Để giải quyết vấn đề nói trên, công cụ hữu hiệu và đắc lực nhất là mỗi doanh nghiệp chế biến lâm sản nói chung và các cơ sở sấy gỗ nói riêng, để bắt đầu quá trình sản xuất thì trước tiên
Trang 1MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1 Khái quát vấn đề nghiên cứu 2
1.2 Tính cấp thiết của đề tài 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Nội dung nghiên cứu 3
1.6 Phương pháp nghiên cứu 3
Chương 2 4
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4
2.1 Đặc điểm chung về công nghệ sấy 4
2.1.1 Quy trình sấy gỗ 4
2.1.2 Chất lượng gỗ sấy 6
2.1.3 Phân cấp chất lượng gỗ sấy 11
2.2 Cơ sở lập kế hoạch sấy gỗ 12
2.2.1 Khái niệm và những nội dung cơ bản của kế hoạch sản xuất trong doanh nghiệp 12
2.2.2 Lập kế hoạch sấy gỗ 13
2.3 Các nguyên tắc xây dựng kế hoạch sấy gỗ trong doanh nghiệp 14
2.4 Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp chế biến lâm sản 14
2.4.1 Khái niệm về tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp 14
2.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp 15
2.4.3 Các nguyên tắc tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp 15
2.4.4 Nội dung của công tác tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp 17
2.4.5 Kết cấu quá trình sản xuất trong doanh nghiệp 17
Trang 22.4.6 Các cấp sản xuất trong doanh nghiệp 18
2.4.7 Các phương pháp tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp 18
2.4.8 Chu kỳ sản xuất 20
Chương 3 22
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
3.1 Tìm hiểu chung về công ty 22
3.1.1 Vị trí địa lý và khí hậu thủy văn 22
3.1.2 Lịch sử của công ty 23
3.1.3 Sơ đồ các bước thực hiện 23
3 2 Tình hình tổ chức sản xuất của công ty 24
3.3 Khảo sát và đánh giá công tác tổ chức sấy gỗ tại công ty 26
3.3.1 Khảo sát, đánh giá về nguyên, nhiên liệu 26
3.3.2 Khảo sát, đánh giá lò sấy và thiết bị 30
3.4.3 Khảo sát quá trình công nghệ và tổ chức sấy gỗ của công ty 34
3.5.1 Khảo sát, đánh giá quản lý và vận hành lò sấy 44
3.5.2 Công tác lập kế hoạch sấy gỗ tại công ty 44
3.5.3 Kiểm tra chất lượng gỗ sấy 44
3.6 Lập kế hoạch tổ chức và chỉ đạo kỹ thuật sấy gỗ cho công ty 47
3.6.1 Kế hoạch về nguyên liệu 48
3.6.2 Kế hoạch về công nghệ 50
3.6.3 Kế hoạch về tổ chức sản xuất 58
3.7 Tính toán chi phí sấy 61
3.7.1 Chi phí cố định 62
3.7.2 Chi phí thay đổi theo thời gian mẻ sấy 63
3.7.3 Chi phí khấu hao máy móc thiết bị 64
3.7.4 Chi phí cho 1 m3 65
3.8 Những hiệu quả đạt được khi xây dựng kế hoạch sấy gỗ 65
3.8.1 Hiệu quả về mặt tổ chức 65
Trang 33.8.2 Hiệu quả về mặt kỹ thuật – công nghệ 66
3.8.3 Hiệu quả kinh tế 67
3.8.4 Về mặt an toàn môi trường – con người 67
Chương 4 68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
4.1 KẾT LUẬN 68
4.2 KIẾN NGHỊ 68
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Định mức các chỉ tiêu chất lượng gỗ sấy 11
Bảng 2.2 Các phương pháp tổ chức sản xuất theo không gian 19
Bảng 2.3 Các phương pháp tổ chức sản xuất theo thời gian 19
Bảng 3.1.Quy cách kích thước nguyên liệu của công ty 27
Bảng 3.2 Chế độ sấy cho lò sấy tự động 37
Bảng 3.3 Mẫu ghi nhật ký lò sấy của công ty 39
Bảng 3.4 Tổ chức nhân lực khâu sấy 43
Bảng 3.5 Kết quả đo độ ẩm gỗ sấy trước khi ra lò 45
Bảng 3.6 Danh sách công việc chuẩn bị sấy gỗ 47
Bảng 3.7 Nội dung kiểm tra máy móc thiết bị trước khi sấy 53
Bảng 3.8 Chế độ sấy cho lò sấy tự động 54
Bảng 3.9 Chế độ sấy cho lò tự động 55
Bảng 3.10 Tổ chức lao động trong khâu sấy gỗ cho công ty 58
Bảng 3.11 Chi phí cố định toàn mẻ sấy 63
Bảng 3.12 Lượng điện tiêu thụ trong ngày 63
Bảng 3.13 Chi phí thay đổi theo thời gian 64
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ quy trình sấy gỗ 4
Hình 2.2 Mẫu kiểm tra kiểm tra chênh lệch ẩm theo chiều dày ván 7
Hình 2.3 Hình dạng kích thước mẫu răng lược kiểm tra sự tồn tại của ứng suất trong gỗ sau khi sấy 9
Hình 2.4a Hình dạng mẫu răng lược của thanh có chiều dày t < 32mm khi để ngoài môi trường 24h 10
Hình 2.4b Hình dạng răng lược của thanh có chiều dày t > 32mm Sau khi để ngoài môi trường 10
Hình 3.1 Sơ đồ các bước thực hiện 23
Hình 3.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức sản xuất của công ty 24
Hình 3.3 Một số khuyết tật nguyên liệu của công ty 28
Hình 3.4 Các palet xếp vẫn chưa đạt yêu cầu của công ty 41
Hình 3.5 Sơ đồ tổ chức sấy gỗ của nhà máy 42
Hình 3.7 Các khuyết tật gỗ còn tồn tại sau sấy 46
Hình 3.8 Sơ đồ phân loại nguyên liệu trước khi sấy 49
Hình 3.9 Sơ đồ xếp đống gỗ bằng palet 52
Hình 3.10 Máy trâm kim DELMHORST ( J – 2000, 33405) 56
Hình 3.11 Mô hình tổ chức nhân sự khâu sấy 58
Hình 3.12 Sơ đồ tổ chức sấy gỗ cho công ty 60
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm trở lại đây khi nền kinh tế đang ngày càng phát triển, cùng với đó thì nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần của con người đòi hỏi ngày càng cao.Ngày nay, xã hội luôn hướng tới sử dụng những vật dụng thân thiện với con người và môi trường Trong đó chúng ta phải kể đến các mặt hàng từ vật liệu gỗ mang lại Gỗ có rất nhiều ưu điểm đó là thân thiện với môi trường, dễ gia công chế biến…vv và ưu điểm lớn nhất của nó là có khả năng tái tạo được Tuy nhiên gỗ cũng có những nhược điểm đó là tính ổn định kích thước kém do gỗ có khả năng hút, nhả ẩm, dễ bị vi sinh vật hại gỗ xâm nhập
và phá hoại, tính chất cơ lý chưa cao
Vậy để khắc phục và hạn chế bớt những nhược điểm đó thì sấy gỗ trước khi đưa vào gia công chế biến là một khâu không thể thiếu trong ngành chế biến lâm sản Sấy gỗ liên quan đến nhiều khâu, thời gian sấy tương đối dài nên vấn đề đặt ra là làm sao phải quản lý tốt từng khâu có hiệu quả, đồng thời khắc phục được tình trạng thất thoát, lãng phí nguyên liệu trước và sau quá trình sấy,
hạ giá thành sản phẩm và tăng tính cạnh tranh cho doanh nghiệp
Để giải quyết vấn đề nói trên, công cụ hữu hiệu và đắc lực nhất là mỗi doanh nghiệp chế biến lâm sản nói chung và các cơ sở sấy gỗ nói riêng, để bắt đầu quá trình sản xuất thì trước tiên cần xây dựng một hệ thống hoạch định sản sản xuất
Xuất phát từ thực tiễn đó, được sự cho phép của khoa Chế biến lâm sản trường Đại học Lâm Nghiệp, với sự giúp đỡ của công ty TNHH Phú Đạt tôi đã
tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp với tên đề tài là: “ Xây dựng kế hoạch tổ chức và chỉ đạo kỹ thuật sấy gỗ cho công ty TNHH Phú Đạt”
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái quát vấn đề nghiên cứu
Để bắt đầu quá trình sản xuất, trước tiên chúng ta cần xây dựng hệ thống hoạch định sản xuất bao gồm: hoạch định tổng hợp (aggregate planning) và lịch trình sản xuất chính (master production scheduling) Hoạch định tổng hợp là quá trình lập kế hoạch sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý vào quá trình sản xuất ra các sản phẩm hoặc dịch vụ đảm bảo cực tiểu hoá toàn bộ chi phí có liên quan đến chương trình sản xuất độc lập Lịch trình sản xuất chính (MPS) là một
kế hoạch để sản xuất cụ thể, chi tiết đến từng loại sản phẩm và khi đuợc lập kế hoạch thì kế hoạch cho từng tuần một, nó cho biết bao nhiêu lượng hàng hóa được sản xuất và khi nào thì được sản xuất xong Trong công tác sấy gỗ cũng vậy, gỗ sấy cũng rất đa dạng về quy cách kích thước, độ ẩm ban đầu cũng như yêu cầu về độ ẩm cuối, thời gian hoàn thiện mẻ sấy để phục vụ kịp thời cho những khâu sản xuất sau là khác nhau
Qua đó, yêu cầu về xây dựng một kế hoạch sấy gỗ trước khi đưa gỗ vào sấy là rất quan trọng và cần thiết, nó giúp cho mỗi doanh nghiệp chúng ta có được những thuận lợi trong suốt quá trình thực hiện công việc
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
- Hiện nay khi nhu cầu sử dụng các sản phẩm phẩm nội, ngoại thất từ nguyên liệu gỗ ngày càng tăng cùng với đó là sự đòi hỏi về mặt chất lượng mẫu
mã của các sản phẩm đó cũng khắt khe hơn Vậy để có được những sản phẩm
từ nguyên liệu gỗ đạt yêu cầu thì sấy gỗ là một khâu không thể thiếu trong ngành chế biến lâm sản
- Sấy gỗ là một khâu quan trọng nó có ảnh hưởng lớn tới chất lượng sản phẩm Vậy đối với mỗi cơ sở sản xuất sấy gỗ để đảm bảo cả được về mặt năng suất và chất lượng gỗ sấy thì công tác lập kế sấy gỗ là vô cùng cần thiết Việc lập kế hoạch trước khi tiến hành đi vào sản xuất sẽ giúp cho chúng ta có sự
Trang 8phân công lao động một cách hợp lý, rút ngắn được phần nào thời gian sản xuất, đảm bảo tốt vấn đề về thời hạn và nhân lực do đã có sự chuẩn bị từ trước
- Tóm lại đối với bất kỳ một doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nói chung và cơ
sở tổ chức sấy gỗ nói riêng thì vấn đề xây dựng kế hoạch sản xuất trước khi tiến hành hoạt động sản xuất là một điều không thể thiếu Chính vì vậy, em đã
thực hiện đề tài “ Xây dựng kế hoạch sấy gỗ cho công ty TNHH Phú Đạt”
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng kế hoạch tổ chức và chỉ đạo kỹ thuật sấy gỗ cho công ty TNHH Phú Đạt
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình thực tập tại công ty TNHH Phú Đạt, phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Những vấn đề cơ bản trong kế hoạch sấy gỗ của công ty
- Tìm hiểu về thực trạng sấy gỗ của công ty
- Tìm hiểu công tác tổ chức và lập kế hoạch sấy gỗ của công ty hiện nay
1.5 Nội dung nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đề cập đến các nội dung sau:
- Tìm hiểu chung về công ty
- Khảo sát, đánh giá thực trạng sấy gỗ tại công ty
- Xây dựng kế hoạch tổ chức và chỉ đạo kỹ thuật sấy gỗ cho công ty
1.6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát thực tế
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp
- Phương pháp kế thừa
Trang 9Chương 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Đặc điểm chung về công nghệ sấy
2.1.1 Quy trình sấy gỗ
a Khái niệm
Quy trình sấy là các giai đoạn thực hiện quá trình sấy, để đảm bảo chất lượng gỗ sấy và rút ngắn thời gian sấy phải thực hiện đúng từng bước quy trình sấy theo đúng yêu cầu kỹ thuật Quy trình sấy được thiết lập cho từng loại gỗ sấy có kích thước cụ thể dựa trên đặc điểm gỗ sấy, thiết lập chế độ sấy và các bước công nghệ thực hiện quá trình sấy đó Sơ đồ quy trình sấy được thể hiện ở (hình 2.1)
Hình 2.1 Sơ đồ quy trình sấy gỗ
b Giai đoạn chuẩn bị trước khi sấy
Đây là một khâu quan trọng trong quá trình sấy, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng gỗ sấy Giai đoạn này bao gồm các công việc như: Kiểm tra thiết bị lò sấy ( vỏ lò, quạt, thiết bị cấp nhiệt và phun ẩm, các thiết bị đo), phân loại nguyên liệu sấy ( theo độ ẩm và quy cách kích thước), xếp đống gỗ sấy, xác định chế độ sấy lý thuyết và tính toán thời gian sấy gỗ ở từng giai đoạn sấy
+ Xử lý ban đầu ( giai đoạn làm nóng): Nhiệm vụ của giai đoạn này là
làm nóng dần gỗ để đưa nhiệt độ gỗ trước khi sấy lên đến nhiệt độ sấy Đây cũng là quá trình xử lý nhiệt ẩm nhằm mục đích là làm nóng gỗ và môi trường
Nguyên
sấy
Xử lý ban đầu
Giai đoạn sấy I
Xử lý giữa chừng
Giai đoạn sấy II
Xử lý cuối Phân loại
gỗ sấy
Trang 10những điều kiện sau: Nhiệt độ xử lý ban đầu thông thường bằng nhiệt độ của giai đoạn đầu của quá trình sấy T = T1 + ( 5- 7oC) và độ ẩm của môi trường sấy giai đoạn này phải lớn hơn 90% hoặc xấp xỉ 100% thì càng tốt
+ Giai đoạn sấy I ( Giai đoạn sấy đầu, giai đoạn sấy đẳng tốc): Giai
đoạn này kéo dài trong một thời gian đủ để cho gỗ sấy khô gần xuống điểm bão hòa thớ gỗ Thời gian sấy dài hay ngắn phụ thuộc vào độ ẩm ban đầu, loại gỗ, kích thước gỗ sấy Thời gian này cần duy trì nhiệt độ sấy ổn định bằng nhiệt độ sấy ban đầu và ở mức độ hãm không cho lớp gỗ bề mặt khô quá nhanh, để đảm bảo quá trình di chuyển ẩm từ tâm ván ra phía ngoài ván một cách liên tục và ở mức độ phù hợp với từng loại gỗ Theo kinh nghiệm, giai đoạn này cần phải đóng kín cửa thoát khí (DK) và Δt sẽ tăng không quá giá trị Δt = 7- 10oC ( đối với gỗ dễ sấy) và Δt = 5- 7 oC ( đối với gỗ khó sấy)
+ Giai đoạn xử lý giữa chừng: Xử lý giữa chừng thường được thực hiện
đối với các loại gỗ khó sấy hoặc có chiều dày lớn hơn 30mm thì thực hiện quá trình xử lý giữa chừng để hạn chế sự xuất hiện của nội ứng suất và nứt ngầm Quá trình xử lý giữa chừng được thực hiện với độ ẩm của gỗ sấy nhỏ hơn Wbh ,
T = T2 + ( 8- 10oC ) Để tiến hành giai đoạn này ta phải phun ẩm liên tục trong suốt thời gian xử lý giữa chừng, phụ thuộc vào quy cách ván τ = 5- 8h phụ thuộc vào chiều dày ván ( 2h/cm chiều dày ván)
+ Giai đoạn sấy II (Hay giai đoạn sấy cuối, giai đoạn sấy giảm tốc): Ở
giai đoạn này biểu thị quá trình mà ở đó độ ẩm của gỗ sấy giảm xuống dưới điểm bão hòa thớ gỗ nên Ở giai đoạn này quá trình thoát ẩm sẽ rất khó khăn,
do vậy bước sang giai đoạn sấy 2 sẽ tăng dần nhiệt độ sấy và đông thời mở dần cửa thoát khí (TDK) để tăng dần Δt của môi trường sấy mục đích làm khô dần môi trường sấy, hỗ trợ cho quá trình khô ở giai đoạn cuối
+ Giai đoạn xử lý cuối và làm nguội: Đối với các loại gỗ dễ sấy, ván
mỏng, ta có thể không cần tiến hành xử lý cuối Còn nói chung đối với các loại
gỗ khó sấy, gỗ có quy cách lớn và gỗ có nhu cầu chất lượng cao hoặc gỗ sau khi sấy có nhu cầu gia công ngay… thì chúng ta cần phải tiến hành giai đoạn
Trang 11xử lý cuối trước khi làm nguội gỗ sấy Mục đích của giai đoạn này là làm cân bằng độ ẩm và triệt tiêu ứng suất trong gỗ, để ổn định kích thước gỗ trong quá trình gia công Để tiến hành giai đoạn này ta phải đóng kín các cửa TDK, phun
ẩm liên tục trong suốt thời gian xử lý cuối và có thể ngừng cấp nhiệt có thể giảm nhanh được Δt, thời gian xử lý cuối lấy khoảng 2h/cm bề dày ván, chế độ
xử lý cuối phụ thuộc vào quy cách ván và yêu cầu về độ ẩm cuối cùng sau khi sấy Với nhiệt độ xử lý cuối bằng nhiệt độ sấy ở giai đoạn cuối hoặc thấp hơn
5oC, Δt duy trì ở mức Δt= 5- 10oC (ứng với Wc = 8- 12%), τ = 3- 4h, φ = 0,95 (đóng kín cửa và phun ẩm)
2.1.2 Chất lượng gỗ sấy
a Khái niệm
- Theo quan điểm của người tiêu dùng thì chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, các đặc trưng kinh tế kỹ thuật của sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu nhất định của người tiêu dùng phù hợp với những điều kiện cụ thể
- Theo quan điểm của nhà quản lý thì chất lượng gỗ sấy là tập hợp các đặc tính của sản phẩm tạo ra có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người Đặc tính của gỗ sấy bao gồm: Độ ẩm cuối cùng của gỗ sấy, độ ẩm trung bình, chênh lệch về độ ẩm giữa lớp trong và lớp ngoài gỗ sấy, độ biến dạng mẫu kiểm tra nội ứng suất, khuyết tật gỗ sấy
b Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng gỗ sấy
+ Nhóm yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến chất lượng gỗ sấy bao gồm:
- Yêu cầu của thị trường về chất lượng sản phẩm
- Trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất
- Môi trường kinh tế vĩ mô
+ Nhóm yếu tố bên trong ảnh hưởng đến chất lượng gỗ sấy bao gồm:
- Trình độ kỹ thuật công nghệ sản xuất của doanh nghiệp
- Trình độ sản xuất, tổ chức lao động của doanh nghiệp
- Chất lượng và tính đồng bộ về chất lượng của nguyên liệu
Trang 12+ Chất lượng gỗ sấy được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
- Các khuyết tật gỗ sấy nhƣ: biến màu, nứt nẻ, móp méo, cong vênh…
- Độ ẩm của gỗ sau sấy
- Chênh lệch ẩm giữa các thanh gỗ trong đống gỗ sấy
- Chênh lệch ẩm theo chiều dày thanh gỗ
- Ứng suất tồn tại trong gỗ sấy
d Phương pháp đánh giá chất lượng sản phẩm gỗ sấy
n
W
1
1
, (%) Trong đó: W T - Độ ẩm trung bình của thanh gỗ (%)
W i- Độ ẩm đo đƣợc ở lần thứ i (%)
n- Số lần đo độ ẩm trên thanh gỗ
Hình 2.2 Mẫu kiểm tra kiểm tra chênh lệch ẩm theo chiều dày ván
(a) Mẫu có S < 32 mm (b) Mẫu có S > 32 mm
- Độ ẩm trung bình của cả đống gỗ đƣợc xác định theo công thức:
Trang 13
i Ti
n
W
1 1
, (%) Trong đó: W D- độ ẩm trung bình của cả đống gỗ, %
n- số mẫu kiểm tra trong đống gỗ
W Ti- độ ẩm trung bình của thanh gỗ thứ i, %
- Chênh lệch ẩm theo chiều dày thanh gỗ đƣợc xác định theo công thức:
∆Wcd = W tr W ng , % Trong đó: ∆Wcd – Chênh lệch ẩm theo chiều dày thanh gỗ, (%)
n
W
1 1
n
W
1 1
, % Trong đó:
n- số lần đo
Wtri – độ ẩm đo ở vị trí thứ i của tấm ván ở phía trong sau khi xẻ mẫu
Wngi – độ ẩm đo ở vị trí thứ i của tấm ván ở phía ngoài sau khi xẻ mẫu Chênh lệch ẩm của từng tấm ván so với độ ẩm trung bình đống gỗ đƣợc tính theo công thức:
1 1
n
i
D Ti
, %
Kiêm tra nội ứng suất
Để kiểm tra nội ứng suất có tồn tại trong gỗ sấy hay không ta tiến hành cắt mẫu nhƣ hình 2.2
Trang 14Hình 2.3 Hình dạng kích thước mẫu răng lược kiểm tra sự tồn tại của ứng
suất trong gỗ sau khi sấy
(a) Hình dạng mẫu răng lược (b)Hình dạng mẫu răng lược thanh
có chiều dày t< 32mm thanh có chiều dày t> 32mm
Sau khi cắt mẫu, ta để mẫu trong môi trường khoảng 24h rồi tiến hành
quan sát hình dạng của mẫu Ta có thể đánh giá sự tồn tại của nội ứng suất
trong gỗ như sau:
- Nếu mẫu có hình dạng (1) hình 2.3, S = S1 thanh không tồn tại ứng suất
- Nếu mẫu có dạng (2) hình 2.3, S < S1 thì trong mẫu tồn tại ứng suất,
phía ngoài chịu ứng suất kéo, phía trong chịu ứng suất nén
- Nếu mẫu có dạng (3) hình 2.3, S > S1 thì trong gỗ tồn tại ứng suất, phía
ngoài chịu ứng suất nén, phía trong chịu ứng suất kéo
Trang 15(1) (2) (3)
Hình 2.4a Hình dạng mẫu răng lược của thanh có chiều dày
t < 32mm khi để ngoài môi trường 24h
(1) (2) (3)
Hình 2.4b Hình dạng răng lược của thanh có chiều dày t > 32mm
Sau khi để ngoài môi trường
Để xác định độ lớn của nội ứng suất ta dựa vào tỷ lệ độ biến dạng của răng lƣợc đƣợc tính theo công thức sau:
S1
t
Trang 16Với: f – tỷ lệ độ biến dạng của răng lược so với chiều dài của răng
S- khoảng cách giữa hai cạnh xa nhất của chân răng lược, mm
S1- Khoảng cách giữa hai cạnh xa nhất của đầu răng lược, mm
l – chiều dài răng lược, mm
• Kiểm tra khuyết tật
Để kiểm tra khuyết tật gỗ sấy chúng ta quan tâm đến các vấn đề sau:
- Kiểm tra màu sắc của gỗ sau khi sấy bằng cách so sánh với màu sắc gỗ trước khi sấy
- Kiểm tra các khuyết tật sấy như nứt nẻ, cong vênh, lồi lõm Để đánh giá mức độ khuyết tậ ta tiến hành đếm số vết nứt trên thanh gỗ, đo chiều dài vết nứt, chiều sâu vết nứt, độ cong vênh,
2.1.3 Phân cấp chất lượng gỗ sấy
Định mức chỉ tiêu chất lượng gỗ sấy được đưa ra ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Định mức các chỉ tiêu chất lượng gỗ sấy
Độ biến dạng của răng lược f, % ≤± 3,0 ≤± 3,0 Không kiểm tra
Trang 172.2 Cơ sở lập kế hoạch sấy gỗ
Để lập kế hoạch sản xuất chúng ta cần có những thông tin sau:
- Đơn đặt hàng
- Bảng định mức nguyên vật liệu (BOM = Bill of Materials)
- Công suất từng khâu sản xuất
- Số lượng tồn kho hiện tại (nếu có) của mặt hàng (vật tư)
Với những thông tin trên chúng ta sẽ tính được:
- Số lượng vật tư (nguyên liệu ) cần đặt thêm
- Liệu các đơn đặt hàng có đáp ứng kịp không? Tăng bao nhiêu giờ trong một tuần? Bộ phận nào cần tăng ca, cụ thể theo ngày
- Kế hoạch sản xuất cho từng khâu, ca…
2.2.1 Khái niệm và những nội dung cơ bản của kế hoạch sản xuất trong doanh nghiệp
Lập kế hoạch là việc cung cấp thông tin để trả lời các câu hỏi: Ai? Làm cái gì? Trong bao lâu? Và các mối quan hệ giữa chúng ra sao?
Việc lập kế hoạch sản xuất có thể hình dung là việc thiết lập một trình tự các hoạt động xác định có thể dự đoán sắp xếp trước để thực hiện quá quá trình sản xuất đó
Quá trình lập kế hoạch là quá trình ra quyết định bởi vì nó liên quan tới việc lựa chọn giữa các khả năng khác nhau
Lập kế hoạch sản xuất là rất cần thiết do tính mới, duy nhất, cũng như giới hạn về nguồn lực, kinh phí, thời hạn Lập kế hoạch sản xuất có thể nói là một khâu quan trọng nhất trong quá trình chuẩn bị thực hiện sản xuất nhằm quản lý quá trình sản xuất một cách có hiệu quả Đây là công cụ giao tiếp trung tâm nhằm điều phối công việc trong suốt quá trình sản xuất
Kế hoạch cung cấp cơ sở cho việc phối hợp, kiểm soát, liên lạc và cam kết cho toàn bộ quá trình sản xuất Kế hoạch là công cụ cho việc đo tiến trình thực hiện của quá trình sản xuất Như vậy, lập kế hoạch là cơ sở để theo dõi
Trang 18chất lượng, giá thành và thời gian thực hiện các hạng mục công việc cần thiết cho việc hoàn thành quá trình sản xuất
Lập kế hoạch là một quá trình và là bước đầu tiên khi xây dựng lịch trình thực hiện sản xuất, chứ đây không phải là một hoạt động đơn lẻ Khi điều kiện thực hiện quá trình sản xuất thay đổi thì cần có những điều chỉnh kế hoạch Việc lập kế hoạch tốt và liên tục cập nhật sẽ giúp chỉ ra các thay đổi và điểu chỉnh lịch trình thực hiện kế hoạch sản xuất một cách hiệu quả nhất
Lập kế hoạch là một yếu tố thúc đẩy các thành viên tham gia quá trình sản xuất hoàn thành công việc của mình đúng thời hạn bằng cách chỉ ra trách nhiệm của mỗi người một cách rõ ràng và công khai Qua việc lập kế hoạch, sự phối hợp, giao thoa công việc giữa các cá nhân cũng được thiết lập Trong kế hoạch phải tính đến thời gian hợp lý cần cho sự trao đổi giữa các thành viên trong kế hoạch sản xuất, bao gồm cả thời gian chậm chễ do xem xét lại và chuẩn y các vấn đề quan trọng
Khi lập kế hoạch, các hạng mục công việc cần phải được mô tả rõ ràng trước khi chúng ta bắt đầu thực hiện
Các hệ thống kế hoạch hóa và công cụ trong việc lập kế hoạch phải linh động Lập kế hoạch là một quá trình cập nhật liên tục và người quản lý luôn cần kiểm tra tiến độ thực tế so sánh với kế hoạch đã đề ra trước đó
Trang 19- Thiết lập nên những tiêu chuẩn tạo điều kiện thuận lợi hơn trong công tác theo dõi, giám sát kiểm tra tiến độ thi công của công việc
Trước khi lập kế hoạch chúng ta phải thu thập được số liệu và các thông tin có liên quan Đối với công tác lập kế hoạch sấy chúng ta cần phải chú ý đến những thông tin liên quan sau:
- Lượng nguyên liệu cần sấy trong một đợt
- Thời gian sấy của một mẻ sấy: Cùng một cấp chiều dày, tùy thuộc vào loại nguyên liệu mà thời gian sấy khác nhau
- Thời gian vận chuyển, thời gian bốc xếp gỗ vào lò
- Thời gian ra lò của một mẻ sấy
2.3 Các nguyên tắc xây dựng kế hoạch sấy gỗ trong doanh nghiệp
Xây dựng kế hoạch sấy gỗ trong doanh nghiệp cần đảm bảo được các nguyên tắc sau:
- Tuân thủ theo đúng hợp đồng yêu cầu đặc biệt phải đảm bảo hai yêu cầu chính đó là thời gian và chất lượng sản phẩm
- Đảm bảo kế hoạch về nhân lực cũng như thời gian thực hiện từng hạng mục trong bản kế hoạch, không có sự chồng chéo hay ngắt quãng quá trình sản xuất trong quá trình thực hiện kế hoạch đã vạch ra
- Kế hoạch đưa ra phải đảm bảo chi phí quá trình sản xuất là nhỏ nhất
2.4 Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp chế biến lâm sản
2.4.1 Khái niệm về tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp
Tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp là quá trình xây dựng, tạo lập sự kết hợp cân đối chặt chẽ, hài hòa giữa các yếu tố nguồn lực để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp
Làm tốt công tác tổ chức sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng trong việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm các yếu tố sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tạo thế phát triển lâu dài và ổn định cho doanh nghiệp
Trang 202.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp
a Các đối tượng lao động của doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp, đối tượng lao động bao gồm: đất đai, tài nguyên, nguyên nhiên vật liệu Nó là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất Quá trình sản xuất trong doanh nghiệp là quá trình tác động một cách thường xuyên, liên tục vào đối tượng lao động, vì thế đối tượng lao động có ảnh hưởng rất quan trọng đến quá trình sản xuất
b Đặc điểm của máy móc thiết bị và công nghệ sản xuất của doanh nghiệp
Máy móc thiết bị và công nghệ sản xuất là bộ phận cơ bản của tư liệu lao động Tư liệu lao động nói chung và hệ thống máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất nói riêng có vai trò rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến công tác tổ chức sản xuất của doanh nghiệp Công tác tổ chức của doanh nghiệp phải phù hợp với đặc điểm của sản xuất và phải đáp ứng được nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp
c Trình độ chuyên môn và hợp tác trong sản xuất kinh doanh
Chuyên môn trong doanh nghiệp là quá trình phân công lao động trên cơ
sở tập trung hoạt động của các cá nhân, bộ phận vào việc thực hiện những công việc cùng loại nhất định trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hợp tác trong doanh nghiệp là quá trình tổ chức phối hợp hoạt động của các cá nhân, bộ phận trong sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện các mục tiêu chung của doanh nghiệp
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chuyên môn lao động càng sâu đòi hỏi sự hợp tác lao động càng phải chặt chẽ Công tác tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp phải phù hợp với tính chất, trình độ chuyên môn, hợp tác trong sản xuất của doanh nghiệp
2.4.3 Các nguyên tắc tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp
a Đảm bảo tính cân đối trong quá trình sản xuất
Cân đối trong quá trình sản xuất là sự đảm bảo các quan hệ tỷ lệ thích hợp giữa các yếu tố, giữa các giai đoạn của quá trình sản xuất Cân đối trong
Trang 21sản xuất là một trạng thái động, nó thường xuyên biến động theo xu thế từ cân đối → mất cân đối → cân đối mới Cùng với quá trình này thì quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không ngừng được đẩy mạnh và hoàn thiện
Trong quá trình sản xuất, để đảm bảo tính cân đối thì cán bộ quản lý doanh nghiệp phải đẩy mạnh công tác điều động sản xuất, đảm bảo dự trữ hợp
lý cho quá trình sản xuất, đào tạo những công nhân giỏi một nghề và biết nhiều nghề có liên quan
b Đảm bảo tính cân đối nhịp nhàng của sản xuất
Sản xuất được coi là nhịp nhàng nếu trong những khoảng thời gian bằng nhau sản xuất được những lượng sản phẩm như nhau Nói cách khác, sản xuất nhịp nhàng là trạng thái lặp lại ổn định quá trình hoạt động của mỗi bộ phận trong hệ thống sản xuất
Sự nhịp nhàng sẽ tạo nhịp điệu hoạt động ổn định cho hệ thống máy móc thiết bị và lực lượng lao động, tạo điều kiện sử dụng hợp lý năng suất của thiết
bị, tránh được hiện tượng quá tải, căng thẳng mang tính nhất thời của sản xuất, tránh được sự lãng phí của nguồn lực
Để đảm bảo sản xuất được nhịp nhàng cần phải có quyết định và bàn giao sớm nhiệm vụ sản xuất, cung cấp đầy đủ các yếu tố đầu vào của sản xuất, phục vụ tốt cho sản xuất, làm tốt công tác điều động sản xuất
c Đảm bảo tính liên tục của sản xuất
Sản xuất được coi là liên tục nếu trong quá trình sản xuất đối tượng lao động luôn luôn nằm trong trạng thái vận động hoặc đang được gia công chế biến hoặc đang trên phương tiện vận chuyển từ nơi làm việc này đến nơi làm việc khác Sản xuất liên tục góp phần rút ngắn chu kỳ sản xuất, đầy nhanh tốc
độ chu chuyển vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để đảm bảo tính liên tục của sản xuất cần phải tiến hành cải tiến kỹ thuật
và công nghệ sản xuất ( thay thế quá trình tự nhiên bằng quá trình công nghệ, đổi mới máy móc thiết bị theo hướng đồng bộ hóa về mặt kỹ thuật sản xuất với
Trang 22mức độ hiện đại của thiết bị), cải tiến về mặt tổ chức ( cải tiến tổ chức lao động, tối ưu hóa quá trình vận chuyển trong sản xuất)
2.4.4 Nội dung của công tác tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp
Công tác tổ chức trong doanh nghiệp gồm những nội dung chính sau:
- Phân tích quá trình sản xuất và lựa chọn cơ cấu sản xuất
- Tổ chức các quá trình sản xuất của doanh nghiệp: Bao gồm các hoạt động lựa chọn và áp dụng phương pháp tổ chức sản xuất thích hợp, loại hình sản xuất thích hợp
- Tổ chức các hoạt động chuẩn bị và phục vụ sản xuất ( sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị, cung ứng vật tư, vận chuyển nội bộ )
2.4.5 Kết cấu quá trình sản xuất trong doanh nghiệp
Căn cứ vào mối quan hệ với việc tạo ra sản phẩm người ta chia quá trình sản xuất thành các quá trình :
+ Quá trình công nghệ: là bộ phận quan trọng nhất của quá trình sản
xuất, trong đó các đối tượng lao động trực tiếp gia công chế biến để trở thành sản phẩm hữu ích phục vụ cho nhu cầu của xã hội
+ Quá trình vận chuyển: là quá trình mà tại đó các đối tượng lao động
được di chuyển về mặt không gian từ nơi làm việc này đến nơi làm việc khác
để phục vụ cho hoạt động gia công chế biến
+ Quá trình kiểm tra: là quá trình mà tại đó các đối tượng lao động được
kiểm tra, so sánh, đối chiếu với các thông số định trước để đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm
Trang 232.4.6 Các cấp sản xuất trong doanh nghiệp
Các cấp sản xuất trong doanh nghiệp, một mặt phản ánh sự phân công lao động trong nội bộ doanh nghiệp, một mặt thể hiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp Thông thường trong doanh nghiệp có các cấp sau:
+ Phân xưởng sản xuất: là đơn vị tổ chức sản xuất cơ bản của doanh
nghiệp, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ sản xuất một số loại sản phẩm hoặc hoàn thành một só giai đoạn công nghệ nhất định
+ Tổ sản xuất: là cấp sản xuất nằm trong phân xưởng sản xuất, là tập
hợp công nhân và máy móc thiết bị có quan hệ mật thiết với nhau về mặt công nghệ và tổ chức Tổ chức sản xuất là nới trực tiếp quản lý máy móc thiết bị, lao động để triển khai các hoạt động sản xuất
+ Nơi làm việc: là địa điểm diễn ra một bước công việc nhất định, là
phần diện tích mà ở đó một hoặc một nhóm công nhân sử dụng máy móc thiết
bị, dụng cụ sản xuất để hoàn thành bước công việc cụ thể trong quá trình sản xuất, là phần việc để thực hiện tại nơi làm việc nhất định do một hoặc một nhóm công nhân tiến hành thực hiện trên một đối tượng lao động cụ thể
Trong thực tế sản xuất, các doanh nghiệp có thể lựa chọn các cấp sản xuất sau:
- Doanh nghiệp – phân xưởng – tổ sản xuất – nơi làm việc
- Doanh nghiệp – phân xưởng – nơi làm việc
- Doanh nghiệp – tổ sản xuất – nơi làm việc
2.4.7 Các phương pháp tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp
a Tổ chức sản xuất theo không gian
Đây là phương pháp tổ chức sản xuất dựa trên sự bố trí về mặt không gian của nơi làm việc Phương pháp này có thể áp dụng phương pháp tổ chức sản xuất chuyên môn hóa theo công nghệ và theo đối tượng Sự khác nhau giữa chúng được thể hiện ở bảng 2.2
Trang 24Bảng 2.2 Các phương pháp tổ chức sản xuất theo không gian
Phương
pháp
Tổ chức sản xuất CMH theo công nghệ
Tổ chức sản xuất CMH theo đối tượng
Khái niệm
- Mỗi phân xưởng, đội sản xuất chỉ thực hiện một loại công nghệ
- Mỗi phân xưởng, đội sản xuất được bố trí để chỉ chế tạo một loại sản phẩm hoặc cụm chi tiết
Đặc điểm
- Bố trí máy móc thiết bị để thực hiện một loại công nghệ sản xuất
- Tại mỗi bộ phận được bố trí nhiều máy móc thiết bị khác nhau hoặc máy đa năng
Ưu điểm
- Tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý kỹ thuật và quản lý chất lượng sản phẩm
- Tổ chức lao động thuận lợi
- Ít tổ chức các kho trung gian, khối lượng vận chuyển nội bộ ít
- Chỉ có hiệu quả khi khối lượng sản xuất đủ lớn và nhiệm vụ sản xuất tương đối ổn định
b Tổ chức sản xuất theo thời gian
Đây là phương pháp tổ chức quá trình sản xuất dựa trên việc bố trí trình
tự thực hiện và phối hợp các bước công nghệ về mặt thời gian Các phương pháp tổ chức sản xuất theo thời gian được thống kê và so sánh ở bảng 2.3
Bảng 2.3 Các phương pháp tổ chức sản xuất theo thời gian
Phương
pháp
Tổ chức sản xuất tuần tự
Tổ chức sản xuất song song
Tổ chức sản xuất hỗn hợp
- Mỗi nơi làm việc được bố trí thực hiện một bước công việc
- Công cụ sản xuất
và máy móc thiết bị
- Phải tổ chức nhiều nơi làm việc
- Bố trí mỗi nơi làm việc chỉ thực hiện một bước công việc
- Là phương pháp
tổ chức kết hợp giữa hai phương pháp tuần tự và song song nên nó
Trang 25Đặc điểm
thường đa năng
- Có nhiều bước công việc
phát huy được những ưu điểm và hạn chế được nhược điểm của hai phương pháp trên ở mức nhất định
Ưu điểm
- Lượng phục vụ là ít nhất
- Khả năng làm việc
là nhỏ nhất
- Có điều kiện để công nhân tự hoàn thiện tổ chức sản xuất
- Chu kỳ sản xuất ngắn
- Tạo điều kiện chuyên môn hóa lao động, nâng cao năng suất lao động của công nhân
- Dự trù bán thành phẩm là nhỏ nhất
Nhược điểm
- Thời gian sản xuất dài
- Khối lượng dự trữ bán thành phẩm nhiều
- Không phát huy được ưu thế của chuyên môn hóa lao động
- Lượng phục vụ cho sản xuất nhiều
- Khả năng gián đoạn công việc lớn
- Máy móc không sử dụng hết công suất
2.4.8 Chu kỳ sản xuất
Chu kỳ sản xuất là khoảng thời gian theo lịch kể từ khi đối tượng lao động được đưa vào gia công chế biến cho đến khi trở thành sản phẩm được nhập kho, sẵn sàng cung ứng cho thị trường
Trang 26Chu kỳ sản xuất là một chỉ tiêu đánh giá trình độ tổ chức sản xuất và trình độ kỹ thuật của doanh nghiệp Để rút ngắn chu kỳ sản xuất phải đồng thời
áp dụng các biện pháp về mặt kỹ thuật công nghệ và quản lý
- Cải tiến công tác phục vụ kỹ thuật để tăng hệ số sử dụng máy móc thiết
bị trong quá trình sản xuất
+ Về mặt tổ chức quản lý
- Hoàn thiện tổ chức sản xuất và tổ chức lao động, giảm thời gian gián đoạn trong quá trình sản xuất
- Bố trí các điều kiện để tăng hệ số ca làm việc trong một ngày đêm
- Áp dụng các biện pháp kích thích vật chất để nâng cao năng suất lao động của công nhân
- Cải tiến công tác kiểm tra, nghiệm thu vừa để đảm bảo chất lƣợng sản phẩm vừa để rút ngắn thời gian chờ đợi của các bộ phận sản xuất
Trang 27Chương 3 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Tìm hiểu chung về công ty
3.1.1 Vị trí địa lý và khí hậu thủy văn
- Vị trí địa lý: Công ty TNHH Phú Đạt có hai phân xưởng sản xuất, phân
xưởng một và cũng là một trụ sở chính của công ty được xây dựng tại xóm Miễu- xã Tiến Xuân – Huyện Thạch Thất – Thành phố Hà Nội Nằm cách đường nối từ công ty đến đường Hồ Chí Minh đã nằm trong diện quy hoạch xây dựng Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa thực hiện xong nên đường vào công ty
là khá lồi lõm, và rất bụi gây khó khăn cho việc vận chuyển nguyên liệu cũng như sản phẩm của công ty nhất là trong điều kiện khí hậu không thuận lợi Phân xưởng 2 đến nay đã được khánh thành và đưa vào sản xuất từ cuối năm
2006, với diện tích sử dụng 7ha và là một trong những phân xưởng lớn nhất miền Bắc, được xây dựng tại xóm Chùa – Xã Tiến Xuân – Huyện Thạch Thất – Thành phố Hà Nội Hai phân xưởng của công ty cách nhau khoảng 4km.Từ phân xưởng hai của công ty ra đường Hồ Chí Minh khoảng 6km chỉ có một con đường nối hai phân xưởng một và hai là đường nhỏ, đất lồi lõm rất nhiều, điều này gây khó khăn lớn cho việc vận chuyển nguyên liệu cũng như sản phẩm qua lại giữa hai phân xưởng nhất là khi trời mưa thì con đường hoàn toàn bị vô hiệu hóa không thể sử dụng được và phải đi đường vòng khoảng 13 km gây tốn kém nhiên liệu, thời gian Điều này càng trở nên quan trọng khi lượng giao dịch qua lại lớn một cách thường xuyên Hiện tại thì đây là điểm bất lợi lớn nhất ở vị trí địa lý của công ty Do đó hiện nay thì những đoạn đường này cũng đang được
tu sửa khá nhiều
- Khí hậu thủy văn: Đây là khu vực miền núi, xung quanh nhà xưởng của
công ty là một vùng đồi núi, vì vậy mà khí hậu ở đây phân bố theo mùa Mùa đông lạnh và khô, nhiệt độ trung bình khoảng 13 – 150C, mùa hè nhiệt độ trung bình khoảng 32 – 340C Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 – 240C Độ ẩm
Trang 28trung bình khoảng 80 – 85% Có thể nói đây là khu vực có khí hậu ổn định, không quá khắc nghiệt tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển
3.1.2 Lịch sử của công ty
- Công ty được thành lập từ ngày 16 tháng 4 năm 2004
- Tên công ty: Công ty TNHH Phú Đạt
3.1.3 Sơ đồ các bước thực hiện
Hình 3.1 Sơ đồ các bước thực hiện
Khảo sát đánh giá thực tế sấy gỗ của công ty
Chuẩn
bị trước khi sấy
Tổ chức sản xuất
Kiểm tra chất lượng
gỗ sấy
Quá trình công nghệ
Lập kế hoạch sấy gỗ cho công ty
Tính toán chi phí sấy
Những hiệu quả sẽ đạt được khi xây dựng kế hoạch sấy gỗ
Trang 293 2 Tình hình tổ chức sản xuất của công ty
Cơ cấu tổ chức hành chính của công ty: Ta có cơ cấu tổ chức hành chính
của công ty được thể hiện như sơ đồ sau:
Hình 3.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức sản xuất của công ty
Tình hình sản xuất của công ty: Công ty TNHH Phú Đạt là một doanh
nghiệp tư nhân chủ yếu hoạt động trên các lĩnh vực như: mua bán, xuất khẩu lâm sản, sản xuất gia công, mua bán đồ mộc dân dụng Sản phẩm của công ty chủ yếu là: Sản xuất các sản phẩm nội ngoại thất ngoài trời cho tập đoàn IKEA chiếm 90% và một số hàng nội ngoại thất xuất khẩu sang các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Singapo Sản xuất đồ mộc như: Bàn ăn; các loại tủ áo, trang trí; bàn ghế gia đình,công sở, các loại khuôn cửa Nguyên liệu của công
Tổng giám đốc công ty
GĐ Phân xưởng 1& 2
GĐ & P.GĐ sản xuất các
Tổ bốc xếp + lựa phôi
Tổ lò
Tổ mẫu
Tổ hoàn thiện
Tổ sơn
Tổ tinh chế
Tổ sơ chế
Tổ cơ điện
Trang 30chiếm 95%, ngoài ra là các loại gỗ như: Thông, Xoan Đào, gỗ tạp ( Trẩu, Bồ
Đề, Quế ) Do sản phẩm xuất ra chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu nên yêu cầu
về chất lượng sản phẩm rất khắt khe Hiện tại công ty đang sản xuất mặt hàng nội thất bàn, ghế Applaro là chủ yếu Cho tập đoàn IKEA đây là một mặt hàng yêu cầu cao, độ ẩm từ 8- 10% Vì thế khâu sấy gỗ là vô cùng quan trọng Hiện tại công ty có tổng cộng 14 lò sấy, trong đó 4 lò sấy ở xưởng 1 và 10 lò sấy ở xưởng 2, với hệ thống trang thiết bị hiện đại Tính đến nay thì phân xưởng 2 đã
đi vào hoạt động được hơn 3 năm nên công suất hoạt động đã tương đối ổn định với lượng công nhân vào khoảng 500 người Thu nhập của công nhân vào khoảng 900.000 đồng/ tháng cho công nhân mới thử việc từ 1,5- 2 triệu/ tháng cho công nhân có trình độ và tay nghề cao Công ty mới hoạt động được 6 năm nhưng đã khẳng định được thương hiệu của mình, bằng chứng là khi mới thành lập công ty đã mở rộng xây dựng thêm xưởng 2 và đưa vào sử dụng cuối năm
2006 với diện tích, quy mô gấp nhiều lần phân xưởng 1, dây chuyền sản xuất hiện đại vào bậc nhất ở Miền Bắc Hiện tại công ty đã mở hai Showroom lớn tại Hà Nội và Hòa Bình để trưng bày giới thiệu sản phẩm của công ty
Xu hướng phát triển của công ty: Đang trên công cuộc khôi phục lại
sau cuộc khủng hoảng kinh tế với rất nhiều các công ty đã phá sản, đặc biệt là trong ngành chế biến gỗ thị trường xuất khẩu bị bó hẹp do nhu cầu giảm mạnh cộng với việc mới xây dựng thêm một phân xưởng mới có quy mô và số vốn đầu tư lớn Điều này gây áp lực và cũng là một thách thức đối với công ty trong việc tìm kiếm nguồn hàng, ổn định sản xuất và phát triển công ty Tuy nhiên, với rất nhiều khó khăn song công ty đã đề ra và đạt được một số mục tiêu phấn đấu sau:
- Sản xuất ra được những sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng
- Xây dựng được hệ thống quản lý chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế
- Liên tục cải tiến thiết bị máy móc, nâng cao tay nghề, nghiệp vụ quản
lý, đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân
Trang 31- Khai thác nhiều thị trường mới đáp ứng cho đầu ra của sản phẩm, kích thích quá trình sản xuất
- Xây dựng các nguồn nguyên liệu tập trung cho công ty để đảm bảo phát triển bền vững
3.3 Khảo sát và đánh giá công tác tổ chức sấy gỗ tại công ty
3.3.1 Khảo sát, đánh giá về nguyên, nhiên liệu
Khảo sát
- Nguyên liệu đầu vào của công ty có hai dạng là gỗ tròn và gỗ xẻ Gỗ tròn được nhập khoảng 500m3
gỗ/ tháng, với nhiều cấp đường kính từ 18 – 35cm Còn gỗ xẻ nhập về với trữ lượng bình quân khoảng 400m3/ tháng với chiều dày khoảng 15- 35mm Nguyên liệu được nhập về chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc: Phú Thọ, Tuyên Quang, Hòa Bình, Thái Nguyên, Bắc Giang, Thanh Hóa, Nghệ An Nguyên liệu chủ yếu là gỗ Keo, Trẩu, Thông, Xoan Do nguyên liệu được nhập từ nhiều vùng khác nhau nên chủng loại gỗ Keo cũng khác nhau Gỗ Keo được nhập về cả ba loại: Keo lai 50%, Keo lá tràm 30%, Keo tai tượng 20% Tỷ lệ gỗ giác, gỗ lõi: Gỗ giác chiếm 30-40% còn lại là gỗ lõi Gỗ tròn sau khi được nhập về công ty được xưởng xẻ của công
ty xẻ theo các cấp độ chiều dày khác nhau tùy theo sản phẩm, gỗ xẻ của công ty
đa dạng bao gồm chủ yếu là ván xẻ tiếp tuyến, ván xẻ xuyên tâm và bán XT chiếm tỷ lệ rất ít Do khối lượng gỗ nguyên liệu lớn nên và công ty chủ yếu là sấy chạy theo đơn đặt hàng nên thường gỗ sấy không được hong phơi, vì vậy sau khi xẻ xong tập kết đủ sản lượng sẽ được phân loại và đưa vào lò sấy
- Độ ẩm: Nguyên liệu gỗ sấy của công ty được thu mua ở nhiều nơi khác nhau, do vậy độ ẩm của gỗ trước khi đưa vào sấy thường dao động trung bình trong khoảng từ 60 - 65% (đặc biệt có thể giao động lên tới 70- 75% do không
có đủ thời gian, cũng như địa điểm hong phơi còn hạn hẹp), độ ẩm của ván sau khi sấy công ty đặt ra vào khoảng 8- 10%
Kích thước của nguyên liệu tùy thuộc vào đơn đặt hàng mà công ty sẽ
Trang 32thường thì chiều dày giao động từ 17- 30mm, chiều dài và chiều rộng tùy ý Kích thước nguyên liệu gỗ Keo công ty nhập về được thống kê dưới bảng 3.1
Bảng 3.1.Quy cách kích thước nguyên liệu của công ty
Bàn Applaro drop leaves ( Bàn lá rơi )
Tên chi tiết Quy cách phôi ( mm) Yêu cầu chất lượng
Dày Rộng Dài
Vài dài 29 70 1300 Một mặt không bám giác
Vai ngắn 26 66 700 Một mặt không bám giác
Chân bàn 26 66 710 Hai mặt không bám giác
Nan ốp chân 26 45 710 Một mặt không bám giác
Đố mặt bàn 28 68 820 Một mặt, một cạnh không bám giác Nan mặt dày chính 26 66 650 Một mặt không bám giác
Nan mỏng mặt chính 23 66 650 Một mặt không bám giác
Nan dày mặt phụ 26 66 550 Một mặt không bám giác
Nan mỏng mặt phụ 23 66 550 Một mặt không bám giác
Thanh đỡ 26 45 920 Cho phép bám giác
Ghế Applaro Recliner ( Ghế gấp)
Nan tựa ghế 23 49 430 Hai mạt không bám giác
Nan mặt ngồi 23 49 480 Một mặt không bám giác
Xà chân ghế 23 53 530 Một mặt, một cạnh không bám giác Khung mặt ngồi 29 56 570 Một mặt, một cạnh không bám giác Chân trước ghế 29 56 670 Hai mặt không bám giác
Chân sau ghế 29 66 740 Hai mặt không bám giác
Khung tựa ghế 29 66 740 Hai mặt không bám giác
Tay ghế 29 70 530 Một mặt, hai cạnh không bám giác
- Khuyết tật của nguyên liệu: Nguyên liệu mới được nhập về không tránh khỏi những khuyết tật như: gỗ xẻ bị bao tâm, bị sơ , gỗ non, mắt sống, mắt
Trang 33chết, mắt thủng, gỗ nứt đầu, gỗ xẻ không đúng quy cách kích thước, bị mốc và
bị ruột dài
Hình 3.3 Một số khuyết tật nguyên liệu của công ty
Yêu cầu chất lượng nguyên liệu tại công ty
Do công ty chủ yếu làm hàng xuất khẩu nên yêu cầu về chất lượng nguyên liệu là khá cao Nguyên liệu được bộ phận KCS kiểm tra và hướng dẫn công nhân trong tổ phân loại lựa phôi thực hiện ngay trước khi đưa vào lò sấy, những thanh gỗ có quy cách kích thước và chất lượng không đạt yêu cầu thì được hạ cấp để tận dụng nguyên liệu Yêu cầu chất lượng mà công ty đưa ra như sau:
- Về quy cách kích thước: Phôi xẻ chỉ được phép dương theo chiều dày
từ 1 – 2 mm, chiều rộng từ 1 – 3 mm, chiều dài từ 1 – 2 cm
- Về chất lượng phôi: Phôi không được nứt mặt, nứt đầu, không bị mối mọt, không bị bao tâm, không bám ruột, không mắt chết bong ra Trên một thanh cho phép một mắt chết đường kính ≤ 10mm, tổng số mắt sống và mắt chết không vượt quá 2 mắt/ thanh Tỷ lệ gỗ giác không vượt quá 40%
Đánh giá
- Nguyên liệu:
Màu sắc nguyên liệu sáng, tỷ lệ gỗ giác nằm trong giá trị cho phép Công
Trang 34khâu xẻ, phoi bào trong gia công để làm nhiên liệu cấp cho nồi hơi Nguyên liệu sau khi được nhập về được bộ phận KCS kiểm tra, đánh giá và phân loại thành 3 loại hàng: Hàng chính phẩm, hàng hạ cấp và hàng loại, nhằm phục vụ cho việc tính toán giá thành nguyên liệu Nguyên liệu trước khi đưa vào sấy chỉ được phân loại theo kích thước (chủ yếu là quan tâm đến chiều dày) chứ chưa phân loại theo độ ẩm ban đầu, theo chất lượng, theo nguồn gốc xuất sứ Vẫn tồn tại việc sấy lẫn các loại gỗ có chất lượng không đồng đều trong cùng một
- Nhiên liệu sấy:
Tại phân xưởng 1: nhiên liệu chủ yếu là đầu mẩu gỗ, bìa bắp, phôi bào, củi nhỏ, cành cây, gốc cây không sử dụng được để sử dụng Quá trình đưa nhiên liệu vào nồi hơn bằng thủ công Khu vực để nhiên liệu không được che chắn, để ngoài trời, nền đất nên rất hút nước trong trường hợp trời mưa, khí hậu
ẩm ướt Điều này làm giảm khả năng cháy của nhiên liệu cũng như khả năng tỏa nhiệt gây lãng phí nhiên liệu và dẫn đến tăng chi phí sấy
Tại xưởng 2: Cả 2 nồi hơi đều có hệ thống tự động cung cấp nhiên liệu, nhiên liệu được sử dụng ở đây chủ yếu là phoi bào, mùn cưa, bụi gỗ, đầu mẩu, bìa bắp nhỏ được hệ thống hút bụi của công ty hút trực tiếp rồi nối vào lò đốt qua hệ thống phân phối nhiên liệu Tuy nhiên, hệ thống này cũng có một nhược điểm đó là hay bị tắc phoi bào, mùn cưa trong quá trình đưa vào lò đốt, hơn nữa với công suất rất lớn vì vậy lượng nhiên liệu cung cấp tự động không đủ cho quá trình hoạt động của lò hơi do đó công ty vẫn phải mua thêm nhiên liệu
dự trữ là các cành cây, gốc cây, cây con không sử dụng được để đốt lò, qua đó việc đốt lò bằng phương pháp thủ công vẫn là chủ yếu
Trang 353.3.2 Khảo sát, đánh giá lò sấy và thiết bị
Khảo sát và đánh giá thiết bị sấy để qua đó chúng ta xác định được số lượng cũng như các thông số của từng loại thiết bị có đáp ứng được yêu cầu của chế độ sấy hay không, qua đó đánh giá được ảnh hưởng của thiết bị tới kế hoạch sấy và chi phí sấy gỗ
3.3.2.1.Vỏ lò sấy
Hiện tại công ty có tổng cộng 14 lò sấy, 4 lò sấy ở phân xưởng 1 và 10 lò sấy ở phân xưởng 2 Hệ thống lò sấy mà công ty đang sử dụng là sử dụng nguồn nhiệt cấp ở dạng hơi nước, đặc tính tuần hoàn ngang đứng kiểu chu kỳ
Công suất mỗi lò khoảng 60m3 Các lò được trang bị hệ thống thiết bị hiện đại với hệ thống điều khiển tự động hóa bằng bộ điều khiển tự động HOLZMEISTER của HELIOS, đây là bộ điều khiển tự động hiện đại và tính
ổn định cao đang được sử dụng phổ biến trên thế giới Ở phân xưởng 2 hệ thống lò sấy được xây dựng mới hàng loạt cả 10 lò sấy xây dựng sau nên có sự khác biệt về cấu tạo lò sấy, tuy nhiên về diện tích và tính năng là như nhau
+ Thông số kỹ thuật về lò sấy:
Kích thước bao ngoài lò (dài x rộng x cao)= 7,9 x 7,1 x 6,0 (m)
Kích thước bao trong lò (dài x rộng x cao)= 7,3 x 7,1 x 5,9 (m)
Kích thước cánh cửa chính (dài x rộng x cao)= 7000 x 4700 x 100 (mm) Kích thước cánh cửa thăm (dài x rộng x cao)= 600 x 1200 x 100 (mm) Kích thước cửa trao đổi không khí (dàixrộng xcao)= 400x400x300(mm)
Vỏ lò sấy bao gồm: Tường lò, trần lò, nền lò và cửa lò Tất cả có chức năng ngăn cách không gian trong lò sấy với môi trường xung quanh Vỏ lò phải đảm bảo kín khít, cách ẩm, cách nhiệt để đảm bảo quá trình trao đổi sấy diễn ra đúng tiến độ
Một vỏ lò sấy đảm bảo yêu cầu phải có:
- Hệ số truyền nhiệt max qua vỏ lò sấy Kmax=4kcal/ m2.oC ≈ 3,5 W/m2
.oC
- Độ kín khít cho phép khi đóng cửa lò sấy không gây biến động trạng
Trang 36Nếu các bộ phận của lò sấy không được tính toán thiết kế một cách hợp
lý gây thất thoát nhiệt quá lớn thì sẽ làm tăng chí phí sấy và ảnh hưởng tới kế hoạch đã đề ra trước đó mà chất lượng của sản phẩm cũng không đạt yêu cầu
3.3.2.2 Thiết bị sấy
a.Nồi hơi
Hiện tại công ty có 3 nồi hơi, một ở xưởng 1 và 2 nồi hơi ở xưởng 2, xưởng 1 cung cấp cho 4 lò sấy, xưởng 2 cứ một nồi hơi cung cấp cho 5 lò sấy Thông số về nồi hơi xưởng 1: - Áp suất làm việc max: 0,6 Mpa
- Nhiệt độ hơi bão hòa: 1700C
- Kích thước cửa nạp nhiên liệu: 420 x 330mm
- Kích thước cửa lấy xỉ: 420 x 330 mm
- Công suất thiết kế: 1000kg hơi / h Thông số về nồi hơi xưởng 2:
- Áp suất làm việc max: 0,6 Mpa
- Nhiệt độ hơi bão hòa: 1700C
- Kích thước cửa nạp nhiên liệu: 830 x 650mm
- Kích thước cửa lấy xỉ: 400 x 200 mm
- Công suất thiết kế: 2500kg hơi / h Hai phân xưởng có hệ thống bơm nước tự động khi nồi hơi thiếu nước
b Hệ thống ống dẫn, van
Thiết bị tản nhiệt: Ống tản nhiệt tại công ty làm bằng thép chuyên dùng,
cánh tản nhiệt làm bằng hợp kim nhôm
Thông số về thiết bị tản nhiệt:
Trang 37- Đường kính ngoài ống: Ф = 20mm
- Số lượng ống: 16 ống ( mỗi bên dàn 8 ống)
- Chiều dài ống: 3m
- Cánh nhôm dập profin, đường kính: 60mm
Thiết bị phun ẩm: Được làm bằng các ống thép trơn có khoan lỗ để
phun hơi nước vào lò sấy
Thông số về thiết bị phun ẩm bao gồm:
- Đường kính ống phun ẩm: Ф = 21 mm
- Chiều dài ống phun ẩm: 6,8 m
- Đường kính lỗ phun: 2 mm
- Ống phun ẩm được đặt cách tường 150mm, cách mặt nền 3500mm Tại xưởng 1 thiết bị phun ẩm bị rò khá nhiều gây rò rỉ nước trong quá trình hoạt động tạo thành vũng nước ngay trong nền lò sấy, điều này ảnh hưởng lớn tới chất lượng gỗ sấy tại khu vực rò nước dẫn tới gỗ bị khô không đều ở các
vị trí khác nhau
Quạt gió: Tất cả các quạt của công ty đều là dạng trục với số lượng 3
chiếc/ lò cho 2 lò sấy được xây dựng đầu tiên ở xưởng 1, còn lại tất cả các lò đều có 4 quạt/ lò, quạt có thể đảo chiều quay Thông số của quạt như sau:
- Số lượng cánh đẩy gió: 6 cánh/ quạt
- Chiều dài sải cánh quạt: 0,4 m
+ Lò có số lượng 4 chiếc/ lò
- Đường kính: 0,8 m
- Công suất động cơ: 4 Kw