1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sưu tập mô hình sản phẩm mộc tủ ô kéo kiểu “high boy” và nghiên cứu phân tích cấu trúc tạo hình của một sản phẩm đại diện được lựa chọn

75 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có những loại hình sản phẩm mộc đã trở thành đặc trưng của cả thời đại hay của một quốc gia, như loại tủ ô kéo “High boy” theo phong cách cổ điển phương Tây Âu – Mỹ.. Trước yêu cầu của t

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp hoàn thành khoá luận tốt nghiệp tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo TS VÕ THÀNH MINH, KS TRẦN ĐỨC THIỆN đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành khoá luận

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn CN Mộc và thiết

kế nội thất, cùng các bộ môn trong khoa CBLS, Trung tâm TT & Thư viện Trường ĐHLN đã nhiệt tình giúp đỡ tôi thực hiện các nhiệm vụ nội dung khoá luận

Cuối cùng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè đã động viên tinh thần và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành khoá luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2009

Sinh viên

Nguyễn Thị Huế

Trang 2

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

M ục l ục

Mở đầu

Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1 3 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 4

1.3 Mục tiêu của đề tài 4 1.3.1 Mục tiêu tổng quát 4 1.3.2 Các mục tiêu cụ thể 5 1.4 Các nội dung chính và phạm vi nghiên cứu 5

1.5 Phương pháp nghiên cứu 6

Chương 2 Cơ sở lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu 7

2.1 Một số phong cách mộc cổ điển phương Tây 7

2.1.1.Khái quát về đồ mộc cổ điển 7

2.1.2.Một số phong cách mộc cổ điển phương Tây tiêu biểu 8

2.2 Khái quát về tủ ô kéo kiểu “High boy” 19

2.3 Cấu trúc cơ bản của sản phẩm mộc 23

2.3.1.Chi tiết 23

2.3.2 Bộ phận 24

2.4 Liên kết cơ bản của một sản phẩm mộc 24

2.4.1 Liên kết mộng 24

2.4.2 Liên kết keo 26

2.4.3 Liên kết đinh 26

2.4.4 Liên kết đinh vít gỗ 27

2.4.5 Liên kết ke 27

Trang 3

2.4.6 Liên kết khác 27

2.5 Một số kiểu kết cấu liên kết 28

2.6 Tạo dáng và các nguyên lý tạo dáng sản phẩm mộc 30

2.6.1.Tỷ lệ và kích thước 30

2.6.2 Kích thước và cảm giác kích thước 31

2.6.3 Thay đổi và thống nhất 31

2.6.4 Tính lặp lại và vận luật 32

2.6.5 Nguyên lý về màu sắc và đường nét trên bề mặt sản phẩm 32

Chương 3 Kết quả sưu tập và lựa chọn sản phẩm tiêu biểu 34

3.1 Kết qủa sưu tập 34

3.1.1 Tủ High boy phong cách William and Marry 34

3.1.2 Tủ High boy phong cách Queen Anne 38

3.1.3 Tủ High boy phong cách Chippendale 47

3.2 Lựa chọn sản phẩm đại diện 50

Chương 4 Phân tích cấu trúc và tạo dáng sản phẩm 52

4.1 Giới thiệu về sản phẩm 52

4.2 Phân tích cấu trúc và tạo dáng sản phẩm 54

4.2.1 Phần Lower case (Hộp tủ phần dưới) 54

4.2.2 Phần Upper case (Khung tủ phần trên) 58

Chương 5 Công nghệ gia công một số chi tiết của sản phẩm 64

5.1 Cơ sở công nghệ gia công cơ giới 64

5.2 Bản vẽ thi công một số chi tiết tiêu biểu 65

5.3 Phiếu công nghệ gia công 65

Kết luận và kiến nghị 73

1 Kết luận 73

2 Kiến nghị 75

Tài liệu tham khảo 77

Phụ lục

Trang 4

MỞ ĐẦU

Xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao, nhu cầu có được một cuộc sống đầy đủ hơn cả về vật chất lẫn tinh thần của con người ngày càng lớn Theo đó, các vật dụng phục vụ lợi ích của con người cũng ngày càng phong phú đa dạng Trong các vật dụng phục vụ lợi ích con người thì sản phẩm mộc là gần gũi, thiết yếu và ra đời sớm nhất Qua thời gian, với sự ra đời của rất nhiều các loại đồ gia dụng hiện đại nhưng đồ mộc đặc biệt là mộc cổ điển cao cấp vẫn rất được quan tâm, ưa chuộng Điều này

có được là bởi đồ mộc cổ điển cao cấp không chỉ đem lại giá trị công năng khi sử dụng mà còn là “sản phẩm văn hoá, nghệ thuật” mang lại giá trị tinh thần cho con người khi chiêm ngưỡng nó

Phong cách của đồ mộc cổ điển chịu ảnh hưởng của giai đoạn lịch sử mà

nó được sinh ra, nó mang trong mình bản sắc văn hoá và những nét đặc trưng của thời đại đó Trên thế giới có nhiều nền văn hoá khác nhau do đó cũng có rất nhiều loại hình sản phẩm mộc đặc sắc, có giá trị nghệ thuật cao Có những loại hình sản phẩm mộc đã trở thành đặc trưng của cả thời đại hay của một quốc gia, như loại tủ ô kéo “High boy” theo phong cách cổ điển phương Tây (Âu – Mỹ)

Tủ ô kéo kiểu “High boy” theo phong cách cổ điển phương Tây là một loại sản phẩm mộc cao cấp, có giá trị kinh tế cũng như giá trị về mặt nghệ thuật cao Nó xuất hiện lần đầu tiên ở Anh nhưng lại trở thành sản phẩm mộc đỉnh cao của Mỹ Tủ ô kéo High boy mang nhiều phong cách theo các thời kỳ: Phong cách William and Marry; phong cách Queen Anne; phong cách Chippendale, với mỗi một phong cách tủ High boy lại có những nét đẹp và đặc trưng riêng Các loại tủ High boy chủ yếu được tạo ra theo phương pháp thủ công, rất hoàn mỹ về mặt tạo hình Thủ pháp trang trí được sử dụng chủ yếu là chạm khảm hình hoa văn tinh xảo, hoặc dán phủ các tấm trang trí

Trang 5

Hiện nay ở nước ta, nhờ kinh tế phát triển, chất lượng cuộc sống được cải thiện Các sản phẩm đồ mộc truyền thống, cổ điển cao cấp đang là mặt hàng được ưa chuộng Thực tế đã thể hiện điều này qua sự phát triển của các làng nghề, các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu Qua khảo sát cho thấy sản phẩm mộc truyền thống trên thị trường Việt Nam còn hạn chế về kiểu loại, chủ yếu theo phong cách Trung Hoa cổ điển [2],[5] Như vậy, vấn đề tìm kiếm, sưu tập các sản phẩm mộc nổi tiếng trên thế giới nói chung, các kiểu loại tủ nói riêng là vấn đề quan trọng, cần thiết, phù hợp với định hướng kế thừa và phát triển những thành tựu văn minh nhân loại vào thực tế sản xuất ở Việt Nam, trong đó có lĩnh vực Công nghệ gỗ

Xuất phát từ những lý do trên, được sự giúp đỡ của thầy giáo T.S Võ Thành Minh, thầy giáo K.S Trần Đức Thiện và sự phân công của khoa Chế

biến Lâm sản tôi thực hiện đề tài khoá luận: “Sưu tập mô hình sản phẩm mộc

tủ ô kéo kiểu “High boy” và nghiên cứu phân tích cấu trúc, tạo hình của một sản phẩm đại diện được lựa chọn”

Đề tài khoá luận đã hoàn thành với những kết quả được trình bày trong bản khoá luận tốt nghiệp này Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do kiến thức còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo để đề tài này được hoàn thiện hơn

Trang 6

Chương I TỔNG QUAN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Tủ ô kéo kiểu “High boy” là sản phẩm mộc cao cấp rất được ưa chuộng tại các nước trên thế giới đặc biệt là các nước Âu - Mỹ

Cũng như các sản phẩm mộc gia dụng khác, những nghiên cứu về “High boy” được tập trung vào nguyên liệu, tạo dáng, kết cấu và màu sắc ở thời kỳ đầu ra đời tại vương quốc Anh Những nghiên cứu hoàn thiện kết cấu tạo dáng và trang trí đã đưa “ High boy” thành đồ mộc đỉnh cao tại Mỹ vào nửa đầu thế kỷ 18,[10] Chế tạo các sản phẩm này đều là thủ công, thao tác hiện trường là chính, phương thức sản xuất thủ công gia đình làm phường hội tương đối phổ biến Tuy nhiên, khoảng sau năm 1775 “High boy” gặp phải trầm lắng, hiếm khi được sản xuất

Ngày nay, loại sản phẩm này lại rất được ưa chuộng tại các nước phương Tây Những công trình nghiên cứu về phân loại, phong cách, nghệ thuật và cả trường phái tư tưởng trong “High boy” ra đời và “High boy” được xem như một tác phẩm nghệ thuật hơn là một sản phẩm mộc với công năng hiện hữu

Theo GS Cố Liệu Bách [1] đồng thời với tư tưởng thiết kế sản phẩm mộc hiện đại ứng dụng nhiều tri thức Ergonomics là trào lưu tư tưởng thiết kế phục cổ đang rất phát triển Tủ ô kéo “ High boy” vì vậy đang là đối tượng đắt giá

Những nghiên cứu tạo sản phẩm theo phong cách cổ điển này bao hàm nhiều nội dung: vật liệu - theo hướng tạo vật liệu mới trên cơ sở kỹ thuật mới hiện đại như polime gỗ (Wood plastic composites, W.P.C ), kỹ thuật hoá dẻo, nhuộm màu…,[1],[6],[17]

Chế tạo sản phẩm, ngoài làm sản phẩm nghệ thuật, “High boy” còn được nghiên cứu để thành sản phẩm công nghiệp Những công trình nghiên cứu về

Trang 7

công nghệ CAD/CAM, hệ thống sản xuất linh hoạt (FMS – Flexibel Manufacturing System), hay sản xuất trí tuệ (Intelectuall Production) được ứng dụng vào rất hiệu quả Công lao lớn về lĩnh vực này là các nhà khoa học Liên Bang Đức và Mỹ [3],[7],[18]

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam những nghiên cứu về đồ mộc cao cấp, đồ mộc truyền thống trong thời gian gần đây đã được quan tâm Đáng kể nhất là công trình của T.S

Võ Thành Minh về lĩnh vực các biện pháp công nghệ nâng cao chất lượng

đồ mộc cao cấp truyền thống [5], công trình về chạm khắc gỗ của NGUT, KS Trịnh Quốc Đạt [2].Tuy nhiên, với các sản phẩm mộc cao cấp phương Tây nói chung, tủ ô kéo kiểu “High boy’ nói riêng chưa có công trình nào đề cập Trước yêu cầu của thị trường tiêu thụ trong nước, đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, đầu tư của nước ngoài và sản phẩm nước ngoài nhập vào Việt Nam, hình thành cục diện cạnh tranh quốc tế, đã đặt ra những nhiệm vụ

to lớn cần tập trung giải quyết để đẩy nhanh tiến bộ toàn diện công nghiệp đồ

gỗ gia dụng của chúng ta, nhất là thiết kế tạo lập sản phẩm

Từ những phân tích trên một lần nữa, cho phép khẳng định hướng nghiên cứu của đề tài là cần thiết và có ý nghĩa thiết thực

1.3 Mục tiêu của đề tài

1.3.1 Mục tiêu tổng quát:

Đề tài khoá luận thực hiện nhằm sưu tập được các mô hình sản phẩm mộc thuộc loại tủ ô kéo kiểu “High boy” theo phong cách cổ điển phương Tây (Âu - Mỹ) Phân tích được nguyên lý cấu trúc, tạo dáng của một sản phẩm đại diện lựa chọn Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị, góp phần làm đa dạng thêm thị trường sản phẩm mộc trong nước

Trang 8

1.3.2 Các mục tiêu cụ thể:

Thu thập được các mô hình về loại tủ ô kéo kiểu “High boy” phong cách

cổ điển phương Tây (Âu - Mỹ) phổ biến hiện có trên thế giới;

Lựa chọn một mô hình sản phẩm tủ đáp ứng tính đại diện tiêu biểu để tiến hành nghiên cứu cấu trúc và biểu đạt thiết kế sơ bộ công năng và tạo dáng của mẫu;

Trên cơ sở nghiên cứu công nghệ gia công đưa ra được bản vẽ thi công một số chi tiết tiêu biểu của sản phẩm đảm bảo tính khoa học và thực tiễn

1.4 Các nội dung chính và phạm vi của đề tài

1.4.1 Các nội dung chính của đề tài

Đề tài tập trung giải quyết các nội dung chính sau:

Tổng hợp những cơ sở lý luận về sản phẩm mộc cao cấp và tủ ô kéo kiểu “High boy” thuộc phong cách cổ điển phương Tây, những nguyên lý cơ bản về cấu trúc và tạo dáng một sản phẩm mộc;

Sưu tập các mẫu mô hình tủ ô kéo kiểu “High boy” thuộc phong cách

cổ điển phương Tây (Âu -–Mỹ) và lựa chọn một mẫu sản phẩm tiêu biểu có các ưu điểm nổi bật về mặt thiết kế;

Tiến hành nghiên cứu cấu trúc, tạo hình của sản phẩm đại diện;

Nghiên cứu phương pháp gia công một số chi tiết tiêu biểu của mẫu đã lựa chọn

Trang 9

Phương pháp gia công, tạo lập công nghệ gia công các chi tiết đưa ra trên cơ sở lý thuyết, chưa thực hiện khảo nghiệm thực tế

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích, yêu cầu đặt ra những phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là:

Phương pháp thư viện: tham khảo tài liệu, ghi và save ảnh từ mạng Internet, các tạp chí nước ngoài về loại hình sản phẩm (đối tượng) nghiên cứu;

Phương pháp chuyên gia: lấy ý kiến chuyên gia về các vấn đề đòi hỏi kinh nghiệm và nhận thức như lựa chọn mẫu sản phẩm tiêu biểu, các phương pháp gia công khả thi;

Phương pháp lý thuyết: các phương pháp qui nạp, suy diễn lý thuyết, phân tích tài liệu khoa học, phân tích thông tin thực tế và dựa trên nền tảng lý thuyết để đề ra hướng dẫn công nghệ gia công và được đấnh giá bằng phương pháp chuyên gia;

Phương pháp phương tiện nghiên cứu thiết kế: các phương pháp của cơ học kỹ thuật, chương trình thiết kế 3DS MAX phục vụ phân tích, nhận xét và tái hiện các thông tin thiết kế của sản phẩm và tạo lập các bản vẽ kỹ thuật

Trang 10

Chương 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Để định hướng cho nghiên cứu và giải quyết các nội dung đề tài, ở đây

cần tổng hợp những luận điểm chung về đồ mộc cổ điển phương Tây, tủ

High boy phong cách cổ điển phương Tây và cơ sở lý thuyết về cấu trúc, liên kết cũng như nguyên lý tạo dáng sản phẩm mộc

2.1 Một số phong cách mộc cổ điển phương Tây

2.1.1 Khái quát về đồ mộc cổ điển

Sản phẩm mộc cổ điển là những sản phẩm ra đời và tồn tại qua nhiều thế

kỷ, được trân trọng và bảo tồn, được khẳng định giá trị qua thời gian

Phong cách của đồ mộc cổ điển chịu ảnh hưởng của giai đoạn lịch sử mà

nó được sinh ra, mang trong mình bản sắc văn hoá và nét đặc trưng của thời đại đó Sự phát triển và thay đổi của đồ mộc trong những giai đoạn lịch sử phát triển khác nhau thì khác nhau; gắn liền với trình độ kỹ thuật sản xuất của

xã hội đương thời, chế độ chính trị, phương thức sinh hoạt, phong tục tập quán, quan niệm tư tưởng và ý thức thẩm mỹ… Trên thế giới có rất nhiều nền văn hoá khác nhau, mặt khác nền văn hoá cũng thay đổi theo thời gian, do đó phong cách của đồ mộc cổ điển cũng rất phong phú và đa dạng từ kiểu dáng, màu sắc đến các hoạ tiết hoa văn Có thể nói rằng các sản phẩm mộc cổ điển trên thế giới đều là sản phẩm của các nền văn hoá [1][8]

Như vậy, thuật ngữ “cổ điển”, “phong cách”mà đề tài sử dụng gắn liền với thời kỳ lịch sử và nền văn hoá mà sản phẩm mộc ra đời Theo TS Võ Thành Minh [5], phong cách đồ mộc phương Tây có thể nêu một cách tóm lược theo các thời kỳ như sau:

- Thời kỳ cổ đại: (1) Phong cách Ai Cập cổ đại; (2) Phong cách Hy Lạp cổ đại; (3) Phong cách đồ mộc thuộc lưu vực hai con sông Si-a cổ (Ba-bi-lon, Ba Tư); (4) Phong cách đồ mộc La Mã cổ đại;

Trang 11

- Thời kỳ trung và cận đại: (1) Phong cách truyền thống cổ điển Đông La Mã;

(2) Phong cách truyền thống cổ cổ điển “giống La Mã”; (3) Phong cách tic (Gothic);(4) Phong cách Phục hưng (Renaissance) châu Âu; (5) Phong cách Ba-rôc (Baroque) châu Âu; (6) Phong cách Rôc-cô-cô (Rococo) châu

- Đồ mộc thời Xuân thu, Chiến quốc (năm 770 TCN - năm 221 TCN);

- Đồ mộc thời Hán, Tam quốc (206 TCN - 280 CN);

- Đồ mộc thời kỳ lưỡng Tấn, Nam Bắc triều (năm 265 - 589);

- Đồ mộc thời Tuỳ, Đường và Ngũ đại (năm 589 - 960);

- Đồ mộc thời Tống, Nguyên (năm 960 - 1368);

- Đồ mộc thời Minh (1368 - 1644);

- Đồ mộc gia dụng thời Thanh (từ 1645 );

2.1.2 Một số phong cách mộc cổ điển phương Tây tiêu biểu

Như trên đã đề cập, lịch sử phát triển của đồ mộc có thể nói là một hình ảnh thu nhỏ của lịch sử phát triển nhân loại Vì thế, chúng ta có thể hệ thống

về sự phát triển của đồ mộc cổ điển phương Tây theo các thời kỳ như sau

Phong cách mộc Ai Cập cổ đại

Nhà nước Ai Cập cổ đại là một trong những nhà nước ra đời sớm nhất ở lưu vực sông Nin vùng đông bắc châu Phi Nền văn minh Ai Cập cổ đại là một trong những nền văn minh cổ xưa nhất và rực rỡ nhất của nhân loại

Ghi chép lần đầu chế tạo ra đồ mộc là người Ai Cập, đồ mộc gia dụng thời kỳ đó do đường thẳng tổ thành, màu sắc tươi sáng Đồ mộc cổ điển Ai

Trang 12

Cập mang nét quý phái và lôi cuốn, ẩn chứa chất huyền bí cổ xưa Chúng được nhấn mạnh bởi các hoạ tiết trang trí dát ngà voi, đá quý; hoa văn bằng

gỗ phức tạp; những chữ viết tượng hình, các hình kim tự tháp

Ghế và ghế tựa là bộ phận tổ thành chủ yếu của đồ mộc gia dụng Do người Ai Cập cổ khá thấp, có thói quen ngồi xổm, vì thế ghế ngồi được thiết

kế khá thấp Chân ghế thường có hình thù móng vuốt sư tử hoặc chân cá sấu; một số chân ghế còn được đục theo chân linh dương lagen (hình 2.1)

Hy Lạp luôn theo sát với văn minh của Crete và Hy Lạp nhanh chóng trở

a

Trang 13

thành trung tâm văn hoá của thế giới cổ Đỉnh cao nhất của văn minh Hy Lạp

cổ đại là từ năm 499 đến 79 trước công nguyên

Đồ mộc cổ điển Hy Lạp kế thừa từ đồ mộc Ai Cập, những người Hy Lạp văn minh đã mượn phong cách và ý tưởng từ người Ai Cập, nhưng sau đó đã

có những sự thay đổi tinh tế Đường nét trở nên mềm mại hơn, sử dụng nhiều những đường cong tinh tế và tao nhã và chú ý hơn đến sự thoải mái

Đồ mộc gia dụng của Hy Lạp cổ đơn giản mộc mạc, tao nhã, đẹp, trang sức giản dị, mà vật liệu trang sức vô cùng phong phú Mặc dù nghệ thuật chạm khảm được sử dụng nhưng không dùng nhiều trong việc trang trí đồ mộc Một số hình ảnh về đồ mộc cổ của Hy Lạp như giới thiệu ở hình 2.2

Đồ mộc La Mã cổ thường là những chiếc tủ khắc, những chiếc ghế đẩu đơn giản, những chiếc ghế dài, cột trụ khung giường Những chiếc ghế, với mặt sau và tay tựa, chủ yếu dành cho những nhân vật quan trọng như những

Hình 2.2 Phong cách đồ mộc cổ điển Hy Lạp

Trang 14

giám mục và lãnh chúa (hình 2.3) Những chiếc ghế như thế thường nặng về trang trí với nghệ thuật chạm khắc, hội hoạ và khảm, chúng là một biêu tượng của sức mạnh

Đồ mộc La Mã và Hy Lạp cổ là nguồn cảm hứng cho đồ mộc thời kỳ phục hưng thế kỷ 18 và 19, mang lại sự lôi cuốn trong thiết kế cho đồ mộc thời kỳ Tân cổ điển Lịch sử đồ mộc cổ La Mã cũng chính là lịch sử của chính

đế chế này

Phong cách phục hưng(Renaissance) Châu Âu

Phục hưng - có gốc từ tiếng Pháp Renaissance nghĩa là sự tái sinh- , còn gọi là IlRinascimento (tiếng ý), là cuộc tái sinh các giá trị nghệ thuật, tư tưởng, khoa học của thời kỳ Cổ đại và sự sống lại, phát triển rực rỡ của nền văn minh phương Tây Phong trào phục hưng được bắt đầu từ khoảng thế kỷ

14 tại Ý và thế kỷ 16 tại Bắc Âu Nó cũng được coi là đánh dấu giai đoạn chuyển tiếp của châu Âu từ Thời kỳ Trung cổ sang Thời kỳ Cận đại, cũng như thời kỳ phong kiến sang thời kỳ tư bản

Phong cách phục hưng được một nhóm người tri thức và người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật tại Ý khơi nguồn Sự truyền bá tư tưởng giữa

Hình 2.3 Phong cách đồ mộc cổ điển La Mã

Trang 15

các nhà văn và hoạ sĩ vào cuối thế kỷ 15 sớm vượt qua biên giới quốc gia và lan sang phong cách mộc phục hưng khắp Châu Âu

Phong cách phục hưng tại Ý

Đồ mộc gia dụng của thời kỳ Phục Hưng văn nghệ Italy thường áp dụng kiểu thiết kế đường thẳng, do đặc trưng đồ án của phù điêu cổ điển, vì thế chi tiết của đồ mộc có nhiều hình dáng

Thuật cẩn gỗ, nghệ thuật chạm khắc giàu tưởng tượng và sử dụng gỗ cây

óc chó thay cho gỗ sồi là tiêu biểu cho những kết quả rực rỡ của những năm

1500 Sự đa dạng về mẫu mã và hình thức trang trí nhiều hơn so với những thời kỳ trước đó Sự di động của những chiếc ghế gấp được làm sống lại, với mặt ghế được bọc thảm thêu hoặc da

Phong cách phục hưng tại Pháp

Đồ mộc gia dụng Pháp đặc trưng với những chiếc bàn có chân hình trụ nhỏ hay những chiếc ghế với mặt sau được bịt ván, được làm lần đầu tiên trong những năm 1560 - 1570, và tiếp tục được làm sau năm 1600 Vào những thập niên đầu của thế kỷ 17, những sự thay đổi trong thiết kế trở nên tinh tế hơn Trong thời gian triều đại vua Louis XIII từ năm 1610 đến năm

1643, hình dáng đồ mộc đi theo những mô hình đồ mộc thế kỷ 16, nhưng duyên dáng hơn và sử dụng nhiều tấm trang trí bằng gỗ mun và đồi mồi thay

vì nghệ thuật chạm khắc

Phong cách phục hưng tại Anh

Thiết kế trong thời kỳ phục hưng ở Anh đơn giản hơn so với thiết kế của Pháp Sự thanh lịch trong các chi tiết chạm khắc ít hơn, sự trang trí đơn giản hơn trong các chi tiết tiện, các chi tiết được cách điệu hoá Gỗ sồi tiếp tục là loại gỗ được sử dụng nhiều nhất ở Anh trong thế kỷ 16 Cũng như tại Pháp, sự thu hút của phong cách thời kỳ phục hưng vẫn còn kéo dài đến giữa thế kỷ 17

Trang 16

Lịch sử vương triều Tudor của Anh bắt đầu với sự lên ngôi của vua Henry VII trong năm 1485, sự kiện này báo hiệu sự kết thúc của thời Trung

cổ Tại nước Anh và bắt đầu thời kỳ phục hưng ở Anh quốc Thời đại Tudor bắt đầu bằng sự thống trị của vua Henry VII và kết thúc với những vinh quang của nữ hoàng Elizabeth I vào năm 1558

Đồ mộc thời kỳ Tudor có sự khác biệt nhỏ so với đồ mộc thời Trung cổ

và thời kỳ Gothic Những người dân nghèo có rất ít quyền sở hữu đồ mộc, và thậm chí trong những gia đình giàu có cũng chỉ có những chiếc giường đơn giản, những chiếc ghế dài, ghế đẩu…

Trong suốt triều đại của vua Henry phương pháp sản xuất đồ mộc có nhiều tiến bộ với những ý tưởng trong thiết kế, và cho phép đồ mộc có thể di chuyển dễ dàng quanh nhà

Hình 2.4 Đồ mộc phong cách phục hưng châu Âu

Phong cách Gothic

Phong cách Gothic trong kiến trúc, nghệ thuật và đồ mộc đã có từ thế kỷ

12 cho tới thế kỷ 16 Chịu ảnh hưởng bởi văn hoá đế quốc La Mã du nhập vào Châu Âu thông qua cuộc thập tự chinh, như những đặc trưng của Đạo hồi và kiểu trang trí đường lượn, đồ mộc và lối kiến trúc theo phong cách này trở nên lộng lẫy hơn Và tiêu biểu cho phong cách Gothic là mô típ kiểu khung vòm nhọn trở nên phổ biến trong thiết kế đồ mộc cũng như trong xây dựng

Trang 17

Đồ mộc theo thời kỳ này chủ yếu được làm từ gỗ sồi, mang phong cách nặng nề, áp dụng chủ đề trang sức của kiến trúc, hội hoạ và chạm khảm được

sử dụng để trang trí cho đồ mộc Chủ đề tôn giáo trở nên phổ biến trong nghệ thuật chạm khắc, như các huy hiệu cổ hình quái vật sư tử đầu chim, sư tử hay chim ưng; chủ đề hoa cỏ cũng được sử dụng rộng rãi Và mô típ đồ mộc hoàng gia Pháp có từ thời kỳ này Một số đồ mộc tiêu biểu cho phong cách này như trên hình 2.5

Phong cách Baroque chịu sự chi phối theo phong cách nghệ thuật của Châu Âu Phong cách này xuất hiện lần đầu tiên ở Ý, chính xác là ở Rome Trong thế kỷ 17, Rome là trung tâm của nghệ thuật Châu Âu, và phong cách

Trang 18

Baroque sớm được lây lan từ nó, trải qua thời gian được sửa đổi , bổ sung lết hợp với các quan điểm và truyền thống của các quốc gia khác nhau

Rome được biết đến như là trung tâm quyền lực của nhà thờ và Giáo Hoàng và Baroque chính là biểu tượng của thời kỳ đậm chất tôn giáo lúc bấy giờ Phong cách Baroque có khá nhiều đặc trưng, những đặc trưng xa hoa, nhấn mạnh âm sắc của chủ nghĩa “Khoái lạc” (the Hedonism) Đây là nghệ thuật của niềm đam mê, cảm xúc mạnh mẽ, một chút ít hương sắc lãng mạn, một điểm nhấn của sự khác biệt Hầu hết các sản phẩm của phong cách Baroque lấy tôn giáo và tín ngưỡng làm chủ đạo

Phong cách Baroque Pháp còn gọi là phong cách Lộ dịch Pháp, phong cách của đồ gia dụng này hùng tráng, nguy nga, dày nặng, có thủ pháp phô trương hình thức cổ điển, trọng điểm cường điệu của nó là đẹp mắt, thoải mái Triều đại của vua Louis XIV đặc trưng cho phong cách Baroque mà tiêu biểu

là công trình kiến trúc cung điện Véc-xây Phong cách Baroque đã đạt tới đỉnh cao của sự xa hoa và cao quý

Đồ mộc gia dụng của thời kỳ Baroque còn đại biểu cho đồ mộc gia dụng của thời kỳ Hoàng hậu Anh quốc Anne, loại đồ mộc gia dụng này nhẹ nhàng đẹp mắt, gia công tinh xảo, trong khi thiết kế chú trọng đến kích thước con người, vì thế hình dáng của nó càng phù hợp với con người (hình 2.6)

Hình 2.6 Hình ảnh đồ mộc phong cách Baroque

Trang 19

kế, thợ mộc và thợ vẽ

Phong cách Rococo còn được biết đến với cái trên Rocaille Nó bắt đầu xâm nhập vào miền Trung châu Âu bắt đầu từ những năm 1745 cùng với một phong cách trang trí đặc trưng bởi những đường nét uốn lượn của ánh hào quang, những đường lượn sóng không theo qui luật và bố cục tuân theo hệ thống

Phong cách Rococo nhanh chóng phát triển sang các nước châu Âu khác, đặc biệt là Đức và Áo, nơi mà chúng đã kết hợp với phong cách Baroque đang thịnh hành tạo nên một phong cách rất “hoang phí”

Đồ mộc gia dụng của thời kỳ này phân thành đồ mộc gia dụng của thời

kỳ Lộ dịch Pháp thế kỷ 15 và đồ mộc gia dụng của thời kỳ Kiều trị Anh quốc

Đồ mộc gia dụng của thời kỳ Lộ dịch Pháp thế kỷ 15 đẹp đẽ, phù hợp với kích thước nhân thể, đồ mộc gia dụng dùng chất liệu nhẹ, dễ vận chuyển; đồ mộc gia dụng thời kỳ đầu Kiều trị Anh quốc trước năm 1730 mang nặng phong cách Baroque, đến sau năm 1730 phong cách Rocaille mới bắt đầu đại chúng hoá

Phong cách Rococo dần dần mất chỗ đứng - đặc biệt từ năm 1760 – nhường chỗ cho phong cách Neoclassique (phong cách Tân cổ điển) Nó biến

Trang 20

mất hoàn toàn kể từ cuộc cách mạng Pháp năm 1789, tuy nhiên nó đã để lại đằng sau rất nhiều công trình, tác phẩm tuyệt tác Trên hình 2.7 giới thiệu một

số đồ mộc với phong cách Rococo tiêu biểu

Hình 2.7 Đồ mộc phong cách Rococo

Phong cách theo chủ nghĩa Tân cổ điển (Neoclassical)

Thời kỳ của chủ nghĩa Tân cổ điển từ năm 1760 đến giữa năm 1789, thời

kỳ này do chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa cổ điển, thiết kế đồ mộc gia dụng càng phải suy xét nhiều đến yêu cầu kích thước của con người, lấy sự thích hợp làm tiêu chuẩn Hình thức, đường nét kết cấu, trang sức bề mặt khá đơn

giản (hình 2.8)

Phong cách mộc thời kỳ Victoria

Thời kỳ Victoria (1837-1901) là đại biểu cho phong cách hỗn tạp của thế

kỷ 19 trong phương pháp thiết kế Là sự pha trộn tuyệt vời giữa các phong cách Rococo, Baroque, Tân cổ điển và phong cách Gothic

Hình 2.8 Đồ mộc phong cách Tân cổ điển

Trang 21

Đồ mộc theo phong cách Victoria tạo cảm giác nhẹ nhàng, tao nhã mà cũng rất sang trọng , tráng lệ Đồ mộc được chạm khắc lộng lẫy và thường sử dụng các hình mẫu hoa cỏ trong thiết kế.Các gam màu tối được sử dụng nhiều

Sau năm 1880, việc chế tạo đồ mộc gia dụng thời kỳ này đi từ chế tạo thủ công đơn thuần dần dần chuyển sang chế tạo bằng cơ khí, trong quá trình chế tạo áp dụng nhiều loại vật liệu mới và kỹ thuật mới, như gang, uốn cong gỗ, cán mỏng bản gỗ v.v…(hình 2.9 và 2.10)

Hình 2.9 Ảnh một số loại ghế phong cách thời kỳ Victoria

Trang 22

Hình 2.10 Ảnh đồ mộc nội thất phòng ngủ phong cách thời kỳ Victoria

2.2 Khái quát về tủ ô kéo kiểu “High boy”

High boy là một loại tủ ô kéo cao (chest of drawer)[10] Cấu trúc của tủ High boy thường có hai phần, phần khung trên (upper) và phần tủ dưới (lower) Có nhiều loại tủ High boy chỉ có một phần, và có một số loại có cấu trúc 3 phần Phần tủ dưới thường rộng hơn phần khung trên và có 3 ngăn kéo

có cùng kích cỡ Phần khung trên thường có ba bộ ngăn kéo dài khác nhau, ở phía trên có hai hoặc ba ngăn kéo nhỏ, phần nóc tủ có thể là tấm phẳng cũng

có thể được tạo dáng vòm và được viền bởi gờ mái Phần tủ trên và tủ dưới được ngăn cách bởi một mặt phẳng

Khác với các loại tủ ô kéo bình thường có ba ngăn kéo dài và hai ngăn kéo ngắn, High boy có năm, sáu hoặc bảy ngăn kéo dài và hai ngăn kéo ngắn

Tủ High boy thường được làm từ gỗ Anh đào (Cherry) [11][12], gỗ Bạch dương (poplar), gỗ tuyết tùng thơm (aromatic cedar – dùng làm ngăn kéo), gỗ

gụ (mahogany)

Trang 23

Tủ High boy xuất hiện lần đầu tiên tại Anh Sau khi được chở sang Mỹ,

tủ High boy trở nên vô cùng phổ biến Qua bàn tay của những người thợ đồ

gỗ mỹ thuật Mỹ, chúng đã có thay đổi cơ bản Khoảng sau năm 1775 High boy hiếm khi được sản xuất do nhiều nguyên nhân khác nhau

Tủ High boy là tủ đựng quần áo của thế kỷ 18, nhưng nó dần dần nhường chỗ cho các loại tủ đựng quần áo hiện đại cửa trượt, loại tủ mới này không những rộng hơn mà còn tiện lợi hơn khi sử dụng Những ngăn kéo cao nhất của tủ High boy có thể chỉ với tới được khi sử dụng thang, đây chính là một nhược điểm trong thiết kế của loại tủ này

Có thể nói tủ High boy là sản phẩm mộc đỉnh cao nhất của Mỹ và ngày nay, tủ ô kéo High boy trở thành một trong những loại sản phẩm mộc cao cấp nhất, rất được ưa chuộng tại các nước phương Tây Chúng có giá trị về mặt

mỹ thuật nhiều hơn là về công năng sử dụng Tủ High boy có chiều cao trung bình từ 76 – 90 inch và có giá từ vài nghìn USD đến vài chục nghìn USD[13]

Ta có thể phân loại tủ ô kéo “High boy” theo hình dạng của nóc tủ hoặc phân loại theo phong cách tương ứng với tiến trình lịch sử phát triển đồ mộc

cổ điển châu Âu

Thực tế cho thấy tủ ô kéo kiểu High boy có kiểu dáng rất phong phú theo mang nhiều phong cách khác nhau như : William and Marry style; Queen Anne style; Chippendale style; và một số phong cách khác nhưng nhiều nhất vẫn là tủ High boy mang phong cách Queen Anne

Tủ High boy mang phong cách William and Marry style thường có cấu trúc hai phần, phần tủ trên upper và phần tủ dưới lower Tủ High boy theo phong cách này có cả loại Bonnet top High boy và Flat top High boy nhưng chủ yếu vần là loại tủ Flat top High boy Chúng thường có 6 chân thuộc loại ball foot ( loại chân được tiện tròn) Nghệ thuật chạm khắc không được dùng

để trang trí cho tủ, thay vào đó loại tủ High boy phong cách William and Marry thường được trang trí bằng cách dán phủ tấm trang trí

Trang 24

Tủ High boy mang phong cách Queen Anne style cũng có 2 loại Bonnet top High boy và Flat top High boy nhưng đa số là loại tủ Bonnet top High boy Tủ mang phong cách Queen Anne trông rất thanh lịch, nhẹ nhàng mà cũng rất quý phái Queen Anne High boy thường được làm từ gỗ anh đào, gỗ tuyết tùng và gỗ bạch dương Cabriolet Pad foot là loại chân được sử dụng nhiều nhất trong phong cách Queen Anne, nghệ thuật chạm khắc cũng được

sử dụng nhưng rất ít, chủ yếu là khắc hoa văn hình quạt ở vỏ ngăn kéo trung tâm

Tủ High boy theo phong cách Chippendale thường sử dụng rất nhiều nghệ thuật chạm khắc trong trang trí, làm toát lên vẻ cổ kính mà cũng rất sang trọng, kiêu kỳ của phong cách này Những hình được chạm khắc là những hình hoa cỏ, và thường được khắc ở phần bonnet, phần appon, ở vỏ ngăn kéo

và ở chân tủ Chippendale High boy thường sử dụng loại chân claw and ball foot và thường dùng loại gỗ như: gỗ sồi, gỗ thích, gỗ tuyết tùng, gỗ anh đào Ảnh một số loại tủ High boy điển hình như giới thiệu trên hình 2.11

a- Queen and Anne Bonnet top High boy; b- William and Marry High boy;

c-Chippendale high boy Hình 2.11 Hình ảnh một số tủ High boy điển hình:

Trang 25

Một trong những đặc trưng nữa cần quan tâm trong việc nhận biết tủ

High boy đó là chân tủ Theo tài liệu nghiên cứu của các nhà khoa học phương Tây [12], các loại chân tủ phổ biến được sử dụng là: Ball foot; Claw and ball foot; Club foot; Cuffed foot và Fad foot

Chân Ball foot – là loại chân được gia công bằng phương pháp tiện (hình 2.12,a) Loại chân này được sử dụng niều trong tủ High boy mang phong cách

William and Marry Loại chân Claw and ball foot (h 2.12,b), được khắc hình

ảnh móng vuốt của một con chim (thường là chim đại bàng) đang nắm quả bóng Kiểu dáng chân này được bắt nguồn từ hình tượng con rồng Trung Hoa dùng móng vuốt quắp chặt quả cầu bằng thuỷ tinh hay đá quý Loại chân này được sử dụng nhiều trong tủ High boy phong cách Queen Anne và Chippendale

Kiểu dáng các chân Club foot; Cuffed và Fad foot như giới thiệu trên hình 2.13 Ba loại chân trên thường được dùng trong tủ High boy phong cách Queen Anne và phong cách Chippendale nhưng chủ yếu vẫn là tủ Queen Anne High boy Loại chân Club foot có một đầu hơi nhọn, loaị chân Pad foot

là loại chân tròn dẹt như hình đĩa nó thường được sử dụng với loại chân quỳ

Hình 2.12 Các chân tủ High boy:

a - Ball foot; b - Claw and ball foot

Trang 26

cabriolet Những loại chân này thường dày và rất chắc chắn nhưng kết hợp với kiểu chân quỳ Cabriolet chúng lại trở nên hết sức mềm mại, duyên dáng

2.3 Cấu trúc cơ bản của sản phẩm mộc

Sản phẩm mộc có cấu tạo rất đa dạng và phong phú, song phân tích cấu trúc của chúng, ta thấy sản phẩm mộc được cấu tạo bởi các chi tiết và bộ phận giống như các loại sản phẩm khác[1][6][19] Các chi tiết có thể liên kết với nhau tạo thành bộ phận Các bộ phận và các chi tiết liên kết với nhau tạo thành sản phẩm Mức độ phức tạp về kết cấu của một sản phẩm tuỳ thuộc vào

số lượng, cách thức và giải pháp của liên kết

2.3.1 Chi tiết

Chi tiết là một đơn vị cấu tạo nhỏ nhất được gia công theo một hình dạng xác định Các chi tiết có các hình dạng mặt cắt ngang, kích thước và kết cấu khác nhau Chi tiết thường được gia công từ một loại vật liệu liền khối, , song cũng có thể được gia công từ những nguyên vật liệu ghép nối (nối dài, nối rộng hay ghép dày) Sự nối ghép này hoàn toàn khác với sụ liên kết giữa các chi tiết trong sản phẩm

Như vậy, chi tiết có thể được phân thành nhiều loại khác nhau:

Hình 2.13 Một số chân tủ High boy thường thấy:

a - lo¹i ch©n Club foot; b - lo¹i ch©n Cuffed foot; c- lo¹i ch©n Pad foot

Trang 27

- Theo hình dạng, các chi tiết có thể phân ra: chi tiết thẳng, chi tiết cong, chi tiết song tròn, chi tiết tiện tròn…

- Theo chức năng, chi tiết có thể phân thành: chi tiết cấu trúc, chi tiết liên kết và chi tiết trang trí

2.3.2 Bộ phận

Bộ phận gồm nhiều chi tiết liên kết với nhau (theo kiểu cố định hay có thể tháo rời) tạo thành một phần cấu tạo có chức năng xác định trong kết cấu của sản phẩm Ví dụ: cánh tủ là một bộ phận bao gồm cả khoá và bản lề Các

bộ phận đều có chức năng riêng xác định, được đảm bảo bằng những giải pháp cấu tạo thích hợp Việc phân chia bộ phận có ý nghĩa về phương diện tổ chức lắp ráp sản phẩm Các tiết và vộ phận có thể được tiêu chuẩn hoá về hình dạng và kích thước Về mặt cấu trúc, một bộ phận có thể thay thế bằng một chi tiết

2.4 Liên kết cơ bản của một sản phẩm mộc

Sản phẩm mộc đều do các chi tiết, cụm chi tiết theo một phương thức liên kết nhất định lắp ráp thành Phương thức liên kết thường dùng của sản phẩm mộc có liên kết mộng, liên kết bằng đinh, liên kết bằng vít gỗ, liên kết bằng keo, bản lề…Phương thức liên kết dùng chính xác hay không đều ảnh hưởng trực tiếp đến mỹ quan, cường độ và quá trình gia công của sản phẩm mộc

2.41 Liên kết mộng

Liên kết mộng do thân mộng và lỗ mộng hoặc rãnh mộng tổ thành Mộng là hình thức cấu tạo có hình dạng xác định được gia công tạo thành ở đầu cuối chi tiết theo hướng dọc thớ nhằm mục đích liên kết với lỗ được gia công trên chi tiết khác của kết cấu

Cấu tạo của mộng có nhiều dạng, song cơ bản vẫn bao gồm: thân mộng

và vai mông (hình 2.14) Thân mộng để cắm chắc vào vào lỗ mộng Vai mộng

để giới hạn mức độ cắm sâu của mộng, đồng thời cũng có tác dụng chống

Trang 28

chèn dập mộng và đỡ tải trọng Thân mộng có thể thẳng hoặc xiên, có bậc hay không có bậc, tiết diện có thể là hình tròn hay hình chữ nhật Thân mộng có thể liền với chi tiết, nhưng cũng có thể là thân mộng mượn, không liền với chi tiết mà được gia công ngoài, cắm vào đầu chi tiết tạo thành mộng

Hình 2.14 Cấu tạo mộng gỗ:

1- mặt đầu mộng; 2- thân mộng; 3- vai mộng; 4- lỗ mộng; 5- rãnh mộng

Thông thường có 3 loại mộng: mộng thẳng, mộng đuôi én, mộng tròn (H.2.15)

Hình 2.15 Các loại mộng thông dụng:

I- mộng đơn thẳng; II- mộng đuôi én; III- mộng tròn Mộng thẳng có 3 loại: mộng đơn, mộng đôi, mộng nhiều thân (hình 2.16)

Trang 29

Ưu điểm của liên kết này là có thể đạt được: gỗ nhỏ thành to, gỗ xấu thành tốt, tiết kiệm được gỗ, ngoài ra còn có thể nâng cao chất lượng sản phẩm, cải thiện ngoại hình sản phẩm

2.4.3 Liên kết đinh

Liên kết đinh là loại liên kết cố định không thể tháo rời Có ba loại đinh: đinh kim loại, đinh tre và đinh gỗ Liên kết đinh thường được dùng để liên kết bên trong sản phẩm và nơi ngoại hình yêu cầu không cao về thẩm mỹ, như cố định rãnh trượt ngăn kéo hoặc để dán ván dán… Liên kết đinh thường dùng phối hợp với keo, có lúc chỉ có tác dụng hỗ trợ

Liên kết đinh có cường độ nhỏ mà rất dễ phá huỷ gỗ, đặc biệt là dùng đinh liên kết ván dăm (trong ván dăm không nên dùng liên kết đinh ở các mặt đầu ván dăm) Lực bám đinh liên quan đến kích thước đinh, thường thì đinh càng dài, đường kính càng lớn thì lực bám đinh cũng tăng lên

Trang 30

2.4.4 Liên kết đinh vít gỗ

Liên kết đinh vít gỗ cũng được dùng khá phổ biến trong đồ mộc Tuy nhiên không nên tháo lắp nhiều lần, nếu không sẽ ảnh hưởng đến chất lượng liên kết và sản phẩm Đinh vít lộ ở bề mặt, ảnh hưởng đến ngoại quan, thường dùng để cố định và lắp ráp các phụ kiện như mặt bàn, mặt tủ, ván hậu, tay co ngăn kéo…Lực bám đinh vít cũng giống lực bám đinh, chiều dài, đường kính đinh vít tăng lên, lực bám đinh vít cũng tăng lên….Một số loại đinh vít thường dùng được giới thiệu trên hình 2.17

Hình 2.17 Một số loại vít thường dùng trong lắp ráp đồ mộc

2.4.5 Liên kết ke

Chủng loại ke rất đa dạng, dùng để liên kết chi tiết gỗ, ván, đặc biệt là liên kết các cụm chi tiết đồ mộc Yêu cầu của ke dùng cho đồ mộc là: kết cấu vững chắc, tin cậy, có thể tháo lắp nhiều lần, tháo lắp thuận tiện, khi lỏng có thể trực tiếp vặn chặt, hiệu suất lắp ráp cao, chế tạo thuận tiện, giá thành thấp

Trang 31

thuận tiện cho việc tháo lắp nhiều lần, có thể điều tiết được mức độ chặt lỏng,

dễ sản xuất, giá thành rẻ, hiệu quả lắp rắp cao, không làm tổn hại đến công

năng và ngoại quan của sản phẩm, đảm bảo được cường độ của sản phẩm,…

Liên kết bằng các chi tiết liên kết là một phương pháp đã được sử dụng rộng rãi nhất trong sản xuất các loại đồ mộc tháo lắp được, đặc biệt là đồ mộc dạng tấm phẳng Hiện nay sử dụng các chi tiết liên kết có thể đạt đựơc mức

độ tiêu chuẩn hoá trong gia công đối với các chi tiết, tiện lợi cho việc lắp ráp đóng gói, vận chuyển và dự trữ đối với sản phẩm

Hình 2.18 Liên kết có trợ giúp của các chi tiết liên kết

2.5 Một số kiểu kết cấu liên kết

Kết cấu liên kết các chi tiết thành bộ phận phụ thuộc vào chức năng công dụng của bộ phận và những yêu cầu về độ bền, tính thẩm mỹ…Trong thực tế phổ biến có các kiểu kết cấu liên kết như giới thiệu trên các hình 2.19, 2.20, 2.21 và hình 2.22

Hình 2.19 Liên kết góc vuông khung gỗ

Trang 33

2.6 Tạo dáng và các nguyên lý tạo dáng sản phẩm mộc

Tạo dáng sản phẩm mộc là một trong những công đoạn đặc biệt quan trọng trong quá trình thiết kế sản phẩm mộc Giá trị của một sản phẩm không chỉ được đánh giá qua độ bền chức năng mà nó còn phải có chất lượng thẩm

mỹ hấp dẫn[2][9] Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ sản xuất, hiện đại hơn, chính xác hơn, nguồn nguyên liệu đa dạng hơn thì vấn đề thẩm mỹ của sản phẩm lại là mấu chốt chính quyết định đến giá trị của sản phẩm Cùng một loại nguyên liệu, cùng một loại hình sản phẩm, nhưng sản phẩm nào có mẫu mã, hình thức đẹp hơn, hấp dẫn hơn thì giá của nó có thể cao hơn hẳn so với sản phẩm kia

Vậy tạo dáng sản phẩm là gì? Thực chất, tạo dáng sản phẩm mộc là một công đoạn trong thiết kế sản phẩm Ở đó, người thiết kế đưa ra các phương án

về hình dạng, dáng dấp của sản phẩm theo một số nguyên tắc mỹ thuật nhất định và đặc biệt là người thiết kế có thể lồng ghép các ý tưởng sáng tạo của mình vào sản phẩm để sản phẩm có một ý nghĩa nào đó, đây chính là phần hồn của sản phẩm

Các nguyên lý cơ bản của tạo hình sản phẩm mộc là các nguyên lý ứng dụng các quy luật mang lại cái đẹp của hình thức trong thiết kế tạo hình sản phẩm mộc Chủ yếu gồm các nguyên lý sau[1],[6]:

2.6.1 Tỷ lệ và kích thước

Sản phẩm mộc dùng ngôn ngữ hoạ hình điểm, đường, mặt, khối ,… để biểu đạt tạo hình và mô tả tạo hình, vì thế tỷ lệ đẹp và kích thước chính xác là điều kiện quan trọng để thu được cái đẹp lý tính

Sản phẩm mộc khác nhau có hình thức công năng khác nhau, hình thức công năng lại quyết định sản phẩm mộc có tỷ lệ khác nhau Nếu phối hợp tốt với hình thức công năng có thể thu được tỷ lệ tốt, tạo ra hiệu quả đẹp

Về quan hệ tổ hợp giữa một khối hình học, giữa chúng phải có mối liên kết nội tại nào đó, cũng tức là tỷ lệ giữa chúng cơ bản gần hoặc bằng nhau

Trang 34

Đối với một hình liền nhau hoặc bao bọc nhau cần phải làm cho đương chéo của chúng song song hoặc vuông góc với nhau

2.6.2 Kích thước và cảm giác kích thước

Kích thước là phạm vi căn cứ vào nguyên lý Ergonomic và yêu cầu sử dụng qui định khi thiết kế sản phẩm mộc Kích thước tạo ra ấn tượng to nhỏ khác nhau, tạo ra cho con người những cảm giác khác nhau như khoan khoái,

dễ chịu, rộng rãi, chật hẹp, nặng nề… loại cảm giác này gọi là cảm giác kích thước Để thu được cảm giác kích thước tốt, ngoài công năng xác định kích thước hợp lý ra, còn phải xuất phát từ yêu cầu thẩm mỹ, điều chỉnh kích thước của tổng thể hoặc bộ phận của sản phẩm ở điều kiện đặc định hoặc hoàn cảnh đặc định để thu đựơc hài hoà giữa sản phẩm và người, sản phẩm và sản phẩm, sản phẩm và môi trường

2.6.3 Thay đổi và thống nhất

Hình thức đơn điệu là không đẹp, bất kể là liên tục đơn âm hay là trang sức phẳng đơn sắc Mùa đông tuyết phủ trắng ta thấy đẹp là do nó mới lạ xuất hiện sau màu sắc loang lổ của bốn mùa trong năm Nếu tách rời bối cảnh không gian, thời gian đa dạng thì loại đơn điệu này sẽ không đẹp Thay đổi và thống nhất là biểu hiện ngoại tại của qui luật thống nhất đối lập của thế giới tự nhiên Thay đổi và thống nhất làm pháp định tạo hình, tức là yêu cầu thiết kế trên hình thức vừa thể hiện tính đa dạng và thay đổi, lại thể hiện trật tự, đem lại cảm giác đẹp cho con người Kết hợp giữa thay đổi và thống nhất trong tạo hình sản phẩm mộc thể hiện chủ yếu ở các hình thức sau:

- So sánh và hài hoà: So sánh là đem một yếu tố nào đó trong rất nhiều yếu tố tạo hình như đường hoặc hình, theo mức độ sai khác rõ rệt tổ chức lại

để đối chiếu, để tạo ra hiệu quả nghệ thuật nhất định Hài hoà là thông qua thủ pháp thu nhỏ mức độ sai khác, đem các bộ phận so sánh tổ chức hữu cơ lại làm cho hoàn chỉnh và hài hoà nhất trí Yếu tố so sánh trong tạo hình sản phẩm mộc có đường, hình, màu sắc, vân thớ, hư thực, khối lượng, chiều hướng…điều kiện so sánh là cùng một yếu tố tạo hình

Trang 35

- Cân bằng và ổn định: Ổn định thường chỉ quan hệ nặng nhẹ, trên dưới toàn bộ sản phẩm, còn cân bằng chỉ cảm giác khối lượng tương đối giữa các

bộ phận trước, sau, phải trái của sản phẩm Đối xứng và cân bằng là qui luật

mỹ học của hiện tượng tự nhiên Cân bằng gồm 2 loại : cân bằng tĩnh và cân bằng động, cân bằng tĩnh có hiệu quả đoan trang, nghiêm túc, an toàn, cân bằng động là trạng thái cân bằng không đối xứng không đẳng chất, không đẳng lượng, cân bằng động có hiệu quả nhanh, sôi động của cuộc sống Khi thiết kế sản phẩm mộc phải chú ý đẹp ổn định, hình thức của nó phải phù hợp với trọng tâm lệch phía dưới hoặc có diện tích mặt đáy tương đối lớn, làm cho hình thể sản phẩm giữ một loại trạng thái ổn định, không chỉ ổn định trong sử dụng, mà thể hiện rõ ổn định trên thị giác

2.6.4 Tính lặp lại và vận luật

Trong thể giới tự nhiên và sinh hoạt xã hội có rất nhiều sự vật và hiện tượng lặp lại có qui luật và thay đổi có tổ chức như: mặt trời mọc, mặt trời lặn, trăng tròn, trăng khuyết…đều là hình thức biểu hiện của vận luật Trong tạo hình sản phẩm mộc đối với một chi tiết công năng, đồ án trang sức, vân thớ ghép hoa, đặc trưng hình thể… ứng dụng lặp lại để hình thành hiệu quả vận luật nhất định

2.6.5 Nguyên lý về màu sắc và đường nét trên bề mặt sản phẩm

Khi nhìn vào sản phẩm mộc, con người thường cảm nhận đầu tiên là về màu sắc và các đường nét trang trí, sau đó mới đến hình dạng sản phẩm Sản phẩm có thu hút, có bắt mắt không đó là nhờ vào màu sắc của sản phẩm Như chúng ta đã biết, màu sắc của một vật phụ thuộc vào ánh sáng chiếu tới nó, xong cho dù ánh sáng nhân tạo có phát triển đến đâu đi chăng nữa thì chúng đều hướng theo mục đích là tạo ra loại ánh sáng gần gũi với thiên nhiên nhất và tất nhiên là phản ánh trung thực nhất màu sắc của vạn vật xung quanh Chính vì vậy, mỗi vật, mỗi sản phẩm cần có màu sắc phù hợp, hoà đồng với mọi vật xung quanh nó

Trang 36

Mỗi màu sắc đều tạo ra cảm giác riêng đối với con người Ví dụ: màu đỏ gây cảm giác ấm cúng, màu lục gây cảm giác bình yên… cảm giác về sự hài hoà của màu sắc được sắp đặt gần nhau cũng là sự cảm giác về thẩm mỹ tạo hình Vì vậy, trong quá trình thiết kế tạo hình của sản phẩm cũng luôn gắn liền với việc lựa chọ màu sắc với việc phân ly tỷ lệ tạo hình của từng chi tiết Trong màu sắc được sử dụng chúng ta có thể sử dụng màu sắc tương phản để tạo ra giá trị thẩm mỹ Để làm nổi bật một bộ phận, chi tiết nào đó, chúng ta nên sử dụng quy luật tương phản về màu sắc

Màu sắc của sản phẩm trong tạo dáng cần tuân thủ theo cảm nhận theo màu của người sử dụng: người già thường thích màu nhẹ nhàng; trẻ nhỏ thường thích các màu nguyên có độ bão hoà màu cao, các sắc độ màu tương phản mạnh…

Màu của sản phẩm mộc gần gũi nhất đó là những màu gần màu gỗ, những màu này là những màu tương đối dễ hoà đồng trong môi trường không gian nội thất Một số màu khác thường chỉ được sử dụng ở những chi tiết như phần bọc đệm để đa dạng các màu sản phẩm

Trang 37

Chương 3 KẾT QUẢ SƯU TẬP VÀ LỰA CHỌN SẢN PHẨM TIÊU BIỂU 3.1 Kết quả sưu tập

Từ những cơ sở khoa học được trình bày trong chương 2 và sử dụng các phương pháp nghiên cứu : phương pháp thư viện, phương pháp chuyên gia tôi

đã lập được bộ sưu tập về tủ ô kéo kiểu “High boy” theo phong cách cổ điển phương Tây Việc phân loại giới thiệu tủ High boy được thực hiện trên cơ sở những đặc trưng khác biệt về phong cách loại hình sản phẩm này qua các thời

kỳ Dưới đây là kết quả bộ sưu tập

3.1.1 Tủ High boy phong cách William and Marry

Trên hình 3.1,a,b là những chiếc tủ High boy mang phong cách William and Marry điển hình trong bộ sưu tập của bảo tàng nghệ thuật Metropolitan của Mỹ Tủ High boy này thuộc loại Flat High boy ( phần nóc tủ ở dạng phẳng) Chiếc tủ này có cấu trúc 2 phần, mặt ngoài được dán bằng gỗ Walnut Màu sắc và kiểu dáng làm tôn lên nét cổ xưa quý phái của tủ “High boy” này

Tủ có 8 ngăn kéo, 6 chân và có thanh giằng đỡ phía dưới Khoá ngăn kéo được mạ vàng và tạo dáng khá đơn giản

Ngày đăng: 22/06/2021, 10:11

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w