng cư trú tạivùng sâu, vùng xa; sản xuất chủ yếu là tự cung, tự cấp; đồng bào các dân tộc thiểu
số chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu dân số; nơi còn duy trì nhiều phong tục, tập quán củadân tộc mình; cuộc sống của các thành viên cộng đồng gắn bó, chưa bị tác độngnhiều bởi cơ chế thị trường đồng thời, vai trò của già làng, trưởng bản còn có tácdụng quan trọng trong việc tổ chức và chỉ đạo các công việc của cộng đồng Rừngcộng đồng hiện đang tồn tại mang tính khách quan vàcó vị trí quan trọng trong hệthống quản lý tài nguyên ĐDSH ở Việt Nam
Rừng cộng đồng có 3 nguồn gốc hình thành tạo nên tính phức tạp và đa dạnggồm: i) Rừng cộng đồng hình thành từ lâu đời qua nhiều thế hệ; ii) Rừng cộng đồnghình thành từ khi chính quyền địa phương thực hiện giao đất, giao rừng cho cộngđồng quản lý, sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; và iii) Rừng và đất rừng docộng đồng nhận khoán bảo vệ, khoanhnuôi tái sinh và trồng rừng của các tổ chứcnhà nước
Đi sâu nghiên cứu cho thấy, mức độ tham gia của cộng đồng vào việc bảo vệ
vi phạm quy ước Rừng của cộng đồng được quản lý, bảo vệ phù hợp với kế hoạch
và quy ước quản lý bảo vệ rừng Cộng đồng có thu nhập từ rừng để lập quỹ bảo vệ rừng, không nhận tiền hỗ trợ của Nhà nước;
Thứ hai, cộng đồng xây dựng kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất (ở nơi nào có
dự án nước ngoài tài trợ), quy ước quản lý và bảo vệ rừng nhưng mức độ tham gia củacác thành viên trong cộng đồng chưa đồng đều, vẫn nhận sự hỗ trợ của Nhà nước;
Thứ ba, cộng đồng chưa có quy ước quản lý và bảo vệ rừng, chưa có kế
hoạch sử dụng đất và quản lý rừng hoặc đã có nhưng sơ sài, việc xây dựng quy ước
Trang 25chỉ là hình thức, chiếu lệ, không được triển khai trong thực tế Cộng đồng quản lýrừng một cách giản đơn, hầu như không có tác động bằng các giải pháp lâm sinhvào rừng, chủ yếu là tuần tra bảo vệ rừng Rừng cộng đồng vẫn bị xâm lấn hoặckhai thác trái phép.
Qua những dẫn chứng trên cho thấy, các dân tộc thiểu số đều có tập quán quản
lý đất đai và tài nguyên theo cộng đồng Những tập quán ấy là một phần luật tục cổtruyền của cộng đồng dân tộc giúp họ quản lý cộng đồng trong quá trình bảo tồn vàphát triển
Đặc trưng của luật tục là chứa đựng các quy tắc ứng xử chung, điều chỉnh cácquan hệ xã hội phát sinh trong cộng đồng dân tộc thiểu số, được cộng đồng bảo đảmthực hiện Nội dung của luật tục gồm một hệ thống phong phú các quy phạm xã hộiphản ánh các chuẩn mực của phong tục tập quán, ý chí, nguyện vọng của cộng đồngdân cư
Luật tục là một sản phẩm của xã hội cổ truyền, gắn với cơ cấu xã hội mà ở đógia đình, thôn giữ vai trò then chốt trong hệ thống xã hội Luật tục đã từng phát huyvai trò liên kết cộng đồng và điều hòa mối quan hệ con người với con người và conngười với thiên nhiên Luật tục thường thiên về đề cao trách nhiệm của các thànhviên trong thôn và dẫu có hình thức phạt nhưng thường là hợp lý, hợp tình Luật tục
có thể coi là biểu hiện thái độ ứng xử của con người đối với môi trường tự nhiên vàđối với cộng đồng xã hội Nó được hình thành trong quá trình phát triển của lịch sửdân tộc trên cơ sở những kinh nghiệm tích lũytừ đời này sang đời khác, được bổsung qua nhiều thế hệ và trở thành hình thái văn hóa- pháp luật đặc biệt của một dântộc, giúp dân tộc đó phát triển một cách bền vững, lâu dài Bởi vậy, luật tục của mộtdân tộc cũng chứa đựng những yếu tố hợp lý đặc biệt trong không gian xã hội vănhóa riêng của dân tộc đó
Đánh giá hiệu quả của công tác bảo vệ các KBT ở Việt Nam, Nguyễn Bá Thụ(1997) đã nhận định: Công tác này phụ thuộc rất nhiều vào việc giải quyết nhữngvấn đề tồn tại trên vùng đệm gồm nâng cao đời sống của nhân dân vùng đệm,chuyển đổi hoặc thay thế tập quán dùng củi, gỗ bừa bãi lãng phí của người dân sống
Trang 26trên vùng đệm; nâng cao trình độ kỹ thuật canh tác nông lâm nghiệp, đẩy mạnhthâm canh, nâng cao năng suất cây trồng, nhanh chóng từ bỏ lối canh tác du canh,quảng canh, nâng cao trình độ hiểu biết về bảo tồn, sử dụng hợp lý và bền vững tàinguyên cho người dân địa phương.
Đối với VQG Cát Bà, từ năm 1995 tới nay, Quần đảo Cát Bà đã trải qua mộtdòng đầu tư đều đặn khoảng 45 dự án nhỏ về bảo tồn, phát triển cộng đồng và cácchương trình nghiên cứu với tổng giá trị đầu tư ước tính lên tới 1.485.000 đô la Mỹ.Những dự án này tập trung vào nâng cao thực thi pháp luật cho VQG Cát Bà; nâng caonăng lực cho chính quyền địa phương về quản lý tài nguyên thiên nhiên; giáo dục môitrường, tìm kiếm phương kế thay thế, chính sách phát triển cộng đồng cho cộng đồngđịa phương và xúc tiến phát triển du lịch cho Quần đảo Cát Bà (Brooks 2006)
1.2.2 Một s nghiên cứu về cộng đồng địa ph ng và tài nguyên r ng
1.1.2.1 Nghiên cứu về thực trạng quản lý tài nguyên rừng với sự tham gia của người dân địa phương.
Bùi Minh Vũ trong 2 năm (1998-1999), đã tiến hành một nghiên cứu tại KhuBTNN và 8 VQG Đề tài đánh giá điều kiện tự nhiên, tính ĐDSH và KT-XH củacác điểm điều tra và đề xuất 3 tiêu chuẩn xác định vùng đệm, đó là: Đường ranhgiới phía trong và phía ngoài vùng đệm tối thiểu là 1 km và tối đa là 10 km; Quy môđất đai của vùng đệm; Về dân số, lao động và dân tộc Các đề xuất và khuyến nghịcủa nghiên cứu mang tính phương hướng, chưa cụ thể
Năm 2007, tại Khu BTNN Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, Ngô Ngọc Tuyên đãđánh giá hiện trangsử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên Tác giả cho rằng, cácchương trình thực hiện tại KBT Na Hang, Tuyên Quang chưa hoạt động hiệu quả,
đã không cải thiện được cuộc sống của người dân và không hạn chế được sự tácđộng của ngườidân vào TNR Lý do chính là các chương trình đó đã không làm thỏamãn nhu cầu của cộng đồng tong khu vực
D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999), đã thực hiện một nghiên cứu vềquản lý vùng đệm tại 3 VQG: Ba Vì, Bạch Mã và Cát Tiên Kết quả nghiên cứu đãphản ánh khá rõ nét thực trạng vùng đệm ở Việt Nam như: Tình hình KT-XH, tình
Trang 27trạng bảo tồn tại các VQG và vùng đệm; hoạt động phát triển trong các vùng đệm;
tổ chức, thể chế cho quản lý vùng đệm
1.1.2.2 Nghiên cứu về thực trạng sử dụng TNR của người dân ở địa hương
Nguyễn Thị Phương (2003) khi "Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa
phương vùng đệm đến tài nguyên rừng VQG Ba Vì-Hà Tây"đã chỉ ra rằng: Cộng
đồng ở đây sống chủ yếu bằng nghề nông nhưng diện tích đất nông nghiệp rất ít vànang suất lúa thấp Vì vậy, để giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày họ tác độngtới tài nguyên rừng dưới nhiều hình thức như: sử dụng đất rừng để sản xuất hànghóa, khai thác sản phẩm với mục đích tiêu dùng, chăn thả gia súc… trong đó hìnhthức sử dụng đất rừng để sản xuất hàng hóa cho tỷ trọng thu nhập cao nhất trong cơcấu thu nhập của cộng đồng (36,4%)
Báo cáo của Phan Thị Anh Đào (2002) thực hiện tại huyện Mù Cang Chải,tỉnh Yên Bái đã phân tích mối quan hễ giữa cộng đồng người dân bản địa với các hệsinh thái, tập trung vào các hệ sinh thái cung cấp các loại tài nguyên bán hoang dại/hoang dại Báo cáo cũng phân tích mối liên quan giữa việc sử dụng tài nguyên vớikhả năng phục hồi, tính chống chịu của các hệ sinh thái tự nhiên này
Ngô Ngọc Tuyên (2007), đã lượng hóa thể hiện sinh động ảnh hưởng của cácyếu tố sản xuất đến tổng thu nhập của hộ gia đình cũng như mối quan hệ giữa tổngthu nhập với các nhân tố trong khai thác TNR thông qua việc thực hiện nghiên cứutác động của người dân địa phương đến TNR tại Khu BTTN Na Hang, TuyênQuang Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, để giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày
người dân đã tác động tới TNR dưới nhiều hình thức song "sử dụng tài nguyên rừng"
là hình thức có tác động bất lợi nhất, các dân tộc khác nhau thì mức độ tác động
cũng khác nhau Nghiên cứu đã sử dụng hàm Cobb-Douglas để phân tích ảnh hưởngcủa các yếu tố đến thu nhập của HGĐ
Trần Ngọc Hải và cộng sự đã đánh giá vai trò kinh tế của lâm sản ngoài gỗ(LSNG) ở 2 thôn người Dao tại xã Ba Vì Tác giả cho rằng, LSNG, đặc biệt là nhómtre, bương và cây dược liệu đóng vai trò rất quan trọng trong kinh tế hộ gia đình
Kết quả nghiên cứu của Trần Ngọc Lân (1999), Đỗ Anh Tuân (2001) đượcthực hiện tại Khu BTTN Pù Mát đã đưa ra một số kết luận rằng: (1) Các nông hộ
Trang 28trong vùng đệm Pù Mát cớ sự gắn bó chặt chẽ với rừng, nguồn thu nhập từ khai tháclâm sản và canh tác nương rẫy đóng vai trò quan trọng trong tổng thu nhập của mỗinông hộ Các nông hộ đang có sự chuyển đổi về sinh kế, song mới có rất ít các hộ
có hiểu biết và có vốn đầu tư; (2) Hầu hết người dân địa phương vẫn sử dụng TNRmột cách bất hợp pháp Tại thời điểm nghiên cứu, 34% tổng thu nhập hàng năm củamột HGĐ trong vùng đệm và 62% tổng thu nhập của một HGĐ trong vùng bảo vệnghiêm ngặt là từ rừng
Phạm Gia Thanh (2012) khi "Nghiên cứu một số giải pháp đồng quản lý rừngtrên lưu vực sông Đà tỉnh Sơn La" cũng chỉ ra rằng đói nghèo chính là nguyên nhânchính gây ảnh hưởng lớn nhất tới TNR thông qua các hoạt động khai thác và sửdụng TNR của các nhóm hộ gia đình trên lưu vực sông Đà Từ đó tác giả đã đưa racác giải pháp cụ thể hướng đến cho từng nhóm kinh tế hộ sinh sống trên từng đoạnlưu vực của sông Đà
1.3 Một số kết luận rút ra từ nghiên cứu tổng quan
Ở Việt Nam, quan điểm bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng đang được coi là
một hướng đi đúng đắn, là một trong những giải pháp tích cực góp phần làm giảm
nguy cơ sụt giảm ĐDSH trong các hệ sinh thái Có thể nhận thấy những ủng hộ từNhà nước, chính phủ cho quan điểm này qua những văn bản, chính sách gần đâynhư Quyết định số 126/QĐ-TTg (2012) cho phép thực hiện thí điểm cơ chế chia sẻlợi ích trong quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng (RĐD) tại một sốVQG Thông điệp chính của Quyết định này là chia sẻ lợi ích từ rừng một cách hiệuquả và công bằng được coi là động lực then chốt thúc đẩy sự tham gia của các bêntrong quản lý và bảo vệ RĐD Mục tiêu của chia sẻ lợi ích được Quyết định126/QĐ-TTg nêu rõ, gồm 2 phần: “nhằm quản lý, bảo vệ và phát triển bền vữngRĐD, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người dân sống ở trong khuRĐD và vùng đệm khu RĐD” Tuy nhiên, làm thế nào để việc chia sẻ các tàinguyên lâm sản từ rừng vừa góp phần cải thiện đời sống cho người dân địa phương,đảm bảo các giá trị ĐDSH trong RĐD được bảo tồn và phát triển bền vững, đồngthời quản lý, ngăn chặn và kiểm soát tốt các hoạt động làm mất rừng và suy thoáirừng vẫn còn là một câu hỏi khó
Trang 29Cuộc sống của cộng đồng địa phương sống trong và quanh RĐD phụ thuộc lớnvào nguồn lâm sản từ rừng nên việc chuyển từ hình thức bảo vệ nghiêm ngặt sangnới rộng các quyền tiếp cận với tài nguyên rừng thông qua cơ chế chia sẻ lợi ích làvấn đề cấp thiết đối với quản lý bảo vệ rừng ở mỗi khu RĐD Những lợi ích từ chitrả dịch vụ môi trường rừng hay khoán bảo vệ rừng tuy có tác dụng tích cực đối với
sự tham gia của cộng đồng trong quản lý bảo vệ rừng nhưng sẽ không thể thay thế,
bù đắp được hoàn toàn nhu cầu của người dân đối với lâm sản Vì thế cơ chế chia sẻlợi ích cần được tiếp tục thí điểm mở rộng, hoàn thiện hơn Để kết hợp được cả haimục tiêu bảo tồn ĐDSH và sinh kế cho người dân thì những vấn đề như quy hoạch
sử dụng rừng, tổ chức phối hợp và thúc đẩy sự tham gia của người dân với các lựclượng chức năng, nghiên cứu và thực hànhcác biện pháp kỹ thuật cho khai thác lâmsản bền vững là những ưu tiên gắn liền với cơ chế chia sẻ lợi ích ở mỗi khu RĐD(Nguyễn Huy Dũng, 2006)
Có thể thấy việc chia sẻ lợi ích đa dạng sinh học trong RĐD không thể tách rờikhỏi mô hình đồng quản lý rừng mà trong đó quyền lợi và trách nhiệm quản lý bảo
vệ rừng được chia sẻ, phân công, phối hợp một cách hài hòa giữa các bên liên quan.Nói cách khác, phát triển các mô hình đồng quản lý rừng hay xây dựng các khu vựcrừng do cộng đồng quản lý trong RĐD cần kết hợp với thực hành chia sẻ lợi ích để
có thể đảm bảo được cả hai mục tiêu bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng gắn vớicải thiện đời sống người dân sống trong và xung quanh các KBT
Như vậy, Quản lý bảo tồn tài nguyên dựa vào cộng đồng cũng là một quá trình
mà qua đó những cộng đồng sống dựa vào nguồn tài nguyên đó được tăng quyềnlực về chính trị và kinh tế để họ có thể đòi và giành được quyền kiểm soát quản lý
và tiếp cận một cách hợp pháp đối với nguồn tài nguyên này Bên cạnh việc giaoquyền, thì vấn đề an toàn lương thực là mối quan tâm hàng đầu của quản lý bảo tồndựa vào cộng đồng Phát triển sinh kế bền vững đóng vai trò quan trọng trong việcbảo đảm an toàn về kinh tế và lương thực cho cộng đồng Sinh kế là điểm chủ chốttrong mối tương tác giữa con người và tài nguyên Vì vậy, việc nghiên cứu mốiquan hệ giữa cộng đồng người dân với các khu rừng đặc dụng nhằm giúp cộng đồnghiểu và sẵn sàng hành động để chung sống hòa bình trên một vùng đất mà khônglàm suy thoái nó
Trang 30Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Góp phần xây dựng các luận cứ khoa học và cung cấp cơ sở thực tiễn giúpnâng cao hiệu quản quản lý tài nguyên rừng bền vững, bảo tồn ĐDSH dựa vào cộngđồng tại Khu DTSQ quần đảo Cát Bà
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được một số đặc điểm chính của hệ sinh thái rừng tại Khu DTSQ quần đảo Cát Bà;
- Xác định được mối quan hệ tương tác giữa cộng đồng với tài nguyên rừng;
- Đề xuất được một số giải pháp bảo tồn bền vững, hài hòa cả về mặt tự nhiên
và con người cho Khu DTSQ quần đảo Cát Bà
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đ i t ợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mối quan hệ tương tác giữa các nhómcộng đồng dân cư sống trong phạm vi các xã, thị trấn vùng đệm, bao gồm các hoạtđộng sinh kế, nhận thức của cộng đồng và một số thảm thực vật rừng trong KhuDTSQ quần đảo Cát Bà
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
a) Về không gian:
- Đề tài chỉ tập trung vào đa dạng sinh học thực vật gồm một số kiểu rừng tựnhiên chính hiện có và tập trung vào đối tượng một số hoạt động sinh kế của cộngđồng dân cư địa phương, nhận thức của họ tại các xã vùng đệm Khu DTSQ quầnđảo Cát Bà
- Về khu vực địa lý, đề tài tập trung nghiên cứu ở phạm vi các xã, thị trấn vùngđệm của VQG: TT Cát Bà, xã Gia Luận, xã Phù Long, xã Trân Châu, xã Hiền Hào,
xã Xuân Đám và xã Việt Hải
Trang 31b) Về thời gian:
- Tiến hành thu thập số liệu ngoại nghiệp từ tháng 01 đến tháng 09 năm 2019 sau đó xử lý số liệu nội nghiệp và viết luận văn
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu hi n trạng một s kiểu thảm thực vật tại r ng khu DTSQ quần đảo Cát Bà.
2.3.2 Nghiên cứu ảnh h ởng của các nhóm cộng đồng địa ph ng đến vi c vi c sử dụng tài nguyên, đa dạng sinh học r ng trong khu DTSQ Cát Bà.
2.3.3 Đánh giá tiềm năng sử dụng nguồn lợi lâm sản ngoài gỗ (LSNG) thu hái
t r ng và phát triển cây d ợc li u.
2.3.4 Đề xuất đ ợc một s giải pháp bảo tồn bền vững, hài hòa cả về m
nhiên và con ng i cho khu DTSQ quần đảo Cát Bà.
t tự
2.4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm và ph ng pháp luận
Nghiên cứu thực hiện dựa trên: (1) Lý luận về lý thuyết hệ thống; (2) Quanđiểm sinh thái-nhân văn; (3) Quan điểm bảo tồn-Phát triển và (4) tiếp cận có sựtham gia
Một là, vận dụng lý thuyết hệ thống: Hệ thống được hiểu là một cấu trúc hoàn
chỉnh của tự nhiên, nó bao gồm nhiều bộ phận chức năng liên kết với nhau một cách
có tổ chức và trật tự, tồn tại và vận động theo những quy luật thống nhất Một hệthống luôn bao gồm những hệ thống thành phần (nhỏ hơn) hay còn gọi là hệ thốngphụ Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong hệ thống và mỗi hệ thống lại nằm trong
hệ thống lớn hơn
Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong hệ thốngkinh tế xã hội và tác động tới hệ thống tự nhiên.Sự tác động của người dân địaphương đến TNR là hoạt động trong hệ thống kinh tế, bởi vì mức độ tác động củangười dân địa phương gắn liền với các hoạt động kinh tế của con người như sử dụngđất rừng canh tác, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc Sự tác động này cũng phụ
Trang 32thuộc vào sinh kế, mức sống, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận trướcmắt và hiệu quả kinh tế thường quyết định tới hình thức sử dụng TNR của ngườidân địa phương Ngược lại, mức độ giàu có và đa dạng của TNR cũng tác độngmạnh mẽ tới nguồn thu của người dân địa phương.
Hai là, quan điểm sinh thái-nhân văn: Thực tế cho thấy, các hoạt động
KT-XH trong cộng đồng hay trong mỗi HGĐ rất đa dạng và phong phú Nó phản ánhđặc điểm sinh thái và mối quan hệ KT-XH Các hoạt động trong cộng đồng chịu sựchi phối của nhiều yếu tố và có một yếu tố nào đó giữ vai trò quan trọng trong cộngđồng này vào thời điểm này nhưng lại không phải quan trọng trong thời điểm kháchoặc cộng đồng khác Để giải thích tác động bất lợi của người dân địa phương đếnTNR, đề tài sử dụng tháp sịnh thái-nhân văn của Park (1936) đã được TeheraniKroenner (1992) và Nguyễn Bá Ngãi (2001) mô phỏng
Ba là, quan điểm bảo tồn-phát triển: Theo Gilmour D.A và Nguyễn Văn Sản
(1999), quan điểm bảo tồn và phát triển là để liên kết việc bảo tồn tài nguyên vànhững nhu cầu phát triển địa phương, bao gồm 3 thành phần chính (cách tiếp cận)sau:
- Thứ nhất là: nếu nhu cầu phát triển cộng đồng tại địa phương đó có thể đượcđáp ứng bởi các nguồn thay thế khác ảnh hưởng của nó lên tài nguyên sẽ được giảmbớt và tài nguyên được bảo tồn: "Cách tiếp cận các giải pháp thay thế sinh kế"
- Thứ hai là : nếu cộng đồng rất khó khăn về mặt kinh tế, không thể nào quantâm đến việc bảo tồn được vì những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống vẫn còn chưađược đáp ứng thì trước hết cần phải nỗ lực cải thiện nền KT-XH của họ đủ tốt để họ
có thể quan tâm hơn đến việc bảo tồn tài nguyên: "Cách tiếp cận phát triển kinh tế"
- Thứ ba là: cộng đồng địa phương đó cũng đồng ý với việc bảo tồn tài nguyênthiên nhiên nếu như họ có thể được tham gia một cách tích cực vào việc quy hoạch vàquản lý sử dụng tài nguyên và được chia sẻ lợi nhuận từ tài nguyên đó Theo
cách này, tài nguyên có thể được bảo tồn trong khi một số nhu cầu cơ bản của ngườidân địa phương được đáp ứng thông qua việc sử dụng và khai thác tài nguyên mộtcách hợp lý và bền vững: "Cách tiếp cận tham gia quy hoạch"
Trang 33Trong nghiên cứu này, cả 3 cách tiếp cận được vận dụng linh hoạt để thực hiệnnội dung thứ 3 "Đề xuất các giải pháp làm giảm thiểu các tác động bất lợi và thu hútngười dân tham gia vào quản lý bảo vệ và phát triển TNR tại Khu DTSQ quần đảoCát Bà".
Bốn là, tiếp cận có sự tham gia trong nghiên cứu: Sự tham gia được định
nghĩa như là một quá trình, thông qua đó các chủ thể cùng tác động và chia sẻnhững sáng kiến phát triển và cùng quyết định Trong nghiên cứu này, phương pháptiếp cận cùng tham gia được áp dụng, trong đó người dân địa phương tham gia ởmức độ 3, tức là tham gia qua hình thức tư vấn, cung cấp thông tin Các phươngpháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá nông thôn có sựtham gia (PRA) sẽ được sử dụng để thu thập thông tin cho nghiên cứu Các phươngpháp này giúp thu nhập được các thông tin và phân tích của chính người dân địaphương, nên thông tin có thể được sử dụng cho nhiều nhu cầu của địa phương như
sự ủng hộ về quyền sử dụng TNR, các giải pháp giải quyết xung đột
2.4.2 Ph ng pháp kế th a s li u
- Kế thừa các số liệu của đề tài "Nghiên cứu xây dựng mô hình cộng đồng bảotồn và sử dụng hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học Khu dự trữ sinh quyển quần đảoCátBà"
- Kế thừa các tài liệu thứ cấp như các báo cáo, các loại bản đồ về động thựcvật trên cạn và dưới nước, khí hậu thủy văn, địa hình thổ nhưỡng, dữ liệu về các hệ
sinh thái trên cạn
- Kế thừa các thông tin về các cộng đồng địa phương trong khu vực nghiêncứu để đánh giá các đặc điểm văn hóa, kinh tế, xã hội của các cộng đồng (xã, thôn/bản)nhau trên khu vực Thông tin thu thập như sau:
+ Dân cư: Thành phần dân tộc, tổ chức cộng đồng (dân số, phân bố dân cư…)
Trang 34sinh thái (đất, nước, rừng), phân công lao động giữa các lứa tuổi và giới, luật tục vàcác điều cấm kỵ riêng của cộng đồng, diện tích rừng cấm, rừng thiêng, tri thức bảnđịa (cây thuốc, cây làm thuốc nhuộm, cây làm thức ăn, cây cảnh ).
+ Các hình thức quản lý và sử dụng tài nguyên
2.4.2 Ph ng pháp điều tra bổ sung về tài nguyên, ĐDSH h thực vật trên cạn
- Căn cứ vào dữ liệu tổng quan, bản đồ địa hình, bản đồ tài nguyên rừng vàbản đồ thực vật của khu DTSQ, xác định sơ bộ các khu hệ thực vậtđiều tra của mỗi kiểuthảm thực vật rừng, và xây dựng tuyến để khảo sát sơ bộ toàn bộ khu vực nghiên cứu vàlựa chọn các lâm phần thiết lập ô điều tra chi tiết Sử dụng phương
pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) và Hệ sinh thái rừng nhiệt đới (2004) để điềutra đa dạng hệ thực vật Các tuyến điều tra được xác định đại diện cho khu vựcnghiên cứu, được bố trí đi qua nhiều kiểu rừng, nhiều trạng thái rừng, nhiều dạngsinh cảnh và địa hình khác nhau, đặc biệt qua các đỉnh cao nhất của khu vực Mỗituyến chính có chiều dài 5-10 km (tuỳ địa hình), chiều rộng cố định mỗi tuyến 30
m, ngoài ra có thể quan sát mở rộng dọc hai bên tuyến mỗi bên 10 m Từ tuyếnchính các tuyến phụ được mở về 2 phía và đi qua các quần xã khác nhau Trungbình 1,5 km chiều dài tuyến chính lại có 2 tuyến phụ (2-3 km) được mở ra Trênmỗi tuyến tiến hành điều tra tất cả các loài thực vật nằm ở phạm vi 10 m mỗi bên.Các tuyến nghiên cứu, điều tra:
Tuyến 1: Gần trạm Kiểm lâm Hải Sơn đến Việt Hải Điểm đầu X = 631976,Y= 2298202; điểm cuối X = 633374, Y = 2302150 Chiều dài tuyến 6,5 km
Tuyến 2: Việt Hải đến cuối Áng Le Tre Điểm đầu X = 634117, Y = 2302255;điểm cuối X= 634813, Y = 2302594 Chiều dài tuyến 1,3 km
Tuyến 3: Trạm Giỏ cùng đến Khu trong giỏ Điểm đầu X = 638319, Y =2301470; điểm cuối X = 638844, Y = 2302924 Chiều dài tuyến 2,7 km
Tuyến 4: Gần trung tâm Vườn đến Thong dùng đến Áng Tâm Kiêng Điểmđầu X = 628992, Y = 2300779; điểm cuối X = 629302, Y = 2302886 Chiều dàituyến 8,6 km
Tuyến 5: Hang Gai đến gần khu hòn Cá trê Điểm đầu X = 624328, Y =
Trang 352304816; điểm cuối X = 626755, Y = 2304832 Chiều dài tuyến 4,1 km.
Tuyến 6: Hang Đá hoa đến Áng kê Điểm đầu X = 628650, Y = 2305586; điểm cuối X = 630994, Y = 2305770 Chiều dài tuyến 5,1 km
Tuyến 7: Áng kê đến Thong gần Điểm đầu X = 630994, Y = 2305770; điểm cuối X= 632173, Y = 2303172 Chiều dài tuyến 5,4 km
- Trong quá trình điều tra theo tuyến để thu mẫu đa dạng thực vật, tiến hànhnghiên cứu cả các trạng thái thảm thực vật rừng bằng các ô tiêu chuẩn điều tra (OTC);Tổng hợp kết quả của các OTC đại diện cho các kiểu thảm thực vật, kết hợp với nhữngghi chép thực địa, áp dụng hướng dẫn và thang phân loại của UNESCO
(1973) đã được Phan Kế Lộc vận dụng vào Việt Nam (1985) để xác định và mô tảcác quần hệ thực vật của khu vực nghiên cứu; cấu trúc thành phần loài thực vật ápdụng theo phương pháp của Whittaker (1962)
- Thông qua bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng sẽ tiến hành lập ô tiêu chuẩnđại diện cho từng trạng thái rừng Trong các ô tiêu chuẩn tiến hành đo tất cả các cây
có đường kính 6 cm trở lên Trong mỗi OTC các thông tin về D1.3, chiều cao (Hvn)
độ tàn che, độ che phủ được ghi vào mẫu biểu chuẩn bị sẵn Các cây sau khi đãđược đo đếm sẽ được đánh dấu bằng sơn đỏ Đối với việc xác định tên cây nhữngcây nào định loại được thì tiến hành ghi chép vào mẫu biểu còn những cây chưađịnh loại được sẽ tiến hành thu mẫu và xử lý mẫu để về định loại sau:
+ Đối với các kiểu thảm thực vật rừng nguyên sinh trong khu vực vùng lõi củakhu dự trữ sinh quyển: Mỗi kiểu thảm thực vật rừng nguyên sinh lựa chọn 3 lâm phầnnguyên sinh hoặc có mức tác động rất thấp ít ảnh hưởng đến đặc điểm tự nhiên của kiểuthảm thực vật rừng nghiên cứu Trên mỗi lâm phần lập 3 ô tiêu chuẩn điều tra 1000 m2(50 x 20 m) Như vậy số ô tiêu chuẩn điều tra rừng nguyên sinh là: 3 lâm phần x 3 ô = 9
ô (số ÔDB = 9 ÔTC x 5 ÔDB = 45 ô)
+ Đối với các kiểu thảm thực vật rừng thứ sinh sinh trong khu vực vùng lõi vàvùng đệm của khu dự trữ sinh quyển: Mỗi trạng thái rừng lựa chọn ngẫu nhiên balâm phần để lập ô tiêu chuẩn điều tra chi tiết Tại mỗi lâm phần thiết lập 3 ô tiêuchuẩn 1000 m2 (50 x 20 m) Như vậy số ô tiêu chuẩn điều tra rừng thứ sinh là: 3
Trang 36lâm phần x 3 ô = 9 ô (số ÔDB = 9 ÔTC x 5 ÔDB = 45 ô).
2.4.3 ác định loài thực vật có giá trị bảo tồn và sử dụng
- Tổng hợp số liệu thực địa, các số liệu về thành phần loài kế thừa từ nhữngnghiên cứu trước đó để lập nên danh sách các loài động thực vật cho khu vực nghiên cứu,sắp xếp chúng theo các thứ tự các lớp rồi đến các bộ, họ, chi và loài
- Thống nhất tên gọi theo Bộ luật về tên gọi thực vật Tokyo (1994) (ghi theoNguyễn Nghĩa Thìn, 1997) quy định đối với họ, thống nhất tên gọi của chi và họ
(không áp dụng đối với các họ đã theo Bộ luật trên) theo hệ thống của Brummitt (1992)
- Danh lục còn có tên Việt Nam hay tên địa phương (nếu có) cùng với cácthông tin giúp ích cho việc đánh giá đa dạng, đó là các thông tin về dạng sống, phân bố,công dụng, mức độ bị đe dọa,…
- Từ bản danh lục, kiểm tra tên từng loài dựa vào danh sách các loài đã đượcchỉ định trong các danh lục của các chỉ tiêu (danh lục đỏ): Sách đỏ Việt Nam (2002);Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính Phủ về việc
Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước vềbuôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; Nghị định số160/2013/ NĐ-CP của Chính phủ về chỉ tiêu xác định loài và chế độ quản lý loàithuộc danh mục loài nguy cấp, quy, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Danh sách các loàitrong công ước CITES; Danh lục đỏ IUCN tra cứu trên trang chủhttps://www.iucnredlist.org (vesion 2019-2)
- Thống kê các loài có giá trị sử dụng từ bảng danh lục thực vật và độngvậtbằng các tài liệu chuyên ngành như: Từ điển cây thuốc Việt Nam; 1900 cây có ích;Cây cỏ có ích ở Việt Nam; Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam; Tài nguyên cây gỗrừng Việt Nam; Cây cỏ Việt Nam; Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam,… Các tiêuchuẩn đánh giá giá trị tài nguyên dựa vào: giá trị dược liệu, thực phẩm, làm cảnh, thươngphẩm,
2.4.4 Ph ng pháp tổng hợp hi n trạng h sinh thái r ng, các thông tin về cộng đồng và thực trạng quản lý r ng trong Khu DTSQ quần đảo Cát Bà
Trang 37- Các tài liệu sơ cấp và thứ cấp liên quan được thu thập tại khu DTSQ quầnđảo Cát Bà Sau khi nghiên cứu các tài liệu này, chỉ những thông tin liên quan tới các nộidung của đề tài mới được tổng hợp, phân tích Tài liệu được thu thập gồm:
- Các báo cáo hàng năm của khu DTSQ quần đảo Cát Bà (của VQG Cát Bà);
- Phương án quản lý rừng của các đơn vị chủ rừng;
- Thông tin về khí hậu thuỷ văn, địa hình, thổ nhưỡng và các dữ liệu về các hệ
sinh thái rừng;
- Các nghiên cứu về cộng đồng và chính sách;Các thể chế, chính sách đã được
áp dụng ở khu vực;
- Bản đồ kiểm kê rừng toàn quốc gần nhất và các bản đồ chuyên đề khác
2.4.5 Phu ng pháp đánh giá, phân tích m i quan h t ng tác giữa cộng đồng và các
h sinh thái r ng
- Phỏng vấn theo phương pháp RRA (đánh giá nhanh nông thôn) và PRA(đánh giá nông thôn có sự tham gia): Tiến hành phỏng vấn trên thực địa để kiểm chứnglại các nhân tố tác động dựa trên bảng hỏi bán cấu trúc Đối tượng phỏng vấn là chínhquyền địa phương, cán bộ cơ quan quản lý, và các hộ dân sinh sống trong khu vực nghiêncứu Phỏng vấn triển khai trên 6 xã trải đều trong toàn bộ Khu DTSQ quần đảo Cát Bà,mỗi xã 3 thôn, và mỗi thôn ít nhất 10 hộ dân; tại mỗi đơn
vị hành chính phỏng vấn 5-10 cán bộ quản lý
- Kiểm chứng thông qua phỏng vấn, tìm hiểu qua dân: Sau khi có kết quả tổngquan, phỏng vấn cộng đồng địa phương nhằm thu thập và kiểm chứng các thông tin về sựtồn tại, đặc điểm sinh sống, cư trú của các loài
- Phiếu khảo sát hộ được thiết kế để thu thập các nhóm thông tin sau:
+ Về hộ gia đình, gồm: chủ hộ, nhân khẩu, tuổi và trình độ học vấn, tình trạng
di cư/nhập cư, dân tộc, tôn giáo, tình trạng sức khoẻ;
+ Về thu nhập và chi tiêu, gồm: tình trạng lương thực, kinh tế hộ, các loại nguồn thu nhập từ nông lâm nghiệp và thuỷ sản và thu nhập khác;
+ Về chi phí, gồm: chi phí cho sinh hoạt, sản xuất và cho xã hội, v.v
Trang 38+ Về rừng, gồm: khoảng cách từ nhà đến nơi thu hái lâm sản; thay đổi của
rừng; loài cây trồng; sự tham gia của người dân trong bảo vệ rừng
2.4.6 Ph ng pháp nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo tồn bền vững, hài hòa cả về
m t tự nhiên và con ng i cho khu DTSQ quần đảo Cát Bà
- Phân chia đối tượng tác động: dựa vào các chỉ tiêu địa hình, thổ nhưỡng,
thảm thực vật thông qua đánh giá điểm về mức độ phù hợp của từng nhân tố;
- Phân chia đối tượng tác động bằng phương pháp cho điểm theo các tiêuchuẩn: đặc điểm của từng đối tượng rừng; các quy phạm hiện hành, điều kiện tự nhiên,kinh tế-xã hội; yêu cầu phục hồi và phát triển rừng tại khu vực;
- Chọn loài cây triển vọng: đánh giá các tiêu chuẩn cụ thể về kinh tế, sinh thái phản ánh mức độ phù hợp của từng loài;
- Đề xuất giải pháp tác động: từ kết quả của việc phân chia đối tượng tác động,đối tượng nào có điểm cao nhất tức là có múc độ phù hợp nhất, có tiềm năng nhất thìchọn giải pháp ít tác động nhất và ngược lại
2.4.7 Ph ng pháp phân tích s li u
- Sử dụng phần mềm R với các gói (Kindt and Coe, 2005) và vegan (Oksanen,2011) để tính toán các chỉ số đa dạng sinh học (sử dụng mộ trong các chỉ sốShannon-Wiener, Simpson, Renyi,…) Các chỉ số đa dạng sinh học được áp dụngcho từng đối đối tượng chuyên môn cụ thể
* Mô tả độ đa dạng thực vật được tính như sau:
+ Số loài/1000 m2 là tổng số loài cây gỗ có trong OTC
+ Chỉ số Simpson (D1 = 1-D) được tính cho tất cả các cây gỗ trong OTC
+ Chỉ số Shannon-Wiener (H’) (Kerkhoff, 2010) của mỗi OTC được tính
Trang 39thường dao động trong khoảng 1.5-3.5 và chỉ số này hiếm khi cao hơnChỉ
số này càng cao khi số loài và độ tương đồng về số cá thể của các loàicàng cao
+ Chỉ số Pielou (J’) (Heip et al., 1998) định lượng mức độ tương đồng về sốlượng cá thể của các loài được tính cho tất cả các cây gỗ trong OTC theo công thức:+ Tổ thành trong quần xã được xác định dựa trên chỉ số IV (chỉ số quantrọng), được tính cho tất cả các loài cây gỗ trong OTC Trong đó IV = (%
Ni + %Gi)/2, với Ni là mật độ của loài i/OTC; Gi là tiết diện ngang của loài i/OTC Các loài có IV > 5% thì được viết vào công thức tổ thành.+ Xếp hạng các loài cây gỗ được thực hiện bằng việc xếp hạng theo chỉ số
IV của các cây gỗ trong từng OTC
Trang 40Chương 3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ -XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Cát Bà có toạ độ địa lý từ 20°44'-20°52' vĩ độ Bắc.Từ 106°59'-107°06' Kinh
độ Đông
- Phía Bắc và Đông Bắc giáp vịnh Hạ Long
- Phía Tây và Tây Nam là cửa sông Bạch Đằng, sông Cấm và biển Hải Phòng
- Phía Đông và Đông Nam giáp vịnh Lan Hạ
Nhìn chung vị trí địa lý của Cát Bà thuận lợi để phát huy các hoạt động du lịchsinh thái, đánh bắt thủy sản và trao đổi buôn bán bằng đường thủy
3.1.2 Địa hình địa mạo
Đây là vùng quần đảo đá vôi, cùng với hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ của vịnh
Hạ Long và Bái Tử Long kéo dài thành hình cánh cung song song với cánh cungĐông Triều
Trong vùng đảo Cát Bà có hàng trăm hòn đảo, lớn nhất là đảo Cát Bà có độ caophổ biến trong vùng là 100 m-150m, những đỉnh có độ cao trên 200 m không nhiều,cao nhất có đỉnh Cao Vọng 322 m Nơi thấp nhất có độ cao 39 m thuộc Vườn Quốc giaCát Bà, vùng vịnh Lan Hạ sau nhất tới 18m (đo lúc mực nước biển trung bình) Cácđảo nhỏ có đầy đủ các dạng địa hình của một miền Karst bị ngập nước biển:
- Kiểu địa hình núi đá vôi: Đây là vùng địa hình của một miền karst ngập nướcbiển khá điển hình, bị quá trình karst chia cắt từ lâu đời thành các chóp, các đỉnh có nhiềudáng vẻ khác nhau đã tạo nên địa hình muôn vẻ và cũng khá hiểm trở với nhiều bề mặtlởm chởm đá tai mèo sắc nhọn Địa hình lại dốc đứng, độ cao từ
100m-300 m Trên vùng này, khả năng sinh trưởng và phát triển của thực vật diễn rarất chậm chạp và vô cùng khó khăn
- Kiểu địa hình đồi đá phiến: Địa hình đồi đá phiến chiếm một diện tích khánhỏ So với địa hình núi đá vôi thì địa hình đồi đá phiến mềm mại hơn nhiều, sườn