Mặt khác, việc thiết kế cũng nhằm khai thác các khả năng sử dụng nguyên vật liệu hợp lý cho đồ mộc nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng gỗ và một số vật liệu khác như: kim loại, ván nhân tạo,
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn: KS Lý Tuấn Trường, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn các phòng ban, trung tâm khai thác thông tin thư viện trường Đại Học Lâm Nghiệp cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chế Biến Lâm Sản đã tận tình giúp đỡ trong thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin cám ơn ban Giám Đốc, các anh, chị trong công ty TNHH Sản Xuất và Kinh doanh Lâm sản đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành đợt thực tập
Cũng nhân dịp này cho tôi gửi lời cảm ơn đến toàn thể cán bộ, nhân viên bộ môn công nghệ mộc, thiết kế nội thất cùng toàn thể các bạn đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khoá luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xuân Mai, Ngày15 tháng 5 năm 2010
Sinh viên thực hiện
VŨ VĂN TRƯỞNG
Trang 2
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khi cuộc sống ngày càng nâng cao, sự đòi hỏi của con người về những điều kiện vật chất cũng như tinh thần càng phong phú và trở nên khắt khe Nhu cầu về trang trí nhà đẹp đã rất được chú ý trong thời gian gần đây, do đó mà việc trang trí nội thất bên trong ngôi nhà càng được quan tâm đặc biệt Sự hoa mỹ của ngôi nhà không những thể hiện điều kiện kinh tế của gia đình đó mà còn thể hiện con mắt thẩm mỹ của chủ nhân nó Với những gia đình có điều kiện vật chất khá giả thì ngoài những hình thức bên ngoài còn chú ý rất nhiều đến hình thức bên trong Nội thất của căn nhà như phần hồn của ngôi nhà, nó tạo cho con người ta một động lực cũng như sự hãnh diện về nó Khi thiết kế các nhà thiết kế thường chú ý nhất đến phòng khách của ngôi nhà Bởi phòng khách là nơi mà sự gặp gỡ giữa chủ nhân và khách là đầu tiên Phòng khách chính là không gian chung cho
cả gia đình, là nơi các thành viên trong gia đình đoàn tụ quây quần và tiếp đón khách
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống của con người ngày một nâng cao thì nhu cầu về sản phẩm mộc ngày càng lớn và yêu cầu về chất lượng sản phẩm ngày càng cao Sản phẩm mộc hiện nay yêu cầu không chỉ là độ bền của sản phẩm mà cần phải đa dạng về chủng loại, hình thức, kiểu dáng cũng như chất liệu Chúng không chỉ cần phù hợp với mục đích sử dụng mà còn phải có giá trị về thẩm mỹ
Để có những sản phẩm mộc thực sự phù hợp với đời sống, chúng ta cần phát huy hơn nữa vai trò của công tác thiết kế Mặt khác, việc thiết kế cũng nhằm khai thác các khả năng sử dụng nguyên vật liệu hợp lý cho đồ mộc nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng gỗ và một số vật liệu khác như: kim loại, ván nhân tạo, tre,… Hiện nay việc sản xuất đồ mộc từ tre, cót ép đã được quan tâm vì khả năng sử dụng của nó rất khả thi và đáp ứng được những yêu cầu của nhiều khách hàng
Tre, cót ép là những nguyên liệu quan trọng trong sản xuất đồ dùng gia đình, hàng mỹ nghệ…Đồng thời nó đã và đang phần nào thay thế được gỗ
Trang 32
trong công nghệ chế biến đồ mộc Qua nghiên cứu tìm hiểu, nhìn chung một
số tính chất của tre, cót ép có giá trị tương đối với đồ mộc nội thất Tre lại là loài cây sinh trưởng nhanh, từ khi ra măng đến khi trưởng thành chỉ trong một thời gian ngắn 2-3 tháng và đạt tới chiều cao 5-20m Sau 3-5 năm có thể khai thác và sử dụng được, nên đáp ứng được về mặt nguyên liệu Do vậy, đề tài bước đầu tiến hành thiết kế thí điểm một số sản phẩm bàn ghế dùng cho phòng khách từ loại nguyên liệu này
Được sự đồng ý của trường Đại học Lâm Nghiệp và khoa Chế biến
Lâm sản, tôi tiến hành thực hiện khóa luận: “Thiết kế sản phẩm bàn ghế
phòng khách từ nguyên liệu chính là tre, cót ép tại công ty LSK” dưới sự
hướng dẫn của thầy giáo KS Lý Tuấn Trường
Trang 43
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Mục tiêu nghiên cứu
1.1.1 Mục tiêu tổng quát
Thiết kế bàn ghế phòng khách sử dụng nguyên liệu chủ yếu là tre, cót
ép đáp ứng nhu cầu về công năng, thẩm mỹ của người sử dụng
- Tìm hiểu về nguyên liệu tre, cót ép tại công ty LSK
- Nghiên cứu công năng, đặc điểm sử dụng và cấu tạo của của các sản phẩm bàn ghế dùng cho phòng khách
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp kế thừa: Tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn,
của những chuyên gia có kinh nghiệm trong ngành, học hỏi qua sách vở, bái
chí, tạp chí và các tài liệu có liên quan…Phân tích kế thừa các mẫu có sẵn
- Phương pháp tư duy logic: Tổng hợp các kiến thức, các tư liệu sưu tập để đưa ra phương án thiết kế
- Phương pháp đồ hoạ vi tính: thể hiện ý tưởng thông qua các bản vẽ
Trang 54
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Khái quát chung về bàn ghế
2.1.1 Xu thế phát triển của bàn ghế
Theo thời gian, theo đà phát triển của xã hội đồ mộc ngày càng phát triển hơn, hoàn thiện hơn và nó đã trở thành một trong những nhu cầu thiết thực trong đời sống hàng ngày của con người Chính vì vậy mà từ xa xưa đồ mộc đã được ứng dụng rộng rãi vào trong cuộc sống hàng ngày như: giường
để ngủ, ghế để ngồi, tủ để cất đựng, trưng bày… Đó là những đồ mộc tiêu biểu trong cuộc sống hàng ngày mà chúng ta không thể thiếu được
Trong không gian phòng khách, bàn ghế là một phần không thể thiếu đặc biệt là trong các ngôi nhà hiện đại Ngoài tác dụng chính là ngồi, để tiếp khách… bàn ghế còn được thiết kế hài hoà với kiến trúc nội thất, phù hợp với không gian diện tích nhà sẽ tạo vẻ duyên dáng, sang trọng, ấm cúng cho gian phòng Vì vậy mà bàn ghế còn được thiết kế nhằm tạo dáng cho toàn
bộ căn nhà
Với sự phát triển, ngày nay bàn ghế nói chung và bàn ghế phòng khách nói riêng được thiết kế theo nhiều kiểu dáng cũng như chất liệu khác nhau như: sắt, gỗ, inox… các chất liệu này có thể kết hợp với nhau tạo nên chức năng hoàn chỉnh của sản phẩm như gỗ có thể kết hợp với nỉ, inox Tuỳ theo từng phong cách mà chất liệu dùng khác nhau Muốn có không gian phòng khách đẹp thì ta phải đặc biệt chú trọng không gian để bộ bàn ghế và đặc biệt tạo các mảng trang trí độc đáo phù hợp với ánh sáng và màu sắc
2.1.2 Nguyên lý cấu tạo chung của bàn ghế
Bàn ghế có nhiều kiểu, loại Mỗi chức năng sử dụng với yêu cầu riêng thì có những kiểu dáng riêng Song nhìn chung chúng bao gồm các bộ phận sau: tay vịn, hệ chân, mặt bàn, mặt ngồi, lưng tựa
Trang 65
- Tay vịn của ghế
Tay vịn với mục đích là để đặt tay lên khi ngồi cho cảm giác thoải mái Ngoài ra nó còn tạo vẻ sang trọng cho ghế và cho ta cảm giác an toàn đồng thời cũng là điểm vịn tựa cho người già dễ đứng dậy Tay vịn thường làm từ các chất liệu như: gỗ, inox, mút, gỗ và mút kết hợp…Ngoài tay vịn bằng gỗ ra ta có thể làm tay vịn bằng các chất liệu khác như sắt vì chất liệu này cho phép thực hiện nhiều hoa văn đẹp do tính chất dễ uốn của sắt Để không nặng nề và vô hồn cho tay vịn bằng sắt, thép hay inox ta có thể lấy cách điệu từ hoa lá, hình dáng con vật… như vậy sẽ tạo cho tay vịn đẹp hơn, nhẹ nhàng hơn và mang tính nghệ thuật hơn
Hình dáng của tay vịn ghế gỗ thường có chi tiết hoa văn chạm khắc phức tạp đối với bàn ghế giả cổ còn đối với bàn ghế hiện đại khác thường đơn giản hơn
Màu sắc của tay vịn thường là màu của ghế Hiện nay các gia đình người Việt thường dùng bàn ghế gỗ nên tay vịn của nó thường là chất liệu gỗ Theo phong cách người Việt thì màu thường là màu cánh gián, có thể dùng sơn vecny
và các loại sơn khác để tạo màu mong muốn
Tay vịn của ghế được liên kết với mặt ngồi và lưng tựa bằng mộng dương rất khít và được phết keo để tạo ra độ kín khít của các bộ phận Về kích thước của tay vịn, thường thì độ cao của tay vịn là từ 200 ÷ 250mm; chiều rộng giữa hai tay vịn trong khoảng 520 ÷560mm; góc nghiêng tay vịn là ±10÷ 20°
Trang 76
được làm từ nhiều chất liệu khác nhau, tuỳ thuộc vào loại kiểu ghế mà người
ta dùng chất liệu sao cho hợp lý
Về hình dạng, đối với bàn ghế gỗ thường có hình trụ hơi cong được cách điệu tinh tế như hình chân thú ta thường thấy ở những bộ bàn ghế giả cổ Còn các loại ghế khác thường được làm từ nhiều chất liệu khác nhau như: sắt, inox… Với chất liệu từ sắt hay inox thường có hình trụ tạo dáng vẻ hiện đại, sang trọng Ngoài ra ta còn thấy loại chân ghế được bọc đệm mút
Kích thước chân ghế như sau: Chiều cao chân từ đất lên tới mặt ngồi trong khoảng 330 ÷360mm
Chân bàn thường có các loại sau:
- Bàn chân đơn là loại bàn có chân được liên kết trực tiếp vào mặt bàn từng chiếc đơn lẻ, giải pháp liên kết thường bằng ren hoặc mộng
- Bàn chân trụ có kết cấu chân ở dạng rỗng hoặc đặc Thông thường, bàn chỉ có một trụ ở giữa, mặt bàn có thể là hình tròn, hình elíp hoặc hình vuông
- Bàn có vai là loại bàn mà hệ chân của nó gồm có các chân liện kết với nhau bằng vai giằng chính ở phía trên, nối tiếp giáp với mặt bàn, tạo thành kết cấu đỡ mặt bàn
- Mặt bàn và mặt ngồi của ghế
Mặt bàn và mặt ngồi của ghế thường được làm chủ yếu từ các nguyên liệu chính là gỗ tự nhiên, ván nhân tạo, mây tre đan, khung cứng… Mặt ngồi của ghế thường là gỗ tự nhiên hoặc ván nhân tạo kết hợp với mặt mềm (đệm mút, đệm cao su, mây tre đan…)
Hình dạng mặt ngồi của ghế gỗ thường là hình vuông hoặc hình thang hơi thót lại phía sau, mặt ghế phải được đánh rất nhẵn, các đường viền của mặt ghế phải có độ tù nhất định để có cảm giác thoải mái và an toàn khi ngồi Mặt ngồi bằng đệm phải hơi cong về phía trên để tạo độ lún thoải mái khi ngồi Về kích thước mặt ngồi là: góc nghiêng mặt ngồi từ 5 ÷ 10°; bề rộng mặt ngồi từ 430 ÷ 450mm; độ sâu mặt ngồi từ 400 ÷ 440mm
Trang 8- Lưng tựa
Là bộ phận cấu thành của ghế được kết hợp với hệ chân sau hoặc liên kết với mặt ngồi, nhưng phổ biến nhất vẫn là liên kết với hệ chân sau của ghế (bởi nó đảm bảo độ vững chắc hơn là liên kết với mặt ngồi) Về cấu tạo, lưng tựa có thể dạng nan, song tròn hoặc ở dạng tấm (cong hoặc thẳng, dạng tấm thường được chạm khảm hoặc điêu khắc…) có kích thước và hình dạng phù hợp với dáng tổng thể của ghế
Lưng tựa là một phần của ghế được các nhà thiết kế chú ý đến nhất để tạo ra các kiểu dáng riêng biệt, độc đáo, nổi bật cho sản phẩm Lưng tựa có thể làm bằng chất liệu mềm hoặc cứng nhưng vẫn phải dựa trên cơ sở đảm bảo được độ bền Nhìn chung, lưng tựa được bọc bằng vật liệu mềm vẫn đảm bảo tiện nghi hơn lưng tựa cứng nhưng về mặt gia công chế tạo thì phức tạp hơn
Về kích thước lưng tựa như sau: góc tựa 95 ÷ 100°; eo tựa từ 185÷250mm; bán kính eo tựa 300mm; bán kính vai tựa 400 ÷ 500mm; chiều rộng lưng tựa 350 ÷ 480mm
2.2 Cơ sở lý thuyết
2.2.1 Các nguyên lý tạo dáng sản phẩm mộc
Tạo dáng sản phẩm là một trong những công đoạn đặc biệt quan trọng trong quá trình thiết kế sản phẩm Giá trị của mỗi sản phẩm không chỉ được đánh giá qua độ bền, chức năng mà nó còn phải có chất lượng thẩm mỹ Đối với sản phẩm bàn ghế phải thiết kế sao cho việc ngồi được thoải mái với tư thế cần thiết
Trang 98
Mỗi sản phẩm được tạo nên theo một hình dáng, kết cấu và kích thước nhất định với hình dáng đó tập hợp các đường nét, cấu tạo được tổ hợp, sản phẩm được thể hiện theo một hình dáng riêng được con người cảm nhận trong một điều kiện không gian nhất định
Mỗi sản phẩm mộc có chất lượng tốt nghĩa là sản phẩm đó không có khiếm khuyết về mặt kỹ thuật, bên cạnh đó nó còn phải được tạo dáng một cách hài hoà, có thẩm mỹ Chất lượng của một sản phẩm mộc là tổng hợp mọi tính chất khách quan xác định khả năng sử dụng và giá trị thẩm mỹ của nó Vì vậy để đánh giá chất lượng của sản phẩm mộc, trước hết phải xem xét chỉ tiêu
kỹ thuật của nó và ước lượng đánh giá về mặt tạo dáng có đẹp không?
Để đạt được yêu cầu đó, khi thiết kế tạo dáng cho sản phẩm mộc cần chú ý đến việc vận dụng các nguyên lý cơ bản sau:
- Các kích thước cần thiết cho nhu cầu sử dụng, trong đó các kích thước của người đã được tiêu chuẩn hoá là cơ sở chính cho việc xác định kích thước sản phẩm
- Sử dụng nguyên vật liệu hợp lý sẽ làm tăng giá trị sử dụng cũng như giá trị kinh tế của sản phẩm
- Sự phân chia các phần trên bề mặt gây được cảm giác về sự cân bằng
- Sự hài hoà màu sắc hay tương phản hợp lý sẽ làm tăng vẻ thẩm mỹ của sản phẩm
- Chú ý đến tỷ lệ của các sản phẩm và mối tương quan đồng bộ (như giữa bàn và ghế)
- Các yếu tố xung quanh môi trường sử dụng ảnh hưởng đến cảm giác của con người
+ Kích thước cơ bản của sản phẩm:
Với một bộ bàn ghế thì kích thước đáng quan tâm là chiều cao, chiều rộng mặt ngồi, chiều cao lưng tựa, độ ngả lưng tựa… nếu các kích thước cơ
Trang 10đó Tuy nhiên, để nguyên liệu được sử dụng hợp lý thì trong mỗi chi tiết ta dùng những nguyên liệu có kích thước khác nhau cho sản phẩm Sử dụng hợp lý chính là ứng dụng những kích thước khác nhau của nguyên vật liệu vào sản phẩm
+ Sự phân chia các phần trên bề mặt:
Sự phân chia, sắp xếp các phần trên bề mặt bao giờ cũng phải bảo đảm đến sự hài hoà cân đối Sự cân đối ở đây nói tới sự cân bằng về thị giác,
có nghĩa là mắt người cảm nhận được sự cân bằng
Trang 1110
- Cân bằng đối xứng tâm là kết quả của việc tổ chức các yếu tố xung quanh điểm trung tâm Nó tạo ra một yếu tố tập trung nhấn mạnh trung tâm… Các yếu tố có thể hội tụ vào hoặc tạo ra từ vị trí trung tâm này
- Cân bằng bất đối xứng được công nhận là sự thiếu tương xứng về kích cỡ, hình dáng, màu sắc hay mối liên hệ vị trí Giữa các yếu tố đồng nhất thì một bố cục không đối xứng lại kết hợp chặt chẽ các yếu tố không giống nhau tạo sự cân bằng, nhưng nhìn chung cân bằng bất đối xứng tạo cảm giác sinh động khó thực hiện sự cân bằng
Bố trí bất đối xứng cần chú ý đến tính hệ thống của các phần để tạo ra
sự cân bằng về thị lực Sự cân bằng này cũng có tính quy luật, xong chỉ những người nhạy cảm mới cảm giác được
+ Sự hài hoà:
Sự hài hoà có thể được định rõ như sự phù hợp hay sự hài lòng về các thành phần trong một bố cục Trong khi sự cân bằng đạt được cái thống nhất thông qua sự sắp xếp cẩn thận giữa các yếu tố giống nhau và không giống nhau, nguyên lý hài hoà đòi hỏi sự chọn lọc kỹ lưỡng các yếu tố, chia ra những nét riêng hay những đặc tính chung như hình dáng, màu sắc, chất liệu
để tạo ra sự hài hoà
+ Tính nhịp điệu và nhấn mạnh:
Nguyên lý thiết kế nhịp điệu là sự lặp đi lặp lại của các yếu tố Sự lặp lại không chỉ tạo nên sự thống nhất thị giác mà còn tạo nên tính chuyển động
mà mắt và tâm trí người quan sát có thể hướng theo đó Nó có thể được dùng
để thiết lập một nhịp điệu cho những phần chính hoặc để xác định một tuyến chất hay đường viền trang trí
Trang 1211
Trong vận dụng cụ thể, sự thống nhất cần có những điểm chấm phá Điều này tưởng chừng sai nguyên tắc, song nó lại rất hiệu quả trong việc tôn thêm tính thống nhất của bố cục
Các phần trong thể thống nhất có thể thay đổi tạo ra sự đa dạng trong bố cục nhưng cũng không nên quá lạm dụng sẽ dẫn đến sự hỗn loạn về thị giác
+ Nguyên lý về màu sắc và đường nét trên bề mặt sản phẩm mộc:
Khi nhìn vào sản phẩm mộc, con người thường cảm nhận đầu tiên là về màu sắc và các đường nét trang trí, sau đó mới đến hình dạng sản phẩm Sản phẩm có thu hút, có bắt mắt không đó là nhờ vào màu sắc của sản phẩm
Như chúng ta đã biết, màu sắc của một vật phụ thuộc vào ánh sáng chiếu tới nó, song cho dù ánh sáng nhân tạo có phát triển đến đâu đi chăng nữa thì chúng đều hướng theo mục đích là tạo ra loại ánh sáng gần gũi với thiên nhiên nhất và tất nhiên là phản ánh trung thực nhất màu sắc của vạn vật xung quanh Chính vì vậy, mỗi vật, mỗi sản phẩm cần có màu sắc phù hợp, hoà đồng với mọi vật xung quanh nó
Mỗi màu sắc đều tạo ra cảm giác riêng đối với con người Ví dụ: màu
đỏ gây cảm giác ấm cúng, màu lục gây cảm giác bình yên… cảm giác về sự hài hoà của màu sắc được sắp đặt gần nhau cũng là sự cảm giác về thẩm mỹ tạo hình Vì vậy, trong quá trình thiết kế tạo hình của sản phẩm cũng luôn gắn liền với việc lựa chọ màu sắc với việc phân ly tỷ lệ tạo hình của từng chi tiết Trong màu sắc được sử dụng chúng ta có thể sử dụng màu sắc tương phản để tạo ra giá trị thẩm mỹ Để làm nổi bật một bộ phận, chi tiết nào đó, chúng ta nên sử dụng quy luật tương phản về màu sắc
Màu sắc của sản phẩm trong tạo dáng cần tuân thủ theo cảm nhận theo màu của người sử dụng: người già thường thích màu nhẹ nhàng; trẻ nhỏ thường thích các màu nguyên có độ bão hoà màu cao, các sắc độ màu tương phản mạnh…
Màu của sản phẩm mộc gần gũi nhất đó là những màu gần màu gỗ, những màu này là những màu tương đối dễ hoà đồng trong môi trường không
Trang 13Cấu tạo của mộng có nhiều dạng, song cơ bản vẫn bao gồm: thân mộng và vai mộng
Trong sản xuất thường thấy có: liên kết giữa các thanh gỗ với nhau, dán ghép giữa các lớp ván mỏng, dán phủ mặt cho các chi tiết dạng tấm phẳng, dán cạnh…đều sử dụng bằng keo dán
Phương thức này có ưu điểm lớn là có thể tiết kiệm được gỗ, từ gỗ nhỏ tạo thành gỗ lớn, từ gỗ chất lượng kém tạo thành gỗ có chất lượng cao, có thể đảm bảo được sự ổn định của kết cấu, nâng cao chất lượng và cải thiện ngoại quan của sản phẩm
Trang 1413
+ Liên kết đinh
Đây là loại hình liên kết mà chủng loại vật liệu liên kết rất phong phú: có đinh bằng kim loại, đinh gỗ và đinh tre, trong đó thường sử dụng nhất
là đinh bằng kim loại
Liên kết bằng đinh tròn rất dễ làm tổn hại đến kết cấu của gỗ mà cường độ nhỏ, vì thế trong sản xuất đồ mộc ít sử dụng, chỉ sử dụng trong các
vị trí liên kết bên trong, các vị trí không lộ trên bề mặt hoặc những vị trí mà không cần yêu cầu cao về ngoại quan, như dùng để cố định rãnh trượt của ngăn kéo
Đinh tre và đinh gỗ là loại được sử dụng từ rất lâu đời và được phổ biến trong sản xuất các loại đồ mộc bằng thủ công của Trung Quốc Những loại đinh mang tính trang sức thường được dùng trong các loại sản phẩm đồ mộc làm từ gỗ mềm
Liên kết đinh là liên kết không thể tháo lắp nhiều lần Lực liên kết đinh có quan hệ với chủng loại, khối lượng thể tích, độ ẩm của gỗ, đường kính, độ dài, phương hướng và độ sâu của đinh Ví dụ: lực bám đinh ở phần cạnh của ván dăm thấp hơn rất nhiều so với bề mặt của ván, do đó phần cạnh của ván dăm không thích hợp sủ dụng liên kết bằng đinh
+ Liên kết vít
Đây là liên kết lợi dụng phần thân vít xuyên qua hai chi tiết để liên kết chúng lại với nhau Vít là một loại được cấu tạo từ kim loại, chúng gồm hai loại là vít đầu tròn và vít đầu bằng Liên kết bằng vít thường không thể sử dụng cho các kết cấu tháo lắp nhiều lần, sẽ ảnh hưởng đến cường độ liên kết Phần lộ ra bên ngoài của vít sẽ được sử dụng trong các liên kết như mặt bàn,
tủ, ván lưng, mặt ngồi, ngăn kéo… hoặc có thể để lắp đặt các chi tiết khác như tay nắm, khóa cửa
Lực liên kết vít có quan hệ đến chủng loại, khối lượng thể tích, độ ẩm của gỗ nền; đường kính và độ dài của vít được thể hiện theo chiều ngang của thớ
gỗ (vì cường độ theo chiều dọc tương đối thấp, tránh sử dụng)
Trang 1514
+ Các liên kết khác
Đây là các chi tiết liên kết được sản xuất từ kim loại, polyme, thuỷ tinh hữu cơ hoặc bằng gỗ,… Nó được chế tạo đặc thù và có thể tháo lắp nhiều lần và cũng là một loại chi tiết phối hợp không thể thiếu trong sản xuất các loại đồ mộc hiện đại Hiện nay thường sử dụng các chi tiết liên kết bằng kim loại ở dạng như: kiểu xoắn ốc, kiểu lệch tâm và kiểu móc treo Đối với các chi tiết liên kết dạng này có yêu cầu như sau: kết cấu chắc chắn, thuận tiện cho việc tháo lắp nhiều lần, có thể điều tiết được mức độ chặt lỏng, dễ sản xuất, giá thành rẻ, hiệu quả lắp rắp cao, không làm tổn hại đến công năng và ngoại quan của sản phẩm, đảm bảo được cường độ của sản phẩm
Liên kết bằng các chi tiết liên kết là một phương pháp đã được sử dụng rộng rãi nhất trong sản xuất các loại đồ mộc tháo lắp được, đặc biệt là đồ mộc dạng tấm phẳng Hiện nay sử dụng các chi tiết liên kết có thể đạt đựơc mức độ tiêu chuẩn hoá trong gia công đối với các chi tiết, tiện lợi cho việc lắp ráp đóng gói, vận chuyển và dự trữ đối với sản phẩm
2.2.3 Yếu tố con người trong thiết kế sản phẩm mộc
Trong quá trình thiết kế sản phẩm mộc thì yếu tố con người liên quan chặt chẽ với kích thước sản phẩm Bởi vì trong quá trình thiết kế luôn phải tính đến sự phù hợp của sản phẩm với kích cỡ của con người vào từng lứa tuổi, từng đối tượng Kích thước cơ thể của người sử dụng là cơ sở quan trọng
để thiết kế sản phẩm, nó ảnh hưởng đến hình dáng, sự cân đối và tỷ lệ của sản phẩm Do đó, khi thiết kế, trước tiên sản phẩm phải phù hợp với kích cỡ của người sử dụng Muốn đạt được điều đó ta phải dựa vào các yếu tố thuộc về con người như: yếu tố nhân trắc học, thị hiếu thẩm mỹ, các chỉ dẫn của Ergonomics kết hợp với phương pháp cơ thể đồ
Đồ gia dụng không chỉ cần thoả mãn yêu cầu của nhân loại trên công năng cơ bản, đồng thời nó còn có lợi cho sức khoẻ sinh lý và tâm lý của con người Nói trên một ý nghĩa nào đó, thiết kế đồ gia dụng tức là thiết kế sinh hoạt, ở đây bao hàm hai lớp hàm nghĩa, một là công dụng sinh hoạt, hai là tính
Trang 1615
dễ chịu Để thực hiện mục tiêu này, cần phải phân tích khoa học hành vi của người và đặc tính sử dụng của đồ gia dụng Lý luận công học cơ thể người (Human Enginerring, cũng gọi là Human Factors, hoặc Ergonomics ) là căn
cứ khoa học để chúng ta tiến hành thiết kế công năng đồ gia dụng Hiểu Ergonomics cơ thể không nên ở nghĩa hẹp, Ergonomics cơ thể người nghĩa hẹp chủ yếu chú trọng một phía đo kích thước cơ thể, dù đây là quan trọng và không thể thiếu, nhưng đối với thiết kế đồ gia dụng là không đủ Lấy toàn bộ sinh lý và tâm lý của người làm mục tiêu, tiến hành nghiên cứu động thái Ergonomics trên nghĩa rộng cần phải trở thành kim chỉ nam của thiết kế công năng đồ gia dụng, thiết kế làm ra từ đây mới có sức sống chịu được khảo nghiệm thời gian và địa phương
Cũng như vậy chúng ta cần xem xét kỹ các yếu tố nhân trắc học trong quá trình thiết kế tạo dáng sản phẩm mộc Đó là những số liệu về chiều cao toàn phần, chiều cao đến vai, chiều rộng vai, chiều dài cánh tay, chiều dài chân các số liệu này thay đổi theo giới tính Từ những số liệu đó áp dụng vào
để bố trí kích thước đồ gia dụng trong phòng sao cho hợp lý, từ cửa vào, lối đi
và khoảng cách khi cúi xuống Cho nên khi ta nghiên cứu về số liệu nhân trắc học phải có sự tìm hiểu đầy đủ về đối tượng sử dụng Sau đây là các thông số
về nhân trắc học, đó là các số liệu về kích thước của con người có liên quan đến việc sử dụng đồ mộc, có rất nhiều số liệu liên quan Do sản phẩm tôi lựa chọn
để thiết kế là bộ bàn ghế nên ở đây tôi chỉ lấy các số liệu cần thiết liên quan đến
tư thế ngồi
Trang 1716
Các kích thước được thể hiện như hình vẽ ở hình dưới đây
Hình 1 Kích thước ngang cơ thể người
Hình2 Kích thước cơ thể người tư thế ngồi
Trang 18chân và bàn chân
372 383 389 413 439 448 463 431 342 350 382 399 405 417
Chiều sâu ngồi 407 421 429 457 486 494 510 388 401 408 433 461 469 485 Chiều dài chân 892 921 937 992 1046 1063 1096 826 851 865 912 960 975 1005 Chiều cao đầu gối 441 456 464 493 525 532 549 410 424 431 458 485 493 507 Chiều cao điểm gáy 599 615 624 657 691 701 719 563 579 587 617 648 657 675 Chiều cao mắt 729 749 761 798 836 847 868 678 695 704 769 773 783 803 Chiều dày đùi 103 112 116 130 146 151 160 107 113 117 130 146 151 160
Chiều sâu ngồi và
chiều dày cổ chân
499 551 524 554 585 595 613 418 495 502 529 561 560 587
Trang 1918
Bảng 2: Kích thước ngang cơ thể người
Chiều rộng ngực 244 253 259 280 307 315 331 219 233 239 260 289 299 319 Chiều dày ngực 176 186 191 212 237 245 261 159 170 176 199 230 239 260 Chiều rộng vai 330 344 351 375 397 403 415 304 320 328 351 371 377 387 Chiều rộng lớn nhất của vai 383 398 406 431 460 469 486 347 363 371 397 428 438 458 Chiều rộng hông 273 282 288 306 327 334 346 275 290 296 317 340 346 360 Chiều rộng mông tư thế ngồi 284 295 300 321 347 355 369 295 310 318 344 374 382 400 Chiều rộng hai cánh tay tư thế ngồi 353 371 381 422 473 489 518 326 348 360 404 460 478 509
Vòng ngực 762 791 806 867 944 970 1018 717 745 760 825 919 949 1005 Vòng mông 780 805 820 875 948 970 1009 795 824 840 900 975 1000 1044
Trang 2019
2.2 Lý thuyết chung về tre, cót ép
2.2.1 Tổng quan nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm từ tre, cót ép
Tre là một nhóm cây có thân hóa gỗ, thuộc họ phụ tre (Bambusoideae),
họ cỏ (Poaceea) với khoảng 1300 loài tre, thuộc 70 chi, phân bố trên toàn thế giới, phân bố tập trung nhiều nhất ở vùng Nam và Đông Nam Châu Á.Cho đến nay đã thống kê được khoảng 14 triệu hecta rừng tre phân bố trên thế giới
Với diện tích lớn như vậy, tre đã đóng vai trò quan trọng chỉ đứng sau
gỗ với ngành Lâm Nghiệp ở các nước Châu Á Trên thế giới có hơn một nửa dân số liên quan đến sử dụng, quản lý và phát triển tre Đến nay nhiều nước Châu Á đã nghiên cứu và gây trồng và phát triển rừng tre thành những vùng cung cấp nguyên liệu cho chế biến thực phẩm và công nghiệp
Năm 1996 nhiều tác giả của Trung tâm nghiên cứu kỹ thuật tre Trung Quốc đã nghiên cứu tạo ván kết hợp tre gỗ xẻ để tạo ra ván sàn, đạt tiêu chuẩn ván sàn, đạt tiêu chuẩn ván sàn cao cấp
Năm 1997 nhiều tác giả của trường Đại học Nam Ninh đã tiến hành nghiên cứu tạo ván kết hợp tre-gỗ làm sàn conttenr, có sức chịu mài mòn cao
Năm 1999 nhiều tác giả của trung tâm nghiên cứu Trúc ở Triết Giang Trung Quốc đã nghiên cứu tạo ván cốp pha tre chuyên sử dụng cho các công trình xây dựng cầu đường Thời gian sử dụng gấp trên hai lần so với ván cốp pha gỗ dán
Từ năm 2001-2005 nhiều tác giả của Trung tâm nghiên cứu Trúc ở Triết Giang Trung Quốc cũng đã nghiên cứu công nghệ tạo các sản phẩm mộc gia dụng và trang trí nội thất từ tre Đặc biệt là các công trình nghiên cứu cacbon hóa tre tạo ra sản phẩm mới giá trị từ tre
Việt Nam có khoảng 150 loài tre thuộc 20 chi khác nhau, phân bố rải rác từ các tỉnh Tây Nguyên trở ra nhưng tập trung chủ yếu ở một số tỉnh Bắc Trung Bộ và Đông Bắc Bộ
Trang 2120
Từ ngàn xưa, người Việt Nam đã biết sử dụng tre tạo ra nhiều sản phẩm sử dụng trong lao động và sinh hoạt gia đình, trong đó chủ yếu dùng làm vật liệu xây dựng nhà ở nông thôn miền núi, làm công cụ lao động ở dạng nguyên cây hoặc cắt khúc Ngoài ra tre còn được chẻ thành nan đan thành các vật dụng trong gia đình, tạo các tấm lớn làm vách ngăn, bao che Đặc biệt tre còn được sử dụng kết hợp với song mây tạo ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ có giá trị cao về kinh tế và thẩm mỹ, tạo nên nét văn hóa độc đáo, mang bản sắc riêng của người Việt Nam
Trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm từ tre của Việt Nam ở quy mô công nghiệp từ đầu những năm 1980-1990, chỉ là cót ép dạng phẳng, với các tấm cót mộc đều được đặt đan theo kích thước: 1m x 2m; 1m x 3m; 1m x 4m, chủ yếu được đan theo hoa văn “lóng đôi” Nhưng hiện nay hoa văn và kích thước cót đã được mở rộng và đa dạng hơn rất nhiều làm theo đơn đặt hàng sản phẩm cót ép, chủ yếu cho nhu cầu xuất khẩu Sản phẩm không những có hoa văn phong phú mà chất kết dính được sử dụng là các loại keo trắng, không độc hại lại có độ bền cao Nên sản phẩm cót ép hiện nay chủ yếu được xuất khẩu sang Nhật Bản, Đài Loan, Malaysia, Nga, Mỹ và một số nước Châu
Âu, cung cấp vật liệu xây dựng cho nhà nghỉ, nhà hàng của các khu du lịch sinh thái, các chòi che nắng ven biển….Nổi bật là khoảng 1000m2
cót ép chất lượng cao đã được nhập từ các cơ sở của Việt Nam để lợp cho “Nhà triển lãm Nakarute” của Hội chợ quốc tế Nhật Bản Đây là ngôi nhà được làm hoàn toàn từ tre nứa, song mây có hình dạng kén tằm lớn nhất thế giới Ngôi nhà có chiều dài 90m, chiều ngang 70m và chiều cao 19m, phải dùng hết khoảng 30.000 cây tre Ngoài cót ép, tre còn được sử dụng kết hợp với các vật liệu khác như song mây, chất phủ công nghiệp để làm các sản phẩm mỹ nghệ có chất lượng và thẩm mỹ cao, có giá trị xuất khẩu
Hiện nay cót đan còn đang được sử dụng để sản xuất các sản phẩm mộc và trang trí nội thất bằng công nghệ ép định hình, ứng dụng kỹ thuật điện
Trang 22Mỹ (chuyên sản xuất các mặt hàng mây tre đan xuất khẩu; Các huyện Gia Lương, Gia Bình, Quế Võ…của tỉnh Bắc Ninh, các huyện Đồng Văn, Duy Tiên của tỉnh Hà Nam chuyên sản xuất các mặt hàng cót ép, hàng trang trí xuất khẩu; tại các huyện Quỳnh Phụ, Đông Hưng, Kiến Xương của tỉnh Thái Bình…chuyên sản xuất các mặt hàng mỹ nghê từ song mây xuất khẩu
2.2.2 Một số đặc điểm, tính chất của tre, cót ép
2.2.2.1 Cấu tạo của tre
Tre cũng như gỗ, đều là cơ thể hữu cơ sinh trưởng tự nhiên, đều thuộc vật liệu không đẳng hướng, nhưng ở hình thái ngoại quan, kết cấu và thành phần hóa học cũng rất khác nhau, tính chất vật lý, cơ học có đặc thù riêng của
nó So với gỗ, nhìn chung tre có cường độ cao hơn (đặc biệt là phần cật), dễ gia công…Làm cho tre nứa có nhiều ứng dụng
Tre chia làm 3 bộ phận chính: Thân ngầm, thân tre và cành lá:
Trang 2322
ngắn, lỗ rỗng trong ruột rất bé hay đặc hoàn toàn Trên thân ngầm có vòng
mo, vòng rễ, chồi, các bộ phận thường có màu trắng ngà
b Thân tre
Thân thường tròn, có đoạn gốc hình bầu dục Thân có nhiều lóng, độ dài của lóng từ gốc đến ngon không giống nhau Nói chung các lóng ở giữa thân dài hơn các lóng ở gốc và ngọn Trong ruột lóng rỗng, phần tiếp giáp giữa các đốt là mắt
Mắt gồm các bộ phận: Một vòng thân nằm nằm phía trên còn gọi là vòng rễ, vòng dưới là chỗ đính các mo nang gọi là vòng mo Giữa hai vòng là đốt, bên trong ruột có màng ngăn cách giữa hai lóng
Tùy theo đặc tính của mỗi loài mà màng ngăn thường phẳng, lồi lên hay lõm xuống, kín hoặc thủng lỗ Ở mỗi phía đốt có màng chồi thường gọi là mắt Chồi thân là nơi phát triển thành cành
c Cành lá
Cành có cấu tạo như thân, cành phát triển từ chồi thân gọi là cành chính Cành ở giữa thường lớn hơn và dài hơn những cành bên cạnh Tùy theo đặc điểm của mỗi loài, chồi thân có từ 1-3 hoặc nhiều cành chính
Lá: Các loài cây trong họ tre trúc thường có hai loại lá: Một loại chuyên bảo vệ thân non gọi là mo nang, một loại chuyên làm nhiệm vụ quang hợp tạo nên chất hữu cơ nuôi cây gọi là quang hợp
Trang 24vị trí của thân và mùa chặt hạ Nhìn chung tre già có độ ẩm thấp và tre non có
độ ẩm cao Độ ẩm ở phần ngọn cao hơn phần gốc, ở phần ruột cao hơn phần cật Độ ẩm của tre tươi thường lớn hơn 70%, cao nhất là 145% và trung bình khoảng 80-100%
- Tính chất co rút của tre: Tỷ lệ co rút của tre thường ít hơn gỗ Khác với gỗ, ở tre co rút thể tích nhiều hơn co rút theo chiều dài Co rút tiếp tuyến ở cật tre là lớn nhất, thứ hai là co rút xuyên tâm và co rút tiếp tuyến ở ruột tre,
co rút dọc thớ là ít nhất Nguyên nhân chính gây ra sự co rút trong tre là sự mất nước của các lỗ mạch trong các bó mạch Vì vậy, co rút ở những vị trí có
sự phân bố các bó mạch nhiều sẽ cao hơn Ngược lại, co rút sẽ ít hơn ở những chỗ có sự phân bố các bó mạch ít Tre thường bị nứt trong quá trình sấy bởi vì
co rút ở cật lớn hơn ở ruột
2.2.2.3 Tính chất cơ học của tre:
- Tre có độ bền cơ học cao và khả năng thích ứng tốt, dễ gia công, vì vậy nó được sử dụng rộng rãi trong xây dựng, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, trong nông nghiệp và nghề cá Theo tài liệu, tre có ứng suất kéo gấp hai lần gỗ và ứng suất nén cũng cao hơn gỗ khoảng 10%
- Ứng suất chịu kéo dọc thớ: Là phương chịu lực tốt nhất so với các phương chịu lực khác, ở các loài tre khác nhau thì ứng suất chịu kéo dọc thớ cũng khác nhau Trong cùng một cây ở các vị trí khác nhau ứng suất chịu kéo cũng khác nhau Tại một vị trí thì giới hạn bền chịu kéo ở phần cật lớn hơn ở phần ruột, ứng suất chịu kéo ở phần đốt bằng 1/2 ứng suất chịu kéo ở phần lóng (theo tài liệu, mẫu đốt của tre gai có ứng suất kéo dọc thớ là 1463 kgf/cm2, nhưng mẫu lóng là 3218 kgf/cm2) Theo chiều cao thân cây thì ứng
Trang 25- Ứng suất trượt: Ứng suất trượt của tre tương đối nhỏ so với các loại ứng suất khác, ứng suất trượt dọc thớ nhỏ hơn ứng suất ứng suất trượt dọc ngang thớ khoảng ba lần, ứng suất trượt ở phần đốt lớn hơn ở phần lóng Trượt ngang thớ do các bó mạch sản sinh nội lực, còn trượt dọc thớ nội lực do các mô mềm sinh ra, trên thành tre phần cật có giới hạn bền lớn hơn phần ruột Nếu so sánh ứng suất trượt của tre với ứng suất trượt của gỗ ta thấy ứng suất trượt của tre nhỏ hơn nhiều so với gỗ, ứng suất trượt này có ảnh hưởng đến quá trình gia công tre
- Ứng suất tách dọc thớ của tre: Do các tế bào của tre ở phần lóng xếp song song với trục dọc của thân cây nên ứng suất tách dọc thớ rất nhỏ Ứng suất tách ở phần lóng nhỏ hơn ở phần mấu do ở phần mấu các tế bào xếp nghiêng so với trục dọc thân cây Theo kết quả nghiên cứu, giới hạn bền tách của tre khoảng 19-20 MPa, còn giới hạn bền tách của gỗ từ 150-200MPa Điều này rất có lợi cho quá trình tạo nan
- Mô đun đàn hồi của tre: Do cấu tạo tre không đồng nhất, mặt khác tre
là vật liệu hữu cơ nên khi chịu tác động của ngoại lực nó có biến dạng lớn Biến dạng của tre theo các chiều hướng khác nhau cũng khác nhau Đặc trưng cho tính biến dạng của tre là biến dạng và đàn hồi được tính theo biểu thức sau:
ε =
L L
Trang 26Trong đó: E: Mô đun đàn hồi (N/mm2)
σ: Ứng suất của tre (N/mm2)
Mô đun đàn hồi có ý nghĩa rất lớn trong quá trình gia công tre Do ứng suất theo các chiều hướng khác nhau có giá trị khác nhau, nên mô đun đàn hồi của tre theo từng hướng cũng có giá trị khác nhau
2.2.2.4 Một số đặc điểm về cót ép
Trong sản phẩm cót ép hiện nay có thể phân thành cót ép phổ thông và cót ép trang sức Ván cót ép phổ thông mỏng dùng làm bao bì, ván cót ép dày phổ thông dùng làm khuôn bê tông xây dựng và ván sán của các toa xe, toa tàu Ván cót ép trang sức được làm từ các tấm cót mặt đan bằng các nan đã nhuộm hoặc tẩy trắng, đan thành các họa tiết rất tinh xảo, các lớp lõi là các tấm cót thô, chủ yếu làm dụng cụ gia đình và nội thất
- Đối với sản phẩm cót ép phổ thông nhiều lớp, n=11, t=12 (mm), được dùng để sản xuất đồ mộc được phân loại như sau:
a Xét theo kết cấu ván
Số lớp ván mỏng: N=2n+1 (n=1,2,3…)
Các lớp ván mỏng có chiều thô ngang với nhau một góc từ 18÷250
, theo kiểu hình sao
Sai số chiều dày giữa các lớp ván mỏng không quá 10%
b Xét theo khối lượng riêng
Khối lượng thể tích của ván là một thông số biến đổi, phụ thuộc vào nhiều yếu tố công nghệ:
γ sp=f(γng.liệu, Pép, Svm, Ssp, T0ép, loại keo…)
Trong đó:
γ ng.liệu: Là khối lượng thể tích của nguyên liệu
Pép : Là áp suất ép (Kg/cm2)
Svm : Là chiều dày ván mỏng (mm)
Trang 2726
Ssp : Là chiều dày sản phẩm (mm)
T0ép : Là nhiệt độ ép (0C)
Tùy theo mục đích sản phẩm mà quyết định đến khối lượng thể tích ván
- Đối với ván cót ép dùng để trang sức: Hiện nay ván cót ép trang sức
có hoa văn họa tiết cầu kỳ, sinh động và có tính thẩm mỹ cao Chúng được sử dụng như một loại vật liệu dán phủ trang trí cho các loại ván công nghiệp như ván dăm, ván sợi, ván ghép thanh… So với các sản phẩm ván dán phủ bằng vơneer, giấy trang trí sản phẩm, ván dán cót ép trang trí có hiệu quả trang sức không hề thua kém, thậm chí nó có ưu điểm hơn về sự phong phú đa dạng
Những sản phẩm ván dán cót ép trang trí được ứng dụng vào trong sản xuất đồ mộc gia dụng như bàn ghế, tủ kệ và hàng thủ công mỹ nghệ như khay đĩa…
Tuy nhiên hiện nay các sản phẩm mộc sử dụng dán phủ cót ép trang trí còn hạn chế, mới dừng ở mức độ nhỏ và chưa phản ánh đúng khả năng sử dụng của chúng
Trang 2827
Chương 3
CƠ SỞ THỰC TIỄN 3.1 Xu hướng thiết kế phòng khách hiện đại
Phòng khách theo phong cách hiện đại chú trọng sự thoáng đãng, không khí tự nhiên và kết nối các không gian một cách hài hoà, tiện dụng Để
có được một phòng khách đẹp đòi hỏi người thiết kế phải có được cái nhìn tổng thể, phù hợp với mức độ đầu tư của gia chủ, diện tích sử dụng, cũng như tính cách, sở thích của gia chủ
Nếu như trước đây, trường phái cổ điển với đồ nội thất cổ, cũ, giả cổ với hình thức và chi tiết cầu kỳ thậm chí rườm rà, được nhiều người tiêu dùng lựa chọn, thì từ đầu năm 2007 đến nay, trường phái thiết kế hiện đại với các gam màu tươi sáng, chất liệu đa dạng lại được nhiều kiến trúc sư và các nhà thiết kế nội thất sử dụng
Hình khối:
Trong những ngôi nhà hiện đại phòng ăn và phòng khách thường được kết nối với nhau để tạo ra một không gian mở lý tưởng Tường, trần được thiết kế tạo thành các mảng hình khối vuông, hình chữ nhật …với các đường nét đơn giản không cầu kỳ cùng với đồ dùng trong phòng mang những nét thẳng, phẳng, tạo ra một không gian khá thoáng, nhưng cũng không hề đơn
Trang 2928
điệu Những lựa chọn chủ yếu cho bàn ghế phòng khách là những bộ sofa gỗ dạng tấm phẳng hay khung kim loại Các chi tiết được tối giản tới mức tối đa kết hợp với đệm ngồi và đệm tựa lưng tạo sự thoải mái cho người sử dụng thanh thoát cho không gian sử dụng
Vật liệu:
Vật liệu được sử dụng là những vật liệu truyền thống như giấy dán tường, gỗ, kim loại, đã những đã được xử lý, và nâng cao chất lượng cũng như đa dạng về mẫu mã Giờ đây vật liệu được chú trọng nhiều hơn đến việc
có thể sử dụng chính chúng như những đồ vật trang trí cho ngôi nhà Các gam màu chủ đạo của chúng là gam sáng, màu sắc trung tính, thể hiện một phong cách hiện đại, trẻ trung đầy sức sống, mang lại một không khí vui tươi
Màu sắc:
Những sắc màu tưởng chừng như tương phản nhau như trắng, đen và
đỏ lại là cách phối màu lý tưởng, thể hiện nét hiện đại và vẻ đẹp riêng của từng sắc màu Thêm vào đó căn phòng thật cá tính với những ô khối vuông, tròn, hình học mà sự phối hợp ngẫu nhiên lại có những hiệu quả bất ngờ
Trang 3029
Sắc màu xám trắng bao phủ mang vẻ nhẹ nhàng và tinh tế cho căn phòng, như mời gọi cảm giác thư giãn thu hút từ ánh nắng ngoài khung cửa kính Chiếc bàn cà phê xinh xắn với lọ hoa tươi là điểm nhấn thú vị cho bức tranh tĩnh lặng
Không gian và sắc màu của ánh sáng
Theo thuật phong thuỷ, ánh sáng và đèn tượng trưng cho mặt trời và được coi là yếu tố quan trọng để tạo nên sức sống cho mỗi không gian, mỗi căn phòng trong ngôi nhà của bạn Mỗi loại ánh sáng khác nhau sẽ đem đến các sắc màu khác nhau Mỗi mệnh trong ngũ hành sẽ có màu tiêu biểu và ánh sáng sẽ quyết định màu sắc trong ngôi nhà Chính vì vậy khi thiết kế, ngoài việc chọn ánh sáng phù hợp với công năng và tính nghệ thuật thì lựa chọn ánh sáng theo phong thuỷ cũng được kiến trúc sư xem xét kỹ