1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế nội thất phòng ngủ dành cho cặp vợ chồng trẻ trí thức và bộ bàn ghế trang điểm

87 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang trí nội thất và kiến trúc-mối quan hệ gắn bó Sự khác biệt giữa thiết kế kiến trúc và thiết kế trang trí nội thất Thiết kế kiến trúc bao gồm các bản vẽ 2D thiết kế bố trí không gi

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn: GS.HS Lê Thanh, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này!

Tôi xin chân thành cảm ơn các phòng ban, trung tâm khai thác thông tin thư viện trường Đại Học Lâm Nghiệp cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chế Biến Lâm Sản đã tận tình giúp đỡ trong thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại trường

Cũng nhân dịp này cho tôi gửi lời cảm ơn đến toàn thể cán bộ, nhân viên

bộ môn công nghệ mộc, thiết kế nội thất cùng toàn thể các bạn đồng nghiệp

và gia đình đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khoá luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện

Dương Thị Tuyết

Trang 2

2

ĐẶT VẤN ĐỀ

“Thiết kế nội thất nh¯ ở” l¯ một thuật ngữ mới xuất hiện v¯ phát triển phổ biến rộng rãi ở Việt Nam trong những năm gần đây Song song với quá trình phát triển của các ngành nghệ thuật: Hội hoạ, diễn hoạ, điêu khắc Thiết kế nội thất là một ngành nghệ thuật nó quan trọng, hữu ích cho cuộc sống và đắt giá nh- bất kì ngành nghệ thuật nào Hiện trạng thiết kế nội thất th-ờng đ-ợc

ít các nhà KTS quan tâm nhiều khi thiết kế một ngôi nhà, hầu hết nội thất

đ-ợc thiết kế sau khi phần thô của ngôi nhà đã đ-ợc xây xong, cho nên ngôn ngữ thiết kế cho nội thất nhiều khi bị hạn chế Các nhà KTS hầu hết chỉ quan tâm đến vỏ nhà bên ngoài mà ít quan tâm đến sự hợp lý của công năng bên trong Vấn đề đặt ra cho thiết kế nội thất là: công năng, hợp lý, nghệ thuật Vậy mục đớch của thiết kế nội thất nhà ở là gỡ? Ta thấy: Với cuộc sống ngày càng hiện đại, mức sống ngày càng nõng cao, con người lao vào guồng quay của tiền bạc, cụng việc, và cỏc trũ tiờu khiển khỏc; “Tỡnh Yờu” là yếu tố lớn nhất làm cõn bằng cuộc sống của chỳng ta Một ngụi nhà của riờng mỡnh với những phỳt giõy riờng tư luụn là mong muốn và là đớch đến của nhiều đụi

vợ chồng trẻ hiện nay Vỡ vậy “ ngụi nhà hạnh phỳc” là “mún quà” mà cỏc kiến trỳc sư, và cỏc nhà thiết kế nội thất đem lại cho cỏc cặp vợ chồng ngay từ giõy phỳt tạo dựng “tổ ấm” ban đầu Đỏp ứng sự hài lũng, toại nguyện của chủ hộ gia đỡnh

Được sự hướng dẫn của G.S Lờ Thanh, và với niềm đam mờ thiết kế một

ngụi nhà hạnh phỳc, em thực hiền đề tài của của mỡnh là “ thiết kế nội thất

phũng ngủ dành cho cặp vợ chồng trẻ trớ thức và bộ bàn ghế trang điểm

Trang 3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THIẾT KẾ NỘI THẤT

1 Nội thất, thiết kế nội thất là gì? có từ bao giờ?

a Nội thất là gì?

Nội thất là một môn nghệ thuật,khoa học:Môi trường vừa tiện nghi vừa văn hóa.Cuộc sống của chúng ta chủ yếu diễn ra ở bên trong những không gian nội thất do các cấu trúc và mái che của các công trình tạo nên Những người sống bên trong những ngôi nhà đã được định hình bởi kiến trúc thường

có vướng mắc chính là làm sao cho không gian nội thất phải thật đẹp, thoải mái, thuận tiện Những vướng mắc cần xử lý trong không gian nội thất được xác định đó là những dầm cột chịu lực, những bức thiết kế tường , mái che hiện hữu bên trong ngôi nhà Chính vì vậy, họ cần đến một đơn vị chuyên nghiệp về nội thất để giúp thiết kế, giám sát thiết kế và thi công, tạo ra những ngôi nhà với một vẻ đẹp thẩm mỹ và tiện ích nhất

Vậy nội thất là gì? Người ta vẫn thường hiểu nó là những cái bàn, ghế, giường, tủ, v.v… trong nhà Thực tế thì không phải như vậy, nội thất là nghệ thuật xử lý không gian bên trong ngôi nhà Nó là phần hồn trong kiến trúc, nó tôn bật dáng vẻ của kiến trúc Những vật chất này nhằm thoả mãn yêu cầu cơ bản về nơi ở, bảo vệ và tạo điều kiện đến hình thức hoạt động của chúng ta, chúng nuôi dưỡng niềm hy vọng, thể hiện các ý tưởng kèm theo các hoạt động của chúng ta, chúng tác động đến trạng thái và nhân cách của chúng ta Yếu tố cấu thành nên một không gian nội thất đó là sự kết hợp của tỷ lệ, đường nét, mảng miếng, hình khối, màu sắc, chất liệu, ánh sáng và tỷ lệ xích Các yếu tố đó gắn kết chặt chẽ với nhau tạo nên một không gian trọn vẹn, đồng bộ, thể hiện được nội dung cần nói đặc thù của công trình Vì vậy, một công trình nội thất phải đáp ứng được những yêu cầu sau bất kể tính chất của công trình như thế nào:

Trang 4

Thiết kế nội thất là việc tổ chức tất cả sản phẩm của mỹ thuật ứng dụng

vào trong không gian, sao cho không gian hài hòa về tổng thể, bố cục, màu sắc, ánh sáng và tính coông năng cao Những yếu tố cần thiết cho một không gian nội thất: Công năng, ích dụng, thẩm mỹ Trang trí nội thất còn cần đến nhu cầu sử dụng của từng đối tượng cụ thể, từng công việc cụ thể Vì vậy khi làm thiết kế cần tuân thủ các bước như trên

Thiết kế nội thất bao gồm quy hoạch, bố trí và thiết kế các không gian bên trong của công trình mục đích của thiết kế nội thất là sự hoàn thiện các chức năng, làm phong phú tính thẩm mỹ và nâng cao tâm lý đối với không gian bên trong

Trang 5

c Trang trí nội thất có từ bao giờ?

Thật khó xác định ngành trang trí nội thất đã có từ bao giờ.Nhiều người cho rằng nó bắt đầu với lịch sử của ngành kiến trúc.Tuy nhiên khi phát hiện được những hang động mà người tiền sử sinh sống,với những hình thú vật được tổ tiên xa xưa từ thời còn ăn long ở lỗ vẽ lên để “trang trí” cho “nội thất” của mình Chúng ta có thể đoán rằng ý thức về trang trí nội thất,khát vọng làm đẹp cho chỗ ở của mình (dù đó chỉ là một cái hang),có lẽ đã hình thành trong suy nghĩ của nhân loại trước khi chúng ta có ý thức về kiến trúc công trình rất lâu.Và ý thức ấy qua dòng chảy của lịch sử nhân loại, đã phát triển thành một nghề phổ biến trong xã hội, thu hút một lực lượng con người tài ba và đầy sáng tạo : nghề trang trí nội thất

Trang trí nội thất và kiến trúc-mối quan hệ gắn bó

Sự khác biệt giữa thiết kế kiến trúc và thiết kế trang trí nội thất

Thiết kế kiến trúc bao gồm các bản vẽ 2D thiết kế bố trí không gian các phòng, khai triển kỹ thuật chi tiết để thi công như: Chi tiết mặt tiền, Mặt cắt công trình, Chi tiết cầu thang – Lan can, Khai triển khu vệ sinh, Cửa các loại, Khai triển trần – bố trí ánh sáng, Các mảng sàn – tường – trần có trang trí, bảng ghi chú màu sắc, chủng loại vật liệu trang trí Thiết kế trang trí nội thất

là đi sâu vào thiết kế không gian bên trong nhà thông qua các bản vẽ 3D Các bản vẽ 3D thể hiện như hình ảnh thực không gian trong nhà với sự phối hợp giữa các vật liệu – màu sắc – kiểu dáng sản phẩm (nếu bạn yêu cầu thiết kế

kiểu dáng sản phẩm)

Ngành trang trí nội thất là bạn đồng hành than thiết và cũng là trợ thủ đắc lực của ngành kiến trúc.Một công trình kiến trúc dù có quy mô hoành tráng, hình khối độc đáo và kiểu dáng hiện đại mà phần trang trí nội thất,thiết kế không gian sử dụng bên trong không tiện dụng, không hài hòa về mặt thẩm

mỹ cũng sẽ trở thành một công trình bình thường

Bởi vậy có thể nói nhà thiết kế nội thất là cánh tay nối dài trong việc hoàn thiện và thổi sự sống vào cho các công trình của kiến trúc sư Cũng có

Trang 6

6

thể ví như kiến trúc sư công trình sản sinh ra một cơ thể sống, còn các nhà thiết kế nội thất chăm chút trang điểm để cơ thể sống đó trở thành đẹp đẽ và thích hợp

Kiến trúc sư công trình và nhà thiết kế đều phải trang bị khá nhiều kiến thức giống nhau.Cả hai nghề nghiệp đều thuộc nhóm ngành nghệ thuật nên họ phải trang bị đầy đủ các kiến thức về mặt thẩm mỹ: Tư duy về bố cục không gian,hình khối đường nét, phối hợp màu sắc…

Bên cạnh đó cả hai nghề nghiệp đều đòi hỏi các kiến thức khoa học kỹ thuật như: Các tiêu chuẩn quy phạm của ngành kiến trúc xây dựng, cấu tạo chi tiết kiến trúc, tính năng các loại vật liệu, thong số kỹ thuật của trang thiết

bị trong công trình Họ cùng phối hợp với các kỹ sư phụ trách kỹ thuật như điện, máy lạnh, cấp thoát nước, phòng cháy, thông tin liên lạc để đảm bảo tác phẩm của mình đáp ứng mọi yêu cầu về mặt kỹ thuật xây dựng

Ở nước ta trước đây không có ngành trang trí nội thất, vì vậy kiến trúc sư thường đảm nhận luôn việc này.Từ năm 1990 đã có một số đơn vị thiết kế tập trung chuyên môn vào lĩnh vực trang trí nội thất và dần biến thành công ty trang trí nội thất chuyên nghiệp.Tuy nhiên, lực lượng thiết kế chủ đạo của các công ty này phần lớn vẫn xuất phát từ ngành kiến trúc sư

Hiện nay với nhu cầu lớn của xã hội, một số trường đã đào tạo ngành học trang trí nội thất Đây là điều kiện thuận lợi cho những bạn trẻ có mong muốn

đi theo con đường của nhà thiết kế nội thất được đào tạo bài bản hơn Tuy nhiên, ngay cả trên thế giới, sự đan xen công việc giữa kiến trúc sư và nhà thiết kế nội thất vẫn là phổ biến

Trang 7

Đặc thù riêng của trang trí nội thất

Về mặt kết cấu công trình, các nhà trang trí nội thất có thể “nhẹ gánh” hơn đôi chút so với kiến trúc sư công trình vì họ không phải làm việc trực tiếp với các kỹ sư kết cấu-những người tính toán độ chịu lực và thiết kế kết cấu Tuy nhiên các kiến thức về mặt kết cấu vẫn cần thiết cho các nhà thiết kế nội thất, vì nó giúp họ hiểu rõ hơn ý đồ của kiến trúc sư công trình, cũng như chủ động hơn trong công việc tìm phương án tối ưu cho không gian nội thất của công trình

2.Vai trò và xu hướng phát triển của trang trí nội thất

a.Yêu cầu cấp thiết trang trí nội thất với không gian kiến trúc

Nhu cầu về trang trí nội thất ngày càng cao và cấp thiết trong kiến trúc đáp ứng nhu cầu vật chất và văn hóa tinh thần của con người đương đại trước

sự phát triển của cuộc sống

Trước đây, điều kiện kinh tế, nhu cầu thụ hưởng và mức sống còn hạn chế, trừ một số ít người có điều kiện về kinh tế và tiếp xúc nhiều bên ngoài, đại đa số người dân tích cóp tài chính suốt thời gian dài làm việc, mong mỏi xây dựng được căn nhà làm nơi ăn chốn ở, do vậy việc xây dựng hoàn tất thường chỉ dừng lại ở mức xây dựng cơ bản với các vật liệu phủ, ốp lát đơn thuần Rất nhiều công trình người dân tự mò mẫm sao chép, cóp nhặt về hình thức mà không cần sự tham gia của các kiến trúc sư, nhà thiết kế, dẫn đến sự hỗn loạn về hình thức kiến trúc, không gian ở bên trong không được phân chia chức năng sử dụng hợp lý cũng như những đầu tư cần thiết về trang thiết

bị nội thất Các công trình công cộng cũng trong trình trạng tương tự, chỉ những công trình có nguồn vốn đầu tư liên doanh với nước ngoài thì được thiết kế xây dựng hoàn thiện bởi những công nghệ và vật liệu hiện đại, còn lại phần lớn công trình chỉ hoàn thiện phần xây dựng cơ bản sau đó lắp ghép các thiết bị đồ đạc cho mục đích sử dụng thực tế Một thời gian dài quanh quẩn với với phương thức xây dựng lạc hậu, việc tiếp cận và ứng dụng trang trí nội thất công trình kém phát triển rất nhiều so với với các nước trong khu vực

Trang 8

8

Hiện nay, kinh tế phát triển trình độ nhận thức và nhu cầu cải thiện điều kiện sống ngày một bức thiết Trong kiến trúc xây dựng, những quy chuẩn nhà nước buộc các công trình phải có thiết kế từ các kiến trúc sư và các đơn vị có chức năng Hội nhập kinh tế giúp tiếp nhận nhiều tiến bộ khoa học, công nghệ xây dựng mới cũng như đón nhận nguồn vật liệu xây dựng từ nước ngoài vào làm nóng thị trường vật liệu xây dựng rất phong phú về chủng loại,

đa dạng về mẫu mã đáp ứng tối đa nhu cầu của các nhà thiết kế và chủ đầu tư Các lý do trên đã thúc đẩy làm thay đổi quan điểm để xây dựng công trình kiến trúc phải đạt tiêu chuẩn tiện nghi tối đa, đáp ứng mọi nhu cầu về công năng thẩm mỹ và công năng tinh thần của người sử dụng Đầu tư chi phí cho phần trang trí nội thất dần chiếm phần quan trọng trong xây dựng cơ bản Trong tương lai, việc thiết kế trang trí nội ngoại thất công trình là bắt buộc, như vậy nhu cầu trang trí nội thất là rất lớn và cấp thiết, liệu ngành thiết kế trang trí nội thất có thể lớn mạnh, phát triển và đáp ứng kịp thời nhu cầu này của xã hội?

Xu thế hội nhập toàn cầu và việc nước ta vừa ra nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), mở ra nhiều vận hội và thách thức mới Trong quá trình hội nhập, chúng ta sẽ tiếp nhận nhiều công nghệ xây dựng và sản xuật vật liệu tân tiến hiện đại, nguồn vật liệu phong phú với giá thành cạnh tranh, do vậy người tiêu dùng càng có nhiều cơ hội tiếp cận sử dụng để nâng cao chất lượng không gian sống của mình, càng khẳng định tính cấp thiết, vai trò và nhu cầu to lớn của trang trí nội thất trong lĩnh vực kiến trúc, xây dựng

để chúng ta không bị tụt hậu mà có thể lớn mạnh, tạo dựng được phong cách, khẳng định vị thế nước ta trên trường quốc tế, người dân được hưởng môi trường, điều kiện sống tiện nghi hiện đại, phù hợp với sự phát triển chung của

xã hội

Trang 9

b Nhu cầu về trang trí nội thất

Ngày nay, cuộc sống vật chất và tinh thần trên mặt bằng chung xã hội ngày một tiến bộ, không chỉ đáp ứng những nhu cầu cơ bản, con người còn muốn được hưởng thụ chất lượng nhiều và cao hơn từ cuộc sống, nghệ thuật

và mỹ thuật trở nên không thể thiếu bên cạnh các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người như ăn, ở, mặc, đi lại, văn hóa, giải trí, sức khỏe, học tập, phát triển do vậy, tất yếu vai trò của nghệ thuật và mỹ thuật ngày một quan trọng, có nhu cầu rất lớn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, nhất là trong kiến tạo môi trường sống cho con người Mặt khác, khi môi trường sống xuất hiện nhiều bóng dáng của mỹ thuật thì đồng thời cũng có tác dụng giáo dục làm tăng thị hiếu và khả năng cảm thụ nghệ thuật, thẩm mỹ của đông đảo quần chúng, đẩy mức sống tinh thần con người ngày một cao hơn, đó cũng làm mục tiêu phát triển của mọi chế độ xã hội

Công nghệ tin học phát triển, con người với nền khoa học kỹ thuật biến đổi nhanh chóng, vật liệu và chất liệu phong phú đa dạng sẽ là mảnh đất màu mỡ cho nghệ thuật phát triển Nghệ thuật – mỹ thuật ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nhu cầu cuộc sống của con người Ngày càng có nhiều hình thức mới được con người sáng tạo để đáp ứng những nhu cầu ấy Các vật liệu phong phú, đa dạng sẽ là những chất liệu để con người khai thác, tạo ra những sản phẩm, những không gian sống tươi đẹp

Mỹ thuật cổ truyền dân tộc đã để lại cho chúng ta những hợp thể kiến trúc, nghệ thuật trang trí và tạo hình Kiến trúc mà không có mỹ thuật cũng như mỹ thuật không có cuộc sống thì không thể tồn tại, vươn lên và phát triển Cái đẹp của nghệ thuật tạo hình và mỹ thuật trang trí thông qua kiến trúc – trang trí nội thất, nghệ thuật điêu khắc, hội họa và trang trí phát huy tiếng nói của mình, hòa hợp trong hợp thể chung, qua đó thể hiện những giá trị nội dung và nghệ thuật với tư tưởng nhân văn thời đại, được khai thác và kế thừa trong tương lai Mỹ thuật truyền thống, nghệ thuật tạo hình, trang trí tham gia rất chặt chẽ vào quá trình kiến tạo môi trường, không gian sống của con

Trang 10

10

người, nghệ thuật điêu khắc, tượng đài, chạm khắc, phù điêu, tranh trang trí, tranh ghép, tranh khắc với các thủ pháp ước lệ, tượng trưng, cách điệu luôn đắc dụng và hiệu quả trong kiến trúc và trang trí nội ngoại thất Nội thất thường được dùng điêu khắc (tượng tròn), trang trí (tranh vẽ) với các đề tài cung đình, tôn giáo hay đời thường, ngoại thất với tượng tròn, phù điêu đắp phía ngoài qua đó, cho thấy kiến trúc – tạo hình – trang trí gắn bó mật thiết với nhau để biểu đạt phong cách và vẻ đẹp của mình

Như vậy, nghệ thuật và mỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong công trình kiến trúc và trang trí nội thất, xu hướng này ngày càng phát triển mạnh

me nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống Các nhà thiết kế và hoạt động mỹ thuật phải không ngừng tìm tòi, kế thừa từ mỹ thuật truyền thống để đưa ra những thiết kế thiết thực nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống

c Hiện trạng trang trí nội thất Việt Nam

Từ 1986 đến nay, với những chủ trương chính sách đổi mới về mọi mặt kinh tế, xã hội, chính trị của Đảng và nhà nước đã đem lại những bước phát triển lớn về kinh tế xã hội Đời sống xã hội ngày càng được nâng cao, nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của người dân ngày một cao, ăn ngon, mặc đẹp, không chỉ có chỗ để ở mà phải tiện nghi, hiện đại Người ta không chỉ xây dựng nhà với hình thức kiến trúc đẹp mà đã giành những phần kinh phí lớn hơn chi phí xây dựng cơ bản để trang trí nội thất bên trong, tạo những không gian ở bên trong thật tiện nghi phục vụ cho chính cuộc sống của bản thân và gia đình ở mức cao nhất mà kinh tế cho phép Từ lẽ đó mà những năm gần đây, nhu cầu của trang trí nội thất ngày càng nhiều và không thể thiếu trong qui trình xây dựng nhà ở cũng như những công trình công cộng khác Tạo cho người Việt Nam có cách nhìn mới và nhu cầu trang trí nội thất song hành với việc xây dựng nhà Những tiến bộ vượt bậc, nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin làm cho việc thiết kế, tham khảo, tư liệu về hình thức ngôn ngữ trang trí ngày một đơn giản, thuận lợi, sự phong phú, đa dạng của các vật liệu trang trí với những tiến bộ về tay nghề và kỹ thuật trong thi

Trang 11

công công trình đã mang lại cho chủ đầu tư công trình rất nhiều sự lực chọn

để có được một không gian ở tiện nghi , đạt trình độ thẩm mỹ nhất định phù hợp về tài chính Cũng nhờ vậy trình độ hưởng thụ và thẩm mỹ của người dân được nâng cao, góp phần thúc đẩy hoạt động ngành trang trí nội thất ngày một lớn mạnh để đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại

Về chuyên ngành, từ trước đến nay trang trí nội thất vẫn ít được nhắc đến trong kiến trúc, chỉ được xem như là một thành tố của kiến trúc mặc dù các kiến trúc sư không phải ai cũng có thể đi sâu, hiểu tường tận và thiết kế được những không gian sống cụ thể, đáp ứng được công năng, thẩm mỹ của từng đối tượng sẽ sống và thụ hưởng không gian ở bên trong công trình kiến trúc ấy hơn các họa sĩ làm trang trí nội thất vốn còn non trẻ chưa đủ khẳng định vị trí của mình Đó còn là những thách thức lớn và hạn chế mà đến nay, trang trí nội thất vẫn chưa có chỗ đứng đúng tầm của mình

Trang trí nội thất thường tạo lập không gian bên trong cách phù hợp với kiến trúc bên ngoài công trình Phân loại dưới đây được nhận định trên cơ

sở của hình thức và phong cách kiến trúc đang phổ biến ở một số thể loại công trình nhà tiêu biểu như biệt thự, nhà phố, nhà ở cao tầng:

- Nệ cổ, giả cổ

- Kế thừa và chọn lọc những đặc tính truyền thống

- Kế thừa và phát triển trên cơ sở hiện đại và truyền thống

- Phong cách hiện đại

Trang 12

12

d Xu hướng phát triển của trang trí nội thất

Trang trí nội thất sẽ ngày một phát triển mạnh theo nhịp độ phát triển của kiến trúc, dựa theo tiêu chí của các yếu tố: kết cấu, công năng, thẩm mỹ theo quan niệm nhận thức (thẩm mỹ), điều kiện kinh tế Tầm quan trọng của trang trí nội thất đối với công trình cũng như mức độ đầu tư về trang trí và thiết bị nội thất đang chiếm tỉ lệ ngày một lớn

Hình thức biểu hiện trong trang trí vẫn dựa trên một số hình thức đã hình thành từ trước đến nay đó là nệ cổ, giả cổ hoặc ngoại lai hoặc kế thừa và chọn lọc những đặc tính truyền thống, kế thừa và phát triển trên cơ sở hiện đại và dân tộc

Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập thế giới trên cơ sở phát huy bản sắc của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Các công trình kiến trúc và trang trí nội thất ở Việt Nam có xu hướng quay trở về với truyền thống dân tộc, từ hình thức trang trí, bố trí không gian, đồ đạc, chất liệu và màu sắc, hòa nhập vào thiên nhiên cách nhìn về truyền thống dân tộc của người thiết kế và người sử dụng cũng sẽ có chiều sâu hơn, không đơn thuần chỉ là những mô típ hay chi tiết bề ngoài Quá trình giao lưu kiến trúc và nghệ thuật với các nước, thường bắt đầu là sự phản ứng, xung đột trước các hình thức mới lạ, sau đó là quá trình đối thoại, tìm hiểu, để rồi tiếp nhận và thử nghiệm, kế tiếp là sáng tạo và phát triển Chỉ đến khi có sự hoán cải, tiếp biến cả nội dung lẫn hình thức giữa truyền thống và tiếp thu những cái mới thì mới thể hiện được tinh thần dân tộc, nâng nó lên tầng cao mới và có thể hòa nhập được với thế giới Việc phát triển ngành thiết kế và tư vấn thiết kế sẽ giúp nhà thiết kế và người sử dụng phối hợp tạo dựng những không gian nội thất hoàn thiện

Kế thừa và phát triển trên cơ sở vừa hiện đại vừa dân tộc cũng là một xu hướng lớn để phù hợp với hoàn cảnh và cuộc sống hiện đại Bản sắc dân tộc luôn có nhu cầu tiếp nhận và vận động để phát triển Những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ trong lĩnh vực vật liệu và thi công công trình sẽ tác động nhiều vào quá trình này Tuy nhiên, sẽ có những mặt hạn chế vì sẽ ít dần

Trang 13

những tác phẩm nghệ thuật – mỹ thuật thể hiện bằng phương pháp thủ công

truyền thống Sử dụng các tác phẩm mỹ thuật một cách lạm dụng thiếu cân

nhắc sàng lọc, chiều theo những yêu cầu thị hiếu hạn chế của chủ công trình

đôi khi làm không gian bị loãng hoặc quá ôm đồm dẫn đến sự rối rắm trong

nội thất đang khá phổ biến trong thời buổi cơ chế thị trường

Kéo theo sự phát triển của ngành thiết kế trang trí nội thất, việc đào tạo

trang trí nội thất đang phát triển rất nhanh, để đáp ứng nhu cầu thiết kế và tư

vấn trang trí nội thất công trình của xã hội, hiện đang thu hút rất đông sinh

viên tham gia đăng ký vào ngành học tiềm năng này trong các trường đại học

có mở khoa mỹ thuật công nghiệp - ngành đào tạo trong các trường đại học có

mở khoa mỹ thuật công nghiệp - ngành đào tạo thiết kế nội thất, nhất là trên

điạ bàn thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, nếu không đầu tư xây dựng

chương trình giảng dạy tiên tiến, đội ngũ giáo viên chuẩn mực có đầy đủ kiến

thức và bản lĩnh nghề nghiệp, đồng thời định hướng chiến lược phát triển lâu

dài thì không thể đào tạo được những nhà thiết kế giỏi, đủ sức hình thành

những phong cách thể hiện bản sắc kiến trúc dân tộc Việt Nam, cũng như đáp

ứng kịp thời nhu cầu ngày càng cao của xã hội, thúc đẩy sự lớn mạnh, phát

triển của ngành thiết kế trang trí nội thất Việt Nam

Ta thấy: Không gian bên trong căn nhà Việt là:

+ Là khải hoàn môn cho người đi xa trở về

+ Là nơi hun đúc tinh thần - tâm hồn người Việt

+ Giải thoát nỗi lo âu và sự khủng hoảng tinh thần trước cuộc sống hiện đại; Nơi mỗi người nhận được sự yêu thương trìu mến, xoa dịu những nỗi đau

cuộc đời

+ Nơi thể hiện tinh thần người Việt

Tất cả nói lên vai trò của nghệ thuật trang trí nội thất với đời sống xã hội

Trang 14

điệu tạo cảm giác ấm cúng và gần gũi bằng nhiều vật liệu nội ngoại thất độc

đáo Phần lớn các công ty thiết kế nội thất đều thực hiện từ A tới Z các dịch

vụ Từ việc t- vấn, cung cấp các vật liệu, đến thiết kế, thi công Điều đó có nghĩa l¯ họ “ôm sô” từ ý tưởng thiết kế cho đến khi ho¯n th¯nh công trình Yếu tố đầu tiên cần phải có đó là có khiếu thẩm mỹ cao Khả năng phối màu sắc và bày trí theo không gian cũng nh- thiết kế các vật liệu sao cho phải

đảm bảo sự hài hòa với kiến trúc tổng thể lại vừa mang tính mỹ thuật cao cho công trình là điều sẽ quyết định bạn có phải là một dân nội thất chuyên nghiệp hay không

Thêm một yếu tố nữa đó

là sự sáng tạo, khả năng quan

sát, tìm tòi và học hỏi những

xu h-ớng mới, chất liệu mới

của thế giới để đảm bảo mang

lại cho khách hàng những mẫu

thiết kế mốt nhất, sành điệu

nhất Bên cạnh đó, đôi khi có

những khách hàng nhu cầu

khá cao mà những vật liệu trong n-ớc không đáp ứng đ-ợc đòi hỏi nhà thiết

kế bắt buộc phải ra n-ớc ngoài tìm hiểu và nhập hàng về để thực hiện yêu cầu của khách, điều này đòi hỏi bạn phải là ng-ời năng động, linh hoạt và chịu

đ-ợc áp lực cao

Trang 15

CHƯƠNG II: MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.Mục tiêu nghiên cứu thiết kế

- phòng ngủ dành cho cặp vợ chồng trẻ

Phòng ngủ - Là nơi dành cho những cảm xúc thăng hoa trong cuộc sống vợ chồng vì vậy phòng ngủ cần được trang trí sao cho thật lãng mạn và mời gọi Việc kết hợp màu sắc, lựa chọn chất liệu và sắp xếp bố trí phòng ngủ có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý và đời sống của các cặp vợ chồng Không chỉ những cặp vợ chồng mới cưới mà ngay cả những đôi vợ chồng đã sống với nhau nhiều năm cũng cần cho mình một không gian thật lãng mạn để tạo điều kiện tốt nhất cho những cảm xúc được hâm nóng và nuôi dưỡng

- Bàn trang điểm: Là sản phẩm nội thất không thể thiếu trong phòng

ngủ của chị em, bàn trang điểm trên thị trường hiện nay đặc biệt phong phú các kiểu dáng, màu sắc và giá thành…

Trước đây, bàn trang điểm rất cầu kỳ với hệ thống bàn to, kính soi lớn, chiếm nhiều diện tích Nhưng giờ đây, các nhà sản xuất lại đưa ra những kiểu bàn trang điểm gọn, nhẹ và đa dạng về màu sắc Chúng có kiểu dáng thanh mảnh, ít hộc bàn hơn và dùng ray trượt nên tạo nhiều thuận lợi cho người dùng Chất liệu đa phần là gỗ ép công nghiệp, phủ sơn mài hay sơn bóng, hoặc mỡ Ngoài ra cũng có một số kiểu được làm bằng chất liệu đặc thù hơn như sắt uốn hay kính chịu lực, nhưng loại này ít phổ biến Thông thường, bàn trang điểm "ăn theo" kiểu dáng và màu sắc của giường, tủ áo nhằm tạo ra hiệu ứng thẩm mỹ chung cho không gian phòng ngủ

2.Nội dung và phạm vi thiết kế

a Thiết kế nội thất nhà ở dành cho cặp vợ chồng trẻ trí thức gồm: Phòng ngủ và bộ bàn ghế trang điểm : Hiện đại, tiện nghi, sang trọng, tươi sáng, ấm cúng, độc đáo, thể hiện vị thế gia chủ trong xã hội, là nơi khởi nguồn của tình yêu , tiền đồ, hạnh phúc

b Quy hoạch, bố trí, và thiết kế không gian bên trong của công trình:

Không gian đẹp; vật dụng tiện nghi, hiện đại, ăn nhập với không gian; Cách

bố trí nội thất hợp lý, khoa học

Trang 16

16

3.Phương phỏp thiết kế:

Ph-ơng pháp khảo sát hiện trạng:

- Khảo sát hiện trạng công trình

- Khảo sát đối t-ợng sử dụng

- Khảo sát đồ đạc và thiết bị sử dụng cho thiết kế:

Ph-ơng pháp tham khảo tài liệu:

- Tài liệu về thiết kế nội thất

- Các thông số kỹ thuật dành cho thiết kế nội thất

- Tài liệu về vật liệu trong thiết kế nội thất

- Tài liệu nghiên cứu văn hoá nội thất Việt Nam và hiện đại

- Tài liệu về vật liệu trong thiết kế nội thất

- Tài liệu nghiên cứu văn hoá nội thất Việt Nam và hiện đại

- Các nguồn tài liệu khác từ tr-ờng ĐHLN, tr-ờng ĐH Mỹ thuật công nghiệp, ĐH kiến trúc

- Tài liệu trên Internet

- Th- viện quốc gia

- Tham khảo ý kiến từ các thầy cô giáo

- ý kiến của các chuyên gia liên quan đến thiết kế nội thất

4 Phần lên ý t-ởng và thiết kế:

- Lên ý t-ởng mặt bằng, các ph-ơng án thiết kế, đánh giá scác ph-ơng án thiết kế, lựa chọn ph-ơng án thiết kế

- Thể hiện các bản vẽ kỹ thuật bằng phần mềm AUTOCAD

- Ngoài ra còn sử dụng 3DMAX, PHOTOSHOP làm ảnh minh hoạ

Trang 17

CHƯƠNG III CƠ SỞ THIẾT KẾ

A – Cơ sở lý luận

1 Thiết kế nội thất

c Phân loại không gian nội thất

Yêu cầu của con ng-ời đối với không gian sinh hoạt nội thất (hoặc không gian tác nghiệp) không phải là một kích th-ớc cố định, đặc biệt là kích th-ớc không gian tâm lý yêu cầu chịu ảnh h-ởng của nhân tố môi tr-ờng Từ những yêu cầu khác nhau của con ng-ời đối với không gian nội thất có thể phân ra:

1) Không gian hành vi (không gian vật lý): Không gian thoả mãn nhu cầu hoạt động hành vi của con ng-ời, không gian th-ờng căn cứ vào kích th-ớc động thái cơ thể và phạm vi hoạt động hành vi để xem xét Nh- không gian nhà bếp cần có để hoàn thành các hoạt động bếp núc, không gian tắm cần

có để hoàn thành hoạt động tắm rửa,

2) Không gian sinh lý: Kích th-ớc không gian nhu cầu sinh lý của ng-ời yêu cầu, nh- kích th-ớc của cửa sổ để thoả mãn điều kiện lấy ánh sáng theo nhu cầu của thị giác, kích th-ớc thông gió theo yêu cầu của khứu giác và hô hấp,

3) Không gian tâm lý (không gian tri giác): Kích th-ớc không gian thoả mãn nhu cầu tâm lý của ng-ời, nh- chiều cao trần nhà không gây cảm giác đè nén

Trong sinh hoạt hàng ngày, giữa ng-ời và ng-ời có một khoảng cách không gian nhỏ nhất, gọi là không gian cá nhân (Personal Space) Phần trên đã nói, kích th-ớc của không gian này liên quan đến môi tr-ờng, dân tộc, tính biệt, Thí dụ, ở ô tô công cộng, trong tầu điện, không gian này rất nhỏ, còn ở phòng gia đình, không gian này t-ơng đối lớn Vì thế, thiết kế kích th-ớc không gian phải nhân thời, nhân địa, nhân nhân để thiết kế

d Tri giác tâm lý của ng-ời đối với không gian nội thất

1) Tri giác tâm lý đối với chiều dài

Các nhà khoa học Nhật Bản thông qua thực nghiệm nghiên cứu khi ng-ời

ở trong nội thất, đối với tri giác tâm lý kích th-ớc không gian, thu đ-ợc các kết quả thực nghiệm nh- sau:

Trang 18

18

 Ph-ơng h-ớng chính tiền:

Thông qua thực nghiệm phát hiện, cự ly tri giác tâm lý của 80% số ng-ời ngắn hơn cự ly thực tế, bình quân ngắn khoảng 1/8 Điều này có nghĩa là ng-ời ngồi đối diện với t-ờng, cự ly tri giác thực tế 1/8cm Nh-ng, khi có cửa

sổ đối diện trên t-ờng, thì cự ly tri giác so với không có cửa sổ dài 1/15 - 1/20;

cự ly trái phải cũng hẹp, cự ly tri giác t-ơng đối của h-ớng phía tr-ớc cũng xa

 Ph-ơng trái, phải:

Khi ng-ời ở trong nội thất, khoảng cách trái phải với t-ờng bằng nhau, cự

ly tri giác tâm lý và cự ly thực tế cơ bản nhất trí Và khi cự ly trái phải với t-ờng không bằng nhau, cự ly tri giác tâm lý phía gần dài hơn thực tế, và phía

2) Cảm giác tâm lý đối với diện tích

a Tri giác diện tích nội thất:

Sự thay đổi đối với diện tích nội thất từ 15-20 m2, có khoảng 80% số ng-ời không cảm nhận đ-ợc, các cạnh của phòng rút ngắn khoảng 1/10, đối với thay đổi diện tích không phản ứng đ-ợc trên tri giác tâm lý Đây là khoảng cách không khác biệt của tri giác tâm lý của ng-ời đối với diện tích

b Sai khác có ý thức và không có ý thức:

Diện tích tri giác khi vô ý thức chính xác hơn khi có ý thức, và khi dự

đoán có ý thức, rất nhiều nhân tố ám thị khác sản sinh tác động gây nhiễu, làm cho phán đoán không chuẩn xác

c Tình huống bình th-ờng:

ở ph-ơng diện tính chính xác của tri giác không gian, nữ (tính) giỏi hơn nam (tính), nh-ng nữ (tính) dễ bị ảnh h-ởng của các nhân tố ám thị khác gây

Trang 19

nhiễu (nh- mở cửa sổ, sắc màu, )

 Ứng dụng của cảm giác tâm lý

Các tài liệu tâm lý của kiến trúc nội thất có tác dụng chỉ đạo quan trọng

đối với thiết kế không gian kiến trúc nội thất Trong thiết kế xem xét tác dụng tâm lý của ng-ời, có thể lợi dụng không gian có hiệu quả, hợp lý Thí dụ, khoảng cách phía tr-ớc do cảm giác tâm lý ngắn lại, có thể dùng màu nhạt (nh- màu Lam) để điều tiết Ngoài ra, thông qua thay đổi yếu tố cấu tạo nội thất (vị trí cửa sổ, kích th-ớc, phối màu nội thất, ) để điều tiết không gian cảm giác

3) Yếu tố trang sức kiến trúc cửa, sàn nhà, trong không gian

nội thất Kiến trúc không gian nội thất các nhân tố phải xem xét rất nhiều, nh-, cửa, sàn nhà, màu sắc, thu âm, thông gió, , đối với màu sắc, chiếu sáng và thu âm, đã đ-ợc giới thiệu ở Ch-ơng 4 D-ới đây sẽ giới thiệu tri thức Ergonomics liên quan đến chọn và thiết kế cửa và sàn nhà nội thất

Trang 20

Khi thiết kế cửa nội thất, cần xem xét đặc điểm của cửa và tập quán sử dụng của ng-ời Mọi ng-ời cũng có lẽ đã trải qua điều này, khi lần đầu tiên vào một cửa hàng nào đó, nguyên là cửa kéo, bạn lại đẩy, càng chặt càng tiếp tục đẩy, đúng là không biết kéo, đây là tập quán của ng-ời Các nhà khoa học Nhật Bản thông qua điều tra phát hiện hành vi của ng-ời và cửa có mối quan

hệ sau đây:

a) Chiếm không gian:

Cửa kéo đẩy trái phải nhỏ (Nhật dùng t-ơng đối nhiều)

b) Tập quán động tác của ng-ời mở cửa:

+ Cửa mở đơn: Khi quả đấm ở vị trí A, ng-ời kéo trên 50% so với ng-ời

đẩy; khi quả đấm ở vị trí B, ng-ời đẩy trên 50% so với ng-ời kéo

+ Cửa mở kép: Ng-ời nắm quả đấm A nhiều hơn 3-4 lần ng-ời nắm quả

đấm B; ng-ời đẩy nhiều hơn 50-100% so với ng-ời kéo

+ Cửa kéo đẩy trái phải: Ng-ời mở cửa ở quả đấm A nhiều hơn 3 lần so với ng-ời mở cửa ở quả đấm B

c) Quan hệ vị trí bố trí nội thất và cửa:

Nhà khoa học Nhật Bản đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm vị trí cửa

và bố trí nội thất có mối quan hệ t-ơng quan về tâm lý

1- Ng-ời có tập quán ngồi làm việc quay l-ng về phía cửa nhiều hơn 3 lần so với ng-ời làm việc quay mặt về phía cửa Tuyệt đại đa số ng-ời cảm thấy quay l-ng về phía cửa có cảm giác an nhàn, không bị làm nhiễu, bí mật riêng t- mạnh

2- Ng-ời ngủ để chân về phía cửa nhiều hơn gấp 5 lần ng-ời ngủ đầu về phía cửa Cảm thấy đầu quay về phía cửa có một loại cảm giác không an toàn, ngủ không yên

d) Chiều rộng mở cửa và chiều cao quả đấm:

Đối với cửa chỉ có một ng-ời qua, chiều rộng phải lớn hơn 65 cm, chiều cao quả đấm phải thiết kế ở vị trí độ cao dễ thao tác, lực thao tác lớn nhất, th-ờng khoảng 90cm, khi cửa t-ơng đối nặng cao hơn trị số này một chút e) Đối với cửa thuỷ tinh nên có tiêu chí rõ ràng:

Trang 21

Do kính trong, rất dễ làm cho cảm giác của con ng-ời phát sinh sai lầm, không thể phán đoán chính xác khoảng cách, vì thế nên dán một số tiêu chí bằng keo không khô lên cửa kính, làm cho ng-ời ta có thể phán đoán chính xác khoảng cách phía tr-ớc của cửa kính, đề phòng sự cố va đập

 Chủng loại chất liệu sàn nhà và nhân tố ảnh h-ởng của nó

Chủng loại chất liệu sàn nhà rất nhiều, có thể chia thành chất liệu sinh vật, chất liệu tự nhiên và chất liệu nhân tạo Chất liệu sinh vật có ván sàn gỗ

và thảm len, ; chất liệu tự nhiên có đá, gạch, xi măng, ; chất liệu nhân tạo

có da, thảm sợi nhân tạo, Các chất liệu này cần căn cứ vào mục tiêu sử dụng khác nhau của căn phòng để chọn

Từ xem xét chất liệu và sở thích của con ng-ời: Chất liệu sinh vật tốt nhất, thứ đến là chất liệu tự nhiên, kém nhất là chất liệu nhân tạo Một giáo s- nổi tiếng của Nhật Bản trong lĩnh vực thiết kế kiến trúc nội thất gọi mối quan

hệ giữa chất liệu trang sức nội thất và sở thích của ng-ời là "Viễn tâm tính", viễn tâm tính của ng-ời là: Chất liệu sinh vật  Chất liệu tự nhiên  Chất liệu nhân tạo Tức là chất liệu sinh vật rất phù hợp với sở thích của ng-ời, khi thiết kế và sử dụng chất liệu sàn nhà cần xem xét rất nhiều yếu tố

Tình huống bình th-ờng, chất liệu sinh vật là chất liệu lựa chọn đầu tiên của sàn nhà nội thất, nh- ván sàn gỗ có thể nói là chất liệu sàn nhà lý t-ởng để trang sức nhà, vân thớ gỗ đem lại cho ng-ời ta một loại cảm giác đẹp tự nhiên Các nhà nghiên cứu Nhật Bản phát hiện, vân thớ tự nhiên của gỗ có hiệu ứng sinh lý và tâm lý, đồng thời hiệu quả thu chấn, thu ẩm của gỗ đều tốt, mà còn

có tính năng hút ẩm, truyền nhiệt rất tốt Nh-ng tính chịu n-ớc, chịu nhiệt của

gỗ kém, không phù hợp ở phòng vệ sinh, nhà bếp,

 Ảnh h-ởng của sàn nhà đối với hành vi đi lại

+ Tình huống chịu lực khi đi lại: Khi ng-ời đi bộ, khi bàn chân tiếp đất phản lực vuông góc của lực xung kích th-ờng lớn hơn 270 (N), còn phản lực ngang lớn hơn 90 (N) Lực xung kích chịu ảnh h-ởng của góc tiếp đất (góc giữa mặt đế giày và mặt nằm ngang) Khi ng-ời ta đi lại trên sàn nhà, sẽ căn

Trang 22

cứ vào điều kiện sàn nhà (kích thích của bộ phận ngoại cảm màu sắc, độ sáng,

độ nhấp nhô, ) tự động điều tiết tốc độ, chiều dài, góc tiếp xúc của b-ớc đi + Góc tiếp đất: Góc tiếp đất có quan hệ với chiều cao thân thể, t- thế đi

bộ, tốc độ đi, tính năng của sàn nhà Mặt sàn càng trơn, chiều dài b-ớc đi càng ngắn, vì thế góc tiếp đất nhỏ đi, góc tiếp đất của nam lớn hơn của nữ Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ cho thấy, góc tiếp đất bình quân (trung bình) của nam là 23o (đối t-ợng 35 ng-ời, 10-32o), trung bình của nữ là 19o(16 ng-ời, 12-32o) Góc tiếp đất của ng-ời Nhật (ng-ời biểu đông) lớn hơn ng-ời Âu Mỹ, trung bình 26o (18-34o)

Tốc độ chân khoảnh khắc tiếp đất là tài liệu rất quan trọng nghiên cứu cảm giác đi bộ và đánh bóng, tốc độ chân khoảnh khắc tiếp đất của nam khoảng 600 cm/s, nữ khoảng 450 cm/s

+ Chiều dài b-ớc: Chiều dài b-ớc liên quan đến giới tính, tuổi, chiều cao thân thể, điều kiện sàn nhà, trị số của nó nh- sau:

Nam 65-80 cm, trung bình (mặt sàn bằng cao su) 75 cm

Nữ 55-70 cm, trung bình (mặt sàn bằng cao su) 60 cm

+ Số b-ớc trong mỗi phút:

Sàn cao su cao nhất: nam 132 b-ớc/min, nữ 136 b-ớc/min

Sàn mã sai khắc thấp nhất: nam 105 b-ớc/min, nữ 115 b-ớc/min

+ Thời gian cần cho một b-ớc:

Nam 0.48 - 0.55 s Nữ 0.45 - 0.53 s Khi chiều cao giảm 20cm, thời gian cần thiết cho 1 b-ớc t-ơng ứng giảm 0.03s

+ Cự ly đi trong mỗi phút:

Cự ly đi trong mỗi phút có liên quan rất mật thiết với tính chất và chất liệu sàn nhà Kết quả nghiên cứu của Nhật Bản cho thấy: cự ly đi trong mỗi phút ở gạch men bề mặt thô lớn hơn sàn cao su, và sàn cao su lại lớn hơn sàn hắc ín

+ Đánh bóng Mức độ đánh bóng sàn nhà có ảnh h-ởng rất lớn đến hành vi đi lại, vì

Trang 23

thế chọn chất liệu sàn và phòng tránh trơn tr-ợt phải hết sức chú ý Da giả, xi măng, thép, gỗ, cao su, sứ, đều có thể thoả mãn yêu cầu của tính năng phòng tránh trơn tr-ợt của sàn nhà nội thất Nh-ng tính năng chống tr-ợt của

da giả, gạch men, không tốt, đặc biệt những nơi có trẻ con và độ ẩm cao tốt nhất là không nên dùng chất liệu sàn tính năng chống tr-ợt kém này

 Ảnh h-ởng của độ cứng của sàn đối với ng-ời

Khi đi lại trên các chất liệu cứng nh- đá hoa c-ơng, gạch men, gỗ cứng, th-ờng có cảm giác không dễ chịu Nguyên nhân là do khi lực xung kích và chấn động thông qua bàn chân truyền đến các khớp và đầu gây ra cảm giác khó chịu Mặt khác do cơ bắp của chân chịu lực gây ra mệt mỏi, co rút cơ bắp của chân thay đổi theo độ cứng của chất liệu sàn, độ cứng càng lớn, mệt mỏi cơ bắp càng lớn

Các nhà khoa học Nhật đ-a ra ph-ơng pháp d-ới đây để xác định độ cứng của sàn nhà, từ đó đánh giá ảnh h-ởng của độ cứng sàn đối với ng-ời, và cung cấp căn cứ để chọn chất liệu sàn nhà Ph-ơng pháp nh- sau: Lấy quả cầu (hòn bi) thép nặng 70g cho rơi tự do từ độ cao 60 cm, sau khi rơi xuống mặt sàn chiều cao đàn hồi lần thứ 1 biểu thị độ cứng sàn, từ đó độ dễ chịu của đầu phản ứng khi ng-ời đi bộ thông qua nghiên cứu phát hiện: độ cứng của sàn từ 4.5-12 cm là thích hợp (độ cứng của gỗ) Thông qua ph-ơng pháp trên xác

định đ-ợc độ cứng của mấy loại chất liệu sàn chủ yếu, xem bảng 5-1

Bảng 5-1 Trị số độ cứng của chất liệu sàn chủ yếu

21 - 41

16 - 26

32 - 46

17 - 20 2.5 - 9

Trang 24

e Hành vi giữa ng-ời với ng-ời và cự ly giữa thiết kế không gian qua

lại (xã giao, trao đổi) nội thất

 Hành vi giữa ng-ời với ng-ời và cự ly giữa ng-ời với ng-ời

 Mong muốn của ng-ời và giao tiếp giữa ng-ời với ng-ời

Ng-ời trong quá trình hoạt động sinh hoạt, căn cứ vào trạng thái tự thân

và tr-ờng hợp cụ thể, có ham muốn khác nhau Nhà tâm lý học nổi tiếng ng-ời

Mỹ A.H.Maslow chia ham muốn của ng-ời thành 5 bậc (hình 5-3), và chỉ ra rằng ham muốn của ng-ời từ bậc thấp phát triển lên bậc cao, những ng-ời đã

thoả mãn ham muốn bậc thấp sẽ có ham muốn bậc càng cao Ng-ời luôn có một loại ham muốn chiếm -u thế, loại ham muốn chiếm -u thế này là động lực dẫn đến hành vi giữa ng-ời với ng-ời (Motivation)

Hình 5-3 Bậc ham muốn của ng-ời do A.H.Maslow đ-a ra

Từ hình 5-3 cho thấy, trao đổi (xã giao) là một trong những ham muốn cơ bản của loài ng-ời Nhà tâm lý học Th- Từ chia quan hệ xã giao của ng-ời thành 3 loại:

1) Ham muốn bao dung, tức là hy vọng trao đổi với ng-ời khác, xây dựng và duy trì quan hệ hữu hảo và hoà thuận

2) Ham muốn khống chế, tức là thông qua quyền lực và quyền uy xây dựng và duy trì quan hệ tốt với ng-ời khác

3) Ham muốn tình cảm, tức là hy vọng ở ph-ơng diện tình cảm xây

Tự mình thực hiện ham muốn

Ham muốn tự tôn Ham muốn xã giao Ham muốn an toàn Ham muốn sinh lý

Bậc cao

Trang 25

dựng và duy trì quan hệ tốt với ng-ời khác

Thiết kế kiến trúc và nội thất phải tạo không gian trao đổi tốt cho con ng-ời để đảm bảo giao l-u tình cảm, duy trì quan hệ trao đổi tốt, thoả mãn ham muốn trao đổi của cả 2 phía

 Hành vi giữa ng-ời với ng-ời

Hành vi giữa ng-ời với ng-ời là các loại hành vi tác dụng qua lại biểu hiện ra trong quá trình trao đổi của các bên, tạo nên quan hệ giữa ng-ời với ng-ời nhất định Quan hệ giữa ng-ời với ng-ời trong sinh hoạt hàng ngày vô cùng phức tạp, quan hệ giữa ng-ời với ng-ời trong không gian tiếp đãi (đón tiếp) chủ yếu có:

Quan hệ đông ng-ời trong phòng;

Quan hệ của khách trong phòng chiêu đãi;

Quan hệ thảo luận trong phòng hội đàm;

Quan hệ xã giao trong phòng ngủ;

Quan hệ xã giao trong phòng sinh hoạt chung

Quan hệ của ng-ời với ng-ời ở trên có thể biểu hiện ra hành vi giữa ng-ời và ng-ời khác nhau, vì thế môi tr-ờng trao đổi cũng có yêu cầu khác nhau, khi thiết kế không gian nội thất, phải xem xét đầy đủ

 Cự ly giữa ng-ời với ng-ời

Trong quá trình trao đổi (giữa ng-ời với ng-ời) giữa ng-ời và ng-ời duy trì cự ly không gian, khí quan cảm giác khác nhau yêu cầu cự ly không gian khác nhau

Ngoài 3 m, chỉ có thể ngửi thấy mùi rất nồng

Vì thế, khi thiết kế môi tr-ờng không gian trao đổi, bố trí gia cụ cần để lại cự ly thích đáng để tránh xảy ra khó xử

Trang 26

2) Cự ly thính giác

Trong vòng 7 m, có thể tiến hành nói chuyện bình th-ờng;

Trong vòng 30 m, có thể nghe rõ ng-ời nói;

V-ợt quá 35 m, có thể nghe đ-ợc tiếng gọi, nh-ng không nghe rõ ngữ ngôn Vì thế, căn cứ vào mục đích sử dụng khác nhau, bố trí không gian tiếp đãi, nếu v-ợt quá 30 m nên sử dụng thiết bị khuếch đại âm thanh, phải sử dụng khuếch

đại âm thanh cũng chỉ có thể tiến hành giao l-u một hỏi - một đáp

1-3 m, có thể tiến hành nói chuyện bình th-ờng

Khoảng cách giữa ng-ời với ng-ời càng ngắn, giao l-u tình cảm giữa ng-ời với ng-ời càng mạnh Edward.T Hall chia cự ly giao tiếp giữa ng-ời với ng-ời, phạm vi văn hoá của ng-ời Châu Âu và Mỹ thành 4 loại:

1- Cự ly thân mật (0-0.45 m): Cự ly biểu đạt dịu dàng, thân, giận dữ Trong căn phòng ở của gia đình, tính riêng t- mạnh xuất hiện cự ly giao tiếp nh- thế

2- Cự ly cá nhân (0.45-1.3 m): Cự ly để bạn bè thân thiết và ng-ời trong gia đình chuyện trò, khoảng cách ghế bàn ăn của gia đình thuộc cự ly này 3- Cự ly xã hội (1.3-3.75): Khoảng cách trao đổi với hàng xóm, ng-ời cùng cơ quan, phòng hội đàm, phòng khách, phòng sinh hoạt chung, cự ly lớn nhất để hai ng-ời không phải là xa lạ nói chuyện với nhau khoảng 2.45 m 4- Cự ly công cộng (lớn hơn 3.75 m): Cự ly giao tiếp ở nơi đông ng-ời giao l-u một chiều, diễn giảng, phòng chiêu đãi nghiêm túc chính qui, phòng

Trang 27

họp lớn,

Cự ly giao tiếp ở trên là căn cứ cung cấp cho thiết kế không gian nội thất

và bố trí đồ mộc

a Hành vi giao tiếp và không gian giao tiếp

Quan hệ giao tiếp quyết định hành vi giao tiếp, hành vi giao tiếp quyết

định không gian giao tiếp

 Hành vi c- trú và thiết kế nội thất

 Không gian phòng ở (c- thất)

+ Trật tự không gian

Dùng hình và bảng để biểu thị quy luật hành vi và đặc tr-ng hành vi của ng-ời trong không gian phòng ở, đó là mô thức trật tự không gian hành vi c- trú Loại mô thức này đối với bố cục tổng thể không gian nội thất kiến trúc vô cùng quan trọng Bố cục không gian riêng t- t-ơng đối mạnh (phòng ngủ, phòng nghỉ, phòng vệ sinh) ở vị trí tận đầu nội thất, còn các không gian mở nh- phòng khách nên bố trí ở vị trí ng-ời qua lại giữa nhà ở Trật tự không gian của không gian phòng ở phải phù hợp đặc tr-ng hành vi và yêu cầu tâm

lý của ng-ời

+ Kích th-ớc không gian

Kích th-ớc không gian nội thất bao gồm 3 bộ phận: kích th-ớc không gian hoạt động của con ng-ời; kích th-ớc không gian thiết bị gia cụ và kích th-ớc không gian tri giác của ng-ời (không gian tâm lý)

1) Kích th-ớc không gian hoạt động của con ng-ời: Không gian hoạt

động nội thất có không gian sinh hoạt chung, phòng ngủ, phòng ăn, phòng vệ sinh, những không gian này phải thoả mãn hoạt động th- thái bình th-ờng của con ng-ời, kích th-ớc không gian phải xem xét phạm vi hoạt động của trạng thái động của ng-ời

2) Kích th-ớc không gian thiết bị gia cụ: hình 5-13 là phạm vi kích th-ớc

3 chiều của gia cụ th-ờng dùng, có thể tham khảo để thiết kế nội thất

3) Kích th-ớc không gian tâm lý (không gian tri giác): Kích th-ớc không gian nội thất, ngoài thiết kế phải theo phạm vi hoạt động (thái) trong nội thất

Trang 28

ng-ời trong nội thất Thí dụ, nếu trần nhà quá thấp, sẽ có cảm giác đè nén Nghiên cứu phát hiện đối với phòng 15-20 m2, khi chiều cao của trần nhà nhỏ hơn 230 cm, sẽ có cảm giác đè nén Qui định chiều cao của tầng nhà của Trung Quốc là 280 cm, chiều cao tĩnh không thực tế 265 cm, có thể thoả mãn yêu cầu không gian tâm lý Nh-ng, khi lắp đặt, xử lý trần và sàn nhà, có thể giảm chiều cao của trần, khi thiết kế cần xem xét không gian tâm lý, đề phòng sản sinh cảm giác đè nén Màu sắc nội thất, chiếu sáng và mặt tiếp xúc ảo có thể cải thiện không gian tâm lý

Môi tr-ờng nội thất

Tính hợp lý của kích th-ớc không gian và quan hệ vị trí t-ơng đối của không gian (tổ hợp không gian) ảnh h-ởng trực tiếp đến chất l-ợng c- trú Nh-ng, môi tr-ờng không gian nội thất cũng là những vấn đề mà các hộ ở quan tâm, nó cũng là nhân tố quan trọng ảnh h-ởng đến chất l-ợng c- trú Môi tr-ờng nội thất bao gồm: Môi tr-ờng vật chất nội thất, môi tr-ờng thị giác nội thất, môi tr-ờng vật lý nội thất và bầu không khí văn hoá nội thất

 Môi tr-ờng vật chất nội thất

Môi tr-ờng vật chất nội thất chủ yếu chỉ điều kiện chất l-ợng kết cấu (t-ờng) bao bọc không gian, đồ mộc và thiết bị điện khí (đồ điện), kết cấu t-ờng phải giữ nhiệt, cách âm Mô thức thiết kế kết cấu bảo vệ ở nhiều n-ớc Châu Âu và Mỹ là: Kết cấu bảo vệ bằng gạch nhiều lỗ, bên trong lót chất liệu giữ nhiệt; cách âm tốt, cửa sổ hợp kim nhôm có thể mở nhiều h-ớng, 10-12

mm thuỷ tinh; an toàn; giữ nhiệt, Những mô thức này có giá trị tham khảo cung cấp cho thiết kế nhà ở của Trung Quốc Bắc Kinh và các khu vực khác cũng đã bắt đầu thực hiện các tiêu chuẩn t-ơng tự

Gia cụ của Trung Quốc có rất nhiều loại, nh-ng gia cụ có chất l-ợng cao

ít Đồ mộc của n-ớc ta t-ơng đối chú trọng chất liệu gỗ, một số vấn đề về hình thức ngoại quan, xem xét Ergonomics rất ít; nghiên cứu về ph-ơng diện (mặt) này càng không có Phần nhiều là phỏng theo của n-ớc ngoài, nh-ng kích th-ớc cơ thể khác nhau, không gian ở khác nhau, vì thế không phù hợp

Trang 29

lắm với ng-ời sử dụng Đồ mộc của n-ớc ta phải có số liệu thiết kế và phong cách Ergonomics của mình

Thiết bị nhà bếp bao gồm thiết bị gian vệ sinh, thông gió, s-ởi ấm, điều hoà không khí, thiết bị điện gia dụng, kích th-ớc của các thiết bị này đều có tiêu chuẩn công nghiệp nhà n-ớc

 Môi tr-ờng thị giác nội thất

Môi tr-ờng không gian thị giác bao gồm hình thái không gian, chiếu sáng, màu sắc, mặt tiếp xúc không gian và cảm giác chất liệu gia cụ, phối hợp không gian nội thất và ngoại thất,

1) Hình thái không gian: Hình thái không gian của phòng phần nhiều là hình chữ nhật Không gian hình chữ nhật t-ơng đối phù hợp với bố trí của thiết bị và đồ mộc, nh-ng đối với không gian hoạt động chung thể hiện cứng nhắc, vì thế, khi thiết kế lắp đặt phải lợi dụng xử lý mặt tiếp xúc, trần nhà và sắc màu để thay đổi cảm giác hình thái không gian

2) Chiếu sáng và màu sắc: Đối với môi tr-ờng ánh sáng, phải thông qua lấy ánh sáng, chiếu sáng nhân tạo và màu sắc để điều tiết Mọi ng-ời thích ứng nhất với ánh sáng tự nhiên, vì thế cố gắng thông qua lấy ánh sáng thoả mãn yêu cầu độ chiếu sáng ban ngày, nh-ng ban đêm phải thông qua chiếu sáng nhân tạo để thực hiện môi tr-ờng ánh sáng hợp lý, môi tr-ờng màu sắc cần thông qua các loại đèn để thực hiện Diện tích cửa sổ nội thất không thể nhỏ hơn 1/16 diện tích mặt sàn nội thất Nh-ng, cửa sổ của phòng tình riêng t- mạnh lại không nên quá lớn Trong qui phạm thiết kế kiến trúc nhà ở của n-ớc

ta, qui định tỷ lệ giữa cửa sổ và diện tích sàn của căn phòng có mục tiêu sử dụng khác nhau, xem bảng 5-2 Chiều rộng của cửa sổ không nên quá hẹp; cửa sổ của phòng sinh hoạt chung và phòng ngủ nên lớn hơn 90 cm

Trang 30

a) Tỷ lệ giữa diện tích của cửa sổ và diện tích sàn nội thất

b) Loại hình phòng Diện tích cửa sổ/diện tích sàn

Phòng ngủ, phòng sinh hoạt chung, gian bếp

Gian vệ sinh, phòng ăn

Cầu thang, hành lang

1/7 1/10 1/14

Chọn loại hình ánh sáng đèn cũng rất quan trọng, chiếu sáng phòng ở chủ yếu dùng đèn ánh sáng huỳnh quang và đèn dây tóc, đèn huỳnh quang khó gây hoa mắt, quang thông l-ợng cao, độ sáng của nguồn sáng thấp, là nguồn sáng t-ơng đối lý t-ởng, nh-ng sắc ôn t-ơng đối thấp, thiếu cảm giác ấm áp, vì thế phù hợp ở nơi công cộng Đèn dây tóc sắc ôn cao, có cảm giác ấm áp, là nguồn sáng chiếu sáng ở gia đình t-ơng đối lý t-ởng

Đối với màu sắc, sở thích khác nhau, nh-ng phải lợi dụng hiệu ứng tâm

lý của sắc màu để điều tiết bầu không khí nội thất, nguyên tắc chung của màu sắc nội thất là: Màu sắc của phòng ngủ của ng-ời lớn nên yên tĩnh êm dịu; phòng ngủ của trẻ con nên đẹp nhiều màu; phòng sinh hoạt chung nên sáng sủa sinh động; gian bếp nên dùng màu sáng thanh khiết; gian vệ sinh nên thanh khiết, nh-ng độ chiếu sáng không quá cao Màu sắc nội thất lấy điều hoà làm chủ, so sánh cục bộ; độ sáng của mắt tiếp xúc lớn cao, cục bộ có thể thấp; độ màu nên lấy màu xám làm chủ, phòng trẻ con nên lợi dụng sắc màu t-ơng đối t-ơi mát

3) Cảm giác chất l-ợng mặt tiếp xúc: Tính chất của chất liệu sử dụng quyết định cảm giác chất l-ợng mặt tiếp xúc không gian, phòng sinh hoạt chung và phòng ngủ nên lấy mềm mại làm chủ, gian vệ sinh phải sáng sủa sạch sẽ Gỗ và các chất liệu sinh vật là chất liệu trang sức nội thất t-ơng đối tốt, cảm giác chất l-ợng t-ơng đối tốt, hơn thế nữa gỗ có tác dụng tự động

điều tiết nhiệt và ẩm Các nhà nghiên cứu Nhật bản phát hiện vân thớ tự nhiên của gỗ có hiệu ứng tâm lý rất tốt, có thể làm cho con ng-ời thoải mái, tạo nên tác dụng tình cảm ổn định Tính dẫn nhiệt và chống tr-ợt của gỗ, đều phù hợp làm chất liệu trang sức nội thất

Trang 31

4) Độ mở: Phòng ngủ, phòng vệ sinh phải có tính riêng t- t-ơng đối mạnh, độ mở không nên quá lớn, vị trí của cửa sổ không thể ảnh h-ởng đến bố trí của gi-ờng, cửa sổ của gian vệ sinh không đ-ợc quá to chỉ cần thoả mãn thông gió và lấy ánh sáng (70-300 Lx) là đủ, đáy của cửa sổ gian vệ sinh phải v-ợt quá chiều cao của ng-ời

Nguyên tắc chung của thiết kế các phòng c- thất là lấy ng-ời làm trung tâm, xem xét đầy đủ đặc tính tri giác và kích th-ớc cơ thể ng-ời

2 Thiết kế sản phẩm

+ Cỏc nguyờn lý tạo dỏng sản phẩm mộc

Tạo dỏng sản phẩm là một trong những cụng đoạn đặc biệt quan trọng trong quỏ trỡnh thiết kế sản phẩm Giỏ trị của mỗi sản phẩm khụng chỉ được đỏnh giỏ qua độ bền, chức năng mà nú cũn phải cú chất lượng thẩm mỹ Đối với sản phẩm bàn ghế phải thiết kế sao cho việc ngồi được thoải mỏi với tư thế cần thiết

Mỗi sản phẩm được tạo nờn theo một hỡnh dỏng, kết cấu và kớch thước nhất định với hỡnh dỏng đú tập hợp cỏc đường nột, cấu tạo được tổ hợp, sản phẩm được thể hiện theo một hỡnh dỏng riờng được con người cảm nhận trong một điều kiện khụng gian nhất định

Mỗi sản phẩm mộc cú chất lượng tốt nghĩa là sản phẩm đú khụng cú khiếm khuyết về mặt kỹ thuật, bờn cạnh đú nú cũn phải được tạo dỏng một cỏch hài hoà, cú thẩm mỹ Chất lượng của một sản phẩm mộc là tổng hợp mọi tớnh chất khỏch quan xỏc định khả năng sử dụng và giỏ trị thẩm mỹ của nú Vỡ vậy để đỏnh giỏ chất lượng của sản phẩm mộc, trước hết phải xem xột chỉ tiờu

kỹ thuật của nú và ước lượng đỏnh giỏ về mặt tạo dỏng cú đẹp khụng?

Để đạt được yờu cầu đú, khi thiết kế tạo dỏng cho sản phẩm mộc cần chỳ

ý đến việc vận dụng cỏc nguyờn lý cơ bản sau:

- Cỏc kớch thước cần thiết cho nhu cầu sử dụng, trong đú cỏc kớch thước của người đó được tiờu chuẩn hoỏ là cơ sở chớnh cho việc xỏc định kớch thước sản phẩm

Trang 32

- Sử dụng nguyên vật liệu hợp lý sẽ làm tăng giá trị sử dụng cũng như giá trị kinh tế của sản phẩm

- Sự phân chia các phần trên bề mặt gây được cảm giác về sự cân bằng

- Sự hài hoà màu sắc hay tương phản hợp lý sẽ làm tăng vẻ thẩm mỹ của sản phẩm

- Chú ý đến tỷ lệ của các sản phẩm và mối tương quan đồng bộ (như giữa bàn và ghế)

- Các yếu tố xung quanh môi trường sử dụng ảnh hưởng đến cảm giác của con người

+ Kích thước cơ bản của sản phẩm:

Với một bộ bàn ghế thì kích thước đáng quan tâm là chiều cao, chiều rộng mặt ngồi, chiều cao lưng tựa, độ ngả lưng tựa… nếu các kích thước cơ bản này không phù hợp yêu cầu sử dụng cũng như trạng thái sử dụng của con người sẽ gây khó khăn cho người sử dụng

+ Sử dụng nguyên liệu hợp lý:

Trong quá trình thiết kế sản phẩm mộc, nếu biết sử dụng nguyên vật liệu hợp lý thì có thể vừa tiết kiệm được nguyên liệu vừa nâng cao giá trị của sản phẩm Tuỳ thuộc vào từng vị trí hay chức năng của từng chi tiết mà người thiết kế chọn ra những nguyên liệu phù hợp với chi tiết hay bộ phận

đó Tuy nhiên, để nguyên liệu được sử dụng hợp lý thì trong mỗi chi tiết ta dùng những nguyên liệu có kích thước khác nhau cho sản phẩm Sử dụng hợp lý chính là ứng dụng những kích thước khác nhau của nguyên vật liệu vào sản phẩm

Trang 33

+ Sự phân chia các phần trên bề mặt:

Sự phân chia, sắp xếp các phần trên bề mặt bao giờ cũng phải bảo đảm đến sự hài hoà cân đối Sự cân đối ở đây nói tới sự cân bằng về thị giác, có nghĩa là mắt người cảm nhận được sự cân bằng

+ Nguyên lý tỷ lệ:

Kích thước của một chi tiết này so với các chi tiết khác, độ lớn của phần này so với phần khác… đều tạo cho người một cảm giác về tỷ lệ Nếu tỷ lệ hợp lý ta có cảm giác hài hoà và ngược lại

- Cân bằng đối xứng tâm là kết quả của việc tổ chức các yếu tố xung quanh điểm trung tâm Nó tạo ra một yếu tố tập trung nhấn mạnh trung tâm… Các yếu

tố có thể hội tụ vào hoặc tạo ra từ vị trí trung tâm này

- Cân bằng bất đối xứng được công nhận là sự thiếu tương xứng về kích

cỡ, hình dáng, màu sắc hay mối liên hệ vị trí Giữa các yếu tố đồng nhất thì một bố cục không đối xứng lại kết hợp chặt chẽ các yếu tố không giống nhau tạo sự cân bằng, nhưng nhìn chung cân bằng bất đối xứng tạo cảm giác sinh động khó thực hiện sự cân bằng

Bố trí bất đối xứng cần chú ý đến tính hệ thống của các phần để tạo ra sự cân bằng về thị lực Sự cân bằng này cũng có tính quy luật, xong chỉ những người nhạy cảm mới cảm giác được

Trang 34

+ Sự hài hoà:

Sự hài hoà có thể được định rõ như sự phù hợp hay sự hài lòng về các thành phần trong một bố cục Trong khi sự cân bằng đạt được cái thống nhất thông qua sự sắp xếp cẩn thận giữa các yếu tố giống nhau và không giống nhau, nguyên lý hài hoà đòi hỏi sự chọn lọc kỹ lưỡng các yếu tố, chia ra những nét riêng hay những đặc tính chung như hình dáng, màu sắc, chất liệu

để tạo ra sự hài hoà

+ Tính nhịp điệu và nhấn mạnh:

Nguyên lý thiết kế nhịp điệu là sự lặp đi lặp lại của các yếu tố Sự lặp lại không chỉ tạo nên sự thống nhất thị giác mà còn tạo nên tính chuyển động mà mắt và tâm trí người quan sát có thể hướng theo đó Nó có thể được dùng để thiết lập một nhịp điệu cho những phần chính hoặc để xác định một tuyến chất hay đường viền trang trí

+ Tính thống nhất và đa dạng:

Cũng như sự cân bằng và hài hoà, khi các yếu tố được xử lý theo cách thức thống nhất sẽ tạo ra sự thống nhất bố cục Song sự thống nhất ấy đôi khi

sẽ làm cho bố cục trở thành buồn tẻ và khô khan

Trong vận dụng cụ thể, sự thống nhất cần có những điểm chấm phá Điều này tưởng chừng sai nguyên tắc, song nó lại rất hiệu quả trong việc tôn thêm tính thống nhất của bố cục

Các phần trong thể thống nhất có thể thay đổi tạo ra sự đa dạng trong bố cục nhưng cũng không nên quá lạm dụng sẽ dẫn đến sự hỗn loạn về thị giác

+ Nguyên lý về màu sắc và đường nét trên bề mặt sản phẩm mộc:

Khi nhìn vào sản phẩm mộc, con người thường cảm nhận đầu tiên là về màu sắc và các đường nét trang trí, sau đó mới đến hình dạng sản phẩm Sản phẩm có thu hút, có bắt mắt không đó là nhờ vào màu sắc của sản phẩm

Như chúng ta đã biết, màu sắc của một vật phụ thuộc vào ánh sáng chiếu tới nó, song cho dù ánh sáng nhân tạo có phát triển đến đâu đi chăng nữa thì chúng đều hướng theo mục đích là tạo ra loại ánh sáng gần gũi với thiên nhiên

Trang 35

nhất và tất nhiên là phản ánh trung thực nhất màu sắc của vạn vật xung quanh Chính vì vậy, mỗi vật, mỗi sản phẩm cần có màu sắc phù hợp, hoà đồng với mọi vật xung quanh nó

Mỗi màu sắc đều tạo ra cảm giác riêng đối với con người Ví dụ: màu đỏ gây cảm giác ấm cúng, màu lục gây cảm giác bình yên… cảm giác về sự hài hoà của màu sắc được sắp đặt gần nhau cũng là sự cảm giác về thẩm mỹ tạo hình Vì vậy, trong quá trình thiết kế tạo hình của sản phẩm cũng luôn gắn liền với việc lựa chọ màu sắc với việc phân ly tỷ lệ tạo hình của từng chi tiết Trong màu sắc được sử dụng chúng ta có thể sử dụng màu sắc tương phản để tạo ra giá trị thẩm mỹ Để làm nổi bật một bộ phận, chi tiết nào đó, chúng ta nên sử dụng quy luật tương phản về màu sắc

Màu sắc của sản phẩm trong tạo dáng cần tuân thủ theo cảm nhận theo màu của người sử dụng: người già thường thích màu nhẹ nhàng; trẻ nhỏ thường thích các màu nguyên có độ bão hoà màu cao, các sắc độ màu tương phản mạnh…

Màu của sản phẩm mộc gần gũi nhất đó là những màu gần màu gỗ, những màu này là những màu tương đối dễ hoà đồng trong môi trường không gian nội thất Một số màu khác thường chỉ được sử dụng ở những chi tiết như phần bọc đệm để đa dạng các màu sản phẩm

 Liên kết cơ bản của sản phẩm mộc

Sản phẩm mộc đều do các chi tiết, cụm chi tiết theo một phương thức liên kết nhất định lắp ráp thành Phương thức liên kết thường dùng của sản phẩm mộc có liên kết mộng, liên kết bằng đinh, liên kết bằng vít gỗ, liên kết bằng keo, bản lề…phương thức liên kết dùng chính xác hay không đều ảnh hưởng trực tiếp đến mỹ quan, cường độ và quá trình gia công của sản phẩm mộc

Trang 36

Liên kết mộng

Mộng là hình thức cấu tạo có hình dạng xác định được gia công tạo thành ở đầu cuối chi tiết theo hướng dọc thớ nhằm mục đích liên kết với lỗ được gia công trên chi tiết khác của kết cấu

Cấu tạo của mộng có nhiều dạng, song cơ bản vẫn bao gồm: thân mộng

và vai mộng

+ Thân mộng cắm chắc vào lỗ mộng

+ Vai mộng để giới hạn mức độ cắm sâu của mộng, đồng thời cũng có tác dụng chống chèn dập mộng và đỡ tải mộng

1: mặt đầu mộng, 2: thân mộng, 3: vai mộng, 4: lỗ mộng, 5: rãnh mộng

Ngoài ra mộng có thể tạo mòi để tăng tính thẩm mỹ cho sản phẩm

Có 3 loại mộng: mộng thẳng, mộng đuôi én, mộng tròn

I: Mộng đơn, II: Mộng đuôi én, III: Mộng tròn

Mộng thẳng có 3 loại: mộng đơn, mộng đôi, mộng nhiều thân

Trang 37

I: Mộng đơn, II: Mộng đôi, III: Mộng nhiều thân

Liên kết keo

Đây là phương thức liên kết đơn giản nhất Với phương pháp này thì phương thức chủ yếu trong liên kết đối với đồ mộc là sử dụng keo dán Do công nghệ ngày càng phát triển nên chất lượng keo dán cũng được nâng cao, đồng thời xuất hiện nhiều loại keo dán mới Do đó các liên kết bằng keo dán ngày càng được sử dụng nhiều trong kết cấu của đồ mộc

Trong sản xuất thường thấy có: liên kết giữa các thanh gỗ với nhau, dán ghép giữa các lớp ván mỏng, dán phủ mặt cho các chi tiết dạng tấm phẳng, dán cạnh…đều sử dụng bằng keo dán

Phương thức này có ưu điểm lớn là có thể tiết kiệm được gỗ, từ gỗ nhỏ tạo thành gỗ lớn, từ gỗ chất lượng kém tạo thành gỗ có chất lượng cao, có thể đảm bảo được sự ổn định của kết cấu, nâng cao chất lượng và cải thiện ngoại quan của sản phẩm

Liên kết đinh

Đây là loại hình liên kết mà chủng loại vật liệu liên kết rất phong phú:

có đinh bằng kim loại, đinh gỗ và đinh tre, trong đó thường sử dụng nhất là đinh bằng kim loại Đinh bằng kim loại chủ yếu có đinh hình chữ T, đinh hình

∏…

Liên kết bằng đinh tròn rất dễ làm tổn hại đến kết cấu của gỗ mà cường

độ nhỏ, vì thế trong sản xuất đồ mộc ít sử dụng, chỉ sử dụng trong các vị trí liên kết bên trong, các vị trí không lộ trên bề mặt hoặc những vị trí mà không cần yêu cầu cao về ngoại quan, như dùng để cố định rãnh trượt của ngăn kéo

Trang 38

Đinh tre và đinh gỗ là loại được sử dụng từ rất lâu đời và được phổ biến trong sản xuất các loại đồ mộc bằng thủ công của Trung Quốc Những loại đinh mang tính trang sức thường được dùng trong các loại sản phẩm đồ mộc làm từ gỗ mềm

Liên kết đinh là liên kết không thể tháo lắp nhiều lần Lực liên kết đinh

có quan hệ với chủng loại, khối lượng thể tích, độ ẩm của gỗ, đường kính, độ dài, phương hướng và độ sâu của đinh Ví dụ: lực bám đinh ở phần cạnh của ván dăm thấp hơn rất nhiều so với bề mặt của ván, do đó phần cạnh của ván dăm không thích hợp sủ dụng liên kết bằng đinh

Liên kết đinh vít gỗ

Nó dùng liên kết các chi tiết không thể tháo lắp nhiều lần, nếu không sẽ ảnh hưởng đến cường độ sản phẩm Đinh vít lộ ở bề mặt, ảnh hưởng đến ngoại quan, thường dùng để cố định và lắp ráp các phụ kiện như mặt bàn, mặt

tủ, ván hậu, tay co ngăn kéo…Lực bám đinh vít cũng giống lực bám đinh, chiều dài, đường kính đinh vít tăng lên, lực bám đinh bít cũng tăng lên…

Liên kết ke

Chủng loại ke rất đa dạng, dùng để liên kết chi tiết gỗ, ván, đặc biệt là liên kết các cụm chi tiết đồ mộc Yêu cầu của ke dùng cho đồ mộc là: kết cấu vững chắc, tin cậy, có thêt tháo lắp nhiều lần, tháo lắp thuận tiện, khi lỏng có thể trực tiếp vặn chặt, hiệu suất lắp ráp cao, chế tạo thuận tiện, giá thành thấp

Liên kết giữa các cụm chi tiết đồ mộc gia dụng

Trang 39

e Các liên kết khác

Đây là các chi tiết liên kết được sản xuất từ kim loại, polyme, thuỷ tinh hữu cơ hoặc bằng gỗ,… Nó được chế tạo đặc thù và có thể tháo lắp nhiều lần

và cũng là một loại chi tiết phối hợp không thể thiếu trong sản xuất các loại

đồ mộc hiện đại Hiện nay thường sử dụng các chi tiết liên kết bằng kim loại

ở dạng như: kiểu xoắn ốc, kiểu lệch tâm và kiểu móc treo Đối với các chi tiết liên kết dạng này có yêu cầu như sau: kết cấu chắc chắn, thuận tiện cho việc tháo lắp nhiều lần, có thể điều tiết được mức độ chặt lỏng, dễ sản xuất, giá thành rẻ, hiệu quả lắp rắp cao, không làm tổn hại đến công năng và ngoại quan của sản phẩm, đảm bảo được cường độ của sản phẩm,…

Liên kết bằng các chi tiết liên kết là một phương pháp đã được sử dụng rộng rãi nhất trong sản xuất các loại đồ mộc tháo lắp được, đặc biệt là đồ mộc dạng tấm phẳng Hiện nay sử dụng các chi tiết liên kết có thể đạt đựơc mức

độ tiêu chuẩn hoá trong gia công đối với các chi tiết, tiện lợi cho việc lắp ráp đóng gói, vận chuyển và dự trữ đối với sản phẩm

 Yếu tố con người trong thiết kế sản phẩm mộc

Trong quá trình thiết kế sản phẩm mộc thì yếu tố con người liên quan chặt chẽ với kích thước sản phẩm Bởi vì trong quá trình thiết kế luôn phải tính đến sự phù hợp của sản phẩm với kích cỡ của con người vào từng lứa tuổi, từng đối tượng Kích thước cơ thể của người sử dụng là cơ sở quan trọng

để thiết kế sản phẩm, nó ảnh hưởng đến hình dáng, sự cân đối và tỷ lệ của sản phẩm Do đó, khi thiết kế, trước tiên sản phẩm phải phù hợp với kích cỡ của người sử dụng Muốn đạt được điều đó ta phải dựa vào các yếu tố thuộc về con người như: yếu tố nhân trắc học, thị hiếu thẩm mỹ, các chỉ dẫn của Ergonomics kết hợp với phương pháp cơ thể đồ

Đồ gia dụng không chỉ cần thoả mãn yêu cầu của nhân loại trên công năng cơ bản, đồng thời nó còn có lợi cho sức khoẻ sinh lý và tâm lý của con người Nói trên một ý nghĩa nào đó, thiết kế đồ gia dụng tức là thiết kế sinh hoạt, ở đây bao hàm hai lớp hàm nghĩa, một là công dụng sinh hoạt, hai là tính

Trang 40

dễ chịu Để thực hiện mục tiêu này, cần phải phân tích khoa học hành vi của người và đặc tính sử dụng của đồ gia dụng Lý luận công học cơ thể người (Human Enginerring, cũng gọi là Human Factors, hoặc Ergonomics ) là căn

cứ khoa học để chúng ta tiến hành thiết kế công năng đồ gia dụng Hiểu Ergonomics cơ thể không nên ở nghĩa hẹp, Ergonomics cơ thể người nghĩa hẹp chủ yếu chú trọng một phía đo kích thước cơ thể, dù đây là quan trọng và không thể thiếu, nhưng đối với thiết kế đồ gia dụng là không đủ Lấy toàn bộ sinh lý và tâm lý của người làm mục tiêu, tiến hành nghiên cứu động thái Ergonomics trên nghĩa rộng cần phải trở thành kim chỉ nam của thiết kế công năng đồ gia dụng, thiết kế làm ra từ đây mới có sức sống chịu được khảo nghiệm thời gian và địa phương

Ngày đăng: 22/06/2021, 10:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm