1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đặc điểm lâm học loài bình vôi (stepania rotunda lour ) làm cơ sở để bảo tồn tại vườn quốc gia cát bà​

139 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 12,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

4.3 Phân bố cây Bình vôi tái sinh trên các ô dạng bản4.6 Số lượng cá thể Bình vôi trên các tuyến điều tra4.7 Số lượng cá thể Bình vôi trong các ô tiêu chuẩn4.8 Phân bố của loài cây Bình

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác.

Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học./.

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2016

Người cam đoan

Nguyễn Văn Dinh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý của Trường Đại học Lâm nghiệp, Phòng đào tạo Sau Đại học về chương trình đào tạo Thạc sỹ Khóa 22B (2014-2016) Tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm học loài Bình vôi (Stephania

rotunda Lour) làm cơ sở để bảo tồn tại Vườn Quốc gia Cát Bà” Sau gần một năm thực hiện, đến nay đề tài đã hoàn thành.

Để hoàn thành chương trình, tôi xin được cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Trần Ngọc Hải, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện trong quá trình nghiên cứu đề tài.

Xin trân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo thuộc phòng Đào tạo Sau đại học, Khoa QLBVTNR và Môi trường; Lãnh đạo Vườn Quốc gia Cát Bà đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.

Xin được gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp tại Vườn Quốc gia Cát

Bà đã tạo điều kiện tốt nhất để giúp đỡ tôi thu thập các số liệu tại hiện trường nghiên cứu.

Trong quá trình nghiên cứu tôi đã rất cố gắng, tuy nhiên do điều kiện về thời gian và tài liệu tham khảo còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được ý kiến đóng góp bổ sung của các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được tốt hơn.

Xin trân trọng cảm ơn./.

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Văn Dinh

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc trên thế giới 3

1.2 Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam 8

1.3 Các nghiên cứu về hệ thực vật tại VQG Cát Bà 12

1.4 Tài nguyên cây thuốc tại Vườn Quốc gia Cát Bà 13

1.5 Nghiên cứu về loài Bình vôi 14

1.5.1 Phân loại khoa học 14

1.5.2 Đặc điểm thực vật 14

1.5.3 Phân bố, trồng hái và chế biến 15

1.5.4 Một số công trình nghiên cứu về cây Bình vôi 16

1.6 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 19

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Mục tiêu 20

2.1.1 Mục tiêu chung 20

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 20

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 20

2.3 Nội dung nghiên cứu 20

2.4 Phương pháp nghiên cứu 21

2.4.1 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp 21

2.4.2 Phương pháp nội nghiệp 28

Trang 4

2.5 Phương pháp thử nghiệm nhân giống loài Bình vôi 32

2.5 Đề xuất bảo tồn loài Bình vôi tại Vườn Quốc gia Cát Bà 37

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 38

3.1 Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu 38

3.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên 38

3.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội 44

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47

4.1 Một đặc điểm sinh vật học và sinh thái loài Bình vôi 47

4.1.1 Đặc điểm hình thái loài Bình vôi 47

4.1.2 Đặc điểm vật hậu loài Bình vôi 49

4.1.3 Đặc điểm tái sinh của loài Bình vôi 50

4.1.4 Đặc điểm đất nơi Bình vôi phân bố 51

4.1.5 Đặc điểm thích nghi với ánh sáng của loài Bình vôi 53

4.2 Phân bố của loài Bình vôi tại Vườn Quốc gia Cát Bà 59

4.2.1 Phân bố theo đai cao và hướng phơi của Bình vôi 63

4.2.2 Đặc điểm phân bố theo loại đất đá 64

4.2.3 Đặc điểm cấu trúc rừng nơi loài phân bố 65

4.3 Kết quả thử nghiệm nhân giống bảo tồn tại Cát Bà 73

4.3.1 Nhân giống bằng hạt 73

4.3.2 Nhân giống bằng hom 74

4.3.3 Thử nghiệm nhân giống Củ Bình vôi bằng phương pháp Nuôi cấy mô 79

4.4.Thực trạng khai thác và các tác động ảnh hưởng tới loài Bình vôi tại Cát Bà 84

4.4.1 Do con người 84

4.5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn loài Bình vôi tại Cát Bà 88

4.5.1 Phương pháp bảo tồn nguyên vị 89

4.5.2 Bảo tồn chuyển vị 91

4.5.3 Xây dựng sinh kế mới cho người dân 91

4.5.4 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 91

4.5.5 Giải pháp nâng cao năng lực tiếp cận thị trường 92

4.5.2.Giải pháp kỹ thuật 92

KẾT LUẬN - TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

Các kí hiệu

UNESCO ĐDSH TCN SCN WHO CNI VQG GPS CT OTC ODB IBA, BAP, BA QXTV

Trang 6

4.3 Phân bố cây Bình vôi tái sinh trên các ô dạng bản

4.6 Số lượng cá thể Bình vôi trên các tuyến điều tra4.7 Số lượng cá thể Bình vôi trong các ô tiêu chuẩn4.8 Phân bố của loài cây Bình vôi theo vị trí chân sườn đỉnh

4.9 Mô tả phẫu diện đất có cây Bình vôi phân bố tại khu vực nghiên

cứu Vườn Quốc gia Cát Bà4.10 Tổ thành tầng cây cao QXTV rừng nơi có cây Bình vôi phân bố4.11 Đặc điểm cây tái sinh tại địa bàn nghiên cứu

4.12 Tổ thành cây tái sinh QXTV rừng nơi có cây Bình vôi phân bố

4.14 Phương thức xử lý hạt ảnh hưởng tới quá trình nảy mầm

4.15 Ảnh hưởng của IBA ở các nồng độ và thể nền khác nhau đến tỷ

lệ hom ra chồi

4.16 Ảnh hưởng của BAP ở các nồng độ và thể nền khác nhau đến số

chồi trung bình trên hom4.17 Ảnh hưởng của IBA ở các nồng độ và thể nền khác nhau đến

chiều dài chồi trung bình trên hom Bình vôi

Trang 7

nhanh của cây Bình vôi (sau 7 tuần )

4.20 Ảnh hưởng của than hoạt tính đến quá trình ra rễ tạo cây hoàn

chỉnh của cây Bình vôi (sau 4 tuần )4.21 Nhận thức của người dân địa phương về khai thác cây Bình vôi

Trang 8

4.6 Tuyến điều tra và vị trí các OTC trên tuyến

4.9 Rừng thứ sinh nghèo thường xanh mưa ẩm trên núi đá vôi

4.17 Nuôi ấy mô loài Bình vôi trong phòng nghiệm tại Trung tâm

Công nghệ Hải Phòng

4.19 Bản đồ khu vực ưu tiên bảo tồn Bình vôi tại khu vực nghiên cứu

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vườn Quốc gia Cát Bà được thành lập theo Quyết định số 79-CT, ngày 31tháng 3 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ).Vườn có tổng diện tích là 17.362,96 ha (trong đó, diện tích phần đảo là 10.912,51

ha, diện tích phần biển là 6.450,45 ha) Là khu bảo tồn đầu tiên của Việt Nam cóphân khu bảo tồn biển, gồm các hệ sinh thái biển, hệ sinh thái rừng trên cạn và hệsinh thái rừng ngập mặn với các sinh cảnh rừng ngập mặn, bãi triều, đầm phá, karst

đá vôi,… là một trong những địa điểm có đa dạng sinh học cao nhất Việt Nam Đây

là nơi có tầm quan trọng đặc biệt về bảo tồn đa dạng sinh học Năm 2004, quần đảoCát Bà tổ chức UNESCO công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển của thế giới

Vườn Quốc gia Cát Bà là một trong những Vườn Quốc gia ở Việt Nam rất

đa dạng với các hệ sinh thái chủ yếu gồm: Hệ sinh thái trên cạn; hệ sinh thái đấtngập nước và hệ sinh thái biển Đây là các hệ sinh thái có tính đại diện cao về đadạng sinh học và chứa đựng nhiều nguồn gen quý hiếm, nhiều loài có giá trị kinh tếcao Tuy nhiên, Vườn Quốc gia Cát Bà đã và đang phải đối mặt với những khókhăn nhất định trong công tác quản lý bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học Tìnhtrạng chuyển mục đích sử dụng rừng, khai thác lâm sản trái phép, thu hái dược liệu,săn bắt động vật trái phép vẫn còn xảy ra, đặc biệt là các hoạt động thu hái câydược liệu của người dân sống gần rừng nhằm mục đích thương mại ngày càng giatăng Cùng với đó là các thông tin liên quan đến thực trạng phân bố và các giải phápquản lý, bảo tồn hiệu quả các loài cây thuốc quý hiếm trên đảo hiện đang còn thiếu,dẫn đến nguy cơ bị khai thác cạn kiệt

Loài Bình vôi (Stephania rotunda Lour) là một trong những cây thuốc quí

được phát hiện ở Cát Bà Bình vôi được coi là cây dược liệu quí hiếm được xếptrong Sách Đỏ thực vật Việt Nam 2007 và trong Nghị định 32 của Chính phủ năm

2006 Về giá trị sử dụng củ của cây có tác dụng an thần, gây ngủ và chống co quắp,

hạ huyết áp; tác dụng rõ rệt nhất là gây ngủ và an thần Trong dân gian, củ bình vôithường được dùng dưới dạng sắc, ngâm rượu chữa mất ngủ, ho, hen, kiết lỵ, sốt,

Trang 10

đau bụng… Tuy phân bố nhiều nơi nhưng thường bị khai thác với số lượng lớn nêndẫn đến cạn kiệt Mặt khác, những nơi có cây con mọc lại bị ảnh hưởng do nạn khaithác, phá rừng dẫn đến có thể tuyệt chủng vì không còn môi trường sống thích hợp

Do vậy, việc gây trồng và phát triển cây dược liệu nói chung và với loài Bìnhvôi nói riêng đã và đang được Vườn Quốc gia Cát Bà quan tâm nhiều trong nhữngnăm gần đây Nghiên cứu sẽ góp phần triển khai nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen loàicây thuốc quý cũng như khai thác phát triển nguồn gen sau này Chính vì vậy, cần

triển khai đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm học loài Bình vôi (Stephania rotunda Lour.) làm cơ sở để bảo tồn tại Vườn Quốc gia Cát Bà” nhằm đánh giá thực trạng

phân bố, xác định được một số đặc điểm lâm học của loài làm cơ sở cho công tácbảo tồn cũng như mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm gây trồng phát triển, tạosinh kế cho người dân địa phương, cung cấp các sản phẩm cho khách du lịch theohướng bền vững

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc trên thế giới

Loài người từ khi ra đời đã biết dựa vào rừng để sống Không chỉ lấy ra từrừng lương thực, thực phẩm cho cuộc sống hàng ngày, con người còn biết lấy câyrừng làm rau ăn, nước uống, lấy cây rừng làm thuốc chữa bệnh Từ những kinhnghiệm dân gian qua nhiều thế kỷ, các cộng đồng người trên khắp thế giới đã pháttriển những phương thuốc cổ truyền của họ, làm cho các loài cây thuốc và côngdụng của chúng trở nên có ý nghĩa Việc sử dụng cây thuốc chữa bệnh được nghiêncứu ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia Và cũng

từ đó, mỗi châu lục, mỗi dân tộc hình thành nên một nền Y học cổ truyền mang nétđặc trưng riêng

Borisova B.(1960) dựa trên những bằng chứng khảo cổ đã chỉ ra rằng, vàokhoảng 5.000 năm TCN, cây thuốc đã được sử dụng rộng rãi và vì vậy là mục tiêuchiếm đoạt (cùng với phụ nữ, các cây lương thực, cây có hoa đẹp) trong các cuộcchiến tranh giữa các bộ tộc [11] Như vậy, tầm quan trọng của các cây làm thuốcđược loài người nhận thức rất sớm

Với sự đa dạng của ngành dược thảo, từ thời xa xưa Châu Phi đã sử dụngliệu pháp điều trị bệnh bằng cây thuốc Những bản viết tay đã có từ thời Ai Cập cổđại (1950 TCN) đã liệt kê hàng chục loài cây thuốc và công dụng của chúng Trongbản giấy cói của dân tộc Ebers (khoảng 1500 TCN) ghi lại hơn 870 toa thuốc vàcông thức, 700 loài dược thảo và các chứng bệnh, từ bệnh phổi cho đến các vếtthương do cá Sấu cắn Việc buôn bán dược thảo giữa các vùng Trung Đông, Ấn Độ

và Đông Bắc châu Phi đã có ít nhất từ 3000 năm trước Vào giữa thế kỷ XIII, nhàthực vật học Ibn El Beitar đã xuất bản cuốn “Các vấn đề y khoa” thống kê chủngloại cây thuốc ở Bắc Phi [1]

Một số nhà nghiên cứu cho rằng, các thổ dân Châu Úc đã định cư ở đây từhơn 60.000 năm về trước và hình thành nên những kiến thức thực tiễn về các loài

cây thuốc bản xứ Nhiều loài trong số này như cây Bạch đàn xanh (Eucalyptus

Trang 12

globulus) duy nhất chỉ có ở châu Úc, vốn được sử dụng rất hữu hiệu trong việc chữa bệnh Tuy nhiên, phần lớn kiến thức về dược thảo của thổ dân đã bị mất đi khi

người châu Âu đến định cư Ngày nay, đa phần các dược thảo ở châu Úc bắt nguồn

từ phương Tây, Ấn Độ, Trung Quốc và các nước vùng ven Thái Bình Dương

Dựa trên nền tảng y học truyền thống cổ điển, do đó phần lớn cây thuốc ởChâu Âu rất đa dạng Galen (131-200 SCN), một thầy thuốc của Hoàng đế La MãMarcus Aurelius, có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của các vị thuốc bào chế

từ thảo mộc Ông đã viết cuốn sách và đã được áp dụng trong ngành Y châu Âu hơn

1500 năm [1] Ở thế kỷ I SCN, một thầy thuốc Hy Lạp tên là Dioscorides đã viếtmột cuốn sách dược thảo có tên “De material Medica” Quyển sách này bao gồm

600loại thảo mộc, gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến y học phương Tây và là sách tham

khảo chính được dùng ở châu Âu cho đến thế kỷ XVII Cuốn sách còn được dịch ranhiều ngôn ngữ như: Tiếng Anh cổ, tiếng Ba Tư và tiếng Hebrew [9] Vào thờiTrung cổ, học thuyết “Dấu hiệu” khẳng định có một sự kết nối giữa vẻ bề ngoài củamột loài cây – “dấu hiệu của thần thánh”- và công dụng y học của chúng Chẳng

hạn, những chiếc lá lốm đốm của cây Cỏ phổi (Pulmonaria officinalis) giống như

các mô của phổi, chữa rất hiệu quả các bệnh về phổi Cũng trong thời gian này,

khoảng thế kỷ XI SCN, tại Scotlan các thầy tu đã sử dụng cây thuốc Phiện (Papaver omnirierum) và cây Cần sa (Cannabis sativa) để làm thuốc giảm đau và thuốc gây

mê Sau này, Nicholas Culpeper (1616-1654) đã kế thừa một số kiến thức từDioscorides, Paracelus và kinh nghiệm chữa bệnh của thầy thuốc địa phương, ông

đã cho xuất bản cuốn dược thảo “The English Physitian” Đây là cuốn sách bánchạy nhất và được tái bản nhiều lần [1]

Ở Châu Âu đi đầu trong việc nghiên cứu về thực vật Đông Nam Á là các nhàthực vật người Pháp, với họ sau những cánh rừng nhiệt đới còn tiềm ẩn rất nhiềugiá trị Vào những năm đầu thế kỷ XX, trong chương trình nghiên cứu về thực vậtĐông Dương, Perry công bố 1.000 loài cây và dược liệu tại Đông Nam Á đã được

kiểm chứng và gần đây (1985) tổng hợp thành cuốn sách “Medicinal Plants of Eats and Southeast Asia” [32].

Trang 13

Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia ở Châu Á có nền y học cổ truyền lâu đời.Lịch sử nền Y học Trung Quốc đầu thế kỷ thứ II, người ta đã biết dùng thuốc là các

loài cây cỏ để chữa bệnh như: sử dụng nước cây Chè (camellia sinensis) đặc để rửa vết

thương và tắm ghẻ [25] Trong cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản 1985 đã

liệt kê một loạt các cây cỏ chữa bệnh như: Rễ gấc (Momordica cochinchinensis) chữa nọc độc, viêm tuyến hạch, hạt gấc trị sưng tấy, đau khớp, sốt rét, vết thương tụ máu; Cải Xoong (Nasturtium officinale) giải nhiệt, chữa lở mồm, chảy máu chân răng, bướu

cổ Từ những kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiêncứu về các loài cây thuốc, về các sản phẩm chiết từ cây cỏ để chữa trị và đã đúc rútthành những cuốn sách có giá trị Từ đời nhà Hán (168 năm TCN) tại Trung Quốc trongcuốn sách “Thủ hậu bị cấp phương” tác giả đã kê

52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loài cây cỏ [25] Vào giữa thế kỷ XVI Lý Thời Trân

đã thống kê được 12000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục” được NXB Yhọc trích dẫn 1963 [26] Và gần đây nhất cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuấtbản năm 1985 đã liệt kê hầu hết các loài cây cỏ chữa bệnh có ở Trung Quốc đượcbiết từ trước tới nay [25]

Cách đây 5.000 năm văn minh của người Ấn Độ cổ đại đã phát triển dọctheo bờ sông Indus ở miền Nam Ấn Độ [1] Trong bộ sử thi Vedas được viết vàonăm 1500 TCN, chứa đựng những kiến thức phong phú về dược thảo thời kỳ đó.Trong đó, nhiều loài cây được xem là những “cây thiêng” dành cho những vị thần

đặc biệt, chẳng hạn như cây Trái nấm (Aegle marmelos) là cây dành cho thánh thần

của người Hindu, thánh Lakshmi (Thánh mang lại sự giàu có và may mắn), thánhSamhita (Vị thánh của sức khoẻ) và cây được trồng gần các đền thờ Những côngdụng của cây thuốc này được ghi lại trong cuốn sách dược thảo “CharakaSamhita”, viết năm 400 TCN Sau này, vào khoảng 100 năm SCN, một học giảngười Ấn Độ đã mô tả chi tiết 341 loại dược thảo cũng như những loại thuốc cónguồn gốc từ khoáng chất và động vật [1]

Trong vòng hai mươi năm qua ngành công nghiệp chế biến Thuỷ tùng thànhthuốc chữa ung thư đã mang lại lợi nhuận là 500 triệu USD/năm, những cây thuốc

Trang 14

này đang được sử dụng rộng rãi ở Châu Âu và Châu Á [12] Hãng dược phẩm danhtiếng Biotech của Bỉ mỗi năm điều tra nghiên cứu sàng lọc 1.500 đến 2.000 loài câythuốc từ các quốc gia trên thế giới [14] Việc phát hiện ra các hoá chất chữa trị bệnhung thư hiệu nghiệm trong cây Thuỷ tùng vùng Thái Bình Dương, một loài cây bảnđịa của các rừng cổ Bắc Mỹ đã mang lại lợi nhuận kinh tế cao

Hiện nay, các nhà khoa học trên thế giới đã đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu cơchế và các hợp chất hoá học trong cây cỏ có tác dụng chữa bệnh Vào thế kỷ XVIII,một bác sĩ người Anh tên là William Withering (1741-1799) lần đầu tiên khám phá

ra công dụng chữa bệnh của cây thuốc Mao địa hoàng (Digitalis purpurea), mở ra

sự phát triển trong lịch sử y dược học [1] Trong nhiều loài Ba gạc (Rauwfolia sp.)

chiết được chất resecpin, serpentin làm thuốc hạ huyết áp Chất vinblastin,

vincristin được chiết xuất từ cây Dừa cạn (Catharanthus roseus) vừa có tác dụng hạ

huyết áp vừa làm thuốc chống ung thư máu

Viện Ung thư Hoa Kỳ (CNI) đã điều tra nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây thuốc có khả năng chữa trị bệnh ung thư,25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế phẩm có dược tính mạnh được điều chế từ mộtloài Hoa hồng Đặc biệt ở Madagasca, người ta dùng cây này để chữa bệnh máutrắng cho trẻ em và rất hiệu quả, đã làm tăng tỷ lệ sống của trẻ em từ 10 lên đến90% [22], [23]

Với những hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học chứa trong các cây thuốccác nhà khoa học nhận thức rõ giá trị chữa bệnh, vì vậy họ đã nghiên cứu cây thuốctheo các nhóm hợp chất được tiến hành và đã thu được nhiều kết quả tốt Tuynhiên, hướng nghiên cứu này đòi hỏi kinh phí lớn, trang thiết bị hiện đại và đội ngũchuyên gia có trình độ cao Do vậy, đây là các nghiên cứu được triển khai ở cácnước phát triển và một số các nước đang phát triển Các cây thuốc chứa các nhómhoạt chất ancanoit, flavonoit, cumarin hiện đang được quan tâm nghiên cứu [27]

Tổ chức Y tế Thế giới- WHO năm 1985, đã thống kê trong số 250.000 loàithực vật bậc thấp cũng như bậc cao đã biết, có gần 20.000 loài thực vật được sửdụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc Trong đó, ở Ấn Độ

Trang 15

có khoảng 6.000 loài, Trung Quốc trên 5.000 loài, riêng về thực vật có hoa ở mộtvài nước Đông Nam Á đã có tới 2.000 loài là cây thuốc, vùng nhiệt đới châu Mỹhơn 1.900 loài [6] Cũng theo WHO thì mức độ sử dụng cây thuốc ngày càng cao, ởcác quốc gia đang phát triển có tới 80% dân số sử dụng thuốc dân tộc [6] TrungQuốc là nước đông dân nhất thế giới, lại có nền y học dân tộc phát triển, nên trong

số cây thuốc đã biết hiện nay có tới 80% số loài (tương đương với 4.200 loài) được

sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc Điều này chứng tỏ đối với cácnước công nghiệp phát triển thì việc sử dụng cây thuốc phục vụ cho nền y học cổtruyền cũng phát triển mạnh Cây thuốc là loại cây kinh tế, nó cung cấp nhiều loạithuốc dân tộc và thuốc hiện đại trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ con người

Song với các hoạt động nhu cầu cuộc sống của còn người ngày nay đã vàđang gây sức ép lên sự sinh tồn của các loài cây thuốc trên thế giới Nhiều loài câythuốc quý hiếm bị khai thác bừa bãi nên đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủnghoặc đã bị tuyệt chủng Theo P Raven (1987) và Ole Harmann (1988), trong vònghơn 100 năm trở lại đây, có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, có tới60.000 loài gặp rủi ro hay sự tồn tại của chúng bị đe doạ vào thế kỷ tới Trong sốnhững loài thực vật đã mất đi hoặc đang bị đe doạ gay gắt, có một tỷ lệ không nhỏ

là thực vật làm thuốc [6] Trong đó có khoảng 120 loài ở Ấn Độ, 61 loài ở Thái Lan,

35 loài ở Bangladet, 77 loài ở Trung Quốc, 75 loài ở Macoro [6]

Một số vấn đề cấp thiết khác được đưa ra là song song với các nghiên cứu về sửdụng cây thuốc thì việc bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc, cùng với những kinhnghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc trên thế giới Tại Hội nghị Quốc tế về Bảotồn cây thuốc, tổ chức ở Chiềng Mai (Thái Lan) năm 1993, một lần nữa các nhà khoahọc đã khẳng định tầm quan trọng và vai trò to lớn của cây thuốc trong sự nghiệp chămsóc sức khoẻ cộng đồng Đồng thời, đưa ra tài liệu “Hướng dẫn bảo tồn cây thuốc”-

“Guidelines on the Conservation of Medicinal Plants”, kêu gọi các quốc gia có nhữnggiải pháp và chương trình hành động thiết thực để bảo tồn cây thuốc [33]

Việc kết hợp giữa Đông – Tây y, giữa y học hiện đại vớ y học cổ truyền củacác dân tộc là một vấn đề cần thiết nhằm phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ

Trang 16

sức khoẻ con người, cho sự phát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y.Chính từ những kinh nghiệm của y học cổ truyền đã giúp cho nhân loại khám phá ranhững loại thuốc có ích trong tương lai Cho nên, việc khai thác kết hợp với bảo tồncác loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng Các nước trên thế giới đang hướng vềthực hiện chương trình Quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vữngcây thuốc [25]

1.2 Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam

“Nam Dược Thần Hiệu” và “Hồng nghĩa giác tư y thư” của Tuệ Tĩnh đượccoi là tài liệu sớm nhất về cây thuốc Việt Nam [18] Trong tài liệu này đã mô tả hơn

630 vị thuốc, 13 đơn thuốc chữa các loại bệnh và 37 đơn thuốc chữa bệnh thươnghàn Ông được coi là một bậc kỳ tài trong lịch sử y học nước ta, là “Vị thánh thuốcNam” Ông đã để lại nhiều bộ sách quý cho đời sau như: “Tuệ Tĩnh y thư”, “Thậptam phương gia giảm”, “Thương hàn tam thập thất trùng pháp” Bộ sách gồm 28tập, 66 quyển đã mô tả khá chi tiết về thực vật, các đặc tính chữa bệnh của HảiThượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã xuất bản bộ sách lớn thứ hai “Y tông Tâm tĩnh”cho nước ta ở thế kỷ XVIII [18]

Một số nhà thực vật học, dược học người Pháp đã đến nước ta nghiên cứu

từ thời kỳ thực dân pháp xâm đô hộ Được biết đến là các nhà dược học Crévost,Pétélot đã xuất bản bộ “Catalogue des produit de L’Indochine” (1928-1935), trong

đó tập V (Produits medicinaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc là các loàithực vật có hoa [29] Đến năm 1952, Pétélot bổ sung và xây dựng thành bộ “Lesplantes médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam”, gồm 4 tập đã thống kê

1482 vị thuốc thảo mộc trên ba nước Đông Dương [31]

Các nhà khoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc sưu tầm, nghiêncứu nguồn tài nguyên cây thuốc nhất là sau khi miền Bắc được giải phóng năm

1954 Đỗ Tất Lợi- người đã dày công nghiên cứu trong nhiều năm và đã xuất bảnđược nhiều tài liệu về việc sử dụng cây, con làm thuốc của đồng bào dân tộc Đángchú ý nhất là năm 1957, ông đã biên soạn bộ “Dược liệu học và các vị thuốc ViệtNam” gồm 3 tập Năm 1961 tái bản in thành 2 tập, trong đó tác giả mô tả và nêu

Trang 17

công dụng của hơn 100 cây thuốc nam Từ năm 1962 - 1965, Đỗ Tất Lợi lại choxuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập Đến năm 1969 táibản thành 2 tập, trong đó giới thiệu hơn 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, độngvật và khoáng vật Ông đã kiên trì nghiên cứu, bổ sung liên tục các loài cây thuốctrong các công trình được tái bản nhiều lần vào các năm 1970, 1977, 1981, 1986,

1995, 1999, 2001, 2003 Lần tái bản thứ 7 (1995) số cây thuốc của ông nghiên cứu

đã lên tới 792 loài và gần đây nhất là lần tái bản lần thứ 10 (2005); trong đó, ông đã

mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hoá học, chia tất cả cáccây thuốc đó theo các nhóm bệnh khác nhau [18] Đây là một bộ sách có giá trị lớn

về khoa học và thực tiễn, kết hợp giữa khoa học dân gian và khoa học hiện đại

Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn Dương cho xuất bản bộ “Cây cỏ ViệtNam”, năm 1960 Tuy chưa giới thiệu được hết hệ thực vật Việt Nam, nhưng phầnnào cũng đưa ra được công dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật [15], [16], [17]

Đỗ Tất Lợi (1965) đã xuất bản bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” vàđược tái bản vào năm 2000 Công trình liệt kê gần 800 loài cây, con và vị thuốc,trong đó phần lớn mô tả về thực vật, phân bố, thu hái và chế biến, thành phần hoáhọc, công dụng và liều dùng

Dược sĩ Vũ Văn Chuyên đã cho ra đời cuốn “Tóm tắt đặc điểm các họ câythuốc”, năm 1966 để phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu cây thuốc vàđược in lần thứ hai vào năm 1976 [10] Năm 1980, Đỗ Huy Bích, Bùi XuânChương đã giới thiệu “Sổ tay cây thuốc Việt Nam”, với 519 loài cây thuốc, trong đó

có 150 loài mới phát hiện [4]

Hiện nay có rất nhiều công trình, tác giả nghiên cứu xuất bản kỹ thuật nhângiống bảo tồn tài nguyên cây thuốc Như năm 2013, tác giả Trần Ngọc Hải đã biênsoạn cuốn “Kỹ thuật trồng một số loài cây thuốc quý hiếm dưới tán rừng và vườnnhà” trong đó có loài cây thuốc quý Củ dòm

Các nhà khoa học Viện Dược liệu đã xuất bản cuốn “Dược điển Việt Nam”tập I, II đã tổng kết các công trình nghiên cứu về cây thuốc trong những năm qua[7] Viện Dược liệu, Bộ Y tế cùng với hệ thống trạm nghiên cứu dược liệu, điều tra

Trang 18

đã xuất bản cuốn “1900 loài cây có ích”, cho biết trong số các loài thực vật bậc cao

có mạch đã biết ở Việt Nam, có 76 loài cho nhựa thơm, 160 loài cho tinh dầu, 260loài cho dầu béo, 600 loài chứa tanin, 50 loài cây gỗ có giá trị cao, 40 loài tre nứa,

40 loài song mây [19]

“Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi (1997) đã biên soạn, gồmkhoảng 3.200 loài cây thuốc, trong đó thực vật có hoa có 2.500 loài thuộc 1050 chi,được xếp vào 230 họ thực vật theo hệ thống A L Takhtajan Tác giả đã giới thiệu

sơ bộ về nhận dạng, bộ phận sử dụng, nơi sống và thu hái, thành phần hoá học, tính

vị và tác dụng, công dụng, của từng loài thực vật [8]

Bộ sách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” với hơn 1.000 loài,trong đó 920 cây thuốc và 80 loài động vật được sử dụng làm thuốc của nhóm tácgiả Viện Dược liệu được biên soạn (2003)

Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã thu thập, nghiên cứu và công bốmột số tài liệu liên quan tới cây thuốc: Đáng chú ý là hai tập sách “Tài nguyên thựcvật có tinh dầu ở Việt Nam” của tác giả Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001; 2002) cáctác giả đã đề cập đến giá trị sử dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật có tinh dầu ởViệt Nam [20]

Bộ sách “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” đã được công bố, đây là bộsách có ý nghĩa quan trọng trong tra cứu hệ thực vật nói chung và tra cứu thànhphần cây thuốc nói riêng của Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2003, 2005) Tập sách

đã đề cập tới các tên khoa học, tên thường gọi, nhận dạng, phân bố, dạng sống- sinhthái và công dụng, rất tiện lợi cho các nhà nghiên cứu về thực vật làm thuốc [2], [3]

Trang 19

Cuộc sống còn gắn liền với việc khai thác và sử dụng thực vật của các dântộc thiểu số trên thế giới nói chung, và ở Việt Nam nói riêng, nên có nhiều kinhnghiệm và tri thức quý trong lĩnh vực chế biến, sử dụng thực vật: Đặc biệt là cáckinh nghiệm sử dụng cây thuốc Tuy nhiên, các tri thức và kinh nghiệm dân tộcthường chỉ được sử dụng và lưu truyền trong một phạm vi hẹp (dân tộc, dòng họ,gia đình) vì vậy không được phát huy để phục vụ cho xã hội và có nguy cơ thấtthoát rất cao Nhận thức được tầm quan trọng này, trong khoảng hơn 10 năm trở lại

đây nghiên cứu cây thuốc dân tộc (Ethnomedical plants) được đặc biệt quan tâm tại

một số cơ quan của nước ta và đã thu được nhiều kết quả khả quan [21]

Trong những năm gần đây Nhà nước đã có nhiều nỗ lực để đầu tư cho côngtác điều tra, nghiên cứu về cây thuốc và kế thừa nền y học cổ truyền, phục vụ choyêu cầu chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ toàn dân Tuy nhiên, phần lớn số loàiđược ghi nhận đều xuất phát từ kinh nghiệm sử dụng của các cộng đồng các dân tộc

ở các địa phương trong cả nước

Trong những năm qua Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã có nhiềucông trình nghiên cứu về tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộcthiểu số ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu về cây thuốc cổ truyền của dân tộcThái, Mường, Tày, Nùng, đã cập nhật và bổ sung cho dữ liệu về cây thuốc dân tộcViệt Nam

Năm (2001), Nguyễn Thị Phương Thảo và cộng sự đã điều tra, đánh giá vềtài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng các loài thực vật làm thuốc của một sốdân tộc (Dao, Tày, Hoa) tại Yên Tử - Quảng Ninh và đã thu thập được 326 loài thựcvật làm thuốc Tại Chiềng Yên - Mộc Châu - Sơn La (2005), tác giả đã điều tra đánhgiá tài nguyên cây thuốc của người Mường và Dao tại khu vực nghiên cứu, đãthống kê được 209 loài cây thuốc được người Mường và 176 loài cây thuốc đượcngười Dao sử dụng [24]

Trong nghiên cứu “Cây thuốc truyền thống của người Dao, huyện Sa Pa, tỉnhLào Cai” Lưu Đàm Cư (2005), đã xác định được 312 loài cây thuốc thuộc 88 họ màngười Dao ở Sa Pa sử dụng [12] Báo cáo khoa học hội nghị toàn quốc, nghiên cứu cơbản trong khoa học sự sống, định hướng y dược học NXB KH và KT, Hà Nội)

Trang 20

Diện tích rừng nước ta từ 14,3 triệu ha vào năm 1943, đến năm 1999 chỉ còn10,9 triệu ha, theo thống kê của ngành Lâm nghiệp [28] Rừng bị phá huỷ sẽ làmcho toàn bộ tài nguyên rừng ở đó mất đi, trong đó có cây thuốc Trong quá trìnhđiều tra dược liệu ở Việt Nam từ năm 1961 đến nay, Viện Dược liệu đã phát hiệnnhiều vùng rừng có cây thuốc phong phú, nay đã bị phá huỷ làm nương rẫy, trồng

cà phê, cao su (ở miền Nam) hoặc thay vào đó là các công trình dân sự, Bên cạnhcác hoạt động có chủ ý của con người, nạn cháy rừng, lũ lụt và lở đất cũng làm mất

đi nhiều vùng rừng có nhiều cây thuốc quý hiếm mọc tập trung

Ngoài ra do nhu cầu của xã hội tài nguyên cây thuốc bị khai thác quá mức, nênngày càng cạn kiệt và đứng trước nguy cơ bị đe doạ Chính phủ và ngành y tế đã cónhững nỗ lực để bảo tồn tài nguyên sinh vật nói chung và tài nguyên cây thuốc nóiriêng Nhiều công trình Nhà nước về bảo tồn cây thuốc như: Bảo tồn nguồn gen câythuốc - Viện Dược liệu, Bộ Y tế hoặc các mô hình bảo tồn nguồn gen cây thuốc ở các

dự án đầu tư của Nhà nước, cũng như các dự án của tổ chức phi chính phủ như: Bảotồn cây thuốc của đồng bào Dao tại Ba Vì, Hà Tây - CREDEP; Bảo tồn nguồn gen câythuốc- Bộ Y tế; Mô hình Bảo tồn và phát triển cây thuốc ở Sa Pa; Mô hình Bảo tồn câythuốc ở Nà Ớt, Sơn La, của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã được hình thànhnhằm duy trì bảo tồn nguồn gen cây thuốc quý hiếm

1.3 Các nghiên cứu về hệ thực vật tại VQG Cát Bà

Vườn quốc gia Cát Bà là khu vực có giá trị cao về đa dạng sinh học không chỉtrên đất liền mà còn ở dưới biển, kết quả điều tra khảo sát cho thấy tại đây là nơi sinhsống của trên 3.000 loài động, thực vật khác nhau với 1.588 loài thực vật bậc cao cómạch, thuộc 850 chi, 187 họ, 5 ngành; trong số 1.588 loài thực vật thống kê được ở Cát

Bà có 81 loài thực vật nguy cấp, quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam 2007, Sách đỏ Thếgiới, Nghị định 32/2006/NĐ-CP Ngoài các giá trị cao về đa dạng sinh học Cát Bà còn

có nhiều cảnh quan thiên nhiên, hang động hùng vĩ, độc đáo và các di chỉ, di tích lịch

sử nổi tiếng, đã góp phần đưa Cát Bà trở thành một trong số ít các nơi phát triển mạnhcác hoạt động du lịch sinh thái và nghiên cứu khoa học [13]

Trang 21

Năm 2012, Đỗ Xuân Thiệp đã nghiên cứu đánh giá thực trạng các loài cây gỗquý hiếm trên đảo Cát Bà và đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả Gồm các loài

sau: Xương cá (Canthium dicoccum (Gaertn.) Teysm & Binn.); Cà ổi vọng phu (Castanopsis ferox (Roxb.) Spach); Vương tùng (Murraya glabra (Guillaumin) Swingle); Màu cau trắng (Goniothalamus macrocalyx Ban); Trám đen (Canarium tramdenum Đại & Yakol); Chò đãi (Annamocarya sinensis (Dode) J.-F.Leroy; Rẫm (Bursera tonkinensis Guillaumin); Gội nếp (Aglaia spectabilis (Miq.) Jain & Bennet.); Lát hoa (Chukrasia tabularis Juss.); Sồi đĩa (Quercus platycalyx Hickel & A.Camus); Dẻ bán cầu (Lithocarpus hemisphaericus (Drake) Barnett); Rau sắng (Melientha suavis Pierre); Kim giao (Nageia fleuryi (Hickel) de Laub.).

Tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu nào về đặc điểm sinh học, sinhthái loài Bình vôi tại Cát Bà

1.4 Tài nguyên cây thuốc tại Vườn Quốc gia Cát Bà

Từ các tài liệu đã nghiên cứu như từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ VănChi (2012), đã thống kê được Vườn quốc gia Cát Bà có tới 1.026 loài có thể dùnglàm thuốc, chiếm tới 64,7% so với tổng loài Tỷ lệ này cho thấy Vườn quốc gia Cát

Bà có rất nhiều loài cây thuốc, chiếm một vị trí rất quan trọng của khu hệ Tuynhiên, các loài cây vốn vẫn được coi là quí luôn có mặt trên thị trường thì không

nhiều như: Bổ cốt toái (Drynaria fortunei), Thông đất (Lycopodiella cernua), Bạch nhật (Gomphrena globosa) Một số loài cây làm thuốc được người dân cho là có giá trị kinh tế cao và được sử dụng nhiều hiện nay như: cây Củ gió (Tinospora sagitta), cây Xạ đen (celastrus hindsii), cây Thuốc máu (Vernonia aff Acumingiana), cây Bổ béo (Fissistigma thorelii), cây Khôi tía (Ardisia gigantifolia), cây Kim ngân (Lonicera japonica), cây Sơn đậu căn (Sophora tonkinensis)…

Những loài cây thuốc có giá trị này đang có xu hướng suy thoái do việc khai thácquá mức với mục đích thương mại Trong số 1.026 loài cây làm thuốc, hầu hết đãđược ghi nhận về giá trị sử dụng theo kinh nghiệm của y học cổ truyền dân tộc.Những cây thuốc này có thể sử dụng vào các bài thuốc, toa thuốc đông y khác nhau

để chữa trị nhiều chứng bệnh thông thường như các bệnh đau xương- khớp, bệnhđường tiêu hoá, đường hô hấp, bệnh gan, thận, cảm sốt và bệnh ngoài da

Trang 22

Loài Bình vôi Stephania rotunda Lour nằm trong sách đỏ Việt Nam 2007 và

đã được ghi trong Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm(nhóm 2) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để hạnchế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại

1.5 Nghiên cứu về loài Bình vôi

Bảng 1.1: Phân loại khoa học Chi Bình vôi (Stephania spp).

Chi (genus):

( nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi_B%C3%ACnh_v%C3%B4i )

Chi Bình vôi hay chi Thiên kim đằng (danh pháp khoa học: Stephania spp,

đồng nghĩa: Perichasma) là một chi thực vật có hoa trong họ Biển bức cát

(Menispermaceae hay còn gọi là họ Tiết dê), có nguồn gốc ở miền đông và nam châu

Á cũng như Australasia Tên gọi dân dã nhất trong tiếng Việt là Bình vôi Tuy nhiên, nhiều loài có các tên gọi địa phương đôi khi trùng nhau (Thuy TT et al 2005)

PlantSystematics.org liệt kê 120 danh pháp cho Chi này

Trang 23

vàng nhạt xếp thành vòng tròn Khi hoa nở các bao phấn mở nắp ngang quay raxung quanh Hạt phấn nhỏ màu vàng; hoa cái có một lá đài; hai cánh hoa, bầu hìnhtrứng Quả hạch hình cầu hơi dẹt, khi chín có màu đỏ hoặc da cam, hạt cứng hìnhmóng ngựa, hình trứng hoặc hình gần tròn tùy theo loài Mùa hoa: tháng 2-6; mùaquả vào tháng 7-10.

Hình 1.1: Cây củ Bình vôi (Stephania rotunda Lour.) 1.5.3 Phân bố, trồng hái và chế biến

Các loại Bình vôi ở nước ta có diện phân bố rất rộng trên cả ba miền Bắc,Trung, Nam Thường tập trung ở vùng núi đá vôi như Tuyên Quang, Cao Bằng,Thái Nguyên, Phú Thọ, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Lâm Đồng, Vũng Tàu,

Bà Rịa Riêng loài (Stephania pierei Diels) tập trung chủ yếu ở các tỉnh ven biển

Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận

Trang 24

1.5.4 Một số công trình nghiên cứu về Bình vôi

1.5.4.1 Một số công trình nghiên cứu về Bình vôi trên thế giới

Kondo (Nhật), năm 1944 đưa ra công thức khai triển của rotundin như sauvới công thức thô là C13H19 (OCH3)3CH3N

Tại Ấn Độ, năm 1950 và 1952, Qiaudry G R và Sidiqui nghiên cứu và chiết

từ củ cây Stephama glabra (Roxb.) Miers nhiều ancaloit và đặt tên là hyndarinC23H25O4N, stefarin C18H19O3N và xyckanin C38H4206N2 trong đó hyndarinchiếm thành phần chủ yếu (chừng 30% hyndarin 15-18% stefarin và rất ítxycleanin) Nghiên cứu cấu tạo hyndarin người la thấy rằng hyndarin thực ra cũngchỉ là một ancaloit đã biết có tên là tetrahydropanmatin

Trước năm 1965, người ta vẫn cho rằng hyndarin và rotundin là hai ancaloitkhác nhau vì chiết từ hai cây khác nhau, mọc tại hai nước khác nhau, nhưng đếnnăm 1965, Viện nghiên cứu cây thuốc và cây có tinh dầu toàn liên bang Xô Viết cũ(VILAR) có dịp so sánh hai cây, một di thực từ Ấn Độ, một di thực từ Việt Nam,thấy rằng hai cây chỉ là một loài nên đã kiểm tra lại tính chất của rotundin và đã xácđịnh rotundin và hyndarin chỉ là một chất và có cấu tạo của tetrahydropanmatin(Công tác dược khoa, 6-1965)

Tác dụng dược lý của rotundin đã được nghiên cứu trong nước ta (Revuemédicochirurgicale franca Use d “Extreme-orient, 4-1944, 430-433), tại Liên Xô cũ(Dược lý học và độc chất học, 3- 1961), Rumani (1963) và Trung Quốc (Dược họcthông báo, 1965) Sau đây là một số kết quả:

Trang 25

1 Rotundin rất ít độc: Tiêm vào mạch máu một con thỏ với liều cao hơn 30mg/1kg thể trọng, con thỏ chỉ mệt 1-2 ngày, đồng tử bị liệt nhất thời rồi lại hết.

2 Tác dụng trấn kinh rõ rệt trên nhu động vị tràng Trên mẩu ruột lấy riêng,

nó gây hiện tượng giảm khẩn rõ rệt mà vẫn duy trì sự co bóp điều hoà và kéo dài

Có thể dùng chữa những trường hợp tăng nhu động và ống tiều hoá bị giật

3 Tác dụng điều hoà đối với tim và bổ tim nhẹ

4 Còn có các dụng điều hoà hô hấp có thể dùng chữa hen hay chữa nấc

5 E A Trutêva (Liên Xô cũ, 1961) còn chứng minh tác dụng an thần, gây ngủ và chống co quắp, hạ huyết áp

“Nguồn:ihph.org.vn/tác-dụng-của-cây-bình-vôi-chữa-bệnh-mất-ngủ-hiệu-quả-5754.html”

1.5.4.2 Một số công trình nghiên cứu về Bình vôi ở Việt Nam

Nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng dược lý của cây lá Bình vôi, Năm

1940, Bùi Đình Sang đã chiết từ củ Bình vôi mọc ở Việt Nam các chất tinh bột,dường khử oxy, ax.it malic, men oxydaza và một ancaloit với tỷ lệ 1,2 đến 1,5%(tính trên củ tươi), được Bùi Đình Sang đặt tên là rotundin

Trên thực tế rotundin của Bùi Đình Sang là một hỗn hợp nhiều ancaloit trong đóchủ yếu là hyndarin Ngoài rotundin ra, năm 1964, tại Bộ môn dược liệu (Trường đạihọc dược khoa, Hà Nội) Ngô Vân Thu còn chiết từ củ bình vôi Việt Nam một ancaloitmới với tỷ lệ 1% và đặt tên là ancaloit A đã được xác định công thức sau đây: Năm

1965 tại Liên Xô cũ, Phan Quốc Kính và cộng sự cũng chiết từ củ bình vôi mang từViệt Nam sang một số ancaloit khác và đặt tên là ancaloit A, ancaloit C và D với tỷ lệ0,08% mỗi thứ (Hoá học các hợp chất thiên nhiên, 6-1965) D

Đối với những ancaloit khác của củ bình vôi, chỉ có ancaloit A (tức làroemerin) do Ngô Vân Thu chiết, được Dương Hữu Lợi thí nghiệm duợc lý (Y họcViệt Nam, 1-1966) và đã đi tới những kết luận sau đây:

1 Dung dịch ancaloit A có tác dụng gây tê niêm mạc và phong bế: Tính theocông thức G Valette, dung dịch 0,5% có tác dụng gây tê niêm mạc tương đương vớidung dịch 1,8% clohydrat cocain, theo thí nghiệm của Mak và Nelson, dung dịch

Trang 26

3 Dung dịch ancaloit A có độc tính DL50: 0,125g/kg thể trọng chuột, nhưvậy liều độc tương đương với clohydrat cocain, đồng thời dung dịch ancaloit Acũng có những biếu hiện độc như co- cain (kích thích thần kinh hệ trung ương, biểuhiện co giật…) Trên lâm sàng rotundin được áp dụng rộng rãi từ năm 1944 vàtrong suốt kháng chiến chống Pháp để điều trị có kết quả một số trường hợp đautim, mất ngủ, hen, đau bụng, lỵ amíp Tác dụng rõ rệt nhất là ngủ và an thần.

quả-5754.html”

“Nguồn:ihph.org.vn/tác-dụng-của-cây-bình-vôi-chữa-bệnh-mất-ngủ-hiệu-Do có giá trị sử dụng nên hiện nay loài cây này bị người dân ở các tỉnh tìmkiếm khai thác trở nên hiếm gặp Loài đã được ghi trong Danh mục Thực vật rừng,Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 2) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày30/3/2006 của Chính phủ để hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại

Một số loài trong chi Stephania như: Củ dòm đã được nhiều tác giả nghiên cứu

như: Vũ Văn Sơn, Phạm Công Nam đã tìm hiểu nghiên cứu đặc điểm phân bố thấyrằng loài Củ dòm phân bố ở đai cao từ 200-1200m dưới tán nhiều trạng thái rừng khácnhau và thử nghiệm nhân giống bằng hạt và hom để tạo cây giống phục vụ bảo tồn loàitại VQG Ba Vì, tuy nhiên sinh trưởng của cây chậm, đặc biệt là cây giâm hom khảnăng hình thành củ rất kém Tác giả Trần Ngọc Hải trong nghiên cứu khai thác

Trang 27

phát triển nguồn gen khi phân tích diệp lục và cấu tạo giải phẫu lá đã khẳng định mức

độ thích nghi của loài với ánh sáng là loài ưa sáng nhẹ, từ đó khuyến cáo không nêntrồng Củ dòm nơi có độ tàn che cao; thử nghiệm trồng ở vườn tạp, độ tàn che 0,3 năngsuất củ cao hơn hai lần so với trồng dưới tán rừng có độ tàn che trên 0,7

1.6 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Từ các tài liệu tham khảo trong nước và thế giới cho thấy nghiên cứu về cácloài cây thuốc trên thế giới khá phong phú, với nhiều công trình nghiên cứu từ thời

cổ đại đến thời đại ngày nay Tuy nhiên có rất ít những nghiên cứu về Củ Bình vôi,trong nước tuy đã có một số ít đề tài nghiên cứu về loài cây này nhưng mới dừnglại ở mức độ nhất định Các nghiên cứu đó chưa tập trung đi sâu vào việc mô tả đặcđiểm sinh vật học, phân bố, khai thác sử dụng cũng như thử nghiệm nhân giống,trồng loài Củ Bình vôi Đây là vấn đề tồn tại cần triển khai nghiên cứu tiếp theo đểgóp phần bảo tồn và phát triển nguồn gen loài cây thuốc quý Bình vôi

Trang 28

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu

2.1.1 Mục tiêu chung

Góp phần bảo tồn và phát triển được loài cây thuốc quý Bình vôi tại VQG Cát

Bà và từng bước đáp ứng nhu cầu sử dụng làm thuốc bảo vệ sức khỏe của người dân

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định được đặc điểm sinh vật học và sinh thái của loài Bình vôi tại Cát

Bà làm cơ sở cho công tác bảo tồn

- Đánh giá được thực trạng khai thác, sử dụng và các tác động ảnh hưởng tớibảo tồn loài, đề xuất giải pháp bảo tồn loài Bình vôi tại Cát Bà

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

* Đối tượng: Loài Bình vôi phân bố tự nhiên tại Vườn Quốc gia Cát Bà

* Phạm vi nghiên cứu:

- Đề tài chỉ tiến hành điều tra tại vùng lõi của Vườn Quốc gia Cát Bà;

- Thử nghiệm nhân giống hạt và hom tại Vườn ươm Vườn Quốc gia Cát Bà;nuôi cây mô tại Trung tâm ứng dụng công nghệ cao tại Hải Phòng

- Thời gian nghiên cứu: Tháng 2/2016-10/2016

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học tại khu vực nghiên cứu

+ Đặc điểm vật hậu của loài

+ Đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài

+ Đặc điểm cấu trúc rừng nơi có Bình vôi phân bố

+ Đặc điểm đất rừng nơi có Bình vôi phân bố

+ Xác định khả năng thích nghi của loài với ánh sáng

- Nghiên cứu đặc điểm phân bố của Bình vôi tại khu vực nghiên cứu

- Thực trạng khai thác, sử dụng và các tác động ảnh hưởng tới bảo tồn loài Bình vôi tại Cát Bà

Trang 29

- Thử nghiệm nhân giống loài Bình vôi tại Vườn Quốc gia Cát Bà

- Đề xuất giải pháp bảo tồn loài Bình vôi tại Cát Bà

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp

2.4.1.1 Phương pháp xác định phân bố loài Bình vôi tại khu vực nghiên cứu

* Phương pháp kế thừa số liệu và phỏng vấn

+ Kế thừa các nguồn tài liệu, các kết quả nghiên cứu có liên quan đến loài nghiên cứu về phân bố của loài

+ Tham vấn, phỏng vấn 10 cán bộ VQG Cát Bà và 18 người dân địa phương

về các vị trí từng ghi nhận sự xuất hiện của loài làm cơ sở xây dựng các tuyến điều tra để xác định vùng phân bố của loài

*Phương pháp điều tra thực địa

- Dụng cụ chuẩn bị: Máy định vị GPS; La bàn; Máy ảnh, bút, giấy ghi chép; Bản đồ giấy

- Phương pháp điều tra theo tuyến và ô tiêu chuẩn

+ Số lượng tuyến điều tra dự kiến: 05 tuyến đại diện cho khu vực nghiêncứu; Ô tiêu chuẩn lập tại khu vực có Bình vôi phân bố, 25 OTC ( vì là địa hình núi

đá vôi nên chọn diện tích 500m2 /OTC các tuyến điều tra (5 OTC/tuyến)

+ Tuyến điều tra được thiết kế qua các kiểu thảm thực vật rừng, trạng thái rừng và dạng địa hình, độ cao khác nhau

+ Trên các tuyến điều tra, lựa chọn những vị trí có trạng thái rừng điển hình

có loài Bình vôi phân bố để đặt các ô tiêu chuẩn; số lượng các ô tiêu chuẩn phụthuộc vào chiều dài tuyến điều tra, nhưng phải đảm bảo độ tin cậy Ô tiêu chuẩnđược đặt sao cho chiều dài ô song song với đường đồng mức và diện tích ô khôngvắt qua đường mòn hoặc các vị trí bị tác động khác biệt trong khu vực lập ô

+ Sử dụng bản đồ hiện trạng rừng kết hợp với máy GPS điều tra theo từngtuyến một nhằm xác định sự phân bố của loài Bình vôi, khi thấy có sự phân bố củaloài Bình vôi dùng máy GPS định vị tọa độ vị trí đó Cứ tiến hành như vậy quanhiều tuyến khác nhau, tổng hợp nhiều tuyến ta sẽ có được khu vực phân bố củaloài Bình vôi trong khu vực điều tra

Trang 30

Kết quả điều tra được ghi chép theo biểu 01

Biểu 01: Điều tra Bình vôi theo tuyến

Số hiệu tuyến:

Địa điểm:

Ngày điều tra:

Tọa độ điểm đầu:

STT

1

2

3

Cấp tuổi của cây: Do đặc thù của đối tượng nghiên cứu là dây leo sống lâu

năm nên chúng tôi tạm thời phân cấp tuổi của Bình vôi như sau:

Cây mạ: Cây nhỏ

Cây con: Cây nhỏ thân, chưa ra hoa, kết quả

Cây trưởng thành: Cây trưởng thành, đã ra hoa, kết quả, sức sống trung bình

đến tốt

Cây già, sắp chết: Cây già cỗi hoặc cây có sức sống kém nguy cơ chết cao

Kích thước củ được như sau như sau: Được đo đường kính thân củ, chiều

dài thân củ và cân nặng

2.4.1.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và sinh thái của Bình vôi.

* Phương pháp kế thừa số liệu và phỏng vấn

+ Kế thừa các nguồn tài liệu, các kết quả nghiên cứu có liên quan đến loài

nghiên cứu về đặc tính sinh vật học và sinh thái học của loài

+ Tham vấn, phỏng vấn 10 cán bộ VQG Cát Bà và 18 người dân địa

phương

và chuyên gia về đặc điểm hình thái cây Bình vôi, mùa ra hoa, kết quả…

Trang 31

* Phương pháp điều tra thực địa

a Đặc điểm sinh vật học của loài

Quan sát, đo đếm và ghi chép các thông tin về đặc điểm hình thái và vật hậucủa 30 cá thể phân bố ở các kiểu rừng khác nhau, các đai cao khác nhau và các cấptuổi khác nhau

Các chỉ tiêu đo đếm hình thái gồm: Củ (kích thước, cân nặng); Thân (chiềudài thân, đường kính của thân và các đặc điểm đặc trưng của thân); Lá (kích thước,hình dạng, hệ gân, cuống); đặc điểm hình thái hoa; đặc điểm hình thái quả

Vật hậu: Quan sát ghi chép tất cả các đặc điểm vật hậu của loài khi gặp ngoàithực địa (thời gian ra hoa, kết quả, quả chín, hạt nảy mầm, ra chồi non, lá non ).đồng thời kết hợp giữa tham khảo tài liệu và phỏng vấn người dân và cán bộ VQGthu thập các thông tin về vật hậu như: Ra lá non, lá vàng, mầm hoa…

Đặc điểm tái sinh, cấu trúc tuổi của quần thể, được tổng hợp trên các tuyếnđiều tra và ô tiêu chuẩn

Trang 32

Lá vàng, rơi rụng

Mầm hoaHoa

Hoa bắt đầu nở

Hoa nở rộHoa tànQuả nonQuả

Quả rụng

Chú thích: Đánh dấu x xuất hiện vật hậu

Nghiên cứu cấu tạo giải phẫu lá cây Bình vôi

- Dựa vào kết quả điều tra ngoài thực địa tiến hành tổng hợp đặc tính sinhhọc của loài (vật hậu: mùa hoa quả, ra lá non, nảy chồi, rụng lá, tình hình tái

sinh…thể, đánh giá xu hướng biển đổi của quần thể) tổng hợp, xử lý tính toán và phân tích

Trang 33

b Đặc điểm điều kiện nơi sống của loài

Do hạn chế về mặt thời gian, nhân lực, địa hình rộng và phức tạp, chỉ tiến

hành điều tra đặc điểm rừng, thổ nhƣỡng và độ tàn che nơi có Bình vôi phân bố

- Đặc điểm rừng nơi loài Bình vôi phân bố

Nội dung này đƣợc xác định chủ yếu thông qua kết quả điều tra, tổng hợp

trong các ô tiêu chuẩn có Bình vôi phân bố Nội dung điều tra ngoại nghiệp trong

các ô tiêu chuẩn theo các biểu 03,04,05

Biểu 04: Điều tra cây tái sinh

TT

Tên loài ÔDB

123

Trang 35

Biểu 05: Điều tra tầng cây bụi, thảm tươi

Trạng

rừng

* Điều tra cây bụi dây leo thực vật ngoại tầng và cây tái sinh được tiến hành

trong 5 ô dạng bản 25m2 (5x5m) được bố trí đều trong các ô tiêu chuẩn

c Phương pháp điều tra đất nơi Bình vôi phân bố

Tiến hành lấy mẫu đất tại ODB nơi có loài phân bố Trọng lượng đất lấy

khoảng 0,5kg/tầng cho vào túi nilong có phiếu ghi rõ số hiệu ODB, tầng đất, độ sâu

tầng, vị trí, ngày lấy mẫu

* Xử lý phân tích mẫu đất:

Mẫu đất thu vè và phơi khô nhặt bỏ chất lẫn vào: Đá, sỏi, rễ cây, … rồi tiến

hành dã nhỏ bằng cối đồng và chày có đầu bọc bằng cao su, sau đó sàng qua rây

lưới có đường kính mắt lưới 0,25mm Tiếp theo tiến hành phân tích các chỉ tiêu

trong phòng thí nghiệm theo các phương pháp:

+ Hàm lượng mùn phân tích bằng phương pháp Tiurin

+ Độ pHklc : Bằng máy đo pH metter

+ Mùn tổng số phân tích theo phương phápTiurin

+ Thành phần cơ giới phân tích theo phương pháp ống dung trọng

+ Xác định N (NH4+), phân tích theo phương pháp Kjeldahl

+ Xác định P (P2O5) dễvtiêu phân tích theo phương pháp Onianai

+ Xác địnhK (K2O5) dễvtiêu phân tích theo phương pháp Matlova

+ Độ chua phân tích theo phương pháp Kappen, Xôcôlốp

+ Xác định độ ẩm bằng phương pháp cân sấy ở 1050C đến khi trọng

lượng

không đổi

Mô tả phẫu diện đất tại thực địa theo biểu 06

Trang 36

Kí Độ sâu

d Phương pháp điều tra độ tàn che tại khu vực nơi Bình vôi phân bố

Độ tàn che có thể được xác định bằng nhiều cách Một trong những cách dễ

áp dụng, nhanh và cho kết quả chính xác là ước đoán bằng mắt, trong đó một thangcác giá trị phù hợp được đưa ra áp dụng bảng 07 Mỗi ô mẫu nghiên cứu được ápmột thang giá trị phù hợp, lấy giá trị điểm giữa, sau đó tính giá trị trung bình cho tất

cả các ô nghiên cứu Các ô không có cá thể loài xuất hiện được tính giá trị 0

Biểu 07: Xác định độ tàn che Thang giá trị

2.4.1.3 Phương pháp nghiên cứu các tác động ảnh hưởng đến loài Bình vôi tại khu vực nghiên cứu.

Phương pháp kế thừa số liệu và phỏng vấn

- Kế thừa các số liệu đã nghiên cứu, thống kê tình hình sinh trưởng,

phát triển, biến động số lượng cá thể loài trước đây so với hiện nay

Trang 37

- Phỏng vấn cán bộ VQG Cát Bà, người dân địa phương về tác động các ảnh

hưởng làm tăng hoặc giảm số lượng loài Bình vôi

Phương pháp điều tra tuyến

Trên các tuyến điều tra tiến hành thu thập các thông tin tác động đến loàiBình vôi theo các nội dung biểu 08 dưới đây:

Biểu 08: Điều tra tác trên tuyến

Số hiệutuyến:

2.4.2 Phương pháp nội nghiệp

Từ kết quả ghi nhận các tọa độ bắt gặp cây Bình vôi trên các tuyến điều tra

và OTC, sử dụng phần mềm Mapinfo 10.5 chồng ghép các lớp bản đồ để thể hiệncác tuyến điều tra, OTC, vị trí phân bố của Bình vôi tại Vườn Quốc gia Cát Bà trênnền bản đồ số

b Phương pháp nghiên cứu cấu tạo giải phẫu lá cây

Phương pháp:

Trang 38

Biểu 09: Các chỉ tiêu giải phẫu lá cây Bình vôi

Các chỉ tiêu giải phẫu lá tại trong rừng tự nhiên (đơn vị) TT

Ghi chú: - CTT: Cu tin trên; BBT: Biểu bì trên; MDH: Mô đồng hóa

- KK: Khí khổng; BBD: Biểu bì dưới; CTD: Cu tin dưới

- BDL: Bề dày lá; KK/BDL: Khí khổng/ bề dày lá

- Phân tích hàm lượng diệp lục

c Phương pháp xác định hàm lượng diệp lục a, b

Cân chính xác 0,5 gam lá cân phân tích, cho lá vào cối sứ cùng 2ml cồn tuyệtđối, them một ít CaCO3 và bông thủy tinh, rồi nghiền mẫu đến khi tạo thành một thểđồng nhất Dùng giấy lọc, phễu thủy tinh lọc thu dịch chiết, dịch nghiền được rửanhiều lần bằng dung dịch cồn tuyệt đối đến khi dịch chiết chảy ra không màu.Chuyển dịch chiết chảy sang bình định mức 50 ml, thêm cồn tuyệt đối đưa thể tíchdịch chiết lên đúng vạch đinh mức (có thể pha loãng dịch chiết tiếp) Đo mật đọquang học của dịch chiết tại các bước sóng 665 nm và 649 nm trên máy đo màu.Nồng độ diệp lục a, b được tính theo công thức sau:

Ca = 13,7.E – 5,76.E649(mg/l)

Cb = 25,8.E649 - 7,6.E665(mg/l)

Trang 39

Ca+ b= 6,10.E665 + 20,04.E649 (mg/l)Hàm lượng diệp lục a, b là hàm lượng diệp lục tính theo đơn vị mg/g

lá cây

Trong đó: A là hàm lượng diệp lục tính theo đơn vị mg/l

C:Nồng độ diệp lục (mg/l)V: Thể tích dịch rút được (ml)n: Số lần pha loãng

p: Khối lượng mẫu lá dung để rút dịch (gam)

Nguyên lý của phương pháp là: Các sắc tố xanh là yếu tố quan trọng trong quá trình quang hợp của cây Trong đó quan trọng nhất là nhóm diệp lục chlorophyll

gồm: chlorophyll a và chlorophyll b Trong vùng ánh sáng nhìn thấy ( λ = 400 – 700nm), các phân tử hấp thụ mạnh nhất 2 vùng: Ánh sáng đỏ (λ = 662 nm) và ánh sángtím (λ = 430 nm) Căn cứ vào sự hấp thụ các bước sóng khác nhau của diệp lục trênmáy đo màu mà ta có thể tính được hàm lượng của chúng

Biểu 10: Hàm lượng diệp lục ở các vị trí

C a (mg/l)

d Từ các bảng điều tra tổng hợp đặc điểm sinh thái học của loài gồm:

+ Đặc điểm rừng nơi loài phân bố (kiểu rừng, tổ thành); đặc điểm tái sinh.Tính toán xác định công thức tổ thành rừng:

* Tổ thành tầng cây cao

Để xác định tổ thành tầng cây cao, tác giả sử dụng phương pháp tính

tỷ lệ tổ thành theo phương pháp của Daniel Marmillod:

Trang 40

Ni% + Gi%

IV i =

2Trong đó: IVi% là tỷ lệ tổ thành (chỉ số quan trọng: Important Value) củaloài i

Ni% là % theo số cây của loài i trong quần xã thực vật rừngGi% là % theo tổng tiết diện ngang của loài i trong quần xã thựcvật rừng

Theo Daniel Marmillod, những loài cây có IV% > 5% mới thực sự có ýnghĩa về mặt sinh thái trong lâm phần Theo Thái Văn Trừng (1978), trong một lâmphần nhóm loài cây nào đó lớn hơn 50% tổng số cá thể của tầng cây cao thì nhómloài đó đƣợc coi là nhóm loài ƣu thế Cần tính tổng IV% của những loài có trị sốnày lớn hơn 5%, xếp từ cao xuống

* Tổ thành loài cây tái sinh

- Xác định số cây trung bình theo loài dựa vào công thức:

MTrong đó: n là số cây trung bình

Nếu: ni  5% thì loài đó đựơc tham gia vào công thức tổ thành

ni < 5% thì loài đó không đƣợc tham gia vào công thức tổ thành

Hệ số tổ thành:

Ki =Trong đó:

Ngày đăng: 22/06/2021, 13:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w