1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu sự đa dạng các loài bò sát (rreptilia) và ếch nhái (amphibia) tại khu dự trữ thiên nhiên động châu khe nước trong​

127 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Sự Đa Dạng Các Loài Bò Sát (Reptilia) Và Ếch Nhái (Amphibia) Tại Khu Dự Trữ Thiên Nhiên Động Châu - Khe Nước Trong
Tác giả Hà Văn Ngoạn
Người hướng dẫn TS. Lưu Quang Vinh
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Quản Lý Tài Nguyên & Môi Trường
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 8,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (11)
    • 1.1. Tổng luận các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu (11)
    • 1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu (13)
  • Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU (15)
    • 2.1. Điều kiện tự nhiên (15)
      • 2.1.1. Vị trí địa lý (15)
      • 2.1.2. Đặc điểm khí hậu, thủy văn (15)
      • 2.1.3. Địa hình và địa chất (16)
      • 2.1.4. Thảm thực vật rừng (17)
      • 2.1.5. Khu hệ động vật (18)
    • 2.2. Thực trạng về dân sinh, kinh tế - xã hội (19)
      • 2.2.1. Đặc điểm dân số và dân tộc (19)
      • 2.2.2. Đặc điểm kinh tế (19)
      • 2.2.3. Đặc điểm xã hội và cơ sở hạ tầng (20)
  • Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (21)
    • 3.1. Mục tiêu nghiên cứu (21)
    • 3.2. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu (21)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (22)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (22)
      • 3.4.1. Phương pháp điều tra ngoại nghiệp (22)
      • 3.4.2. Phương pháp phân tích hình thái và định danh mẫu vật BSEN (24)
      • 3.4.3. So sánh mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các khu vực (27)
      • 3.4.4. Phương pháp đánh giá đặc điểm phân bố các loài bò sát, ếch nhái (28)
      • 3.4.5. Đánh giá tình trạng bảo tồn (29)
      • 3.4.6. Xác định các mối đe dọa (29)
      • 3.4.7. Đề xuất các giải pháp ưu tiên bảo tồn (29)
    • 3.5. Tư liệu nghiên cứu (29)
  • Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (31)
    • 4.1. Đa dạng về thành phần loài BSEN tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong21 1. Đa dạng thành phần loài bò sát tại Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong (31)
      • 4.1.2. Đa dạng thành phần loài Ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong (37)
    • 4.2. Mô tả một số đặc điểm hình thái các loài Bò sát, ếch nhái ghi nhận mới cho (42)
      • 4.2.1. Đặc điểm hình thái các loài bò sát ghi nhận mới cho KVNC (42)
      • 4.2.2. Đặc điểm hình thái các loài Ếch nhái ghi nhận mới cho KVNC (54)
    • 4.3. Đặc điểm phân bố các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC (0)
      • 4.3.1. Phân bố các loài bò sát theo đai cao (62)
      • 4.3.2. Phân bố bò sát, ếch nhái theo sinh cảnh (0)
    • 4.4. So sánh sự tương đồng của bò sát, ếch nhái KVNC với các VQG và KBT khác ở Việt Nam (66)
    • 4.5 Tình trạng bảo tồn và các mối đe dọa (68)
      • 4.5.1. Đánh giá tình trạng bảo tồn (68)
      • 4.5.2. Phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC (71)
      • 4.5.3. Các nhân tố đe dọa (76)
      • 4.5.4. Đề xuất một số biện pháp bảo tồn (78)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tổng luận các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa và địa hình đa dạng, bao gồm đồng bằng, trung du và vùng núi, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của động vật, đặc biệt là ếch nhái và bò sát.

Nỗ lực nghiên cứu về ếch nhái và bò sát ở Việt Nam được thể hiện qua các giai đoạn cụ thể như sau:

Cuốn ''Nam dược thần hiệu'' của Tuệ Tĩnh là công trình đầu tiên công bố về bò sát và lưỡng cư tại Việt Nam, trong đó liệt kê các vị thuốc từ các loài này Tác phẩm đã được dịch sang tiếng Việt và tái bản vào năm 1972.

Trước năm 1945, nhiều nhà khoa học quốc tế đã tiến hành nghiên cứu về bò sát và lưỡng cư tại khu vực Đông Dương, bao gồm cả Việt Nam Trong giai đoạn này, đã có nhiều sách chuyên khảo được xuất bản, trong đó nổi bật là tác phẩm của Bourret.

Giai đoạn 1954-1975, nghiên cứu về bò sát và lưỡng cư ở miền Bắc Việt Nam được thực hiện bởi các nhà khoa học trong nước như Đào Văn Tiến, Trần Kiên, và Lê Vũ Khôi Họ đã công bố nhiều tài liệu quan trọng về thành phần loài và sinh thái của các loài bò sát và lưỡng cư, đóng góp vào kho tàng tri thức sinh học của khu vực.

1962) Ở miền Nam đáng chú ý là công trình nghiên cứu về rắn của Camp-den Main (1970).

Giai đoạn 1975-1996 chứng kiến sự hợp tác giữa các nhà khoa học trong và ngoài nước, tập trung vào nghiên cứu đa dạng thành phần loài ở nhiều vùng khác nhau của Việt Nam Nổi bật trong giai đoạn này là các khóa định loài về bò sát và lưỡng cư do Đào Văn Tiến thực hiện vào các năm 1977, 1978, 1979 và 1981.

1982) Nguyễn Văn Sáng & Hồ Thu Cúc (1996) đã ghi nhận ở Việt Nam có 340 loài bò sát và lưỡng cư đến năm 1996.

Từ năm 1997 đến nay, việc áp dụng phương pháp sinh học phân tử bên cạnh phương pháp định loài hình thái truyền thống đã giúp khám phá nhiều loài bò sát và lưỡng cư mới tại Việt Nam Số lượng loài đã tăng từ 458 vào năm 2005 lên 545 vào năm 2009, theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Sáng và các cộng sự Thông tin này được xác nhận bởi hai trang web cơ sở dữ liệu quốc tế về bò sát và ếch nhái.

Tính đến năm 2020, Việt Nam có khoảng 790 loài bò sát và ếch nhái, bao gồm 288 loài ếch nhái, 214 loài thằn lằn, 248 loài rắn, 37 loài rùa và 3 loài cá sấu (Uetz & Hošek 2020; Forst 2020).

Nghiên cứu gần đây về khu hệ ếch nhài và bò sát tại hệ sinh thái núi đá vôi ở Việt Nam đã ghi nhận nhiều kết quả quan trọng Luu et al (2013) đã phát hiện tổng cộng 151 loài, bao gồm 101 loài bò sát và 50 loài lưỡng cư, trong đó có 13 loài mới cho VQG Phong Nha - Kẻ Bàng và tỉnh Quảng Bình Đồng thời, Ziegler et al (2014) đã cung cấp danh lục 102 loài, gồm 50 loài lưỡng cư và 52 loài bò sát, với 8 loài ếch nhái và 12 loài bò sát được ghi nhận lần đầu tiên tại tỉnh Hà Giang.

2016 đã ghi nhận 31 loài lưỡng cư và bò sát từ kết quả nghiên cứu thực địa ở năm

Từ năm 2015 đến 2016, huyện Hướng Hóa đã ghi nhận 8 loài mới và tỉnh Quảng Trị có 4 loài mới Năm 2017, Pham et al đã lần đầu tiên báo cáo 21 loài ếch nhái tại hệ sinh thái núi đá vôi huyện Hà Lang, tỉnh Cao Bằng, trong đó có 3 loài mới được ghi nhận là Odorrana bacboensis, O graminea và Rhacophorus maximus.

Số lượng loài mới được phát hiện và công bố cho khoa học tại Việt Nam đã tăng đáng kể qua các thời kỳ Từ năm 1954 đến 1975, chỉ có 1 loài bò sát mới được ghi nhận, nhưng giai đoạn 1976-1996 đã chứng kiến sự gia tăng lên 16 loài (bao gồm 4 loài ếch nhái và 12 loài bò sát) Từ 1996 đến 2005, con số này tiếp tục tăng lên 57 loài (28 loài ếch nhái và 29 loài bò sát) Đặc biệt, trong 5 năm gần đây (2015-2020), số lượng loài mới phát hiện đã tăng vọt lên 123 loài (94 loài ếch nhái và 39 loài bò sát) Một số loài mới tiêu biểu được công bố gần đây bao gồm 53 loài BSEN, trong đó có 33 loài ếch nhái và 20 loài bò sát, như Cyrtodactylus bobrovi, Cyrtodactylus Soni, Dixonius Minhlei và Oligodon Condaoensis.

Murphy, 2016); Cyrtodactylus Gialaiensis (Luu, Dung, Nguyen, Le & Ziegler, 2017); Cyrtodactylus Sonlaensis (Nguyen, Pham, Ziegler, Ngo & Le, 2017);

Opisthotropis Voquyi (Ziegler, David, Ziegler, Pham, Nguyen & Le, 2018); Parafimbrios Vietnamensis (Ziegler, Ngo, Pham, Nguyen, Le & Nguyen, 2018); Acanthosaura phongdienensis (Nguyen, Jin, Vo, Nguyen, Zhou, Che, Murphy &

Zhang, 2019); Cyrtodactylus taybacensis (Pham, Le, Ngo, Ziegler, Nguyen, 2019);

Scincella badenensis (Nguyen, Nguyen, Nguyen & Murphy, 2019); Lycodon namdongensis (Luu, Ziegler , Ha, Le & Hoang, 2019); Oligodon rostralis (Nguyen,

Recent studies have identified several new amphibian species, including Rhacophorus vanbanicus (Kropachev et al., 2019), Megophrys caobangensis (Nguyen et al., 2020), Gacixalus trieng (Rowley et al., 2020), and Kurixalus gracilloides (Nguyen et al., 2020) These discoveries contribute significantly to our understanding of biodiversity in the region, highlighting the importance of ongoing research in amphibian taxonomy and conservation.

Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá thì Nguyen Thanh Luan et al

Năm 2016, một nghiên cứu đã được thực hiện trong giai đoạn 2015-2016 nhằm bổ sung danh mục động vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá Báo cáo này đã hoàn thiện danh sách với 31 loài bò sát và ếch nhái, thuộc 16 họ và 2 bộ khác nhau.

Nhiều số liệu hiện tại đã lỗi thời và chưa được cập nhật kịp thời, dẫn đến tình trạng thiếu thông tin cho nhiều loài Do đó, việc điều tra bổ sung và cập nhật thông tin mới là cần thiết để cung cấp dữ liệu tham khảo cho các nghiên cứu trong tương lai.

Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về bò sát và ếch nhái tại Quảng Bình, đặc biệt là tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, cho thấy nơi đây có 151 loài, bao gồm 50 loài lưỡng cư, 12 loài rùa, 31 loài thằn lằn và 58 loài rắn Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào VQG này, trong khi các khu vực khác như KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong vẫn chưa được khai thác Nghiên cứu duy nhất tại khu vực này vào năm 2015 chỉ ghi nhận 67 loài bò sát và ếch nhái, nhưng chỉ ở một số tiểu khu Do đó, cần thiết phải tiến hành thêm các nghiên cứu để cập nhật thông tin và bổ sung cho danh sách loài tại khu vực này, nhất là từ khi khu vực này được thành lập vào ngày 25 tháng 06 năm 2020.

Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong, tỉnh Quảng Bình, với diện tích rộng lớn và hệ sinh thái đa dạng từ rừng thường xanh đến thủy vực và đồng ruộng, là môi trường sống lý tưởng cho nhiều loài bò sát và ếch nhái Tuy nhiên, sự tác động mạnh mẽ của con người đã ảnh hưởng tiêu cực đến quần thể các loài này Nghiên cứu thành phần loài bò sát và ếch nhái tại khu vực này sẽ là cơ sở quan trọng để phát triển các giải pháp bảo tồn hiệu quả, góp phần khôi phục và bảo vệ nguồn gen quý giá của khu hệ bò sát và ếch nhái.

Cần thiết phải tiến hành nghiên cứu để bổ sung thành phần loài, cập nhật hệ thống phân loại, phân bố và đánh giá tình trạng bảo tồn khu hệ bò sát và ếch nhái tại Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Từ những nghiên cứu này, các phương pháp bảo tồn cho khu hệ bò sát và ếch nhái cũng như khu hệ động vật trong khu vực sẽ được đề xuất.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện tự nhiên

Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, được thành lập theo quyết định số 2156/QĐ-UNND ngày 25 tháng 06 năm 2020 của UBND tỉnh Quảng Bình, tọa lạc tại xã Kim Thủy, huyện Lệ Thủy, phía Tây - Nam tỉnh Quảng Bình Khu vực này giáp ranh với CHDCND Lào ở phía Tây, xã Ngân Thuỷ ở phía Đông, xã Lâm Thuỷ ở phía Bắc và KBTTN Bắc Hướng Hoá (tỉnh Quảng Trị) ở phía Nam Với tổng diện tích 22.595,94 ha, khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong bao gồm 22 tiểu khu.

Có toạ độ địa lý: Từ 16° 55' 19'' đến 17° 4' 55'' vĩ độ bắc

Từ 106° 32' 50'' đến 106° 48' 26'' kinh độ đông

2.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn

Khu vực này thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa đông tương đối lạnh Mùa khô diễn ra từ tháng 4 đến đầu tháng 9, trong đó tháng 6 và tháng 7 là thời điểm khô hạn gay gắt nhất Mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 9 đến tháng 12, với lượng mưa lớn nhất vào tháng 10 và tháng 11 Mặc dù khu vực không có trạm quan trắc khí tượng, trạm Khe Sanh là gần nhất và có điều kiện phù hợp để tham khảo Dữ liệu quan trắc khí tượng trong 20 năm tại Khe Sanh cho thấy các chỉ tiêu khí tượng trung bình rõ ràng.

- Nhiệt độ bình quân năm 22,3 0 C

- Nhiệt độ bình quân tối cao 25,8 0 C vào tháng 6,

- Nhiệt độ bình quân tối thấp 18,1 0 C vào tháng 1,

- Lượng mưa bình quân năm 2.079 mm,

- Lượng mưa bình quân tháng thấp nhất 18,8 mm vào tháng 2,

- Lượng mưa bình quân tháng cao nhất nhất 456,2 mm vào tháng 10,

Có 3 loại gió mùa chính thịnh hành trong khu vực Gió mùa đông- nam mang theo hơi ẩm và mưa lớn, thịnh hành từ tháng 9 đến tháng 11 Gió mùa đông- bắc mang theo hơi lạnh và mưa phùn, thịnh hành từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Gió mùa tây- nam bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9, thường khô và nóng nên mùa khô bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9.

Khu vực này nằm ở đầu nguồn của sông Long Đại và sông Kiến Giang, hai nhánh của sông Nhật Lệ, là một trong những sông lớn nhất tỉnh Quảng Bình Nơi đây có nhiều khe suối nhỏ tạo thành hai hệ sông chính: hệ sông Sa Ram và Khe Bang Hệ Sa Ram bao gồm các suối lớn như Khe Vàng, Khe Bung và suối Sa Ram, trong khi hệ Khe Bang cũng có những suối lớn như An Bai, Rào Chân và Khe Bang Các sông suối trong khu vực thường ngắn, có độ dốc lớn và xâm thực sâu, dẫn đến tình trạng lũ lụt và sạt lở đất, ảnh hưởng đến giao thông trong vùng.

2.1.3 Địa hình và địa chất

Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong nằm trong vùng núi thấp với địa hình tương đối dốc Độ cao trung bình trong khu vực khoảng 500 -

Địa hình khu vực có độ cao từ 120 m đến 1220 m so với mực nước biển, với điểm thấp nhất nằm ở ranh giới khu vực Khe Bang Đỉnh cao nhất đạt 1220 m, nằm giữa ranh giới hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị, trong khi phần lớn các đỉnh núi còn lại đều có độ cao dưới 1000 m.

Vùng núi có độ cao trên 700 m chỉ chiếm khoảng 10% diện tích khu vực, trong khi 90% còn lại là đồi núi dưới 700 m Theo Thái Văn Trừng (1978), đây là rừng nhiệt đới thường xanh trên núi đất thấp, hiện đang bị suy thoái và trở nên hiếm do dễ tiếp cận Rừng này được các tổ chức bảo tồn thiên nhiên xếp loại là có giá trị bảo tồn cao (WWF 2008) do nguy cơ đe dọa lớn Tại Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, kiểu rừng trên vùng núi đất thấp vẫn chiếm tỷ lệ cao, là đối tượng cần được bảo tồn trong khu vực và là mục tiêu bảo tồn toàn quốc.

2.1.3.2 Địa chất Địa chất vùng điều tra thuộc miền vòng trống Paleozoi rộng lớn thuộc đớiTrường Sơn Bắc, có cấu tạo đặc thù với nhiều mặt cắt Paleozoi khá đầy đủ và dày.Bao gồm các trầm tích Odovic thượng và Silua Thành phần bồi lắng gồm

Trong khu vực điều tra, có sự xuất hiện của các loại vật liệu như sắt, cát, Conglonurat, cuội, sỏi và dăm Quá trình bồi lắng diễn ra song song với sự xâm nhập của các khối magma acid như Granit, Daxit và Rhefonit Đặc biệt, diện tích đáng kể của các thung lũng kiến tạo và xâm thực được hình thành dọc theo các con sông suối, với nham thạch chủ yếu là các khối được tạo thành từ những nguyên liệu này.

Magma, granit và rhyonit là những loại đá có đặc điểm mỏng, kết cấu hạt thô và tỷ lệ thạch anh lớn, khó phong hóa Các vùng thạch từ trầm tích hạt thô như sa thạch, cuội kết và dăm kết có kết cấu hạt thô, dễ rửa trôi và xói mòn Đất hình thành từ phiến thạch sét, sa thạch và magma acid có tính chất chua, phân bố phức tạp, tạo ra nhiều loại đất với độ phì khác nhau, phụ thuộc vào địa hình, thảm thực bì, độ cao và độ dốc.

Khu vực Động Châu - Khe Nước Trong sở hữu thảm thực vật rừng phong phú, đặc biệt là ở vùng núi thấp dưới 700 m so với mực nước biển Mặc dù nhiều nơi khác đã bị phá hủy do gần dân cư, khu dự trữ này vẫn duy trì khoảng 18.000 ha thảm thực vật rừng Kết quả từ việc phân tích ảnh vệ tinh và khảo sát thực địa cho thấy tỷ lệ độ che phủ rừng đạt tới 99%, chứng tỏ sự đa dạng sinh học của khu vực này.

Trừng (1978), các kiểu thảm thực vật chính và phụ của khu vực được trình bày chi tiết tại bảng 2.1.

Bảng 2.1 Hiện trạng thảm thực vật

Stt Kiểu thảm thực vật

1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới

2 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp

3 Kiểu rừng thứ sinh sau khai thác kiệt

4 Kiểu rừng thứ sinh phục hồi sau biến mất rừng

5 Kiểu rừng phát triển trên núi đá vôi

7 Trảng cỏ, cây bụi, cây gỗ rải rác

(Nguồn: Viện điều tra Quy hoạch rừng điều tra trong các năm 2009- 2011, Chi cục

Kiểm lâm và các chuyên gia rà soát bổ sung đầu năm 2018)

Viện Sinh thái Tài nguyên Sinh vật, Trường Đại học Lâm nghiệp và Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt (VietNature) đã kế thừa các tài liệu và kết quả khảo sát trước đây của các nhà khoa học quốc tế, tiến hành điều tra từ năm 2014 đến 2017 Kết quả cho thấy có 357 loài động vật có xương sống trên cạn, bao gồm 76 loài thú, 214 loài chim và 67 loài bò sát, ếch nhái.

Bảng 2.2 Thành phần loài động vật có xương sống tại Khu Dự trữ Thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong Bộ

Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong đã ghi nhận tổng cộng 76 loài thú, bao gồm nhiều loài đặc trưng của vùng Bắc Trường Sơn, thông qua khảo sát trực tiếp và bẫy ảnh Các loài thú nổi bật tại đây bao gồm Khỉ mặt đỏ, Khỉ đuôi lợn, Chà vá chân nâu, Vượn siki, Thỏ vằn, Tê tê java, Gấu ngựa, Mang trường sơn, Mang lớn, Saola và Sơn dương Đặc biệt, trong số các loài này, Tê tê java và Saola đang bị đe dọa tuyệt chủng ở mức độ cao nhất (CR).

Khu hệ chim KVNC là đặc trưng của vùng chim đặc hữu đất thấp Trung Bộ, với 214 loài chim được ghi nhận Trong số đó, có 4 trong 7 loài phân bố hẹp, bao gồm Trĩ sao, Khướu mỏ dài, Chích chạch má xám và Khướu má xám Hai loài đang bị đe dọa toàn cầu là Gà lôi lam mào trắng (CR) và Đuôi cụt bụng đỏ (VU), trong đó Gà lôi lam mào trắng chỉ được ghi nhận qua phỏng vấn thợ săn địa phương Mặc dù Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt đã nỗ lực điều tra bằng phương pháp bẫy ảnh, nhưng đến nay, các chuyên gia vẫn chưa ghi nhận được hình ảnh của loài này.

Gà lôi lam mào trắng trên thực địa.

Thực trạng về dân sinh, kinh tế - xã hội

Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong tọa lạc hoàn toàn trong địa phận xã Kim Thủy, nơi không có cư dân sinh sống trong khu vực ranh giới của nó.

Xã Lâm Thủy giáp ranh với xã Kim Thủy, có khoảng cách gần tới khu rừng và một phần ranh giới tiếp giáp với khu bảo tồn thiên nhiên Do đó, vùng đệm của Khu vực bảo tồn thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong được xác định là diện tích nằm ngoài ranh giới của khu dự trữ thiên nhiên, thuộc 02 xã Kim Thủy và Lâm Thủy.

2.2.1 Đặc điểm dân số và dân tộc

Xã Kim, nằm trong khu vực miền núi rẻo cao và giáp biên giới, có mật độ dân số rất thưa Theo số liệu năm 2016, mật độ dân số trung bình tại đây cho thấy đặc điểm dân cư của vùng đệm này.

Mật độ dân số tại xã Thủy là 75,34 người/km², trong khi xã Lâm Thủy chỉ có 5,97 người/km² Tỉ lệ tăng dân số cơ học của hai xã này rất thấp; cụ thể, xã Kim Thủy có dân số 3.661 người vào năm 2015.

Năm 2016, tổng dân số huyện Lệ Thủy đạt 3.672 người, với tỷ lệ tăng dân số là 0,3% Tại xã Lâm Thủy, dân số năm 2015 là 1.355 người, tăng lên 1.360 người vào năm 2016, tương ứng với tỷ lệ tăng dân số 0,37% (Nguồn: Niên giám thống kê huyện Lệ Thủy tháng 5/2017).

Tại hai xã, thành phần dân tộc chủ yếu là người Vân Kiều, chiếm 73,6% tổng số hộ và 78,9% dân số Cụ thể, xã Lâm Thủy có đến 94,1% dân số là người Vân Kiều, trong khi xã Kim Thủy cũng có 72,6% là người Vân Kiều Ngược lại, người Kinh chỉ chiếm 26,4% số hộ và 21,1% dân số tại hai xã này.

Kim Thủy và Lâm Thủy là hai xã miền núi giáp biên giới Việt - Lào, nổi bật với diện tích lớn trong tỉnh Quảng Bình Tổng diện tích tự nhiên của hai xã này góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường khu vực.

2 xã là 71.527,16 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tới 94,47%.

Bảng 2.3 Cơ cấu sử dụng đất Đơn vị tính: ha

1 Đất sản xuất nông nghiệp

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Lệ Thủy tháng 5 năm 2017)

Diện tích đất nông nghiệp chỉ chiếm 2,59%, vì vậy sản xuất lâm nghiệp trở thành nguồn thu nhập chính Số hộ kinh doanh thương mại dịch vụ và sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp rất ít, chỉ chiếm 0,97%, trong khi phần lớn vẫn phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp.

2.2.3 Đặc điểm xã hội và cơ sở hạ tầng

2.2.3.1 Giáo dục Điều kiện cơ sở hạ tầng cho giáo dục đã được cải thiện rất nhiều Hầu hết các cụm thôn, bản đều có điểm trường mầm non Hiện tại, địa phương có nhiều chính sách ưu đãi đối với học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số, nên hầu hết trẻ em ở độ tuổi 5-6 tuổi đến trường đạt tỷ lệ 100% Tỷ lệ mù chữ thấp, chỉ còn tồn tại ở những người lớn tuổi.

Mỗi xã đều có trạm y tế kiên cố, thường nằm ở trung tâm, với 10 phòng khép kín và trang thiết bị khám chữa bệnh đầy đủ Trạm Kim Thủy đạt chuẩn quốc gia, với đội ngũ cán bộ y tế gồm 1 bác sĩ, 1 y sĩ và 3 y tá, bên cạnh đó, các thôn bản cũng có y tá thôn bản Tuy nhiên, chất lượng chăm sóc sức khoẻ cộng đồng bị ảnh hưởng do trình độ nghiệp vụ của cán bộ y tế còn hạn chế.

Trong những năm gần đây, các tuyến đường chính, đặc biệt là đường mòn Hồ Chí Minh và tỉnh lộ 16, đã được nâng cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch buôn bán và giao lưu Sự phát triển này không chỉ mở rộng cơ hội kinh tế mà còn làm thay đổi diện mạo các xã Kim Thủy và Lâm Thủy, nâng cao đời sống của người dân.

Xã Kim Thủy và xã Lâm Thủy đã có điện lưới đến tận các bản, đảm bảo mọi hộ gia đình đều có nguồn điện sử dụng Nước sạch cho sinh hoạt cũng đã được cung cấp cho các thôn bản, góp phần nâng cao chất lượng đời sống Điều kiện sinh hoạt và trang thiết bị trong các hộ gia đình đang dần được cải thiện, với hầu hết các hộ đã sở hữu ti vi, và một số gia đình đã có tủ lạnh.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là cung cấp dữ liệu chi tiết về các loài bò sát và ếch nhái, cùng với các thông tin liên quan, nhằm hỗ trợ công tác bảo tồn và quản lý rừng bền vững tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

+ Đánh giá được mức độ đa dạng thành phần loài bò sát, ếch nhái tại

+ Đánh giá được phân bố các loài bò sát, ếch nhái theo sinh cảnh, theo độ cao tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong;

+ Đề xuất được các giải pháp bảo tồn bò sát, ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong.

Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các loài bò sát, ếch nhái

- Phạm vi nghiên cứu: Tại Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong, huyện

Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

- Thời gian nghiên cứu: Thời gian điều tra thực địa được thực hiện từ tháng

07 năm 2018 đến tháng 8 năm 2020 với tổng cộng 95 ngày thực địa với 38 lượt người tham gia, chi tiết xem bảng 3.1.

Bảng 3.1 Nỗ lực nghiên cứu thực địa tại KDTTN Động Châu –

Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm xác định sự đa dạng của các loài bò sát và ếch nhái, đồng thời đánh giá sự tương đồng về thành phần loài giữa khu vực nghiên cứu và các khu bảo tồn thiên nhiên (KBT) hoặc vườn quốc gia (VQG) lân cận, cũng như các sinh cảnh tương tự ở Bắc Trung Bộ và phía Bắc Việt Nam.

- Đặc điểm phân bố của các loài bò sát, ếch nhái theo các dạng sinh cảnh sống, theo độ cao ghi nhận loài.

Đánh giá tình trạng bảo tồn của các loài bò sát và ếch nhái trong khu vực nghiên cứu là rất quan trọng Việc xem xét tính đặc hữu giúp xác định các loài chỉ có ở khu vực này, trong khi tính quý hiếm cho thấy mức độ hiếm gặp của chúng Ngoài ra, việc đánh giá các loài bị đe dọa sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về nguy cơ tuyệt chủng, từ đó đưa ra các biện pháp bảo vệ hiệu quả hơn cho hệ sinh thái địa phương.

- Xác định các nhân tố đe doạ đến quần thể bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu.

- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp

Để tiến hành điều tra tại KDTTN Động, cần chuẩn bị các thiết bị và dụng cụ thiết yếu như bản đồ địa hình, GPS, la bàn, đèn pin, dao, túi sơ cứu, gậy bắt rắn, máy ảnh, thước, túi vải đựng mẫu, cồn xử lý mẫu, bộ đồ mổ, xi lanh, nhãn, bút kim, bút chì, lọ nhựa đựng mẫu vật và sổ tay ghi chép Điều tra sẽ được thực hiện theo 10 tuyến điều tra chính đã được thiết lập.

Tuyến điều tra tại Châu - Khe Nước Trong được thiết lập dựa trên bản đồ địa hình, thảm thực vật và sinh cảnh sống của các loài bò sát, ếch nhái trong khu vực nghiên cứu Các tuyến điều tra chính được xây dựng theo các đường mòn tuần tra do Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt thiết kế, với chi tiết được thể hiện trong hình 3.1 và bảng 3.2 Tuyến điều tra phụ sẽ được thiết kế để đảm bảo đi qua các dạng sinh cảnh và độ cao khác nhau, đặc biệt chú trọng đến các điểm có nước, vách đá và thung lũng Mỗi tuyến điều tra được đánh dấu bằng điểm đầu và điểm cuối, sử dụng cây to hoặc địa vật cụ thể.

Chọn điểm thu mẫu: Tập trung vào các khu vực ẩm ướt như ven suối, vũng nước, vách đá, cửa hang, trên cây và quan sát dưới mặt đất.

Ghi chép các ghi nhận: Ghi các toạ độ bằng máy định vị vệ tinh GPS Garmin

78s (Hệ toạ độ VN-2000), ghi chép vào sổ thực địa Ghi độ ẩm bằng máy Rocktrail Z29592 Chụp ảnh bằng máy ảnh Canon Rebel XL2.

Thời gian thu mẫu: Thời gian điều tra quan sát và thu thập mẫu vật ban ngày từ 09:00 - 16:00, ban đêm từ 19:00 - 24:00.

Phương pháp thu mẫu chủ yếu sử dụng tay và các dụng cụ chuyên dụng như kẹp và gậy bắt rắn để thu thập mẫu vật Các mẫu vật được bảo quản trong túi vải hoặc túi nilon chắc chắn Sau khi chụp ảnh và thực hiện phân loại sơ bộ, những mẫu vật phổ biến sẽ được thả lại tự nhiên, trong khi các mẫu vật đại diện sẽ được lưu giữ để phục vụ cho nghiên cứu.

Hình 3.1 Bản đồ các tuyến điều tra chính tại KDTTN Động Châu

Bảng 3.2 Các tuyến điều tra chính tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong

Tuyến 1: Rum Ho- Ngọn khe Đan

Tuyến 2: Cầu Khỉ - Ngọn khe Le

Tuyến 3: Cầu Khỉ -Ngọn khe Vàng

Tuyến 4: Trung Đoàn - Ngọn khe Lương

Tuyến 5: Trung Đoàn - Ngọn khe Máy Bay

Tuyến 6: TK527 - Ngọn khe Gõ

Tuyến 9: Chốt Rộp - Ngọn Kiến Giang

Mẫu vật được gây mê trong vòng 24 giờ bằng miếng bông thấm etyl acetate Đối với mẫu cơ hoặc mẫu gan phục vụ phân tích sinh học phân tử (ADN), chúng được bảo quản trong cồn 95% và được cách ly bằng formalin.

Sau khi gây mê, mẫu vật cần được gắn nhãn có đánh số ký hiệu, với nhãn và chỉ buộc không thấm nước và chữ viết không bị tan trong cồn Đối với ếch nhái, nhãn được buộc vào đầu gối Việc cố định mẫu cần đảm bảo hình dạng dễ phân tích hoặc quan sát sau này; sắp xếp theo hình dạng mong muốn và phủ vải màn hoặc giấy thấm, sau đó ngâm trong cồn 80-90% trong 8-10 tiếng Đối với mẫu bò sát và ếch nhái cỡ lớn, cần tiêm cồn 80% vào bụng và cơ để tránh thối hỏng.

Bảo quản mẫu vật: Để bảo quản lâu dài, sau khi cố định mẫu được chuyển sang ngâm trong cồn 70%.

3.4.2 Phương pháp phân tích hình thái và định danh mẫu vật BSEN

3.4.2.1 Phương pháp phân tích hình thái mẫu vật BSEN

Các chỉ số hình thái được sử dụng theo nghiên cứu của Nguyen et al (2012) cho các loài ếch nhái, Phung & Ziegler (2011) cho các loài thằn lằn, và David et al (2012) cho các loài rắn Những chỉ số này được đo bằng thước kẹp điện tử Alpha-Tool với độ chính xác tối thiểu là 0,01 mm Một số chỉ số chính được trình bày trong bảng 3.3.

3.4.2.2 Phương pháp định danh mẫu vật

So sánh hình thái của mẫu vật thu được với các mẫu đã được định tên tại Trường Đại học Lâm nghiệp cho thấy sự tương đồng và khác biệt rõ rệt Việc định loại tên loài được thực hiện dựa trên các tài liệu uy tín như Inger et al (1999), Bain & Nguyen (2004), Bain et al (2006, 2009), Hendrix et al (2008), Nguyen Van Sang et al (2009), Nguyen Quang Truong et al (2012), và Ziegler & Vu, góp phần khẳng định tính chính xác trong việc phân loại.

Theo nghiên cứu của Nguyen Van Sang và các cộng sự (2009) cùng với một số tài liệu mới công bố gần đây, tên khoa học và tên phổ thông của loài đã được xác định rõ ràng.

3.4.3 So sánh mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các khu vực

Nghiên cứu này dựa trên dữ liệu thu thập từ thực địa và các công trình đã công bố, nhằm so sánh mức độ tương đồng về thành phần loài giữa KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong và các khu bảo tồn thiên nhiên (KBT), vườn quốc gia (VQG) có sinh cảnh tương tự như KBTTN Bắc Hướng Hóa (Quảng Trị), VQG Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), và VQG Cúc Phương (Ninh Bình) Phân tích tương quan giữa thành phần loài của các khu vực này được thực hiện bằng phần mềm PAST Statistic (Hammer et al.).

Để phân tích thống kê, dữ liệu được mã hóa theo dạng đối xứng với giá trị 1 cho sự hiện diện và 0 cho sự không hiện diện Chỉ số tương đồng Sorensen-Dice được tính bằng công thức d jk = 2M / (2M + N), trong đó M là số loài ghi nhận ở cả hai vùng và N là tổng số loài chỉ ghi nhận ở một vùng.

3.4.4 Phương pháp đánh giá đặc điểm phân bố các loài bò sát, ếch nhái

3.4.4.1 Phân bố theo sinh cảnh

Dựa trên phân chia thảm thực vật của UNESCO 1973 và tác động của con người đến thảm thực vật theo tài liệu “Sổ tay hướng dẫn điều tra và giám sát đa dạng sinh học (2003)”, cùng với hiện trạng rừng tại khu vực nghiên cứu và kết quả nghiên cứu thực địa, chúng tôi đã đánh giá sự phân bố của các loài rắn trong ba dạng sinh cảnh chính: khu dân cư và đất nông nghiệp (bao gồm ao, vườn quanh nhà, đất canh tác), rừng thứ sinh đang phục hồi (như rừng phục hồi sau nương rẫy, sau cháy, rừng bị khai thác mạnh, cây bụi) và rừng thường xanh ít bị tác động (gồm rừng giàu, rừng cây lá rộng, rừng hỗn giao thường xanh) Kết quả sẽ được trình bày theo mẫu biểu 01.

Mẫu biểu 01: Phân bố các loài rắn theo sinh cảnh tại khu vực nghiên cứu

3.4.4.2 Phân bố theo độ cao

Theo nghiên cứu của Bain & Hurley (2011), khu vực Đông Dương được phân chia thành hai đai độ cao dựa trên điều kiện tự nhiên, cụ thể là dưới 800 m và trên 800 m Chúng tôi sẽ tuân thủ phương pháp phân chia này trong việc tổng hợp và so sánh số liệu, mặc dù có thể điều chỉnh dựa trên các đặc điểm riêng biệt của từng khu vực.

Chúng tôi đã phân chia khu vực KDTTN theo độ cao 400 m, với khu vực dưới 400 m là nơi có dân cư sinh sống, từ 400 m đến 800 m là rừng thứ sinh đang phục hồi, và trên 800 m là rừng thường xanh ít bị tác động Kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày theo mẫu biểu 02.

Mẫu biểu 02: Phân bố thành phần loài rắn theo độ cao tại KBT Nam Động

3.4.5 Đánh giá tình trạng bảo tồn

- Đánh giá tình trạng bảo tồn: Dựa trên các căn cứ pháp lý gồm Nghị định

Nghị định 64/2019/NĐ-CP của Chính phủ, ban hành vào tháng 6 năm 2019, dựa trên các tài liệu khoa học như Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục Đỏ IUCN (2020), đã xác định các loài đặc hữu chỉ ghi nhận phân bố tại Việt Nam.

Xác định khu vực ưu tiên cho bảo tồn các loài bò sát và ếch nhái dựa trên kết quả đánh giá tình trạng bảo tồn và dữ liệu phân bố của chúng Xây dựng bộ tiêu chí phân vùng ưu tiên bảo tồn theo tiểu khu với ba mức độ: cao, trung bình và thấp.

Tư liệu nghiên cứu

- Đã phân tích đặc điểm hình thái của 207 mẫu bò sát, ếch nhái thu thập tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong năm 2018, 2019 và 2020.

- Tham khảo các mẫu vật lưu giữ tại Trường Đại học Lâm Nghiệp (VNUF).

- Tham khảo các mẫu vật lưu giữ tại Bảo tàng khoa học VQG Cúc Phương.

Các tài liệu trong nước và quốc tế liên quan đến bò sát và ếch nhái bao gồm sách, tạp chí khoa học, báo cáo và luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, cùng với các tài liệu khác có liên quan.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Đa dạng về thành phần loài BSEN tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong21 1 Đa dạng thành phần loài bò sát tại Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong

Dựa trên phân tích 204 mẫu vật và quan sát 3 mẫu rùa, nghiên cứu đã xác định được 56 loài động vật, bao gồm 34 loài bò sát và 22 loài ếch nhái, thuộc 42 giống và 18 họ tại KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong So với nghiên cứu trước đó của Phạm Thế Cường và cộng sự (2019), nghiên cứu này ghi nhận thêm 16 loài mới, trong đó có 11 loài bò sát và 5 loài ếch nhái.

Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu về 16 giống (11 giống bò sát và 04 giống ếch nhái) thuộc 10 họ (07 họ bò sát và 03 họ ếch nhái) trong khu vực KDTTN Động Châu - Khe Nước Đáng chú ý, có 01 loài mới được ghi nhận cho tỉnh Quảng Bình và 03 họ mới được bổ sung vào danh lục, nâng tổng số họ bò sát và ếch nhái của KDTTN lên 21 họ với 83 loài Tuy nhiên, so với nghiên cứu của Phạm Thế Cường và cộng sự (2019), nghiên cứu này không ghi nhận 03 họ (Lacertidae, Pythonidae, và Pareatidae) và thiếu 27 loài (15 loài bò sát, 12 loài ếch nhái) so với kết quả trước đó.

4.1.1 Đa dạng thành phần loài bò sát tại Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong

Chúng tôi đã phân tích 129 mẫu vật bò sát và quan sát 3 mẫu rùa, từ đó xác định được 34 loài bò sát Kết hợp với nghiên cứu trước, danh lục bò sát tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong hiện có 49 loài thuộc 32 giống, 15 họ, 2 bộ Tuy nhiên, 15 loài bò sát đã được ghi nhận trong tài liệu trước không được phát hiện trong nghiên cứu này Trong số 34 loài đã định danh, chúng tôi bổ sung 11 loài bò sát mới cho KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, trong đó có Rắn khuyết lào Lycodon laoensis, một loài mới ghi nhận cho tỉnh Quảng Bình Đặc biệt, chúng tôi cũng ghi nhận 3 họ mới cho khu vực này, bao gồm họ Thằn lằn Rắn (Anguidae), họ Rắn bồng (Homalopsidae) và họ Rắn hổ xiên (Pseudoxenodontidae).

Bảng 4.1 Danh lục các loài bò sát tại Khu DTTN Động Châu –

Rửsler, Nguyen, Vu, Ngo & Ziegler, 2008

8 Takydromus hani Chou, Nguyen & Pauwels,

L ruhstrati abditus (Vogel, David, Pauwels,

27 Sumontha, Norval, Hendrix, Vu & Ziegler,

Ghi chú: * Loài ghi nhận mới cho KDTTN ** Loài ghi nhận mới cho tỉnh Quảng Bình

1Phạm Thế Cường và cs (2019)

Xét theo tính đa dạng về giống thì họ Rắn nước Colubridae đa dạng nhất với

Trong tổng số giống bò sát được ghi nhận, họ Thằn lằn Scincidae chiếm 31,2% với 10 giống, tiếp theo là 5 giống của họ Nhông Agamidae (15,6%) Các họ Tắc kè Gekkonidae và Rắn nước Natricidae mỗi họ có 3 giống, trong khi họ Rắn hổ Elapidae, Rắn lục Viperidae và Rùa đầm Geoemydidae ghi nhận 2 giống Các họ còn lại chỉ có 1 giống duy nhất.

Họ Rắn nước Colubridae là họ đa dạng nhất với 14 loài, chiếm 28,57% tổng số loài ghi nhận Tiếp theo là họ Thằn lằn Scincidae với 7 loài, tương đương 14,28% Có 3 họ ghi nhận 4 loài, bao gồm họ Nhông Agamidae, Rắn nước Natricidae (8,16%) và Rùa đầm Geomydidae Các họ ghi nhận 3 loài gồm Tắc kè Gekkonidae, Rắn hổ Elapidae; trong khi họ Rắn lục Viperidae và họ Trăn Pythonidae mỗi họ ghi nhận 2 loài Các họ còn lại đều ghi nhận 1 loài.

Hình 4.1 Đa dạng các họ bò sát theo giống và loài

4.1.2 Đa dạng thành phần loài Ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong

Kết quả phân tích 75 mẫu vật cho thấy có 23 loài ếch nhái được xác định Dựa trên tài liệu nghiên cứu trước, chúng tôi đã cập nhật danh lục ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, hiện có 34 loài thuộc 19 giống và 6 họ Nghiên cứu này bổ sung 5 loài ếch nhái mới cho KVNC, nhưng cũng ghi nhận rằng 12 loài đã được ghi nhận trong nghiên cứu trước không có mặt trong nghiên cứu lần này (chi tiết xem bảng 4.2).

Bảng 4.2 Danh lục các loài ếch nhái tại Khu DTTN Động Châu

18 Hylarana attigua (Inger, Orlov & Darevsky,

23 O morafkai (Bain, Lathrop, Murphy, Orlov

Ghi chú: * Loài ghi nhận mới cho KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong

1Phạm Thế Cường và cs (2019)

Trong số 6 họ ghi nhận tại KDTTN, họ Ếch nhái Ranidae là họ có tính đa dạng giống cao nhất với 5 giống, chiếm 26,3% tổng số giống Tiếp theo là họ Ếch cây Rhacophorus và họ Cóc bùn Megophrydae với 4 giống mỗi họ Họ Ếch nhái chính thức Dicroglossidae ghi nhận 3 giống, trong khi họ Cóc Bufonidae có 2 giống Cuối cùng, họ Nhái bầu Microhylidae chỉ ghi nhận 1 giống.

Hình 4.2 Đa dạng các họ ếch nhái theo giống và loài

Họ Ếch cây Rhacophorus là họ đa dạng loài nhất với 10 loài, chiếm 29,4% tổng số loài Tiếp theo là họ Ếch nhái Ranidae với 8 loài, họ Cóc bùn Megophrydae với 6 loài, và họ Ếch nhái với 5 loài Họ Nhái bầu Microhylidae ghi nhận 3 loài, trong khi họ Cóc Bufodidae có 2 loài (chi tiết xem hình 4.2 và bảng 4.2).

Mô tả một số đặc điểm hình thái các loài Bò sát, ếch nhái ghi nhận mới cho

4.2.1 Đặc điểm hình thái các loài bò sát ghi nhận mới cho KVNC

So với nghiên cứu của Phạm Thế Cường và cộng sự (2019), nghiên cứu này đã bổ sung thêm 3 họ mới cho Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong và ghi nhận những thông tin mới quan trọng.

12 loài cho KVNC, trong đó có 10 loài bò sát có vảy và 1 loài rùa: Thằn lằn rắn hác

Dopasia harti (Boulenger, 1899), Rắn leo cây thường Dendrelaphis pictus (Gmelin,

1789), Rắn rào quảng tây Boiga guangxiensis (Wen, 1998), Rắn sọc dưa

Coelognathus radiatus (Boie, 1827), Rắn lệch đầu fut sing Lycodon futsingensis

The article discusses various snake species, including the Lao rat snake (Lycodon laoensis), the Chinese rat snake (Oligodon chinensis), the golden keelback (Rhabdophis chrysargos), the leaden rat snake (Hypsiscopus plumbea), and the bamboo pit viper (Trimeresurus stejnegeri).

Pseudoxenodon bambusicola (Vogt, 1922), Rùa đất sepon Cyclemys oldhamii

(Gray, 1863) Một số đặc điểm hình thái của các loài này được trình bày cụ thể ở phần dưới đây:

Ag am id ae G ek ko ni da e

Hình 4.3 Các loài bò sát ghi nhận mới tại KVNC

Họ Thằn lằn rắn Anguidae

1 Thằn lằn Rắn hác Dopasia harti (Boulenger, 1899)

Mẫu vật nghiên cứu (n = 1): 01 mẫu cái kí hiệu KNT.19.45 Đặc điểm nhận dạng: SVL 120,5 mm 16 hàng vảy giữa hai nếp gấp sườn;

Hàng vảy của loài này có 95 vảy dọc và nếp gấp ở sườn Mặt lưng có màu nâu xám hoặc trắng-kem, với các sọc ngang sẫm màu Hai bên lưng có sọc sẫm nhỏ kéo dài từ sau mắt tới mút đuôi, trong khi bụng có màu trắng đục (theo định loại của Nguyen et al., 2011).

Thông tin khác về mẫu: Mẫu vật được thu vào khoảng 9h30, ở ven đường mòn có nhiều lá khô, trong rừng phục hồi.

2 Rắn leo cây thường Dendrelaphis pictus (Gmelin, 1789)

Mẫu vật nghiên cứu (n=1): 01 mẫu đực KNT.19.30 (SVL 685,2 mm, TaL 303 mm). Đặc điểm nhận dạng: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của

Theo nghiên cứu của Smith (1943), Nguyễn Văn Sáng (2007), và Ngô Đắc Chứng cùng Dương Đức Lợi (2016), kích thước đầu của loài này dài 20,2 mm và rộng 9,6 mm, với đầu phân biệt rõ ràng so với cổ Chiều dài tấm gian mũi là 1,9 mm và tấm trước trán dài 2,5 mm Các thông số khác bao gồm DSR 15-11-11, bề mặt trơn, 201 tấm bụng và 145 vảy dưới đuôi, được chia đôi Môi trên có 9 tấm, trong đó tấm thứ 3, 4, và 5 tiếp giáp với mắt bên trái, còn tấm 4, 5, và 6 tiếp giáp với mắt bên phải, với tấm thứ 5/6 lớn nhất Môi dưới cũng có 9 tấm, trong đó có 4 tấm tiếp giáp với tấm sau cằm trước, 1 tấm trước ổ mắt, 2 tấm sau ổ mắt, 2 tấm thái dương trước và 2/3 tấm thái dương sau.

Mẫu sống có màu sắc đặc trưng với mặt lưng vàng nâu, nổi bật với đường đen kéo dài từ mõm qua mắt đến gáy Bên sườn có viền vàng nhạt chạy dọc, trong khi môi, họng và bụng có màu vàng rất nhạt.

Mẫu vật thu được có đặc điểm sinh thái đáng chú ý, bị chết do xe cán trên đường, trong môi trường rừng trồng keo với nhiệt độ 27,0°C và độ ẩm 65,0% Loài này chủ yếu ăn ếch nhái, thằn lằn và chim nhỏ (theo Nguyễn Văn Sáng, 2007).

Loài này có sự phân bố rộng rãi tại Việt Nam, từ Điện Biên đến Cà Mau Trên phạm vi toàn cầu, loài này hiện diện ở Ấn Độ, Nê-pan, Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á (Nguyen et al.).

2009) Loài ghi nhận phân bố mới cho KVNC.

Hình 4.5 Rắn leo cây thường Dendrelaphis pictus (Ảnh: Hà Văn Nghĩa)

3 Rắn rào quảng tây Boiga guangxiensis (Wen, 1998)

Mẫu vật nghiên cứu (n=1) là một mẫu cái (KNT.19.34) với đặc điểm hình thái phù hợp theo mô tả của Ziegler et al (2007) Kích thước của mẫu vật bao gồm SVL 985 mm, TaL 380 mm, đầu dài hơn rộng với HL 23,32 mm và HW 13,2 mm Mắt có hình bầu dục lớn, tấm thái dương trước 2/2, tấm sau thái dương 3/3, vảy môi trên 8/8, vảy môi dưới 10/10, hàng vảy thân 23:15:15, vảy bụng 270 và vảy dưới đuôi 145, tất cả đều có đặc điểm kép.

Mẫu sống có màu sắc đặc trưng với đầu và thân màu nâu đỏ, phần trước thân nổi bật với các khoang màu đỏ đen, càng về phía đuôi thì các khoang này càng mờ và không rõ Bụng của mẫu sống mang màu vàng nhạt.

Một số đặc điểm sinh thái: Mẫu vật được thu khi đang trườn trên mặt đất rừng ở rừng thứ sinh tự nhiên.

Hình 4.6 Rắn rào quảng tây Boiga guangxiensis

4 Rắn sọc dưa Coelognathus radiatus (Boie, 1827)

Mẫu vật nghiên cứu (n=1) gồm 01 mẫu đực (KNT.19.36) có đặc điểm hình thái phù hợp với mô tả của Hoàng Xuân Quang và cộng sự (2012) Kích thước SVL đạt 925 mm và TailL 180 mm Đầu của mẫu vật dài, phân biệt rõ với cổ, mắt có kích thước trung bình với con ngươi hình tròn Lỗ mũi nằm giữa tấm mũi chia, trong khi tấm mõm rộng hơn chiều cao, có thể nhìn thấy một phần từ phía trên.

Có 31 tấm gian mũi, kích thước nhỏ hơn 2 tấm trước trán Tấm trán dài hơn rộng và tiếp xúc với tấm trước mắt tại một điểm Có 1 tấm má dài hơn cao, nằm trên tấm mép trên thứ hai và thứ ba, cùng với 1 tấm trước mắt cao và 2 tấm sau mắt Tấm thái dương có 2 tấm ở mỗi bên, và tổng cộng có 9 tấm mép trên, trong đó tấm thứ 4 được chú ý.

Loài này có 5 và 6 chạm mắt, với 10 tấm mép dưới mỗi bên; 4 tấm đầu tiên chạm tấm sau cằm thứ nhất Tấm cằm bé, hình tam giác, viền nhỏ hơn viền của tấm mõm Có 2 cặp tấm sau cằm, cặp thứ nhất lớn hơn cặp thứ hai và tiếp xúc nhau, trong khi cặp thứ hai được phân cách bởi 1 + 2 vảy họng Thân có 19 hàng vảy với gờ yếu, ngoại trừ hàng vảy ngoài cùng nhẵn; 227 vảy bụng và 60 vảy dưới đuôi, kép Tấm hậu môn nguyên vẹn Màu sắc của thân và đầu là nâu hồng, với 3 vệt đen nhỏ xung quanh mắt; 2 vệt chạy xuống môi và 1 vệt nối với vòng đen ở gáy Lưng có màu nâu xám hoặc xám, với 4 sọc đen chạy dọc, trong đó 2 sọc giữa lưng to và liên tục, còn 2 sọc bên ngoài mảnh hơn và đứt đoạn Bụng có màu vàng nhạt.

Phân bố: Việt Nam: Khắp các vùng trong cả nước

Hình 4.7 Rắn sọc dưa Coelognathus radiatus 5 Rắn lệch đầu fut sing Lycodon futsingensis (Pope,

Mẫu vật nghiên cứu (n =1): 01 mẫu đực KNT19.35 (SVL 470,0 mm, TaL

130,0 mm). Đặc điểm nhận dạng: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của

Bourret (1936), Nguyễn Văn Sáng (2007), Vogel et al (2009), Luu et al (2013b),

Nguyen et al (2016), Pham et al (2017), và Nguyen et al (2018) mô tả đặc điểm hình thái của loài với thân dài, đầu phân biệt rõ ràng với cổ Cấu trúc vảy bao gồm 02 tấm thái dương trước, 03 tấm thái dương sau, 01 tấm má không chạm vào mắt, 01 tấm trước ổ mắt, và 02 tấm sau ổ mắt Môi trên có 08 tấm, trong đó tấm thứ 3, 4, và 5 tiếp giáp với mắt, tấm số 06 là lớn nhất Môi dưới có 10 tấm, với 05 tấm tiếp giáp với tấm sau cằm trước Các chỉ số DSR là 17-17-15, vảy bụng có 201 tấm, tấm hậu môn đơn và vảy dưới đuôi có 81 tấm.

Màu sắc mẫu sống: Màu sắc màu xám đen có 19 vòng trắng quanh thân, có

14 vòng trắng quanh đuôi, bụng màu trắng đục.

Mẫu vật được thu thập vào ban đêm, đặc biệt là trong khoảng thời gian từ 19h30 đến 21h20, khi nhiệt độ môi trường dao động từ 22,9 đến 24,1 độ C và độ ẩm không khí đạt từ 88,0 đến 93,0% Mẫu vật đang di chuyển gần các khu vực ven suối, trong bối cảnh sinh thái của rừng thường xanh núi đất.

Loài này ở Việt Nam phân bố từ Lào Cai đến Đà Nẵng, và trên thế giới, chúng được tìm thấy tại Trung Quốc, Đài Loan, Mi-an-ma, Lào và Nhật Bản (Nguyen et al 2009, Nguyen et al 2016, Vogel et al 2009) Đây là ghi nhận phân bố mới cho loài này.

Hình 4.8 Rắn lệch đầu fut sing Lycodon futsingensis

6 Rắn khuyết lào Lycodon laoensis (Günther, 1864)

Mẫu vật nghiên cứu (n =1): 01 mẫu cái kí hiệu thực địa KNT 19.42.

Đặc điểm phân bố các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC

Khu vực nghiên cứu có đặc điểm sinh thái đa dạng, với mẫu vật được tìm thấy trên các lá cây và tảng đá có bám rêu Xung quanh khu vực này là cây bụi và cây gỗ lớn, đồng thời gần kề với khe suối, tạo nên môi trường sống phong phú cho các loài sinh vật.

Hình 4.19 Ếch cây sần bắc bộ Theloderma corticale 4.3 Đặc điểm phân bố các loài bò sát, ếch nhái tại

4.3.1 Phân bố các loài bò sát theo đai cao

Có 20 loài bò sát được ghi nhận ở độ cao dưới 400 m như: Thạch sùng đuôi sần, Hemidactylus frenatus, Ô rô vẩy Acanthosaura lepidogaster, Nhông xám

Calotes versicolor, Nhông em-ma Calotes emma, Rồng đất Physignathus cocincinus…

Có 25 loài bò sát được ghi nhận ở độ cao từ 400 - 800m như: Ô rô vẩy

Acanthosaura lepidogaster, Nhông xám Calotes versicolor, Nhông em-ma Calotes emma, Rồng đất Physignathus cocincinus, Rắn khiếm Trung Quốc Oligodon chinensis, Rắn hoa cỏ vàng Rhabdophis chrysargos…

Có 5 loài bò sát được ghi nhận từ độ cao trên 800 m: Thạch sùng ngón giả bốn vạch Cyrtodactylus cf pseudoquadrivirgatus, Gekko reevesii, Rắn roi thường

Ahaetula prasina, Rắn lệch đầu hồng Lycodon rosozonatus, Rắn hổ xiên trePseudoxenodon bambusicola.

46 Độ cao từ 400 – 800 m có mức độ đa dạng về loài với 25 loài bò sát ( so với

Nghiên cứu ghi nhận 31 loài bò sát cho thấy độ cao trên 800 m rất thuận lợi cho sự sinh sống và phát triển của nhiều loài Trong khi đó, ở độ cao 800 m chỉ ghi nhận 5 loài, điều này có thể do điều kiện khảo sát hạn chế và số lượng loài ở độ cao này vẫn chưa được khám phá đầy đủ.

Hình 4.20 Phân bố các loài bò sát theo đai cao

4.3.1.2 Phân bố các loài ếch nhái theo đai cao

Kết quả phân tích cho thấy tại KVNC, có 11 loài ếch nhái được ghi nhận ở độ cao dưới 400 m, bao gồm các loài như Nhái bầu hây môn (Microhyla heymonsi), Nhái bầu vân (Microhyla pulchra) và Ngoé (Fejervarya limnocharis).

Từ 400 - 800m có 15 loài được ghi nhận gồm các loài như Ếch nhẽo

Limnonectes bannaensis, Ếch lim-boc Limnonectes limborgi, Ếch poa-lan

Limnonectes poilani, Cóc mắt bên Megophrys majo…

Từ độ cao 800m có 2 loài được ghi nhận gồm Ếch gai sần Quasipaa verrucospinosa, Ếch cây sần bắc bộ Theloderma corticale

Ta thấy được độ cao từ 400 - 800 m thì số loài ghi nhận được nhiều nhất với

Trong đợt điều tra này, đã ghi nhận được 15 loài ếch nhái trong tổng số 19 loài Độ cao này tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh sống của nhiều loài ếch nhái Ngược lại, ở độ cao trên 800 m, chỉ phát hiện được 2 loài do thời gian điều tra hạn chế và khó khăn trong việc tiếp cận sinh cảnh.

Hình 4.21 Phân bố các loài ếch nhái theo đai cao 4.3.2 Phân bố bò sát, ếch nhái theo sinh cảnh

Các tác giả đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong việc phân loại sinh cảnh rừng ở Việt Nam Trần Ngũ Phương (1970) phân loại rừng miền Bắc dựa trên các yếu tố đất đai, khí hậu và độ cao UNESCO (1973) chia thảm rừng thành hai lớp quần hệ Thái Văn Trừng (1999) phân loại theo các kiểu thảm thực vật khác nhau Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009) đã đưa ra các tiêu chí xác định và phân loại rừng Việt Nam Vũ Tấn Phương cùng các tác giả khác cũng đóng góp vào việc nghiên cứu và phân loại này.

Năm 2012, nghiên cứu đã phân chia rừng thành 10 kiểu khác nhau, tuy nhiên chúng tôi dựa theo quan điểm của Lê Nguyên Ngật (2003) trong Sổ tay hướng dẫn điều tra và giám sát đa dạng sinh học để phân loại các dạng sinh cảnh Dựa vào đối tượng nghiên cứu, điều kiện tự nhiên như địa hình và thảm thực vật, cũng như mức độ tác động của con người, chúng tôi đã chia khu vực nghiên cứu thành ba sinh cảnh chính: khu dân cư và đất nông nghiệp, rừng thứ sinh đang phục hồi, và rừng thường xanh ít bị tác động.

4.3.2.1 Phân bố các loài bò sát theo sinh cảnh

Biểu đồ hình 4.22 cho thấy rằng loài bò sát phong phú nhất được phân bố trong sinh cảnh rừng thường xanh ít bị tác động, với 25 loài, chiếm 50% tổng số loài.

48 bò sát tại KDTTN) Đây là sinh cảnh rừng giàu chủ yếu ở các tiểu khu như 517,

Sinh cảnh này ghi nhận nhiều loài bò sát như Rồng đất, Thạch sùng ngón giả bốn vạch, Tắc kè và Rắn lục cườm Điều này cho thấy rằng môi trường sống này rất thích hợp cho sự phát triển và sinh trưởng của các loài bò sát.

Sinh cảnh rừng thứ sinh đang phục hồi tại KDTTN ghi nhận sự phân bố của 16 loài bò sát, chiếm 32% tổng số loài trong khu vực Đây là khu vực phục hồi chủ yếu ở các tiểu khu 523, 524, 527, với các loài bò sát đáng chú ý như Thằn lằn bóng đuôi dài, Thằn lằn phê nô ấn độ và Rắn nhiều đai.

Sinh cảnh khu dân cư và đất nông nghiệp ghi nhận ít loài bò sát nhất, với chỉ 7 loài, chiếm 14% tổng số loài tại KDTTN Đây là nơi chủ yếu phân bố các loài bò sát phổ biến như Thằn lằn bóng đuôi dài, Rắn sọc dưa và Ô rô vảy.

Khu dân cư và đất nông Rừng thứ sinh đang phục hồi Rừng thường xanh ít bị tác nghiệp động

Hình 4.22 Phân bố các loài bò sát theo sinh cảnh tại KVNC

4.3.2.2 Phân bố các loài ếch nhái theo sinh cảnh

Biểu đồ hình 4.23 cho thấy sinh cảnh rừng thường xanh ít bị tác động và ghi nhận nhiều loài ếch nhái nhất, với 19 loài, chiếm 38% tổng số loài ếch nhái của KDTTN Các loài ếch nhái được phát hiện trong sinh cảnh này bao gồm Cóc mắt bên, Ếch gai sần, và Ếch cây trung bộ Điều này chứng tỏ rằng rừng thường xanh là sinh cảnh phù hợp nhất cho sự sinh sống và phát triển của nhiều loài ếch nhái.

Sinh cảnh rừng thứ sinh đang phục hồi ghi nhận 16 loài ếch nhái, chiếm 32% tổng số loài ếch nhái của KDTTN Các loài ếch nhái được phát hiện trong sinh cảnh này bao gồm Hiu hiu, Ếch cây oóc-lốp, và Chàng mẫu sơn.

Sinh cảnh ghi nhận ít loài ếch nhái nhất là khu dân cư và đất nông nghiệp, với chỉ 6 loài (chiếm 12% tổng số loài ếch nhái của KDTTN) Các loài như Ếch cây đầu to, Chẫu chuộc, và Ngóe được ghi nhận tại đây Khu vực này gần gũi với dân cư, dẫn đến tác động từ con người ảnh hưởng đến sinh cảnh sống của các loài ếch nhái Hơn nữa, hoạt động thu bắt ếch nhái làm thực phẩm và thương mại vẫn diễn ra, khiến cho phần lớn các loài ghi nhận chủ yếu là các loài thông thường.

Khu dân cư và đất nông nghiệp

Rừng thứ sinh đang phục hồi Rừng thường xanh ít bị tác động

Hình 4.23 Phân bố các loài ếch nhái theo sinh cảnh tại KVNC

So sánh sự tương đồng của bò sát, ếch nhái KVNC với các VQG và KBT khác ở Việt Nam

Để đánh giá mức độ tương đồng về thành phần loài bò sát và ếch nhái giữa các khu bảo tồn lân cận có sinh cảnh tương tự với KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, chúng tôi đã sử dụng số liệu về thành phần loài từ ba khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia Cụ thể, chúng tôi tham khảo KBTTN Bắc Hướng Hoá theo nghiên cứu của Nguyen Thanh Luan et al (2016) và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng theo Luu et al.

(2013), VQG Cúc Phương theo Nguyễn Huy Quang và cs (2018).

Kết quả đánh giá cho thấy KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong có sự đa dạng về thành phần loài lớn hơn so với KBTTN Bắc Hướng Hoá, nhưng kém đa dạng hơn so với VQG Cúc Phương và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng Sự khác biệt này có thể do diện tích rộng lớn hơn và số lượng cuộc điều tra, nghiên cứu nhiều hơn ở hai VQG này Bảng 2 cho thấy chỉ số tương đồng Sorensen-Dice cho thấy KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong có mức độ tương đồng cao về thành phần loài bò sát, ếch nhái với VQG Phong Nha.

Kẻ Bàng có mức độ tương đồng thấp nhất với Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, với chỉ số d jk là 0,39 Sự tương đồng này có thể được giải thích bởi KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng nằm trong cùng một khu vực địa lý và cùng thuộc một tỉnh Hơn nữa, do thiếu nghiên cứu tại KBTTN Bắc Hướng Hóa, thành phần loài bò sát và ếch nhái ở đây chưa được phản ánh đầy đủ.

Bảng 4.3 Chỉ số tương đồng (Sorensen-Dice index) về đa dạng loài bò sát, ếch nhái giữa một số KBTTN và VQG Địa điểm Động Châu-Khe

KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, VQG Cúc Phương và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng là những khu vực gần gũi về địa lý và đã được nghiên cứu kỹ lưỡng Trong khi đó, KBTTN Bắc Hướng Hóa vẫn chưa có nhiều nghiên cứu liên quan đến bò sát và ếch nhái.

Hình 4.24 cho thấy sự tương đồng về thành phần loài bò sát và ếch nhái giữa một số khu bảo tồn thiên nhiên (KBT) và vườn quốc gia (VQG) ở Việt Nam, với giá trị gốc nhánh được xác định qua 1000 lần nhắc lại.

Ghi chú: BHH: Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá;PNKB: VQG Phong Nha -

Kẻ Bàng; CP: VQG Cúc Phương; DC-KNT: KDTTN Động Châu - Khe Nước

Tình trạng bảo tồn và các mối đe dọa

4.5.1 Đánh giá tình trạng bảo tồn

Trong số 83 loài bò sát và ếch nhái tại KDTTN Động Châu - KNT, có 14 loài quý hiếm và đặc hữu, chiếm 16,86% tổng số loài Đặc biệt, 8 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam, tương đương 57,14% số loài quý hiếm, trong đó có 2 loài thuộc bậc CR (Rất nguy cấp) và 3 loài thuộc bậc EN (Nguy cấp).

Trong danh sách IUCN 2020, có 3 loài được xếp hạng bậc VU (Sẽ nguy cấp), trong đó bao gồm 1 loài bậc CR (Rất nguy cấp), 3 loài bậc EN (Nguy cấp) và 3 loài bậc VU (Sẽ nguy cấp), tổng cộng có 7 loài quý hiếm, đặc hữu, chiếm 50% số loài ghi nhận Ngoài ra, theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP, cũng có 7 loài được công nhận, trong đó có 1 loài thuộc nhóm IB (các loài nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và thuộc phụ lục I công ước CITES) và 6 loài còn lại thuộc nhóm IIB.

Có 52 loài động thực vật bị hạn chế khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại, trong đó có 06 loài thuộc phụ lục II của công ước CITES Đặc biệt, Việt Nam có 03 loài đặc hữu, chiếm 21,42% tổng số loài quý hiếm và đặc hữu đã được ghi nhận.

Nghiên cứu ghi nhận chỉ 5 trong số 14 loài bò sát và ếch nhái quý hiếm tại khu vực KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, bao gồm Nhái cây trường sơn, Rồng đất, Rùa bốn mắt, Rùa đầu to và Tắc kè Các loài quý hiếm còn lại, như Liu điu xanh, Nhái cây bà nà, Rắn cạp nong, Rắn hổ mang trung quốc, Rắn sọc đốm đỏ, Rùa hộp bua-rê, Rùa sa nhân, Trăn đất và Trăn gấm, chỉ được ghi nhận bởi Phạm Thế Cường và cộng sự vào năm 2019 Điều này cho thấy mức độ hiếm của các loài này trong khu vực.

Bảng 4.4 Tình trạng bảo tồn của các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC

4.5.2 Phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC

Kết quả phân tích cho thấy tiểu khu 516 và 517 ghi nhận nhiều nhất với 29 loài bò sát và ếch nhái mỗi tiểu khu, chiếm 51,8% tổng số loài Các tiểu khu 533, 534, 535 lần lượt ghi nhận 26, 24 và 20 loài.

Số loài ghi nhận cao nhất/TK

Số loài ghi nhận ít nhất/TK

Hình 4.25 So sánh các loài bò sát, ếch nhái ghi nhận được tại các tiểu khu rừng của KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong

Các tiểu khu còn lại đều ghi nhận dưới 10 loài ở mỗi tiểu khu, (chi tiết về số loài ghi nhận ở mỗi tiểu khu xem hình 4.6 và phụ lục 4).

Dựa trên việc ghi nhận 05 loài quý hiếm như Nhái cây trường sơn, Rồng đất, Rùa bốn mắt, Rùa đầu to, và Tắc kè, cùng với các loài bò sát và ếch nhái khác tại tiểu khu rừng KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong, chúng tôi đã tiến hành phân vùng các khu vực ưu tiên bảo tồn Việc phân loại này dựa theo các tiêu chí được đề xuất, chia thành 04 cấp độ ưu tiên: CAO, TRUNG BÌNH, THẤP và CHƯA RÕ, với một số khu vực chưa đủ cơ sở dữ liệu để đánh giá.

Bảng 4.5 Tiêu chí đề xuất xếp hạng khu vực ưu tiên bảo tồn bò sát, ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong

Kết quả tổng hợp, phân tích và đánh giá cho thấy các tiểu khu 516, 517, 533,

534, 535 được xếp hạng phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái ở cấp

Với 55 độ CAO, khu vực này đáp ứng tiêu chí 1 của cấp độ ưu tiên, ghi nhận 2, 3, 3, 2, 2 loài quý hiếm và đặc hữu Số lượng loài bò sát và ếch nhái được ghi nhận lần lượt là 29, 29 và 26.

Trong khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong, có 24 loài đáp ứng tiêu chí ưu tiên CAO, chủ yếu tập trung ở các tiểu khu rừng giàu phía Tây Các tiểu khu 496, 522, 524, 525, 528, 529, 531, 538 được xếp hạng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái ở cấp độ TRUNG BÌNH nhờ có ít nhất một loài quý hiếm, đặc hữu Những tiểu khu này chủ yếu nằm ở phía Đông, với rừng trung bình chiếm ưu thế Các tiểu khu còn lại được phân loại ở cấp độ THẤP Kết quả phân khu ưu tiên bảo tồn giúp các đơn vị chức năng hiểu rõ tình trạng phân bố của các loài bò sát, ếch nhái, từ đó xây dựng chính sách và biện pháp bảo tồn hiệu quả cho các loài quý hiếm trong khu vực nghiên cứu.

Bảng 4.6 Số loài bò sát, ếch nhái ghi nhận được phân theo các tiểu khu rừng của

KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong

1Loài thông thường là loài không có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, IUCN

2020, Nghị định 06/2019/NĐ-CP, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và không phải loài đặc hữu.

Hình 4.26 Bản đồ phân vùng các khu vực ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái tại KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong

4.5.3 Các nhân tố đe dọa

Mặc dù cán bộ KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong đã thực hiện nghiêm túc công tác quản lý bảo vệ rừng và thực thi pháp luật, nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn của đồng bào dân tộc Vân Kiều xung quanh, cuộc sống của họ vẫn phụ thuộc vào tài nguyên rừng, dẫn đến các hoạt động bất hợp pháp vẫn diễn ra thường xuyên Qua điều tra và phỏng vấn người dân trong vùng đệm, cũng như từ kinh nghiệm thực tế, hiện nay các mối đe dọa đối với khu hệ bò sát và ếch nhái tại Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong chủ yếu xuất phát từ những hoạt động này.

Săn bắt trái phép động vật hoang dã, bao gồm buôn bán và tiêu thụ, đang gây ra sự suy giảm nghiêm trọng cho các quần thể động vật tại KVNC, đặc biệt là các loài bò sát và ếch nhái Nếu tình trạng này không được kiểm soát và ngăn chặn kịp thời, nguy cơ đe dọa các quần thể động vật ở đây sẽ ngày càng gia tăng Hình 4.27 minh họa cảnh người dân Lâm Thủy đang chuẩn bị nướng hai cá thể Rồng đất.

Hình 4.27 Săn bắt các loài bò sát ếch nhái làm thực phẩm tại Lâm Thủy

Hình thức săn bắt ếch nhái chủ yếu diễn ra vào ban đêm, đặc biệt từ tháng 4 đến tháng 9, sau các trận mưa lớn khi các dòng chảy và vũng nước xuất hiện, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao phối và sinh sản Người dân săn bắt ếch nhái chủ yếu để làm thức ăn Đối với bò sát, việc săn bắt diễn ra cả ban ngày và đêm, nhưng chủ yếu vào ban đêm, từ tháng 3 đến tháng 11 hàng năm Tuy nhiên, nhiều quần thể bò sát, đặc biệt là các loài quý hiếm như rắn hổ mang và tắc kè, đang giảm mạnh về số lượng và ngày càng hiếm gặp trong tự nhiên.

Lấn chiếm đất rừng và chuyển đổi mục đích sử dụng đất đang thu hẹp không gian sống của các loài, gây suy thoái sinh cảnh sống và ảnh hưởng đến hệ sinh thái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong Hành vi đốt nương làm rẫy và khai thác trái phép tài nguyên gỗ, dù không nhiều, cũng góp phần vào sự suy giảm đa dạng sinh học trong khu vực.

Chăn thả gia súc tại các khu vực thung lũng và bìa rừng gây cản trở quá trình tái sinh tự nhiên, đồng thời tạo điều kiện cho các loài cỏ dại phát triển mạnh mẽ Hành động này cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến suy thoái sinh cảnh sống của nhiều loài động thực vật.

Hình 4.28 Đường Hồ Chí Minh nhánh Tây đoạn qua tiểu khu

534 thuộc KDTTN Động Châu –Khe Nước Trong (Ảnh:

Tai nạn giao thông ngày càng gia tăng do hệ thống giao thông phát triển, gây ô nhiễm tiếng ồn và phân chia môi trường sống của các loài động vật, đặc biệt là trên tuyến đường Hồ Chí Minh nhánh Tây Một ví dụ điển hình là trường hợp cá thể Rắn sọc dưa bị xe cán chết trên đoạn đường nhựa thuộc bản Rum Ho, xã Kim Thủy.

Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và thuốc diệt cỏ trong nông nghiệp, cũng như trong công tác duy tu đường giao thông, đã gây ra sự suy thoái sinh cảnh sống của nhiều loài động vật, bao gồm bò sát và ếch nhái.

Hình 4.29 Tai nạn giao thông là mối đe dọa đến các loài bò sát, ếch nhái

(Ảnh: H.V.Nghĩa) 4.5.4 Đề xuất một số biện pháp bảo tồn

Ngày đăng: 22/06/2021, 14:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đào Văn Tiến (1977): Về định loại ếch nhái Việt Nam. Tạp chí Sinh vật Địa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về định loại ếch nhái Việt Nam
Tác giả: Đào Văn Tiến
Năm: 1977
3. Đào Văn Khương, Trương Quang Bích, Đỗ Văn lập (2003): Bò sát và lưỡng cư Vườn Quốc gia Cúc Phương. NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bò sát và lưỡng cư Vườn Quốc gia Cúc Phương
Tác giả: Đào Văn Khương, Trương Quang Bích, Đỗ Văn lập
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2003
4. Đào Văn Khương, Trương Quang Bích, Đỗ Văn Lập (2003). Bò sát và lưỡng cư vườn quốc gia Cúc Phương. NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bò sát và lưỡngcư vườn quốc gia Cúc Phương
Tác giả: Đào Văn Khương, Trương Quang Bích, Đỗ Văn Lập
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2003
5. Lê Trọng Đạt (2007): “Nghiên cứu tính đa dạng khu hệ động vật có xương sống nhằm đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn đối với một số loài động vật quan trọng tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình”. Luận văn ThS. Trường ĐH Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính đa dạng khu hệ động vật có xương sốngnhằm đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn đối "với một số loài động vật quan trọng tạiVườn Quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình
Tác giả: Lê Trọng Đạt
Năm: 2007
6. Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1996): Danh lục ếch nhái và bò sát Việt Nam. Nxb KH & KT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục ếch nhái và bò sát Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc
Nhà XB: Nxb KH & KT
Năm: 1996
7. Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường (2005): Danh lục ếch nhái và bò sát Việt Nam. Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục ếch nhái và bò sát Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2005
8. Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường, Nguyễn Vũ Khôi (2005): Nhận dạng một số loài Bò sát- Ếch nhái ở Việt Nam. Nxb Nông Nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận dạng một số loài Bò sát- Ếch nhái ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường, Nguyễn Vũ Khôi
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2005
9. Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung (2013): Những phát hiện mới về bò sát và ếch nhái trong năm 2013 (http://www.vncreatures.net/event030.php) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiện mới về bò sát và ếch nhái trong năm 2013
Tác giả: Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung
Năm: 2013
10. Nguyễn Quảng Trường - Phùng Mỹ Trung (2013): Những phát hiện mới về bò sát và ếch nhái trong năm 2013 (http://www.vncreatures.net/event030.php) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiện mới về bò sát và ếch nhái trong năm 2013
Tác giả: Nguyễn Quảng Trường - Phùng Mỹ Trung
Năm: 2013
1. Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007: Sách Đỏ Việt Nam, Phần I-Động vật, NXB Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w