Nếu tổ chức sản xuất hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian sản xuất, chi phí lao động, chi phí sản xuất; sử dụng nhân công ít nhất mà đạt được năng xuất lao động lớn n
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành khóa luận tốt nghiệp em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS Tạ Thị Phương Hoa, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em về chuyên môn và phương pháp luận để em hoàn thành khóa luận này
Em xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa chế biến lâm sản, các phòng ban , trung tâm thông tin thư viện trường đại học lâm nghiệp đã dạy dỗ,giúp đỡ em tận tình trong suốt thời gian em học tập và nghiên cứu tại trường
Nhân dịp này em xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ công nhân viên của công ty cổ phần Sơn Thủy đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực tập tại công ty
Cũng nhân dịp này cho em gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ em trong suốt thời gian qua
Tôi xin chân thành cảm ơn!
HÀ NỘI, ngày 16 tháng 5 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Xuân Tiến
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong kinh doanh sản xuất nói chung và sản xuất sấy gỗ nói riêng thì vấn đề tổ chức sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế Nếu tổ chức sản xuất hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian sản xuất, chi phí lao động, chi phí sản xuất; sử dụng nhân công ít nhất mà đạt được năng xuất lao động lớn nhất, các công việc không bị chồng chéo Do đó trước khi đi vào sản xuất các doanh nghiệp đều phải lập kế hoạch tổ chức sản xuất Chính vì vậy việc nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề tổ chức sản xuất là rất cần thiết Được sự đồng ý của khoa chế biến lâm sản trường đại học lâm nghiệp, với sự hướng dẫn của ThS Tạ Thị Phương Hoa và sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ công nhân viên công ty cổ phần Sơn Thủy Khóa luận tốt
nghiệp:“Xây dựng mô hình tổ chức sản xuất sấy gỗ cho công ty cổ phần
Sơn Thủy” được thực hiện
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Khái quát vấn đề nghiên cứu
Lĩnh vực nghiên cứu về tổ chức sản xuất nói chung và lĩnh vực nghiên cứu về tổ chức sản xuất trong lâm nghiệp nói riêng đã được đề cập đến rất nhiều như: Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hà (2005),“Tìm hiểu công tác quản trị sản xuất và tác nghiệp tại xí nghiệp chế biến lâm sản, bao bì và hàng xuất khẩu - HÀ NỘI”; Luận văn thạc sĩ Nguyễn Song Hà (2004),“ Nghiên cứu xây dựng phương án đổi mới tổ chức và tổ chức quản lý tại lâm trường Hữu Lũng - Lạng Sơn ”
Còn vấn đề nghiên cứu về tổ chức sản xuất sấy gỗ lại được đề cập đến rất
ít và ở mức độ nghiên cứu chưa sâu Vấn đề này được bàn đến ở các đề tài có liên quan như khoá luận:
- Phạm Đức Lịch (2006), “ Xây dựng quy trình quản lý chất lượng gỗ sấy cho công ty liên doanh Woods Land ”
- Lương Văn Hiền (2006), “ Xây dựng quy trình quản lý chất lượng gỗ sấy từ gỗ keo tai tượng làm ván ghép thanh cho công ty cổ phần thương mại Khánh Trang ”
- Đặng Thị Nhàn (2007), “ Xây dựng mô hình tổ chức sản xuất sấy gỗ cho công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy shinec – nhà máy nội thất tàu thủy shinec ”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng được mô hình tổ chức sản xuất sấy gỗ cho công ty cổ phần Sơn Thủy
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần Sơn Thủy - Kỳ Sơn - Hòa Bình, phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Những vấn đề cơ bản của sản xuất kinh doanh của công ty
- Cơ cấu tổ chức của công ty
Trang 4- Thực trạng sấy gỗ của công ty
- Thực trạng tổ chức sấy gỗ của công ty
1.4 Nội dung nghiên cứu
Khoá luận tốt nghiệp đề cập đến các nội dung sau đây:
- Tìm hiểu chung về công ty
- Khảo sát, đánh giá thực trạng sấy gỗ tại công ty
- Khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức sản xuất sấy gỗ tại công ty
- Xây dựng mô hình tổ chức sản xuất sấy gỗ cho công ty
1.5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát thực tế
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp
- Phương pháp kế thừa
Trang 5CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Công nghệ sấy
2.1.1 Quá trình vận chuyển và quá trình trao đổi trong khi sấy
Sấy gỗ là một quá trình loại bỏ nước ra khỏi gỗ nhờ quá trình bay hơi đến một độ ẩm yêu cầu nào đó để ổn định kích thước cho gỗ Khi sấy gỗ xảy
ra các quá trình vận chuyển và trao đổi sau:
- Quá trình vận chuyển nhiệt từ môi trường sấy vào trong gỗ gồm hấp thụ nhiệt trên bề mặt và dịch chuyển nhiệt từ bên ngoài vào trong gỗ
- Quá trình vận chuyển ẩm từ trong gỗ ra môi trường sấy gồm quá trình bay hơi các lớp bề mặt gỗ và dịch chuyển ẩm từ bên trong gỗ ra bên ngoài
- Quá trình trao đổi nhiệt : Trong lò sấy gỗ thường xuyên tiếp xúc với môi trường sấy có nhiệt độ cao cho nên giữa gỗ và môi trường sấy xảy ra quá trình trao đổi nhiệt Trong quá trình sấy thì quá trình trao đổi nhiệt giữa lò sấy và môi trường là ổn định, còn giữa môi trường sấy và gỗ là không ổn định
- Quá trình trao đổi ẩm diễn ra giữa môi trường sấy và gỗ, môi trường sấy nhận ẩm từ gỗ
Quá trình sấy gỗ là tổng hợp các quá trình trao đổi giữa gỗ với môi trường sấy và các quá trình vận chuyển xảy ra trong gỗ sấy Chính vì vậy mà các quá trình này có ý nghĩa rất lớn đối với diễn biến quá trình sấy và giữa chúng cũng phụ thuộc chặt chẽ vào nhau Để quá trình sấy diễn ra tốt nhất, chúngta phải tìm các điều kiện để mỗi quá trình vận chuyển và trao đổi xảy ra với cường độ thích hợp Sự mất cân đối giữa các quá trình có thể dẫn đến lãng phí năng lượng, hoặc gây khuyết tật cho gỗ sấy
2.1.2 Phương pháp sấy và chế độ sấy
a Các khái niệm cơ bản
- Độ ẩm tương đối của không khí (,%): Là tỷ lệ giữa áp suất thành phần của
hơi nước có trong không khí(P n) và áp suất hơi nước bão hòa ở cùng nhiệt độ (P H)
Trang 6 =
H
n
P P
- Hàm lượng ẩm của không khí (d,g/kg không khí): Là lượng hơi nước có
trong không khí tính trên một kg không khí hơi khô
- Hàm lượng nhiệt của không khí (I, KJ/Kg không khí): Là lượng nhiệt nội tại
của bản thân 1kg không khí, nó được đặc trưng bởi hàm lượng nhiệt của không khí khô và của hơi nước vào trong không khí
- Độ ẩm thăng bằng của môi trường sấy (EMC,%): Là giá trị độ ẩm mà tại đó
lượng ẩm mà gỗ nhả ra môi trường sấy bằng lượng ẩm mà nó hút từ môi trường sấy vào trong EMC thực chất là độ ẩm thăng bằng mà gỗ cần đạt được trong môi trường sấy
- Dốc sấy (U): Thể hiện độ cứng của chế độ sấy là đại lượng được đo bằng tỷ
số giữa độ ẩm tức thời của gỗ (MC) và độ ẩm thăng bằng của môi trường sấy (EMC)
U=
EMC MC
- Môi trường sấy: Là môi trường vật chất bao quanh gỗ sấy có chức năng trao
đổi nhiệt, trao đổi ẩm với gỗ sấy Môi trường sấy truyền nhiệt cho gỗ sấy, gỗ sấy nhả ẩm cho môi trường sấy
b Phương pháp sấy
Trong thực tế sản xuất hiện nay đã có nhiều phương pháp sấy được áp dụng như: phương pháp sấy quy chuẩn, phương pháp sấy tách ẩm, phương pháp sấy chân không, phương pháp sấy hơi quá nhiệt,…
* Phương pháp sấy quy chuẩn
Phương pháp này còn gọi là phương pháp sấy gián tiếp trong môi trường không khí Đây là phương pháp sấy được sử dụng trong lò sấy kiểu chu kỳ với môi trường sấy là không khí ẩm và cũng là phương pháp sấy được
áp dụng chủ yếu trong thực tế sản xuất sấy gỗ hiện nay Sơ đồ nguyên lý và biểu đồ I-d được thể hiện ở hình 2.1
Trang 7I,KJ/Kg
1 1
2 2'
0 0'
0'
2
d,g/kg
2'
I=0 Hình 2.1 Sơ đồ nguyên lý và biểu đồ I-d của phương pháp sấy quy chuẩn * Phương pháp sấy tách ẩm ( phương pháp sấy ngưng tụ ẩm ) Nguyên lý của phương pháp này là không có sự trao đổi không khí , ẩm trong môi trường của lò sấy được ngưng tụ ẩm và dẫn ra ngoài Không khí nóng và ẩm sau khi qua đống gỗ phần lớn sẽ được hút qua dàn lạnh Khi qua dàn lạnh, hơi nước trong không khí sẽ được ngưng tụ lại thành nước ngưng Không khí lạnh chứa hàm lượng ẩm thấp này kết hợp một phần không khí qua đống gỗ nhưng chưa qua dàn lạnh(DL) mà được đưa qua dàn nóng(DN) Không khí có hàm lượng ẩm thấp, nhiệt độ sẽ đi qua đống gỗ và làm cho gỗ khô Sau khi qua đống gỗ ,do ggỗ trong nước thoát ra làm cho không khí trở nên ẩm và quá trình sấy sẽ lặp lại chu kỳ biến đổi trạng thái như trên Sơ đồ nguyên lý và biểu đồ I-d được biểu diễn ở hình2.2 1 I,kJ/kg 1
2 0' 2
DN DL 0
0'
0 Nước ngưng I=0 d,g/kg
Hình 2.2 Sơ đồ nguyên lý và biểu đồ I-d của phương pháp sấy tách ẩm
Sấy tách ẩm có ưu điểm là tiết kiệm năng lượng nhất so với các phương
pháp sấy khác Song nó vẫn chưa được áp dụng phổ biến tại việt nam do nó
Trang 8không có hiệu quả khi sấy gỗ khó sấy, gỗ có chiều dày lớn và đặc biệt là yêu cầu về chất lượng vỏ lò, môi chất để áp dụng phương pháp sấy này rất cao
* Phương pháp sấy chân không
Nguyên lý của phương pháp này dựa vào mối quan hệ giữa nhiệt độ sôi của nước và áp suất hơi nước Khi áp suất trong thiết bị giảm thì nhiệt độ sôi của nước cũng giảm xuống Khi áp suất giảm đến giá trị mà tại đó nước bắt đầu sôi và bốc hơi thì trên tiết diện ngang của thanh gỗ có sự chênh lệch áp suất Qua đó hình thành lên dòng ẩm chuyển động trong gỗ theo chiều từ trong ra ngoài Dưới điều kiện chân không, quá trình bay hơi sẽ diễn ra nhanh chóng và qua đó quá trình khô của gỗ rất nhanh cho nên thời gian sấy được rút ngắn đáng kể ( khoảng 20-25% thời gian sấy so với phương pháp sấy quy chuẩn)
* Phương pháp sấy cao tần
Đây là phương pháp sấy gỗ trong từ trường điện xoay chiều có tần số cao Tần số ở đây nằm trong khoảng 3-50MHz Để hạn chế hiện tượng nhiễu sóng, trong thực tế người ta gới hạn việc sử dụng trong công nghiệp ở các phạm vi tần số sau đây: 13,560MHz ± 0,06%; 27,120MHz ± 0,06%; 40,580MHz ± 0,06% và tần số được sử dụng phổ biến nhất là 27,120MHz
So với các phương pháp sấy khác thì phương pháp sấy cao tần có đặc điểm khác biệt là gỗ được sấy khô từ trong ra ngoài và do đó thời gian sấy rất ngắn Ngoài ra, phưong pháp sấy này còn có nhiều ưu điểm dễ tự động hoá, thiết bị gọn nhẹ, chất lượng sấy đảm bảo, quá trình sấy dễ điều tiết và có thể sấy các loại nguyên liệu có hình dạng phức tạp
* Phương pháp sấy hơi quá nhiệt
Phương pháp sấy này sử dụng trực tiếp hơi quá nhiệt làm môi trường sấy , đây là một giải pháp nhằm tăng cường năng lực sấy và tăng hiệu quả kinh tế của quá trình sấy Bản chất của quá trình sấy này chính là sự tổng hợp của phương pháp sấy quy chuẩn và phương pháp sấy chân không
Trang 9Hơi quá nhiệt ở đây chính là hơi nước được cấp thêm nhiệt Trong quá trình cấp nhiệt, áp suất ( gồm áp suất xung quanh gỗ và áp suất trong gỗ ) đều tăng Khi tăng đến áp suất nhất định ta tiến hành làm lạnh môi trường sấy → một phần hơi nước ngưng tụ → áp suất xung quanh gỗ giảm xuống → chênh lệch áp suất ở phía trong gỗ và môi trường sấy Cho nên phương pháp sấy hơi quá nhiệt là phương pháp sấy kết hợp giữa phương pháp sấy nhiệt độ cao và phương pháp sấy chân không
c Chế độ sấy
- Khái niệm: chế độ sấy gỗ là tập hợp các thông số của môi trường sấy để
thực hiện quá trình sấy gỗ đến độ ẩm yêu cầu trong thời gian nhất định, các thông số đó có giá trị cụ thể ở từng giai đoạn của quá trình sấy
- Nguyên tắc xây dựng chế độ sấy:
Sấy gỗ là một quá trình sản xuất kéo dài thời gian Khi xây dựng chế độ sấy phải đảm bảo các yếu tố sau:
• Gỗ phải được sấy khô và đảm bảo chất lượng yêu cầu đặt ra
• Thời gian sấy phải rút ngắn
• Chi phí năng lượng trong sấy gỗ giảm
• Hiệu quả kinh tế của quá trình sấy ( giá thành sấy gỗ )
Khi xây dựng và lựa chọn chế độ sấy chúng ta phải phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sấy gỗ:
+ Các yếu tố thuộc về nguyên liệu sấy
• Căn cứ vào loại gỗ sấy: Gỗ khó sấy hay dễ sấy để xác định được đặc tính của quá trình vận chuyển nhiệt và vận chuyển nhiệt
• Chiều dày gỗ sấy: Chiều dày của gỗ càng mỏng thì quá trình vận chuyển nhiệt và vận chuyển ẩm nhanh hơn gỗ dày
• Độ ẩm ban đầu của gỗ sấy có ảnh hưởng lớn đến thời gian sấy gỗ Độ ẩm ban đầu càng cao thì thời gian sấy càng lâu và ngược lại độ ẩm ban đầu càng thấp thì có thể thực hiện quá trình sấy φ thấp → sấy nhanh → giảm chi phí sấy
Trang 10+ Các yếu tố thuộc về công nghệ thiết bị: Căn cứ vào loại lò sấy, kiểu lò sấy và các thiết bị sấy
- Điều khiển chế độ sấy:
Do môi trường sấy chủ yếu là không khí ẩm nên ở đây khi ta đề cập đến khái niệm môi trường sấy là chỉ đề cập đến môi trường không khí ẩm Việc điều chỉnh trạng thái của môi trường sấy trong thực tế theo hai hướng sau:
+ Dựa vào hai thông số nhiệt kế khô T K và nhiệt kế ướt T U ( hay T K và ∆T ) + Dựa vào hai thông số nhiệt kế khô T K và độ ẩm thăng bằng của môi trường sấy EMC
Trong thực tế sản xuất sấy gỗ việc điều khiển trạng thái của môi trường sấy theo hai hướng trên đều tồn tại song song với nhau Nhưng thường thì điều khiển theo hướng dựa vào hai thông số nhiệt kế khô T K và độ ẩm thăng bằng của môi trường sấy EMC vì EMC có độ ì lớn hơn tức là nó có sự thay đổi chậm hơn
2.1.3 Quy trình sấy gỗ
- Khái niệm: Quy trình sấy bao gồm các công đoạn thực hiện quá trình sấy,
để đảm bảo chất lượng gỗ sấy và rút ngắn thời gian sấy phải thực hiện đúng từng bước quy trình sấy theo đúng yêu cầu kỹ thuật Quy trình sấy được thiết lập cho từng loại gỗ sấy có kích thước cụ thể dựa trên đặc điểm gỗ sấy, thiết lập chế độ sấy và các bước công nghệ thực hiện quá trình sấy đó
Sơ đồ quy trình sấy gỗ được thể hiện ở hình 2.3
Nguyên
liệu
Chuẩn bị sấy
Xử lý ban đầu
Giai đoạn sấy I
Phân loại
gỗ sấy
Xử lý cuối
Giai đoạn sấy II
Xử lý giữa chừng
Hình 2.3 Sơ đồ quy trình sấy gỗ
Trang 11- Giai đoạn chuẩn bị trước khi sấy: Đây là khâu quan trọng trong quá trình
sấy, nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng gỗ sấy Giai đoạn này gồm các công việc sau: Kiểm tra thiết bị lò sấy, phân loại nguyên liệu sấy, xếp đống
gỗ, xác định chế độ sấy lý thuyết và tính toán thời gian sấy gỗ từng giai đoạn sấy
-Xử lý ban đầu: Đây là quá trình xử lý nhiệt ẩm nhằm mục đích là làm nóng
gỗ trong điều kiện trao đổi ẩm giữa gỗ và môi trường ẩm là nhỏ nhất Để đạt được những mục đích đó thì cần đạt được các điều kiện sau: Nhiệt độ xử lý ban đầu thông thường bằng nhiệt độ của giai đoạn đầu của quá trình sấy T =
1
T +( 5-7o C) và độ ẩm của môi trường sấy trong giai đoạn này phải lớn hơn 90% hoặc xấp xỉ 100% càng tốt
- Giai đoạn sấy I: Giai đoạn này kéo dài trong khoảng thời gian đủ để cho gỗ
sấy khô xuống độ ẩm bão hòa thớ gỗ Thời gian sấy dài hay ngắn phụ thuộc vào độ ẩm ban đầu, loại gỗ, kích thước gỗ Thời gian này cần duy trì nhiệt độ sấy ổn định bằng nhiệt độ sấy ban đầu và ở mức độ hãm không cho lớp gỗ bề mặt khô quá nhanh để đảm bảo quá trình di chuyển ẩm từ tâm ván ra phía ngoài ván một cách liên tục và ở mức độ phù hợp với từng loại gỗ
- Giai đoạn xử lý giữa chừng: Đối với các loại gỗ khó sấy hoặc chiều dày lớn
hơn 30mm thì thực hiện quá trình xử lý giữa chừng để hạn chế sự xuất hiện của nội ứng suất và nứt ngầm Quá trình xử lý giữa chừng được thực hiện khi
độ ẩm của gỗ sấy nhỏ hơn Wbh, T = T2 (8-100C), τ =5-8h phụ thuộc loại gỗ
và chiều dày
-Giai đoạn sấy II: Ở giai đoạn sấy này độ ẩm của gỗ giảm xuống độ ẩm bão
hoà thớ gỗ nên quá trình sấy sẽ rất khó khăn Do vậy trong quá trình sấy phải tăng dần nhiệt độ sấy, đồng thời phải mở dần cửa thoát ẩm để tăng dần T
-Giai đoạn xử lý cuối và làm lạnh: Sau khi kết thúc quá trình sấy sự chênh
lệch độ ẩm bao giờ cũng tồn tại nội ứng suất và nội ứng suất đó có thể chưa gây ra khuyết tật khi kết thúc quá trình sấy, mhưng sau một thời gian gây ra khuyết tật nứt ngầm Để giảm bớt hiện tượng này ta phải thực hiện quá trình
Trang 12xử lý giữa cuối Trong giai đoạn này lớp gỗ bề mặt được làm ẩm trở lại để bề mặt hấp thụ ẩm làm cân bằng nội ứng suất, nhiệt độ xử lý T = T c + (6-80C), τ
- Theo quan điểm của nhà quản lý thì chất lượng gỗ sấy là tập hợp các đặc tính của sản phẩm tạo ra có khả năng thoả mãn nhu cầu của con người Đặc tính của gỗ sấy bao gồm: độ ẩm cuối cùng của gỗ sấy, độ ẩm trung bình, chênh lệch về độ ẩm giữa lớp trong và ngoài gỗ sấy, độ biến dạng mẫu kiểm tra nội ứng suất, khuyết tật gỗ sấy
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng gỗ sấy
٭ Nhóm yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến chất lượng gỗ sấy bao gồm:
- Yêu cầu thị trường về chất lượng sản phẩm
- Trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất
- Môi trường kinh tế vĩ mô
٭ Nhóm yếu tố bên trong ảnh hưởng đến chất lượng gỗ sấy bao gồm:
- Trình độ kỹ thuật công nghệ sản xuất của doanh nghiệp
- Trình độ sản xuất, tổ chức lao động của doanh nghiệp
- Chất lượng và tính đồng bộ về chất lượng của nguyên liệu
2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm sấy
Chất lượng gỗ sấy được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
- Các khuyết tật gỗ sấy như biến màu, nứt , cong vênh, …
- Độ ẩm của gỗ sau sấy
- Chênh lệch ẩm giữa các thanh gỗ trong đống gỗ
- Chênh lệch ẩm theo chiều dày thanh gỗ
- Ứng suất tồn tại trong gỗ sấy
Trang 132.2.4 Phương pháp đánh giá chất lượng sản phẩm gỗ sấy
Hình 2.4 Sơ đồ cắt mẫu xác định chênh lệch độ ẩm theo chiều dày thanh
(a) Mẫu có S < 32 mm ( b) Mẫu có S > 32 mm
- Độ ẩm trung bình của cả đống gỗ được xác định theo công thước:
Trong đó: WD- độ ẩm trung bình của cả đống gỗ, %
n-số mẫu kiểm tra trong đống gỗ
WTi -độ ẩm trung bình của thanh thứ i,%
- Chênh lệch ẩm theo chiều dày thanh gỗ được xác định theo công thức:
Trong đó:
Wcd - chênh lệch ẩm theo chiều dày thanh gỗ,%
W tr- độ ẩm trung bình lớp gỗ phía trong của thanh gỗ,%
Trang 14W ng -độ ẩm trung bình của lớp gỗ phía ngoài của thanh gỗ,%
Với: W tr, W ng đƣợc tính theo công thức sau:
Wtri – Độ ẩm đo ở vị trí thứ i của tấm ván ở phía trong sau khi xẻ mẫu
Wngi – Độ ẩm đo ở vị trí thứ i của tấm ván ở phía ngoài sau khi xẻ mẫu
- Chênh lệch ẩm trung bình của từng tấm ván so với độ ẩm trung bình của
đống gỗ đƣợc tính theo công thức:
1 - n
) W W ( 2
W
2 D n
1 i
b Kiểm tra nội ứng suất
Để kiểm tra nội ứng suất có tồn tại trong gỗ sấy hay không ta tiến hành
Hình 2.5 Hình dạng kích thước của mẫu răng lược kiểm tra sự tồn tại của
ứng suất trong gỗ sau khi sấy
Trang 15Sau khi cắt mẫu, ta để mẫu trong môi trường khoảng 24h rồi tiến hành
quan sát hình dạng của mẫu Ta có thể đánh giá sự tồn tại ứng suất trong gỗ
như sau:
- Nếu mẫu có dạng (1) hình 2.6, S= S1 thì trong thanh không tồn tại ứng suất
- Nếu mẫu có dạng (2) hình 2.6, S < S1 thì trong mẫu tồn tại ứng suất, phía
ngoài chịu ứng suất kéo, phía trong chịu ứng suất nén
- Nếu mẫu có dạng (3) hình 2.6, S > S1 thì trong thanh gỗ cũng tồn tại ứng
suất nhưng ngược lại, phía ngoài chịu ứng suất nén, phía trong chịu ứng suất
Hình 2.6a Hình dạng mẫu răng lược của thanh có chiều dày t<32mm sau
khi để ngoài môi trường 24h
S1 S1 S1
t t
t
(1) (2) (3)
Hình 2.6b Hình dạng mẫu răng lược của thanh có chiều dày t>32mm sau
khi để ngoài môi trường 24h
Để xác định độ lớn của nội ứng suất ta dựa vào tỷ lệ độ biến dạng của
răng lược được tính theo công thức sau:
Trang 16f =
l
S S
2
1
100%
f là tỷ lệ độ biến dạng của răng lược so với chiều dài của răng,%
S là khoảng cách giữa hai cạnh xa nhất của chân răng lược, mm
S1 là khoảng cách giữa hai cạnh xa nhất của đầu răng lược, mm
l là chiều dài răng lược, mm
c Kiểm tra khuyết tật
Kiểm tra màu sắc của gỗ sau khi sấy bằng cách so sánh với màu sắc của
gỗ trước khi sấy
Kiểm tra các khuyết tật sấy như nứt nẻ, cong vênh, lồi lõm… Để đánh giá mức độ khuyết tật ta tiến hành đếm số vết nứt trên thanh gỗ, đo chiều dài vết nứt, chiều sâu vết nứt, độ cong vênh, …
2.2.5 Phân cấp chất lượng gỗ sấy
Định mức các chỉ tiêu chất lượng gỗ sấy được đưa ra ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Định mức các chỉ tiêu chất lượng gỗ sấy
22 ÷ 40 ≤2,0 ≤3,0 ≤3,5
40 ÷ 60 ≤2,5 ≤3,5 ≤4,0
> 60 ≤3,0 ≤4,0 ≤4,5
Độ biến dạng của răng lược f, % ≤ 1,5 ≤ 2 Không kiểm tra
Theo mục đích sử dụng người ta phân ra làm 4 cấp như sau:
- Cấp I: Đây là gỗ sấy đạt chất lượng cao nhất, về cơ bản nó vẫn duy trì được các cường độ lực học vốn có của nó Loại này thích hợp sử dụng cho sản xuất các mô hình thiết bị, dụng cụ âm nhạc, hàng không, máy dệt, cơ giới chính xác, khung đồng hồ, …
Trang 17- Cấp II: Đây là loại gỗ sấy đạt được cấp hai về các chỉ tiêu chất lượng sấy, cho phép một bộ phận về lực học bị giảm xuống Loại này thích hợp để sản xuất với đồ dung gia đình, khung cửa, toa xe, tàu thuyền, máy nông nghiệp,
đồ quân dụng, đồ dùng thể thao, ván sàn, ván ghép, bàn máy khâu, trang trí nội thất, đũa vệ sinh, linh kiện thoi dệt, …
-Cấp III: Là loại gỗ sấy đạt được cấp 3 về chỉ tiêu chất lượng sấy, cho phép cường độ lực học giảm xuống đến một mức độ nhất định Loại này thích hợp
sử dụng cho kiến trúc ngoài trời, bao bì phổ thông, …
- Cấp IV: Đây là loại gỗ được hong phơi khô hoặc gỗ được sấy khô bằng lò sấy đạt độ ẩm 20%, loại này vẫn đảm bảo được hoàn toàn được cường độ lực học cũng như màu sắc tự nhiên của nó Thích hợp cho việc vận chuyển đi xa hoặc xuất khẩu
2.3 Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp chế biến lâm sản
2.3.1 Khái niệm về tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp
Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp là quá trình xây dựng, tạo lập sự kết hợp cân đối chặt chẽ, hài hoà giữa các yếu tố nguồn lực để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh, nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp
Làm tốt công tác tổ chức sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng trong việc
sử dụng hợp lý và tiết kiệm các yếu tố sản xuất, nâng cao hiệu quả của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tạo đà phát triển lâu dài và ổn định cho doanh nghiệp
2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp
a Đặc điểm đối tượng lao động của doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp, đối tượng lao động bao gồm: các loại đất đai tài nguyên, nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, … Nó là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất Quá trình sản xuất trong doanh nghiệp là quá trình tác động một cách thường xuyên liên tục vào đối tượng lao động, vì thế đối tượng lao động có vai trò rất quan trọng đến quá trình tổ chức sản xuất Công tác tổ
Trang 18chức sản xuất trong doanh nghiệp phải phù hợp với đặc điểm yêu cầu của việc
sử dụng đối tượng lao động trong sản xuất
b Đặc điểm của máy móc thiết bị và công nghệ sản xuất của doanh nghiệp
Máy móc thiết bị và công nghệ sản xuất là bộ phận cơ bản của tư liệu
lao động Tư liệu lao động nói chung và hệ thống máy móc thiết bị, công nghệ
sản xuất nói riêng có vai trò rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến công
tác tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp Công tác tổ chức sản xuất của doanh
nghiệp phải phù hợp với đặc điểm sản xuất và phải đáp ứng được yêu cầu sử
dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp
c Trình độ chuyên môn hoá và hợp tác trong sản xuất kinh doanh
Chuyên môn hoá sản xuất trong doanh nghiệp là sự phân công lao động
trên cơ sở tậptrung hoạt động của các cá nhân, bộ phận sản xuất vào việc thực
hịên những công việc cùng loại nhất định trong sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
Hợp tác sản xuất trong doanh nghiệp là qúa trình tổ chức phối hợp hoạt
động của các cá nhân, bộ phận trong sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện các
mục tiêu chung của doanh nghiệp
Trong qúa trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chuyên môn
hoá sản xuất càng cao thì đòi hỏi sự hợp tác lao động càng phải chặt chẽ
Công tác tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp phải phù hợp với tính chất,
trình độ chuyên môn, hợp tác trong sản xuất của doanh nghiệp
2.3.3 Các nguyên tắc tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp
a Đảm bảo tính cân đối trong quá trình sản xuất
Cân đối trong quá trình sản xuất là sự đảm bảo các quan hệ tỷ lệ thích
hợp giữa các yếu tố, giữa các giai đoạn của quá trình sản xuất
Cân đối trong sản xuất là một trạng thái động, nó thường xuyên biến
động theo xu thế từ cân đối → mất cân đối → cân đối mới Cùng với quá
trình này thì quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không ngừng
được đẩy mạnh và hoàn thiện
Trang 19Trong quá trình sản xuất, để đảm bảo tính cân đối thì cán bộ quản lý doanh nghiệp phải đẩy mạnh công tác điều tiết sản xuất, đảm bảo dự trữ hợp
lý cho quá trình sản xuất, xây dựng cơ chế linh hoạt trong tổ chức lao động và điều hành sản xuất, đào tạo những công nhân có tay nghề cao
b Đảm bảo tính cân đối nhịp nhàng của sản xuất
Sản xuất được coi là nhịp nhàng nếu trong những khoảng thời gian bằng nhau sản xuất được những lượng sản phẩm như nhau Nói cách khác, sản xuất nhịp nhàng là trạng thái lặp lại ổn định của quá trình hoạt động ở mỗi
bộ phận trong hệ thống sản xuất
Sự nhịp nhàng sẽ tạo nhịp điệu hoạt động ổn định cho hệ thống máy móc thiết bị và lực lượng lao động, tao điều kiện sử dụng hợp lý công suất của thiết bị, tránh được hiện tượng quá tải, căng thẳng mang tính nhất thời của sản xuất, tránh được sự lãng phí các nguồn lực
Để đảm bảo sản xuất được nhịp nhàng cần phải có quyết định và bàn giao sớm nhiệm vụ sản xuất, cung cấp đầy đủ các yếu tố đầu vào của sản xuất, phục vụ tốt cho sản xuất, làm tốt công tác điều tiết sản xuất
c Đảm bảo tính liên tục của sản xuất
Sản xuất được coi là liên tục nếu trong quá trình sản xuất, đối tượng lao động luôn nằm trong trạng thái vận động hoặc đang gia công chế biến, đang trên phương tiện vận chuyển từ nơi làm việc này đến nơi làm việc khác Sản xuất liên tục góp phần rút ngắn chu kỳ sản xuất, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để đảm bảo tính liên tục của sản xuất cần cải tiến kỹ thuật và công nghệ sản xuất ( thay thế quá trình tự nhiên bằng quá trình công nghệ, đổi mới máy móc thiết bị theo hướng đồng bộ hoá về mặt kỹ thuật sản xuất và trình độ hiện đại của thiết bị); cải tiến về mặt tổ chức ( cải tiến tổ chức lao động, tối ưu hoá quá trình vận chuyển trong sản xuất )
2.3.4 Nội dung của công tác tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp
Công tác tổ chức sản xuất gồm những nội dung chính sau:
Trang 20- Phân tích quá trình sản xuất và lựa chọn cơ cấu sản xuất
- Tổ chức các quá trình sản xuất của doanh nghiệp: Việc tổ chức sản xuất được coi là hoạt động cơ bản nhất của công tác tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp Nó bao gồm các hoạt động lựa chọn và áp dụng phương pháp tổ chức sản xuất thích hợp, loại hình sản xuất thích hợp
- Tổ chức các hoạt động chuẩn bị và phục vụ sản xuất (sửa chữa và bảo dưỡng thiết bị, cung ứng vật tư, vận chuyển nội bộ, …)
2.3.5 Kết cấu quá trình sản xuất trong doanh nghiệp
Căn cứ vào mối quan hệ với việc tạo ra sản phẩm người ta chia quá trình sản xuất thành các quá trình sản xuất chính, quá trình sản xuất phụ, quá trình phụ trợ, quá trình phục vụ sản xuất
Để phục vụ cho công tác tổ chức sản xuất, người ta chia quá trình sản xuất chính thành các quá trình nhỏ:
- Quá trình công nghệ là bộ phận quan trọng nhất của quá trình sản xuất, trong
đó các đối tượng lao động trực tiếp gia công chế biến để trở thành sản phẩm hữu ích phục vụ cho nhu cầu xã hội
- Quá trình vận chuyển là quá trình mà tại đó các đối tượng lao động được di chuyển về mặt không gian từ nơi làm việc này đến nơi làm việc khác để phục
vụ cho các hoạt động gia công chế biến
- Quá trình kiểm tra là quá trình mà tại đó các đối tượng lao động được kiểm tra, so sánh, đối chiếu với các thông số định trước để đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm
2.3.6 Các cấp sản xuất trong doanh nghiệp
Các cấp sản xuất trong doanh nghiệp, một mặt phản ánh sự phân công lao động trong nội bộ doanh nghiệp, một mặt thể hiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp Thông thường trong doanh nghiệp có các cấp sau:
- Phân xưởng sản xuất là đơn vị tổ chức sản xuất cơ bản của doanh nghiệp, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ sản xuất một số loại sản phẩm hoặc hoàn thành một số giai đoạn công nghệ nhất định của quá trình sản xuất
Trang 21- Tổ sản xuất là cấp sản xuất nằm trong phân xưởng sản xuất, là tập hợp công nhân và máy móc thiết bị có quan hệ mật thiết với nhau về mặt công nghệ và
tổ chức Tổ sản xuất là nơi trực tiếp quản lý máy móc thiết bị, lao động để triển khai các hoạt động sản xuất
- Nơi làm việc là địa điểm diễn ra một bước công việc nhất định, là phần diện tích mà ở đó một hoặc một nhóm công nhân sử dụng máy móc thiết bị, dụng
cụ sản xuất để hoàn thành bước công việc cụ thể trong quá trình sản xuất Ở đây, bước công việc là đơn vị cơ bản của quá trình sản xuất, là phần việc để thực hiện tại nơi làm việc nhất định do một hoặc một nhóm công nhân tiến hành thực hiện trên một đối tượng lao động cụ thể
Trong sản xuất thực tế, các doanh nghiệp có thể lựa chọn các cấp sản xuất sau:
+ Doanh nghiệp - Phân xưởng - Tổ sản xuất - Nơi làm việc
+ Doanh nghiệp - Phân xưởng - Nơi làm việc
+ Doanh nghiệp - Tổ sản xuất - Nơi làm việc
Trang 22Chương 3 NỘI DUNG VÀ KẾT QỦA NGHIÊN CỨU 3.1 Tìm hiểu chung về công ty
3.1.1 Vị trí địa lý, khí hậu thuỷ văn
* Vị trí địa lý: Công ty cổ phần Sơn Thuỷ được xây dựng tại Km 18 - Kỳ Sơn
- Hoà Bình Công ty nằm trên quốc lộ 6, phía đông giáp với huyện Lương Sơn -Hoà Bình, phía Tây giáp với thành phố Hoà Bình Công ty nằm trong khu quy hoạch xây dựng các nhà máy sản xuất khác
* Khí hậu thuỷ văn: Công ty nằm trong khu vực khí hậu phân bố theo bốn mùa Mùa đông nhiệt độ trung bình 13 - 15oC, mùa hè nhiệt độ trung bình 32
- 34oC Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 - 23oC Độ ẩm trung bình năm khoảng 80 - 85% Công ty được xây trên nền cao ráo không bị ngập úng
3.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty được thành lập từ ngày 26 tháng 04 năm 2004 Tên doanh nghiệp: Công ty cổ phần Sơn Thuỷ Số đăng ký kinh doanh 5400227808 Các sản phẩm chính của công ty là sản xuất ván ghép thanh, ván sàn, bàn, ghế tiêu thụ cả trong và ngoài nước Ngoài ra công ty còn tận dụng gỗ nhỏ, phần gỗ ngọn, bìa bắp để băm dăm giấy xuất khẩu Mỗi tháng công ty nhập khoảng 500m3 gỗ tròn để xẻ và 500m3 gỗ cành ngọn để băm dăm giấy
3.1.3 Tìm hiểu về nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ
Công ty chủ yếu nhập nguyên liệu là gỗ tròn trong tỉnh Hòa Bình, hiện nay gỗ được nhập về nhiều nhất ở hai huyện là Tân Lạc, Đà Bắc Gỗ tròn được nhập về công ty từ đầu bốn trở lên, rồi sau đó được đưa vào xẻ theo đơn đặt hàng; còn cành ngọn bìa bắp thì bóc vỏ, sau đó đưa vào băm dăm giấy Các sản phẩm của công ty chủ yếu được tiêu thụ ở trong nước và cung cấp hàng cho tập đoàn IKEA Công ty không trực tiếp cung cấp hàng cho tập đoàn IKEA mà phải qua một công ty trung gian khác
Trang 233.1.4 Sơ đồ mặt bằng nhà máy và cơ cấu tổ chức quản lý của nhà máy
*Sơ đồ mặt bằng tổng thể nhà máy đƣợc thể hiện ở hình 3.1
Phòng điều hành
kỹ thuật Kho sản phẩm
Quốc
lộ 6
Bãi gỗ tròn
Kho nguyên liệu
Trang 24* Sơ đồ mặt bằng phân xưởng sấy được thể hiện ở hình 3.2
Lò hơi Lò 1
A1
Lò2 A2
Lò3 C1
Lò4 C2
Lò5 A3
Lò6 A4
Lò7 A5
Lò8 A6
Lò9 A7
Bãi gỗ xẻ trước khi sấy Kho gỗ xẻ sau sấy
Hình 3.2 Sơ đồ mặt bằng phân xưởng sấy
Trong đ ó:
C1, C2 là lò sấy bán tự động
A1,A2,A3,A4,A5,A6,A7 là lò sấy tự động
* Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý của nhà máy được thể hiện hình 3.3
Hình 3.3 Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý của nhà máy
Giám đốc
Phòng kế toán Phòng kinh doanh Phòng hành chính
Xưởng xẻ Xưởng tinh chế Xưởng hoàn thiện
Trang 253.2 Khảo sát đánh giá thực trạng sấy gỗ tại công ty
3.2.1 Máy móc, thiết bị sấy
Thiết bị sấy chủ yếu của nhà máy bao gồm: lò sấy, thiết bị tản nhiệt, quạt, ống phun ẩm,hệ thống dẫn hơi, hệ thống điều khiển tự động,…Đặc điểm
và các thông số chủ yếu của các thiết bị được thể hiện dưới đây:
* Lò sấy: ở công ty có tất cả 9 lò sấy, trong đó có 2 lò bán tự động, 7 lò tự động ( h ình 3.4 )
+ Lò bán tự động: Kích thước: L x B x H = 7500 x 5300 x 5600 (mm)
Dung tích lò: 36 – 40 (m3
) + Lò tự động: Có 2 lò nhỏ A1, A2; có 5 lò lớn A5,A6,A7,A8,A9
Trang 26- Trần lò: Trần được đổ bê tông cốt thép dày 300 mm, còn trần giả làm bằng tôn
- Cửa lò: Gồm có cửa chính và cửa phụ
+ Cửa chính: là loại cửa treo, kết cấu của cửa gồm ba lớp bên ngoài là tôn, bên trong là bông thuỷ tinh cách nhiệt, trên thành cửa có đệm cao su kín khít, kích thước cửa là: 4660x4000x82 (mm) ( Hình 3.5)
Hình 3.5 Cửa chính
+ Cửa thăm: Là loại cửa chốt bản lề, cũng có kết cấu như cửa chính gồm tôn
và bông thuỷ tinh cách nhiệt, kích thước cửa là: 1090x 590x80 (mm)
* Thiết bị tản nhiệt: Ở 4 lò nhỏ thiết bị tản nhiệt dạng ống có cánh ghép song song, mỗi lò có một dàn, mỗi dàn có 9 ống,ong= 35mm,ong co canh= 75 mm, chiều rộng dàn là 740 mm, chiều dài dàn là 4300 mm (Hình 3.6a) Còn ở 5 lò lớn, mỗi lò có 2 dàn như hình 3.6b
Trang 28Hình 3.8 Quạt gió
Sơ đồ tiết diện ngang của lò sấy đƣợc thể hiện ở hình 3.9, 3.10
Trang 291 2
H ình 3.9 Sơ đồ tiết diện ngang của lò sấy tự động
1- Đống gỗ; 2- Cửa chính; 3- Hệ thống cầu trục trợ giúp cho việc mở cửa chính; 4,8- Cửa lấy gió và thoát ẩm; 5- Trần giả; 6- Quạt; 7- Dàn tản
nhiệt; 9- ống phun ẩm; 10- Hệ thống đo nhiệt độ, độ ẩm gỗ sấy, EMC
12
3
8
9
Hình 3.10 Sơ đồ tiết diện ngang của lò sấy bán tự động
1- Đống gỗ; 2- Cửa chính; 3- Hệ thống cầu trục trợ giúp cho việc mở cửa chính; 4,8- Cửa lấy gió và thoát ẩm; 5- Trần giả; 6- Quạt; 7- Dàn tản nhiệt; 9- ống phun ẩm
Trang 30* Nồi hơi: Để đáp ứng sự hoạt động liên tục của các lò sấy nhà máy đã bố trí
2 nồi hơi với các thông số được thống kê ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Thông số kỹ thuật của nồi hơi
Áp suất làm việc lớn nhất, Kg/cm2 8
Áp suất thử lớn nhất, Kg/cm2 12 Nhiệt độ hơi bão hoà, 0
Sản lượng hơi định mức, Kg/h 1000
Đánh giá: Hầu hết các máy móc thiết bị đều hoạt động rất tốt Tuy nhiên còn một số thiết bị hoạt động không được tốt như hệ thống van cấp hơi vẫn bị rò rỉ hơi, thiết bị đo nhiệt độ ở lò sấy C2 báo nhiệt độ không chính xác
3.2.2 Nguyên liệu
Hiện nay nguyên liệu được đưa vào sấy chủ yếu ở công ty là các loại gỗ Keo: Keo lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm Ở công ty chỉ phân loại nguyên liệu theo kích thước; còn phân loại kiểm tra độ ẩm và khuyết tật như cong, vênh, nứt, mục… thì không thực hiện
Kích thước nguyên liệu được ghi ở bảng 3.2
Bảng 3.2 Kích thước nguyên liệu
Trang 31Lấy 60 mẫu để tiến hành kiểm tra độ ẩm và khuyết tật gỗ, kết quả được thể hiện ở phụ biểu 01
Sau khi tiến hành kiểm tra xác định được độ ẩm của gỗ trước khi sấy là
W = n
1 i
W 1
60
3765
= 62,75 %
3.2.3 Chuẩn bị trước khi sấy
a Kiểm tra thiết bị
Cũng như khi sử dụng các loại thiết bị khác, lò sấy trước khi sử dụng cũng cần được tiến hành kiểm tra đối với các thiết bị như dàn tản nhiệt, ống phun ẩm, ống nước ngưng, hệ thống ống dẫn hơi, hệ thống nồi hơi, thiết bị thông gió, thiết bị kiểm tra và đồng hồ đo Việc kiểm tra này do cán bộ kỹ thuật cùng với công nhân trực lò thực hiện
+ Thiết bị thông gió: kiểm tra quạt gió có hiện tượng rung và va đập với thân
lò không, ổ trục có bị khô không, hệ thống bôi trơn có bị tắc đường ống dẫn dầu bôi trơn không, giá máy và các tấm dẫn hướng có ổn định không
+ Thiết bị cấp nhiệt và điều tiết ẩm: bao gồm có thiết bị gia nhiệt, đường ống dẫn hơi nước, ống phun nước, ống phun hơi, đầu phun,…Khi hoạt động, ở thiết bị gia nhiệt sau khi van được mở từ 10-15 phút thì phải đảm bảo được lượng nhiệt đồng đều Thiết bị loại nước cũng phải định kỳ kiểm tra, nếu có
hư hỏng do ma sát tạo ra hoặc có quá nhiều tạp chất bên trong thì phải kịp thời đổi thiết bị mới Ống phun hơi khi hoạt động thì hơi được phun ra từ các đầu phun phải đồng đều, các tia phun ra phải cùng chiều với hướng tuần hoàn của môi trường sấy, không được phun trực tiếp vào đống gỗ
+ Hệ thống nồi hơi: kiểm tra bơm quạt đẩy, bơm quạt hút, bơm nước của nồi hơi, áp suất làm việc của nồi hơi, độ kín khít của ống dẫn hơi
+ Kiểm tra hệ thống van: độ kín khít của van, van có rò rỉ hơi không, và mức
độ chính xác khi nó hoạt động
+ Thiết bị kiểm tra và đồng hồ đo: gồm có: nhiệt kế, ẩm kế, hệ thống điều khiển tự động, thiết bị xác định độ ẩm,…tất cả những loại đồng hồ đo này cũng cần được định kỳ hiệu chỉnh lại Phần vải xô quấn dưới nhiệt kế cầu ướt