1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế bộ bàn ghế sử dụng cho không gian ngoại thất

52 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên cứu - Khảo sát một số sản phẩm bàn ghế đang sử dụng ngoài trời - Đánh giá công năng, đặc điểm của sản phẩm bàn ghế sử dụng cho ngoại thất - Thiết kế tạo dáng bộ bàn ghế p

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp hoàn thành khoá luận tốt nghiệp, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Cao Quốc An và KS Hoàng Minh Đức đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình hoàn thành khoá luận

Qua đây, cho em gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong bộ môn công nghệ mộc và thiết kế nội thất, cùng các thầy cô giáo trong khoa Chế Biến Lâm Sản, Trung tâm TT & Thư viện Trường Đại học Lâm nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ em thực hiện các nhiệm vụ nội dung khoá luận

Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè đã động viên tinh thần và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khoá luận này

Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng song do thời gian và kinh nghiệm

có hạn nên còn nhiều thiếu sót, vậy em mong sự đóng góp ý kiến của thầy (cô) giáo để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Xuân Mai, ngày 31 tháng 5 năm 2013

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Lân

Trang 2

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 2

1.1 Tổng quan nghiên cứu 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Nội dung nghiên cứu 3

1.4 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

Chương 2.CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4

2.1 Khái quát chung về bàn ghế 4

2.1.1 Xu thế phát triển của bàn ghế ngoài trời 4

2.1.2 Nguyên lý cấu tạo chung của bàn ghế 4

2.2 Sản phẩm mộc và những nguyên tắc thiết kế sản phẩm mộc 7

2.2.1 Những yêu cầu chung của sản phẩm mộc 7

2.2.2 Nguyên tắc thiết kế sản phẩm mộc 9

2.3 Thiết kế tạo hình 13

2.3.1 Khái niệm 13

2.3.2 Yếu tố tạo hình 13

2.4 Liên kết cơ bản của sản phẩm mộc 18

2.4.1 Liên kết mộng 18

2.4.2 Liên kết keo 19

2.4.3 Liên kết đinh 19

2.4.4 Liên kết vít 20

Trang 3

2.4.5 Các liên kết khác 20

2.5 Vật liệu trong sản xuất đồ mộc 21

2.5.1 Vật liệu tự nhiên 21

2.5.2 Ván nhân tạo 21

2.5.3 Vật liệu kim loại 22

2.6 Trang sức đồ mộc 24

2.7 Mối quan hệ giữa con người và đồ mộc 24

Chương 3.CƠ SỞ THỰC TIỄN 26

3.1 Không gian ngoại thất 26

3.2 Khảo sát một số loại hình sản phẩm có trên thị trường hiện nay 26

3.3.Tình hình nguyên liệu sản xuất bàn ghế cho không gian ngoại thât 30

Chương 4.THIẾT KẾ SẢN PHẨM VÀ TÍNH TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU 33

4.1 Ý tưởng thiết kế 33

4.2 Phương án thiết kế 33

4.2.1 Bóc tách sản phẩm 34

4.2.2 Lựa chọn vật liệu sử dụng 36

4.2.4 Các bước gia công sản phẩm 40

4.2.5 Điều kiện công nghệ 40

4.2.6 Tính toán nguyên vật liệu 41

Chương 5.ĐÁNH GIÁ THIẾT KẾ 42

5.1 Kết quả đạt được về mặt lý thuyết 42

5.2 Kết quả thực tiễn 42

5.3 Phân tích đánh giá thiết kế 42

5.3.1 Đánh giá về thẫm mỹ 42

5.3.2 Đánh giá về công năng 43

Trang 4

Chương 6.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44

6.1 Kết luận 44

6.1.1 Kết quả đạt được 44

6.1.2 Vấn đề còn thiếu sót 44

6.2 Kiến nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 3.1 Bàn ghế gỗ 27

Hình 3.2 Bộ bàn ghế bằng nhôm trắng kết hợp với đệm 27

Hình 3.3 Bàn ghế kim loại kết hợp đệm mút 28

Hình 3.4 Bàn ghế làm bằng giả mây 28

Hình 3.5 Bộ bàn ghế làm bằng các mắt lưới kết hợp với bàn mặt kính 29

Hình 3.6 Bàn ghế ngoài trời sặc sỡ đầy quyến rũ 29

Hình 3.7 Trang nhã với bộ bàn ghế làm từ mây nhựa 30

Hình 4.1 Hình ảnh phối cảnh của sản phẩm 34

Hình 4.2 Tổng thể và bóc tách ghế đơn 34

Hình 4.3 Tổng thể và bóc tách ghế dài 35

Hình 4.4 Tổng thể và bóc tách bàn 36

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 4.1 Các chi tiết của ghế đơn 35

Bảng 4.2 Các chi tiết của ghế dài 35

Bảng 4.3 Các chi tiết của bàn 36

Bảng 4.5 Bảng thống kê phụ kiện 41

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cùng với sự phát triển của xã hội đời sống con người ngày càng được nâng cao kéo theo đó là nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn sau những ngày làm việc mệt mỏi Một không gian sân vườn có không khí của thiên nhiên, thoải mái, dễ chịu là điều mà bạn nên thưởng thức kết hợp với không gian

đó là những bộ bàn ghế hay những chiếc xích đu…đươc thiết kế độc đáo

để dành cho không gian ngoại thất

Trên thị trường nội thất hiên nay, những bộ bàn ghế ngoài trời thường thiết kế theo xu hướng thanh mảnh, tinh tế và gần gũi với thiên nhiên với các sản phẩm từ cói, mây, gỗ, nhựa giả gỗ, sắt sơn phủ…vì thế sản phẩm ngoại thất hiện nay rất đa dạng phong phú, nhiều mẫu mã độc đáo Nhưng sử dụng từng loại vào từng môi trường khác nhau còn phải tùy thuộc vào không gian, đối tượng sao cho phù hợp vì ngoại thất bao hàm nhiều không gian như: công viên, sân vườn, bãi biển…và có nhiều loại đối tượng khác nhau Vì vậy nhu cầu sử dụng rất đa dạng

Nắm bắt được nhu cầu này đã có rất nhiều ý tưởng thiết kế được đưa

ra để đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng và đã có rất nhiều sản phẩm đã thành công với nhiều kiểu dáng và chất lượng thỏa mãn phù hợp với túi tiền của người sử dụng

Vì vậy được sự nhất trí của khoa Chế biến lâm sản trường Đại hoc Lâm Nghiêp cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của TS Cao Quốc An và KS Hoàng Minh Đức, em đã thực hiện nghiên cứu đề tài “Thiết kế bộ bàn ghế sử dụng cho không gian ngoại thất”

Trang 7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Tổng quan nghiên cứu

Hiện nay xu thế mới trên thế giới về đồ ngoài trời cho thấy nó ngày càng đi vào nét hiện đại, tinh tế, thực dụng và vẫn giữ lại dáng vẻ đồng quê Điểm nổi bật là việc xuất hiện các chất liệu mới cho phép nâng cao tính thẩm mỹ và thực dụng Tại Việt Nam, việc sản xuất bàn ghế ngoài trời cũng đi cùng với các xu hướng đó Hiện nay bàn ghế ngoài trời đã được người tiêu dùng trong nước sử dụng, chính vì thế mẫu mã ngày càng nhiều và chất liệu có những thay đổi chứ không chỉ đơn thuần là gỗ Đặc điểm của loại sản phẩm này là mẫu mã được thiết kế cho từng khu vực như hồ bơi, sân vườn, công viên Kiểu dáng thiết kế ngày càng bớt nặng nề và đi vào thanh mảnh hơn, do việc đưa thêm các chất liệu như sắt, nhôm vào phần khung Các đường nét thẳng vuông vức hiện đại của

đồ nội thất cũng được ứng dụng ở đây Tính thực dụng được đề cao, các

bộ bàn ghế xếp gập được, xếp chồng lên nhau dễ dàng Các loại ghế tạo cho sự thư giãn tối đa và độ bền của chất liệu được chú ý

Các sản phẩm bàn ghế ngoại thất đã được nghiên cứu nhiều và có những sản phẩm đã được ứng dụng thực tế và được sản xuất có quy mô

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trang 8

- Lựa chọn phương án thiết kế sao cho phù hợp với không gian ngoại thất, đảm bảo tính vững chắc mà vẫn hiệu quả kinh tế, tiết kiệm diện tích đồng thời sử dụng nguyên vật liệu hợp lí

- Thiết kế tạo dáng cho phương án đã chọn

- Thuyết minh cho sản phẩm

1.3 Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát một số sản phẩm bàn ghế đang sử dụng ngoài trời

- Đánh giá công năng, đặc điểm của sản phẩm bàn ghế sử dụng cho ngoại thất

- Thiết kế tạo dáng bộ bàn ghế phù hợp với nhu cầu, mục đích sử dụng cũng như không gian ngoại thất

- Thiết kế kết cấu, cấu tạo sản phẩm

- Xây dựng hệ thống bản vẽ của phương án thiết kế:

+ Các bản vẽ thể hiện các kết cấu và bóc tách các chi tiết, lắp ráp + Các bản vẽ phối cảnh trong không gian ngoại thất cụ thể là trong không gian sân vườn

- Tính toán nguyên vật liệu

1.4 Phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Bộ bàn ghế sử dụng cho ngoại thất làm từ

gỗ tự nhiên kết hợp với khung làm bằng kim loại

- Phạm vi nghiên cứu: Thiết kế sản phẩm sử dụng cho không gian sân vườn

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp kế thừa các lí thuyết có liên quan

- Phương pháp điều tra, khảo sát: Tìm hiểu các mẫu bàn ghế sử dụng cho không gian sân vườn hiện đang được ưa chuộng

- Phương pháp phân tích so sánh, đánh giá

- Phương pháp tư duy lôgic: Sử dụng tư duy để tìm ra ý tưởng thiết

kế

Trang 9

- Phương pháp đồ họa vi tính: Sử dụng các phương pháp đồ họa máy tính như autocad, 3d max, photoshop

Chương 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Khái quát chung về bàn ghế

2.1.1 Xu thế phát triển của bàn ghế ngoài trời

Xã hội phát triển, cuộc sống ngày càng phức tạp, lao động chân tay đang dần được thay thế bằng lao động trí óc, tất cả các yếu tố trên luôn gây sức ép cho con người, tạo ra cho chúng ta nhiều cảm giác căng thẳng, khó chịu Do đó sản phẩm mộc nói chung và sản phẩm ghế ngoài trời nói riêng là một trong những mặt hàng xuất khẩu chiến lược của nước ta, có thể thấy rằng sản xuất sản phẩm mộc và nhu cầu sử dụng sản phẩm mộc của chúng ta là rất lớn Các sản phẩm mộc đã trở thành một nhu cầu thưởng thức của con người, chúng làm cho không gian nội ngoại thất trở nên sang trọng, thoáng mát và tự nhiên Ngày nay, sử dụng sản phẩm mộc ngoài vấn đề công năng ứng dụng là mối quan tâm hàng đầu của các nhà sản xuất thì tính thẩm mĩ cũng đặc biệt được chú trọng

Xu thế hiện nay đối với bàn ghế là tăng cường sự phong phú về hình thức, đa dạng về kết cấu, gỗ và các vật liệu thay thế gỗ được kết hợp sử dụng để tạo nên các sản phẩm bàn ghế Xu hướng sử dụng vật liệu mới và công nghệ mới, các sản phẩm ép định hình và kim loại để sản xuất ra bàn ghế rất phổ biến và được ưa chuộng Mặt khác, còn đi sâu vào việc khai thác về khía cạnh đa dạng hình thức và kết cấu đơn giản

2.1.2 Nguyên lý cấu tạo chung của bàn ghế

Bàn ghế có nhiều kiểu loại, mỗi chức năng sử dụng với yêu cầu riêng thì có những kiểu dáng riêng Song nhìn chung chúng bao gồm các bộ phận sau: tay vịn, hệ chân, mặt bàn, mặt ngồi, lưng tựa

2.1.2.1 Tay vịn của ghế

Trang 10

Tay vịn với mục đích là để đặt tay lên khi ngồi cho cảm giác thoải mái Ngoài ra nó còn tạo vẻ sang trọng cho ghế và cho ta cảm giác an toàn đồng thời cũng là điểm vịn tựa cho người già dễ đứng dậy Tay vịn thường làm từ các chất liệu như: gỗ, inox, mút, gỗ và mút kết hợp…Ngoài tay vịn bằng gỗ ra ta có thể làm tay vịn bằng các chất liệu khác như sắt vì chất liệu này cho phép thực hiện nhiều hoa văn đẹp do tính chất dễ uốn của sắt Để không nặng nề và vô hồn cho tay vịn bằng sắt, thép hay inox ta

có thể lấy cách điệu từ hoa lá, hình dáng con vật… như vậy sẽ tạo cho tay vịn đẹp hơn, nhẹ nhàng hơn và mang tính nghệ thuật hơn

Hình dáng của tay vịn ghế gỗ thường có chi tiết hoa văn chạm khắc phức tạp đối với bàn ghế giả cổ còn đối với bàn ghế hiện đại khác thường đơn giản hơn

Màu sắc của tay vịn thường là màu của ghế Hiện nay các gia đình người Việt thường dùng bàn ghế gỗ nên tay vịn của nó thường là chất liệu gỗ Theo phong cách người Việt thì màu thường là màu cánh gián, có thể dùng sơn vecny và các loại sơn khác để tạo màu mong muốn

Tay vịn của ghế được liên kết với mặt ngồi và lưng tựa bằng mộng dương rất khít và được phết keo để tạo ra độ kín khít của các bộ phận

Về kích thước của tay vịn, thường thì độ cao của tay vịn là từ 200 ÷ 250mm; chiều rộng giữa hai tay vịn trong khoảng 520 ÷560mm; góc nghiêng tay vịn là ±10÷ 20°

2.1.2.2 Chân ghế, chân bàn

Chân ghế được phân biệt hai chân trước và hai chân sau liên kết với nhau bởi các vai tiền, vai hậu, xà hồi và các thanh giằng Thông thường ghế có cấu tạo hai chân sau cao liên kết với các chi tiết của lưng tựa ghế Cũng có trường hợp cả bốn chân liên kết trực tiếp với mặt dưới tấm ngồi Còn chân bàn cũng có cấu tạo như chân ghế, nhưng chân bàn không phân biệt hai chân trước cũng như hai chân sau Chân bàn, chân ghế cũng giống

Trang 11

như tay vịn ghế, nó được làm từ nhiều chất liệu khác nhau, tuỳ thuộc vào loại kiểu ghế mà người ta dùng chất liệu sao cho hợp lý

Về hình dạng, đối với bàn ghế gỗ thường có hình trụ hơi cong được cách điệu tinh tế như hình chân thú ta thường thấy ở những bộ bàn ghế giả cổ Còn các loại ghế khác thường được làm từ nhiều chất liệu khác nhau như: sắt, inox… Với chất liệu từ sắt hay inox thường có hình trụ tạo dáng vẻ hiện đại, sang trọng Ngoài ra ta còn thấy loại chân ghế được bọc đệm mút

Kích thước chân ghế như sau: Chiều cao chân từ đất lên tới mặt ngồi trong khoảng 330 ÷360mm

Chân bàn thường có các loại sau:

- Bàn chân đơn là loại bàn có chân được liên kết trực tiếp vào mặt bàn từng chiếc đơn lẻ, giải pháp liên kết thường bằng ren hoặc mộng

- Bàn chân trụ có kết cấu chân ở dạng rỗng hoặc đặc Thông thường, bàn chỉ có một trụ ở giữa, mặt bàn có thể là hình tròn, hình elíp hoặc hình vuông

- Bàn có vai là loại bàn mà hệ chân của nó gồm có các chân liện kết với nhau bằng vai giằng chính ở phía trên, nối tiếp giáp với mặt bàn, tạo thành kết cấu đỡ mặt bàn

2.1.2.3 Mặt bàn và mặt ngồi của ghế

Mặt bàn và mặt ngồi của ghế thường được làm chủ yếu từ các nguyên liệu chính là gỗ tự nhiên, ván nhân tạo, mây tre đan, khung cứng… Mặt ngồi của ghế thường là gỗ tự nhiên hoặc ván nhân tạo kết hợp với mặt mềm (đệm mút, đệm cao su, mây tre đan…)

Hình dạng mặt ngồi của ghế gỗ thường là hình vuông hoặc hình thang hơi thót lại phía sau, mặt ghế phải được đánh rất nhẵn, các đường viền của mặt ghế phải có độ tù nhất định để có cảm giác thoải mái và an toàn khi ngồi Mặt ngồi bằng đệm phải hơi cong về phía trên để tạo độ lún thoải mái khi ngồi Về kích thước mặt ngồi là: góc nghiêng mặt ngồi từ 5 ÷ 10°; bề rộng mặt ngồi từ 430 ÷ 450mm; độ sâu mặt ngồi từ 400 ÷ 440mm

Trang 12

Còn đối với mặt bàn thường có hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn, hình ô van hoặc các hình dạng cách điệu khác

Màu sắc của mặt bàn và mặt ngồi thông thường cùng màu với ghế Liên kết giữa mặt ngồi, mặt bàn và hệ chân có thể là liên kết vít, mộng, gắn keo… Các giải pháp cụ thể sẽ phụ thuộc vào từng loại ghế, nhưng nguyên tắc chung là phải đảm bảo tiện nghi, độ bền, dễ lắp ráp, có tính thẩm mỹ cao, kinh tế

2.1.2.4 Lưng tựa

Là bộ phận cấu thành của ghế được kết hợp với hệ chân sau hoặc liên kết với mặt ngồi, nhưng phổ biến nhất vẫn là liên kết với hệ chân sau của ghế (bởi nó đảm bảo độ vững chắc hơn là liên kết với mặt ngồi) Về cấu tạo, lưng tựa có thể dạng nan, song tròn hoặc ở dạng tấm (cong hoặc thẳng, dạng tấm thường được chạm khảm hoặc điêu khắc…) có kích thước và hình dạng phù hợp với dáng tổng thể của ghế

Lưng tựa là một phần của ghế được các nhà thiết kế chú ý đến nhất để tạo ra các kiểu dáng riêng biệt, độc đáo, nổi bật cho sản phẩm Lưng tựa có thể làm bằng chất liệu mềm hoặc cứng nhưng vẫn phải dựa trên cơ sở đảm bảo được độ bền Nhìn chung, lưng tựa được bọc bằng vật liệu mềm vẫn đảm bảo tiện nghi hơn lưng tựa cứng nhưng về mặt gia công chế tạo thì phức tạp hơn Về kích thước lưng tựa như sau: góc tựa 95 ÷ 100°; eo tựa

từ 185÷250mm; bán kính eo tựa 300mm; bán kính vai tựa 400 ÷ 500mm; chiều rộng lưng tựa 350 ÷ 480mm

2.2 Sản phẩm mộc và những nguyên tắc thiết kế sản phẩm mộc

2.2.1 Những yêu cầu chung của sản phẩm mộc

Mọi sản phẩm mộc nói chung để đứng vững trên thị trường cần phải đáp ứng các yêu cầu sau:

 Yêu cầu công năng: Mỗi sản phẩm mộc đều có chức năng sử dụng nhất định được thiết lập theo ý đồ của nhà thiết kế, chức năng đó có thể là

Trang 13

trang trí, yêu cầu đầu tiên đối với một sản phẩm mộc là phải thoả mãn các chức năng của chúng Khi xem xét phân tích sản phẩm mộc, người ta phải quan tâm đầy đủ đến các chức năng của mỗi sản phẩm vì nó không chỉ có một chức năng nhất định mà còn có thể có chức năng phụ khác do phát sinh khi sử dụng Ví dụ: Sản phẩm ghế Trước tiên phải đáp ứng chức năng của nó là ngồi, ngoài ra còn có thể ngồi ở nhiều tư thế khác nhau hay

có thể được làm vật đứng lên để làm việc gì đó Nếu khi thiết kế điều này không được quan tâm đúng mức thì chắc chắn thiết kế sẽ không đạt yêu cầu như mong muốn

 Yêu cầu thẩm mỹ: Trong lĩnh vực thiết kế sản phẩm mộc không chỉ đáp ứng yêu cầu về chức năng sử dụng mà nó cần đáp ứng yêu cầu về thẩm mỹ, nếu không có yêu cầu về thẩm mỹ công việc thiết kế sản phẩm mộc dường như trở thành vô nghĩa Thẩm mỹ có thể nói là phần hồn của mỗi sản phẩm Một chiếc ghế để ngồi thì bình thường không nói lên điều

gì nhưng khi nó được thiết kế tạo dáng theo một ý đồ thẩm mỹ nó lại tạo

ra một cảm súc thoải mái hơn cho người ngồi cũng như những người xung quanh khi nhìn vào nó Có thể nói thẩm mỹ là một phần của chất lượng sản phẩm nó kết tinh lên giá trị sản phẩm

 Yêu cầu kinh tế: Không chỉ riêng với sản phẩm mộc một trong những yêu cầu khá quan trọng nói chung đối với sản phẩm mộc là yêu cầu về kinh

tế

Yêu cầu đối với mỗi sản phẩm mộc có thể hướng theo một mục tiêu nhất định: " Đáp ứng chức năng tốt nhất, có thẩm mỹ đẹp nhất nhưng phải có giá thành thấp nhất" Để làm được điều đó trong mỗi sản phẩm ta cần có kế hoạch sử dụng nguyên vật liệu hợp lý, thuận tiện cho gia công chế tạo, giá thành sản phẩm sẽ hạ Tạo ra các sản phẩm tốt, có kết cấu chắc chắn bền vững cũng có ý nghĩa kinh tế lớn đối với người sử dụng cũng như đối với xã hội

Trang 14

2.2.2 Nguyên tắc thiết kế sản phẩm mộc

Thiết kế sản phẩm mộc có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất hàng mộc Bởi thiết kế sản phẩm mộc là yếu tố quyết định đến việc sản xuất và khi sản phẩm đó được sản xuất ra có được thị trường chấp nhận hay không có đạt được giá trị kinh tế hay không còn phải phụ thuộc chất lượng sản phẩm và các yêu cầu khác như trình bày ở trên Thiết kế đồ mộc thường cần phải đòi hỏi có sự hiểu biết một số vấn đề có liên quan tới thiết kế kết cấu và thiết kế mỹ thuật, thiết kế mỹ thuật là việc tạo ra các ý tưởng về kết cấu hợp lý kỹ thuật nhằm tạo ra hình thức sản phẩm có giá trị về mặt nghệ thuật để phục vụ đời sống con người, nhưng chỉ mỹ thuật thôi thì chưa đủ mà đòi hỏi khi thiết kế phải tính toán sao cho đảm bảo các chỉ tiêu về độ bền, tính thực dụng, kinh tế, tính khả thi, tính thời đại, tính dân tộc… Để thực hiện tốt thiết kế sản phẩm mộc phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc thiết kế

kế là rất quan trọng, khi thiết kế phải đảm bảo nguyên tắc thực dụng này

Trang 15

là đầu tiên, bởi chính vậy sẽ quyết định sự tồn tại và phát triển của sản phẩm mộc

2.2.2.2.Tính thẩm mỹ

Nguyên tắc này chủ yếu vận dụng trong quá trình tạo dáng sản phẩm, nhưng trong quá trình thi công cũng không thể xem nhẹ yếu tố này bởi độ tinh xảo trong các mối liên kết, chất lượng trên bề mặt sản phẩm ảnh hưởng không ít tới chất lượng thẩm mỹ của sản phẩm tạo dáng sản phẩm mộc, tạo kết cấu các nội dung cơ bản của thiết kế sản phẩm mộc

Để tạo ra sản phẩm một cách có thẩm mỹ và mọi đối tượng đều cảm thấy đẹp thì phải tuân thủ theo nguyên tắc thẩm mỹ, thiết kế mỹ thuật là nhằm tạo ra các phương án tạo hình, phối cảnh… Có giá trị về mặt nghệ thuật Tất nhiên tuỳ thuộc vào yêu cầu sử dụng của từng sản phẩm và từng đối tượng sử dụng mà mức độ yêu cầu về thẩm mỹ là khác nhau, vậy việc kết hợp đồ mộc phụ thuộc vào những nhu cầu trong nhà cũng như đồ mộc trang trí nội thất thường được gắn với trang hoàng nhà cửa, để công tác thiết kế đồ mộc được tốt nhất chúng ta cần có những kiến thức cơ bản

về mỹ thuật

2.2.2.3 Tính phù hợp công nghệ

Để thiết kế mẫu có tính khả thi thì bao giờ cũng vậy người thiết kế phải đặt việc thiết kế trong khuôn khổ công nghệ cho phép sản xuất, bởi một điều đơn giản là người thiết kế ra mẫu nào đó dù có đẹp đến đâu hay đảm bảo yêu cầu chung về sản phẩm mộc nhưng nếu công nghệ không cho phép thì việc thiết kế mẫu cũng vô nghĩa bởi thực tại không thể sản xuất ra được do vậy việc thiết kế đã không đáp ứng được nhu cầu cho việc

ra đời một sản phẩm mới Mặt khác khi xã hội phát triển tiến bộ, khoa học

kỹ thuật ngày càng nâng cao Do vậy việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đồ mộc là rất cần thiết, bởi nó có thể làm giảm nhân công lao động nặng nhọc với hiệu quả lao động thấp và thay vào đó là máy móc hiện đại với hiệu quả công việc cao từ đó giúp nâng cao năng xuất rút

Trang 16

ngắn thời gian quay vòng kinh doanh, tạo ra lượng hàng hoá với số lượng lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường Từ đó đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển nhanh, mạnh, đời sống xã hội được nâng cao, chính vì vậy thiết kế đáp ứng được với việc áp dụng khoa học kỹ thuật để sản xuất là hết sức cần thiết và nguyên tắc này không thể thiếu được trong việc thiết

kế sản phẩm mộc

2.2.2.4.Tính kinh tế

Việc thiết kế phải nói đến nguyên tắc kinh tế - xã hội là bởi lý do để tồn tại và phát triển được thì phải có phương án thiết kế cái gì, cho ai, cần nghiên cứu xem xã hội cần gì, sản phẩm làm từ nguyên liệu nào… Vậy phải lựa chọn nguyên vật liệu sao cho hợp lý và có thể áp dụng được công nghệ gia công chế tạo dễ dàng để tạo ra được sản phẩm có giá trị kinh tế cao được xã hội chấp nhận, người tiêu dùng ưa thích, cũng có nghĩa là giá thành sản phẩm thấp, có lãi cao

2.2.2.5.Tính thương phẩm

Để đảm bảo được thương hiệu của mình người thiết kế phải tìm ra các phương án về kỹ thuật để thiết kế sản phẩm của mình được mọi người ưa thích, chấp nhận, kết hợp tạo ra những tiêu đề mẫu mã gây sự chú ý của người xem sản phẩm, quảng cáo trên khắp thị trường sản phẩm thúc đẩy cho sự phát triển hàng hoá Chính vì vậy khi thiết kế phải đảm bảo nguyên tắc thương phẩm

2.2.2.6.Tính an toàn

An toàn là yếu tố cơ bản để đảm bảo chất lượng đồ mộc, thiết kế chế tạo đồ mộc mà thiếu cường độ và độ ổn định thì rất dễ gây ra tai nạn, muốn đảm bảo được an toàn thì phải có nhận thức về tính năng cơ học của vật liệu Khi thiết kế phải tiến hành tính toán và đánh giá khoa học xem có đảm bảo an toàn hay không? Ngoài an toàn về kết cấu ra còn phải kể đến an toàn tâm lý người sử dụng có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng tiêu thụ của

Trang 17

sản phẩm trên thị trường, chính vì vậy nhà sản xuất phải có phương án thiết kế cũng như quảng bá sản phẩm một cách hiệu quả nhất

2.2.2.7 Tính hệ thống

Tính hệ thống của đồ mộc thể hiện ở hai mặt đó là tính đồng bộ và tính linh hoạt của tiêu chuẩn hoá Sản phẩm mộc khi sản xuất ra nói chung phải dễ môđun hoá, dễ gia công trong chế tạo

2.2.2.8 Tính sáng tạo

Tính sáng tạo chính là điểm nhấn trong thiết kế sản phẩm mộc, tạo nên sự mới mẻ cho sản phẩm mộc Tính sáng tạo thể hiện được phong cách, cái tôi của người thiết kế Việc phát triển thêm những tính năng mới, những hình thức mới, vật liệu mới, kết cấu mới, kĩ thuật mới của đồ gia dụng đều là quá trình mà người thiết kế thông qua tư duy sáng tạo và việc ứng dụng những biện pháp kĩ thuật mới tạo ra Một người thiết kế có tính sáng tạo thì cần phải nắm được những lí thuyết cơ bản của khoa học thiết

kế hiện đại và những phương pháp thiết kế hiện đại, cần sử dụng nguyên tắc thiết kế có tính sáng tạo để tiến hành tạo ra những sản phẩm mới

2.2.2.9.Tính lâu dài

Đồ gia dụng là việc ứng dụng những loại nguyên vật liệu khác nhau

để gia công mà thành, mà trong đó nguồn nguyên liệu từ gỗ là chủ yếu nhất Bởi vì, gỗ là loại vật liệu có tính thích hợp với con người nhất, nó có được cảm giác về vật liệu thiên nhiên lại có được đặc tính dễ dàng trong gia công Nhưng gỗ lại là một nguồn tài nguyên thiên nhiên, mà những loài gỗ tốt thường lại có chu kỳ sinh trường khá dài, theo sự cạn kiệt dần của nguồn tài nguyên mà gỗ đã thể hiện rõ được tính quý giá của nó Do vậy, khi thiết kế đồ gia dụng bắt buộc phải xem xét đến nguyên tắc lợi dụng liên tục đối với nguồn tài nguyên gỗ Cụ thể mà nói thì nó chính là việc lợi dụng tốt nhất đối với những loại gỗ mọc nhanh, gỗ có đường kính nhỏ, giảm thấp lượng tiêu hao của gỗ có đường kính lớn Đối với những loại gỗ quý hiếm thì cần lợi dụng khả năng tạo ván mỏng để dán mặt đối

Trang 18

với ván nhân tạo, nâng cao tỷ lệ lợi dụng đối với những loại gỗ quý, cần phải có kế hoạch khai thác và điều tiết hợp lý đối với những loại gỗ quý này, để đảm bảo được môi trường sinh tồn cho con người cũng như khả năng lợi dụng được tốt nhất nguồn tài nguyên gỗ.

“tạo hình” tức là đi sáng tạo ra hình tượng của vật thể

Vật thể tạo hình có hai loại chủ yếu: một loại là tạo hình về thẩm

mỹ, nó là những sản phẩm nghệ thuật có tính độc lập không chịu ảnh hưởng của công dụng, như tranh vẽ, hay sản phẩm mỹ thuật công nghệ,…; một loại là tạo hình kết hợp giữa thẩm mỹ và thực dụng, như kiến trúc, đồ gia dụng, thiết bị điện trong gia đình, công cụ dùng trong giao thông, các vật dụng hàng ngày,…, chúng vừa được khống chế về hiệu ứng công năng vừa đảm bảo được hình tượng thẩm mỹ để thể hiện

Trong hàm ý của tạo hình, “hình” ở đây là nhân tố quan trọng, cái gọi là “hình” chính là thể hiện hình dáng thật của vật thể, là thị giác có thể quan sát được, xúc giác có thể cảm nhận được, ngoài hình ra còn có các nhân tố khác như màu sắc, chất cảm,…

2.3.2 Yếu tố tạo hình

Đồ gia dụng chủ yếu là được thông qua một loạt các cảm nhận thị giác như: sự khác nhau về hình dạng, sự khác nhau về thể lượng, sự khác nhau về chất cảm, sự khác nhau về vật chất,…, để có được khả năng biểu

Trang 19

hiện trong thiết kế tạo hình Điều đó yêu cầu chúng ta phải hiểu rõ và nắm vững được những khái niệm cơ bản, phương pháp cấu thành và đặc điểm cấu thành của tạo hình, nó cũng chính là cơ sở cho quá trình thiết kế tạo hình, nó bao gồm có 4 nhân tố cơ bản là: hình thái (điểm, đường, mặt, vật thể), màu sắc, chất cảm và trang sức, đồng thời cũng căn cứ vào phương pháp nhất định nào đó để cấu thành một hình tượng lập thể Do đó, yếu tố tạo hình là cơ sở của quá trình thiết kế đồ gia dụng Dưới đây sẽ giới thiệu tóm tắt về 4 phương diện:

2.3.2.1 Hình thái

Thiết kế tạo hình để hình thành vật thể đẹp chủ yếu là dựa vào thị giác của con người để cảm nhận được, mà thị giác của con người khi tiếp cận được với đồ vật thì đó đều được gọi là “hình”, mà “hình” lại có rất nhiều những trạng thái khác nhau Vì vậy, thị giác của con người cảm nhận được những trạng thái liên quan đến hình như: độ lớn nhỏ, tròn hay vuông, cong hay thẳng, dày hay mỏng, rộng hay hẹp, cao hay thấp, nặng hay nhẹ,…, thường được gọi là “hình thái”

Tạo hình đồ gia dụng là được cấu thành từ hình thái trừu tượng và khái quát, nó cũng tương tự như hình học, nhân tố hình thái cơ bản nhất

mà có thể nhìn thấy là điểm, đường, mặt và vật thể Là yếu tố tạo hình, ở đây có thể tách riêng về vật liệu, chất cảm và màu sắc của đồ gia dụng ra

để tiến hành nghiên cứu những nhân tố hình thái của tạo hình đồ gia dụng, đồng thời trong quá trình nghiên cứu giữa điểm, đường, mặt, vật thể, loại hình với đặc trưng cảm tình, đem những yếu tố này thể hiện cụ thể trên hình dáng của đồ gia dụng cũng như tình hình ứng dụng của nó

để làm thành lời thuyết minh

 Điểm

“Điểm” là đơn vị nhỏ nhất hoặc cơ bản nhất trong tạo thành hình thái

Trang 20

Điểm là chỉ về vị trí mà không có phương hướng hay độ lớn nhỏ, thế nhưng trong thiết kế đồ gia dụng, điểm bắt buộc phải có độ lớn nhỏ, phương hướng hoặc diện tích, thể tích, màu sắc,… nhất định, nếu không

nó sẽ mất đi ý nghĩa tồn tại Vậy phải có hình dạng lớn như thế nào thì mới có thể được gọi là điểm? điều này không thể sử dụng khái niệm về lượng hoặc không thể dùng hình thái đơn độc để quy định được, nó bắt buộc phải được căn cứ vào hình tượng cụ thể và dùng khái niệm tương đối để xác định, tức là cần dựa trên ý nghĩa tương đối so với các trường hợp xung quanh và các tỷ lệ liên quan để đánh giá những đặc trưng khác nhau của chúng

Nếu xét sự tương đối với chỉnh thể hoặc bối cảnh mà nói, những hình dạng có thể tích hoặc diện tích tương đối nhỏ đều có thể được gọi là điểm

 Đường

Đường quyết định đến việc tạo hình của đồ gia dụng, các loại đường khác nhau sẽ tạo thành những phong cách và hình dạng rất khác nhau Những đường nét ưu mỹ chính là một yếu tố tạo hình quan trọng để tạo nên những phong cách khác nhau của đồ gia dụng Theo định nghĩa của hình học, đường là quỹ đạo dịch chuyển của điểm Từ góc độ trực giác mà nói, đường còn là danh giới của mặt hoặc là sự giao nhau giữa mặt với mặt, hay nó là sự liên kết giữa điểm với điểm Đường chỉ có độ dài và vị trí, mà không bao gồm độ rộng và độ dày Nhưng đường trong yếu tố tạo hình, thì trên một mặt phẳng nó bắt buộc phải có độ rộng, trong không gian nó bắt buộc phải có độ thô mịn, như vậy đối với thị giác mới có được

ý nghĩa tồn tại Vì vậy, thông thường nếu độ dài và độ rộng chênh lệch nhau quá lớn thì được gọi là đường, còn ngược lại thì được gọi là mặt Đường được lấy độ dài và phương hướng làm đặc trưng chủ yếu, nếu như rút ngắn độ dài hoặc tăng về độ rộng, thì nó sẽ mất đi đặc trưng của đường, mà trở thành điểm hoặc là mặt

Trang 21

 Mặt

Mặt là do sự khuếch đại của điểm, sự tập hợp của điểm, sự di động của đường, sự mở rộng của đường, sự giao nhau của đường, sự bao quanh của đường,…, mà tạo thành, nó có được đặc điểm của không gian 2 chiều (dài và rộng) Đường thẳng dịch chuyển theo chiều song song thì tạo thành bề mặt hình chữ nhật, đường thẳng chuyển động quay sẽ tạo thành bề mặt hình tròn, đường thẳng chuyển động theo chiều nghiêng sẽ tạo thành bề mặt hình lăng,… Ngoài ra, khi cắt các vật thể hoặc cắt các bề mặt ra còn có thể tạo thành rất nhiều các loại bề mặt có hình dạng khác nữa

Mặt là một nhân tố quan trọng nhất trong thiết kế tạo hình đồ gia dụng, có được các bề mặt thì đồ gia dụng mới có được hình thể và công năng của nó Mặt trong tạo hình đồ gia dụng là được cấu thành từ những hình kín, cũng chính là được căn cứ vào yêu cầu của các chi tiết tổ hợp thực tế cho sử dụng mà tạo thành Sự ứng dụng của mặt trong tạo hình đồ gia dụng, thứ nhất là bề mặt của tấm ván hoặc bề mặt của vật thể tạo thành; thứ hai là do sự sắp xếp của các chi tiết dạng thanh mà tạo thành mặt; thứ ba là do các chi tiết dạng đường bao vây lại với nhau tạo thành

Sự phân biệt của các dạng mặt này là có kiểu hình học và phi hình học Mặt bằng là một dạng kết cấu tương đối đơn thuần, nó có được những đường cắt thẳng, hầu hết các loại ván nhân tạo đều là dạng mặt, do đó trong tạo hình các loại đồ gia dụng hiện đại thì nó được ứng dụng khá phổ biến

Ngoài hình dáng của đồ gia dụng ra, hình dáng của bề mặt trong đồ gia dụng cũng có được những đặc tính về màu sắc và vân thớ, nó sẽ tạo ra những cảm giác khác nhau về thị giác và xúc giác

Trong thiết kế tạo hình đồ gia dụng, chúng ta có thể vận dụng một cách linh hoạt các loại hình dáng bề mặt khác nhau, sự tổ hợp theo các

Trang 22

phương hướng khác nhau, để tạo thành những loại đồ gia dụng phong phú về kiểu dáng và đa dạng về phong cách

 Khối

Căn cứ theo định nghĩa của hình học, khối là quỹ đạo di chuyển của mặt, trong quá trình thiết kế tạo hình, khối được coi là sự kết hợp lại của điểm, đường và mặt để tạo thành dạng không gian 3 chiều (có được độ cao, độ sâu, độ rộng hoặc độ dài) Hầu hết các dạng khối đều được hình thành từ sự di chuyển, sự quay của mặt để chiếm lấy một khoảng không gian nhất định nào đó

2.3.2.2 Màu sắc

Màu sắc cũng được coi là một trong những yếu tố cơ bản của tạo hình đồ gia dụng, trong thiết kế tạo hình các sản phẩm công nghiệp việc vận dụng màu sắc là để có được mục đích là làm đẹp mắt người quan sát,

và đương nhiên thiết kế đồ gia dụng cũng không nằm ngoài mục đích này

2.3.2.3 Chất cảm

Tạo hình đồ gia dụng cần phải sử dụng rất nhiều các loại vật liệu khác nhau, mỗi một loại vật liệu đều có chất liệu và cảm tình riêng của nó, yếu tố này được gọi là chất cảm Về mặt hiệu quả mỹ quan của đồ gia dụng, việc xử lý và vận dụng tốt về chất cảm cũng là một công việc không kém phần quan trọng

Vật liệu khác nhau thì chúng sẽ có chất liệu khác nhau Chất liệu (hoặc cũng gọi là vân thớ và tính chất bề mặt) là chỉ bề mặt của vật liệu tạo ra được một phẩm chất đặc thù, đó chính là cấu tạo của tổ chức bề mặt vật liệu, nó dùng để hình dung ra mức độ thô ráp hay bằng phẳng của

bề mặt vật thể, như vân thớ của gỗ, độ thô của đá, độ cứng mềm của kim loại, đường vân tết của tơ lụa,… Mỗi loại vật liệu đều có những tính chất riêng của nó, tạo cho con người những cảm giác không giống nhau, như cảm giác cứng, lạnh, nặng nề của vật liệu kim loại; cảm giác ấm áp, mềm

Trang 23

mại của vật liệu gỗ; cảm giác chặt chẽ nhưng nhẹ nhàng của vật liệu polymer; cảm giác mịn màng của vật liệu tơ lụa; cảm giác óng ánh, sạch sẽ của gương kính,… Do đó, chất cảm là chỉ tính chất của bề mặt vật thể mà tạo cho con người cảm nhận được về mặt xúc giác và thị giác

Chất cảm có 2 loại hình cơ bản, một là chất cảm về xúc giác, khi ta

sờ lên vật thể cảm giác được độ thô mịn, chặt xốp, mềm cứng, nặng nhẹ, lồi lõm, ấm lạnh,…, của chất liệu, chất cảm về xúc giác nó có tính chân thực; thứ hai là chất cảm về thị giác, dùng mắt thường để quan sát được mức độ tối hay sáng, bóng hay không bóng, có vân thớ hay không có vân thớ, màu sắc đậm nhạt,…, chất cảm về thị giác có khi là đúng nhưng cũng

có khi là sai Thông thường chất cảm về xúc giác cũng có thể làm cho con người cảm nhận được về chất cảm thị giác, nhưng chất cảm thị giác thì không có khả năng thông qua xúc giác để cảm nhận được

2.4 Liên kết cơ bản của sản phẩm mộc

2.4.1 Liên kết mộng

Trang 24

Mộng là hình thức cấu tạo có hình dạng xác định được gia công tạo thành ở đầu cuối chi tiết theo hướng dọc thớ nhằm mục đích liên kết với

lỗ được gia công trên chi tiết khác của kết cấu

Cấu tạo của mộng có nhiều dạng, song cơ bản vẫn bao gồm: thân mộng và vai mộng

Trong sản xuất thường thấy có: liên kết giữa các thanh gỗ với nhau, dán ghép giữa các lớp ván mỏng, dán phủ mặt cho các chi tiết dạng tấm phẳng, dán cạnh…đều sử dụng bằng keo dán

Phương thức này có ưu điểm lớn là có thể tiết kiệm được gỗ, từ gỗ nhỏ tạo thành gỗ lớn, từ gỗ chất lượng kém tạo thành gỗ có chất lượng cao, có thể đảm bảo được sự ổn định của kết cấu, nâng cao chất lượng và cải thiện ngoại quan của sản phẩm

2.4.3 Liên kết đinh

Đây là loại hình liên kết mà chủng loại vật liệu liên kết rất phong phú: có đinh bằng kim loại, đinh gỗ và đinh tre, trong đó thường sử dụng nhất là đinh bằng kim loại

Liên kết bằng đinh tròn rất dễ làm tổn hại đến kết cấu của gỗ mà cường độ nhỏ, vì thế trong sản xuất đồ mộc ít sử dụng, chỉ sử dụng trong các vị trí liên kết bên trong, các vị trí không lộ trên bề mặt hoặc những vị

Trang 25

trí mà không cần yêu cầu cao về ngoại quan, như dùng để cố định rãnh trượt của ngăn kéo Đinh tre và đinh gỗ là loại được sử dụng từ rất lâu đời

và được phổ biến trong sản xuất các loại đồ mộc bằng thủ công của Trung Quốc Những loại đinh mang tính trang sức thường được dùng trong các loại sản phẩm đồ mộc làm từ gỗ mềm

Liên kết đinh là liên kết không thể tháo lắp nhiều lần Lực liên kết đinh có quan hệ với chủng loại, khối lượng thể tích, độ ẩm của gỗ, đường kính, độ dài, phương hướng và độ sâu của đinh Ví dụ: lực bám đinh ở phần cạnh của ván dăm thấp hơn rất nhiều so với bề mặt của ván, do đó phần cạnh của ván dăm không thích hợp sủ dụng liên kết bằng đinh

2.4.4 Liên kết vít

Đây là liên kết lợi dụng phần thân vít xuyên qua hai chi tiết để liên kết chúng lại với nhau Vít là một loại được cấu tạo từ kim loại, chúng gồm hai loại là vít đầu tròn và vít đầu bằng Liên kết bằng vít thường không thể

sử dụng cho các kết cấu tháo lắp nhiều lần, sẽ ảnh hưởng đến cường độ liên kết Phần lộ ra bên ngoài của vít sẽ được sử dụng trong các liên kết như mặt bàn, tủ, ván lưng, mặt ngồi, ngăn kéo… hoặc có thể để lắp đặt các chi tiết khác như tay nắm, khóa cửa

Lực liên kết vít có quan hệ đến chủng loại, khối lượng thể tích, độ ẩm của gỗ nền; đường kính và độ dài của vít được thể hiện theo chiều ngang của thớ gỗ (vì cường độ theo chiều dọc tương đối thấp, tránh sử dụng)

2.4.5 Các liên kết khác

Đây là các chi tiết liên kết được sản xuất từ kim loại, polyme, thuỷ tinh hữu cơ hoặc bằng gỗ,… Nó được chế tạo đặc thù và có thể tháo lắp nhiều lần và cũng là một loại chi tiết phối hợp không thể thiếu trong sản xuất các loại đồ mộc hiện đại Hiện nay thường sử dụng các chi tiết liên kết bằng kim loại ở dạng như: kiểu xoắn ốc, kiểu lệch tâm và kiểu móc treo Đối với các chi tiết liên kết dạng này có yêu cầu như sau: kết cấu chắc chắn, thuận tiện cho việc tháo lắp nhiều lần, có thể điều tiết được mức độ

Trang 26

chặt lỏng, dễ sản xuất, giá thành rẻ, hiệu quả lắp rắp cao, không làm tổn hại đến công năng và ngoại quan của sản phẩm, đảm bảo được cường độ của sản phẩm

Liên kết bằng các chi tiết liên kết là một phương pháp đã được sử dụng rộng rãi nhất trong sản xuất các loại đồ mộc tháo lắp được, đặc biệt

là đồ mộc dạng tấm phẳng Hiện nay sử dụng các chi tiết liên kết có thể đạt đựơc mức độ tiêu chuẩn hoá trong gia công đối với các chi tiết, tiện lợi cho việc lắp ráp đóng gói, vận chuyển và dự trữ đối với sản phẩm

2.5 Vật liệu trong sản xuất đồ mộc

2.5.1 Vật liệu tự nhiên

Gỗ là một loại vật liệu tự nhiên có tính chất tốt, đẹp và dễ dàng trong gia công, nó là một vật liệu được sử dụng từ lâu nhất, tốt nhất và nhiều nhất trong sản xuất đồ gia dụng Yêu cầu của gỗ khi sử dụng sản xuất đồ gia dụng là: chất lượng phải thích hợp, độ biến hình nhỏ, có độ cứng đủ lớn, màu sắc vân thớ đẹp, dễ dàng cho trang sức bằng sơn

Gỗ có nhiều ưu điểm để sử dụng cho sản xuất đồ mộc dùng cho ngoại thất như: Khối lượng nhẹ, cường độ cao, dễ gia công,tính năng truyền âm kém, có màu sắc thiên nhiên và vân thớ đẹp… Nhưng gỗ cũng

có những nhược điểm đó là: tính hút ẩm (tính co rút dãn nở), tính dị hướng (không đồng tính đẳng hướng), tính biến đổi không theo quy luật, khuyết tật tự nhiên, dễ bị côn trùng xâm hại và dễ cháy… Nên khi sản xuất

đồ mộc cho ngoại thất ta phải tiến hành xử lý để bảo quản

2.5.2 Ván nhân tạo

Ván nhân tạo là đem gỗ nguyên hoặc các phế phẩm từ gỗ thông qua các phương pháp gia công để tạo thành những vật liệu thuộc gỗ Chủng loại ván nhân tạo có rất nhiều, hiện nay trong sản xuất đồ gia dụng thường dùng có ván dán, ván dăm, ván sợi, ván gỗ ghép, ván tâm rỗng, gỗ ghép nhiều lớp,… Chúng đều có ưu điểm là bề mặt lớn, tính chất đồng đều, bề mặt phẳng nhẵn, dễ gia công, tỷ lệ lợi dụng cao, độ biến hình nhỏ,

Ngày đăng: 22/06/2021, 10:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w