1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng hoa văn trống đồng trong thiết kế nội thất nhà hàng

57 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 846,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các lý luận, quan niệm tổ chức không gian nội thất: - Thiết kế môi trường không gian thông qua kết cấu kiến trúc và phương thức lắp đặt các thiết bị chiếu sáng, thông gió, cách âm, cách

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề:

Dân tộc – là mảng đề tài luôn được con người quan tâm và tìm hiểu bởi vì

nó chính là cội nguồn, là gốc rễ hình thành nên tư cách và đạo đức của mỗi con người Vì thế mà ai cũng luôn tự hào về những bản sắc riêng của dân tộc mình, vốn dĩ những bản sắc tuyệt vời đó không dễ gì có được, mà nó đã đươc tôi luyện qua một bề dày lịch sử và tính sáng tạo ngày một phát triển của mỗi dân tộc Trong đó “hoa văn” là một hình thức ngôn ngữ dã được các dân tộc cổ xưa trên thế giới sử dụng như một phương tiện để truyền đạt thay cho chữ viết và lời nói để đánh dấu sự mở đầu, lịch sử phát triển cùng bản sắc riêng của mình “Hoa văn” cũng là ngôn ngữ duy nhất mà người cổ dùng

để tiếp xúc với con người ngày nay Trong một thế giới rộng lớn với hàng trăm quốc gia khác nhau đã tao nên một nền văn hóa thế giới vô cùng phong phú với nhiều đặc trưng văn hóa khác nhau Do đó, đã từ lâu mong muốn thể hiện bản sắc văn hóa của dân tộc mình là nhu cầu của mỗi dân tộc Và dân tộc Việt chúng ta cũng đang ấp ủ những mong muốn đó, mong muốn thể hiện bản sắc Việt ra ngoài thế giới Đặc biệt là trong không gian sống – nơi con người tiếp xúc hằng ngày, nơi mà người Việt Nam trông chờ lồng vào đấy là hồn Việt, nét Việt Và theo tôi - sinh viên năm cuối ngành thiết kế đồ

gỗ và trang trí nội thất, “hoa văn" Việt cũng có thể là một ý tưởng cho một không gian thuần Việt

2 Lý do chọn đề tài:

- Người Việt cổ đã biết chạm khắc hoa văn, vấn đề mà chúng ta cần tìm hiểu tiếp theo là những không gian nội thất Việt nào có thể áp dụng hoa văn dân tộc vào? Thật ra thì bất cứ không gian Việt nào cũng có thể và cần thiết

Trang 2

sử dụng hoa văn dân tộc trong nội thất, nhưng để thật sự cần thiết thì theo tôi những không gian công cộng là cần thiết hơn những không gian tư nhân

Bởi vì không gian công cộng thường giới thiệu và rất cần thể hiện nét văn hóa của khu vực, của nước mà nó đang hiện hữu Đó là nơi rất đông người lui tới bao gồm cả người Việt Nam và người nước ngoài, vì thế nó sẽ tạo ra

những cảm xúc khác nhau cho hai giới người này:

hóa dân tộc Nhắc nhở rằng chúng ta vốn có một nền văn hóa vô cùng phong phú và đậm đà bản sắc nên phải luôn duy trì và gìn giữ những vốn quý giá ấy để chúng tồn tại mãi mãi

phong phú của dân tộc ta

Nhà hàng, nơi hàng năm trực tiếp đón hàng ngàn người, du khách từ khắp nơi trong và ngoài nước, cũng là nơi họ gián tiếp tìm hiểu những nền văn hóa khác nhau Vì thế theo tôi nội thất nhà hàng ít nhất phải thể hiện được một nét văn hoá của một dân tộc, có thể là văn hóa dân tộc bản địa hay cũng

có thể là văn hóa của một dân tộc nào đó

Xuất phát từ điều này, đồng thời được sự hướng dẫn của thầy giáo : GS NGND HS Lê Thanh, sự phân công của khoa Chế Biến Lâm Sản tôi thực

hiện đề tài khoá luận có tiêu đề: “Sử dụng hoa văn trống đồng trong thiết

kế nội thất nhà hàng”

Trang 3

CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Ý nghĩa và mục tiêu nghiên cứu vấn đề:

- Từ xưa đến nay, mỗi dân tộc đều lưu dấu và giới thiệu hình ảnh của dân tộc mình bằng cách khắc họa những hoa văn đặc trưng của dân tộc họ lên các vật dụng trong cuộc sống Đặc biệt là dân tộc Việt Nam vốn có một nền văn hóa đồ sộ và phong phú, bao gồm 54 dân tộc anh em sống rải rác trên toàn lãnh thổ

- Người Việt cổ đã biết chạm khắc hoa văn lên các vật dụng hằng ngày như: công cụ sản xuất ( cuốc, lưỡi cày, đục, rìu … ), vũ khí (mũi tên, dao găm, kiếm…), đồ dùng sinh hoạt (thố, bình, âu, thạp …); lên các công trình kiến trúc (lăng tẩm, chùa chiền …) ở cột, mái đình, cửa hay những bức tranh phù điêu chạm nổi – khắc chìm … Nhưng trong xu hướng hiện đại hóa, toàn cấu hóa, có đôi khi chúng ta đã tự lãng quên, đã tự hòa lẫn riêng ta vào cơn lốc đồng hoá toàn cầu, góp phần làm đơn điệu nền văn minh trái đất E rằng đến một ngày kia nếu không còn nét văn hóa riêng, chắc chúng ta cũng không thể nhận ra mình nữa Vì thế những năm gần đây đã xuất hiện khuynh hướng tìm về bản sắc dân tộc với những phong cách thể hiện khác nhau Người Việt ngày nay khao khát đưa lại những hình ảnh hoa văn dân tộc vào trong cuộc sống hằng ngày đặc biệt là trong không gian nội thất ở phong cách hiện đại hơn

Vì vậy với đề tài “Sử dung hoa văn trống đồng trong thiết kế nội thất nhà hàng”, tôi hy vọng sẽ đáp ứng được những mục tiêu sau:

+ Mong muốn thể hiện bản sắc Việt ra ngoài thế giới thông qua nội thất nhà hàng

Trang 4

+ Phù hợp với xu hướng hiện đại của thế giới nhưng vẫn gìn giữ được bản sắc dân tộc Việt Nam

+ Đáp ứng khuynh hướng tìm về bản sắc dân tộc với phong cách mới lạ, hiện đại

+ Hồn Việt, nét Việt _ một ý tưởng cho không gian thuần Việt

1.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nhân trắc học và tư duy lôgíc:

Dựa vào kích thước cơ thể người, mối quan hệ giữa kích thước cơ thể người với các sản phẩm mộc để từ đó lựa chọn kích thước phù hợp cho bản

vẽ thiết kế, đảm bảo công năng, thẩm mỹ của sản phẩm

Trang 5

CHƯƠNG II : CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Lý luận cơ bản trong thiết kế nội thất

2.1.1 Nguyên tắc tổ chức cho không gian nội thất

a Các lý luận, quan niệm tổ chức không gian nội thất:

- Thiết kế môi trường không gian thông qua kết cấu kiến trúc và phương thức lắp đặt các thiết bị chiếu sáng, thông gió, cách âm, cách nhiệt …

- Thiết kế hình tượng thị giác của không gian, thông qua chất liệu, màu sắc

và hình dáng của vật dụng và đồ trang trí, từ đó tạo ra không gian mang tính cách điệu nghệ thuật

- Màu sắc và ánh sáng (trực tiếp và phản chiếu trên bề mặt) tạo nên tính trang trí độc đáo, mới lạ từ đó ảnh hưởng đến tổng thể không gian

- Các quy tắc xử lý nghệ thuật

- Thiết kế không gian phù hợp với tỷ lệ con người, quan tâm đến cảm xúc và cảm giác

b Kinh nghiệm thực tế trong và ngoài nước:

- Học hỏi việc tổ chức không gian nội thất nhà hàng khách sạn của các công trình nổi tiếng

- Tham khảo việc ứng dụng các mẫu hoa văn vào nội thất

c Nhu cầu cần thiết của sự phát triển ngành du lịch, dịch vụ Việt Nam:

- Việt Nam là đất nước có cảnh quan tự nhiên đẹp, khí hậu ôn hòa, an toàn

Trang 6

- Các CTCC (bao gồm nhà hàng, khách sạn, bưu điện, ngân hàng, , các công trình giáo dục văn hóa, TDTT, …) là những nơi hội tụ đông người, thu hút khách tham quan du lịch và thường là những điểm nhấn cảnh quan Tại Việt Nam, đa số CTCC (công trình từ thời Pháp hoặc là xây dựng mới) chưa được đầu tư sâu về nội thất, chưa tạo được linh hồn Việt cho công trình

- Riêng đối với các công trình nhà hàng khách sạn, việc tổ chức không gian nội thất đã bắt đầu được quan tâm và tạo được một số dấu ấn phong cách riêng Tuy nhiên, các nhà hàng khách sạn này chủ yếu là “giả cổ”, hướng ngoại và chưa khai thác các vốn cổ dân tộc theo một hình thức mới lạ và hiện đại

2.1.2 Một số nghiên cứu cần thiết để thiết kế nội thất nhà hàng:

Thông thường nhà hàng có các khu vực sau

Trang 7

 Khu vực giải khát

Trang 8

 Khu vực ăn uống

Ở những nhà hàng vừa và nhỏ, người ta thường bố trí trong một khu vực có thể gồm một số loại dịch vụ theo tính chất liên hoàn như:

Trang 9

- Khu vực: Tiếp đón – Thông tin liên lạc – Giao dịch thương mại – Đổi tiền

- Khu vực: Vui chơi giải trí – Giải khát

Trang thiết bị kỹ thuật:

Tiền sảnh được kiến trúc hài hòa, phù hợp với kiến trúc chung quanh nhà hàng Trang thiết bị kỹ thuật trong tiền sảnh phải căn cứ vào cấp hạng đối tượng nhà hàng Đặc biệt tại khu vực khách ngồi chờ, thường được bày trí trang trọng, đường nét, kiến trúc có yêu cầu cao về tính thẫm mỹ

- Màu sắc thường dùng gam màu ấm, nóng Kết hợp với ánh sáng rực rỡ có trọng điểm làm khu vực tiếp đón hấp dẫn, làm nổi bật các tranh ảnh, phù điêu, chậu hoa, cây cảnh có giá trị lớn về nghệ thuật

-Âm thanh tiền sảnh thường dùng hòa nhạc, trữ tình, êm dịu, vừa đủ nghe, giảm thấp tiếng ồn các thiết bị và lời nói trong tiền sảnh

-Tùy theo chức năng của từng khu vực trong tiền sảnh để bố trí trang thiết

bị kỹ thuật cho hợp lý, có tính đặc thù riêng nhưng cũng phải hài hòa với tổng thể tiền sảnh Không được bố trí chấp vá, rời rạc, thiếu đồng bộ Giữa các khu vực được liên thông đi lại dễ dàng cho khách Ơ những nhà hàng có không gian rộng, sân vườn thoáng gió Tiền sảnh tận dụng điều kiện tự nhiên

để tạo sự thích thú của khách với cây cỏ, hoa lá, hồ nước

- Hệ thống thang máy cũng như cầu thang bộ tạo sự đi lại thuận tiện cho khách thường được cấu trúc gần phòng đợi và quầy tiếp tân

- Tiền sảnh bao gồm nhiều bộ phận, nhưng quan trọng nhất là quầy tiếp tân Đây là trung tâm điều hành và cung ứng dịch vụ chủ yếu của nhà hàng, là

Trang 10

nơi tiếp đón và giải quyết các nhu cầu của khách Tại đây ghi dấu ấn và các cảm tưởng tốt đẹp của du khách khi rời nhà hàng Quầy tiếp tân được bố trí gần cửa chính của nhà hàng, nơi ra vào, tiện giao tiếp với tiếp tân

2.1.3.Một số yêu cầu khi thiết kế khu ăn, phòng ăn:

Khu vực ăn uống là nơi sẽ mang tới nguồn thu chính cho công việc kinh doanh nhà hàng

Trang trí ánh sáng và màu sắc cho nội thất phòng ăn:

Anh sáng và màu sắc là những nhân tố quan trọng trong trang trí Anh sáng ngoài tác dụng giúp ta nhìn thấy được vật thể, còn có tác dụng tăng vẻ đẹp của không gian, hình thể đồ vật, tạo ra cho con người có những tâm lý mà đôi khi vật chất không thể tạo ra được Ánh sáng và màu sắc có mối quan hệ mật thiết với nhau Không có ánh sáng sẽ không có màu sắc, và ánh sáng thì luôn có màu sắc

Để tạo ra được những tâm lý cho khách, ta phải hiểu bản chất của ánh sáng

và màu sắc và những ảnh hưởng của chúng đến tâm lý con người

- Anh sáng có tính chất:

+ Khi gặp một vật, nó sẽ bị phản chiếu lại, bị hấp thụ một phần hay truyền qua vật đó tùy theo độ mờ hay đục hay trong suốt cũng như phụ thuộc vào đặc tính của mặt vật thể mà ánh sáng chiếu vào

+ Ánh sáng phản chiếu từ một mặt nhẵn láng của kim loại thì sáng chói Nếu phản chiếu từ một vật thể nhám thì ánh sáng bị khuếch tán mờ dần

Trang 11

+ Vật được chiếu sáng bởi nguồn sáng hẹp, tập trung thì sẽ cho một tương phản ánh sáng mạnh mẽ Nếu nguồn sáng rộng và khuếch tán thì sự tương phản sẽ ít hơn Nếu được chiếu sáng đều từ mọi phía thì hầu như không có

sự tương phản nào của vật, khi nhìn ta cảm nhận được bản chất thật của nó

+ Bóng từ vật được chiếu từ nguồn sáng nhỏ, tập trung thường cứng, nhọn,

rõ Nếu nguồn sáng lớn và khuếch tán thì bóng mềm dịu và trải rộng Nếu nguồn sáng đều từ mọi phía thì bóng sẽ chồng chất hòa lẫn và triệt tiêu

+ Sự tương phản sáng tối có tính chất nhấn mạnh và bi thảm hoá không gian

Ánh sáng chiếu ở độ cao thấp có tính chất êm dịu, yên tĩnh tự nhiên

Ánh sáng chói có tính chất kích thích sự hưng phấn vui tươi

Ánh sáng vàng tạo cảm giác ấm cúng, thân mật, nhiệt tình; ánh sáng xanh tạo không giam êm dịu, yên tĩnh nhưng lạnh

Ánh sáng gam nóng có tác dụng tăng cường độ các màu đỏ, vàng cam và làm trung hoà các màu xanh tím Ánh sáng gam lạnh có tác dụng ngược lại

- Màu sắc và sự tác động lên tâm lý con người:

Khi cảm thụ màu sắc, chúng ta còn đồng thời chịu tác động về mặt tâm lý của nó Các tác động tâm lý của màu sắc lên con người cho đến nay cón chưa được cắt nghĩa thật rõ ràng tuy đã có nhiều cố gắng giải thích nó về mặt vật lý, theo y học và sinh học

Trang 12

Nhiều ý kiến cho rằng tác động của màu sắc lên tâm lý con người chủ yếu là

do “liên tưởng” của họ Ví dụ, màu da cam làm ta liên tưởng đến ngọn lửa,

do đó gây ra cảm giác nóng, cạnh nó, các màu vàng, đỏ, vàng lục cũng thuộc loại nóng Màu xanh trời nhắc ta nhớ đến bầu trời, biển khơi, băng giá, kim loại và bất giác cho ta cảm giác lạnh Các màu lân cân như lục, lam, tím cũng thuộc loại màu lạnh

Do đó, những phòng nóng sinh ra nhiều nhiệt, khi dùng màu lạnh ta có cảm giác như giảm bớt được cái nóng

Màu nhẹ là những màu sáng , màu của bầu trời Màu nặng là những màu tối làm ta liên tưởng đến mặt đất cứng

Cũng tương tự như vậy, màu đỏ, cam gây cảm giác gần gũi Màu lam, xanh trời gây cảm giác xa xôi Chỉ có màu lục và vàng là giữ nguyên vị trí

Cảm giác thích nghi của con người nhiều khi là sự quen thuộc với thiên nhiên xung quanh Ví dụ, tỷ lệ độ chói thiên nhiên đã quen thuộc đến mức chúng ta coi là hợp lý: bên trên là các màu nhẹ, sáng; bên dưới là các màu nặng, tối Nếu đảo ngược lại, ví dụ, nếu sơn trần nhà màu đỏ đất, ta có cảm giác bị đè nặng

Môt số tác giả cho rằng tác động kích thích hoặc tạo yên tĩnh của màu sắc đó

có liên quan đến bước sóng và tần số của nó Các màu trong đoạn phổ sóng ngắn như tím, lam gây tác động yên tĩnh, các màu trong đoạn sóng dài có tác động kích thích (như màu đỏ, cam, vàng), do đó nhanh chóng gây ra mệt mỏi Đoạn các màu sóng trung (lục, vàng lục, xanh trời) được coi là màu

“cân bằng tâm sinh lý”, có tác động tốt đến tâm trạng con người

Trang 13

Chúng ta cũng để ý rằng, các màu càng đậm (độ bão hòa càng lớn) có tác động lên con người càng mạnh

Một số nhà y học tìm nguyên nhân của các tác động tâm lý của màu sắc qua các biến chuyển sinh lý trong các cơ quan của cơ thể Màu đỏ gây ra sự nâng cao áp suất máu và làm tăng nhịp thở, có lẽ vì thế mà nó có tác động kích thích, gây các phản ứng mạnh, căng thẳng cơ bắp, kích động tinh thấn, làm cho con người vội vã? Màu cam tạo cảm giác nóng, cảm giác vui tươi, hưng phấn, nhưng chóng mệt mỏi

Màu cam còn được coi là màu có ảnh hưởng tốt đến hệ thống tiêu hoa

Màu vàng, cũng giống như màu đỏ và cam, có tác động kích thích Một số nhà y học cho rằng màu vàng kích thích khả năng làm việc trí óc

Màu lục và xanh trời gây cảm giác tươi mát, làm dịu sự kích động, tạo ra cảm giác bình yên Màu xanh trời Theo ý kiến nhà nghiên cứu, tạo điều kiện tốt cho sự nghỉ ngơi, yên tĩnh, cho giấc ngủ Ngược với màu đỏ, màu lục và xanh hạ thấp áp suất máu Một số nhà nghiên cứu khác cho màu lục có tác dụng ghép con người vào kỷ luật, bắt con người nghiêm khắc tự kiểm tra mình

Màu tím, ngoài cảm giác lạnh, còn gây buồn, tạo ra tâm lý thụ động

Màu nâu làm cho con người cảm thấy yên tĩnh, gây buồn bã, đình trệ, ru ngủ con người, làm giảm các xúc động

Màu đen và xám đen phần lớn gây ấn tượng nặng nề Tuy nhiên, nếu màu đen sử dụng với số lượng nhỏ, theo quy luật tương phản sẽ làm tăng độ chói, tăng tác động của màu đứng bên cạnh

Trang 14

Trắng tinh và trắng xám thường gây ấn tượng lạnh lùng và trống rỗng Tuy nhiên chúng lại là cái nền tốt cho các bề mặt màu Lúc đó độ chói của các màu đặt trên nó bị gảim đi ít nhiều do hiệu quả tương phản

Các màu nóng làm ta liên tưởng tới ánh sáng, còn các àmu lạnh (xanh trời, lam tím) gây cảm giác tối đi Như vậy những phòng thiếu ánh sáng có thể bù đắp bằng cách sơn các màu sáng, ví dụ màu vàng sáng, vàng anh Ngược lại, các phòng thừa ánh sáng, làm cho mắt mệt mỏi, có thể khắc phục bằng cách sơn các màu lạnh

Màu sắc còn gây cho ta cảm giác về trọng lượng Các vật sơn màu nóng, đậm cho ta cảm giác nặng hơn khi sơn màu lạnh, sáng

Màu sắc kết hợp với ánh sáng tạo ra cảm giác về thời gian Khi chiếu sáng phòng bằng ánh sáng khuếch tán, phản xạ từ trần, tạo cho ta cảm giác một buổi trưa ảm đạm Khi dùng màu nóng và mạnh, chiếu sáng nghiêng chéo từ trên xuống tạo thành bóng rõ rệt của vật, sẽ cho ta cảm giác một buổi chiều mùa hạ v v…

Cuối cùng cần nhắc lại rằng tác động của màu sắc lên con người rất phức tạp

và không phải ở mọi người, mọi lứa tuổi đều như nhau Thậm chí, ngay cả với mỗi con người tuỳ theo trạng thái tâm sinh lý thay đổi, các tác động của màu sắc cũng thay đổi và không ổn định

Khi trang trí ánh sáng, màu sắc trong căn phòng ta phải lưu ý đến những tính chất và đặc điểm này để dùng chúng sao cho phù hợp theo công năng của từng loại phòng, phù hợp tâm lý, thị hiếu của từng loại khách

2.1.4 Những yêu cầu trong trang trí nội thất nhà hàng:

Trang 15

a Trang trí ánh sáng và màu sắc:

- Phòng khách, phòng lễ tân: nên sử dụng ánh sáng, màu sắc gam nóng để tạo không gian ấm cúng, thân mật hiếu khách vui vẻ chào mới

- Cầu thang, hành lang, tiền sảnh: ánh sáng phải là ánh sáng gam màu nóng,

bố trí chống tạo bóng, phải có chụp đèn sứ mờ để chống chói và tạo ánh sáng êm dịu, không gian yên tĩnh nhưng đẹp

- Đèn cho cây, hoa cảnh: cây, hoa, lá là những đồ vật trang trí giúp khách gần gũi với thiên nhiên, đồng thời làm dịu mắt, tạo cảnh đẹp cho căn phòng Trong các ngày lễ lớn, cần phải trang trí đèn cho cây, hoa cảnh Có thể dùng đèn treo lơ lửng, có chụp để chiếu, hoặc dùng đèn nhấp nháy trang trí để tạo

sự lộng lẫy duyên dáng hấp dẫn tạo không khí vui tươi

- Ánh sáng cho tủ, quầy lưu niệm, mỹ nghệ: dùng đèn neon hoặc bóng đèn tròn tùy theo màu sắc của vật trưng bày

2.1.5 Một số nguyên lý bố cục hình khối không gian - cơ sở để thiết kế nội thất nói chung và đồ án nhà hàng nói riêng :

a Khái niệm chung:

- Ngoài yếu tố công năng, liên quan đến yêu cầu sử dụng, ngoài yếu tố kỹ thuật, vật chất liên quan đến kiến thức khoa học, người thiết kế cần có sự rung cảm của tâm hồn nghệ sĩ để từ những vật thể riêng lẻ, qua nguyên lý bố cục có thể tạo ra những không gian đẹp, có giá trị, truyền cảm được thẩm mỹ đến mọi người

Trang 16

- Một không gian với những khối hình, mảng đặc, rỗng, sáng, tối, với đường nét, chi tiết, chất liệu, màu sắc đã tạo nên một sắc thái rõ nét, một ấn tượng sâu đậm với con người về tính chất một cá nhân, một địa phương, một dân tộc, một quốc gia Để có được những tác phẩm về hình khối không gian có giá trị mà tự nó có sức truyền cảm mạnh mẽ, người thiết kế phải dựa vào những nguyên tắc về bố cục để từ những vật thể vật chất đa dạng được tổ hợp theo một quy luật nào đó có thể gây được xúc cảm cho mọi người

b Quy luật bố cục hình khối không gian:

- Tương phản và dị biến:

thể để làm nổi bật lên những đặc điểm của chúng Tương phản dễ gây

sự chú ý của mỗi người

đổi dần dần từ đặc điểm này đến đặc điểm khác gây cảm xúc hài hoà

nhất và biến hoá trong nghệ thuật

đều, buồn tẻ và khó biểu đạt chủ đề

loạn, đột biến và cũng khó diễn đạt ý tưởng

luật biến hoá sẽ dễ tạo nên một tác phẩm có trọng tâm, có chủ đề nhất định

Trang 17

 Qua đó ta thấy sự tương phản và dị biến thường diễn ra trong cùng một tính chất: hình khối này với hình khối kia, mảng này với mảng kia hay các loại nét với nhau, các chất vật liệu với nhau

- Vần luật:

Cũng là một hiện tượng thường gặp trong bố cục nghệ thuật như trong thơ

ca, âm nhạc chẳng hạn Từ những chữ, những câu, những âm sắc đơn lẻ người ta sắp xếp chúng theo một quy luật nào đó mà thông qua nó bài thơ bản nhạc biểu đạt được chủ đề mà tác giả mong muốn Sự sắp xếp các khối hình trong không gian cao, thấp, to, nhỏ, vuông tròn … ra sao để đạt được tính thống nhất hài hoà – đó là vần luật

Với một công trình nội thất, sự sắp xếp các mảng đặc, rỗng, đường nét, vật liệu, màu sắc cũng theo một quy luật nào thích ứng với chính nó và tổng thể nói chung

Với các chi tiết trang trí bên trong, bên ngoài, thậm chí đến các đồ đạt, trang thiết bị muốn đạt được tính thống nhất hài hoà, đồng bộ cũng phải tôn trọng vần luật

Nói chung những loại vần luật như sau:

đơn giản và vần điệu liên tục phức tạp

tố tổ hợp rồi lặp đi lặp lại nhiều lần và liên tục Loại vần điệu này dễ gây cảm giác đều đều, buồn tẻ và nhàm chán

Trang 18

 Vần điệu liên tục phức tạp: người ta thường dùng một bộ, một đơn vị gồm hai hay nhiều yếu tố có sắp xếp phức tạp rồi lặp đi lặp lại nhiều lần và liên tục Loại vần điệu này dễ gây cảm giác phong phú hấp dẫn

tạo nên một tác phẩm nội thất có tính thống nhất hài hòa mà lại phong phú

đến lớn hoặc giảm từ lớn đến nhỏ dần

Vần luật tiệm tiến có các quy luật sau đây:

cách cô đọng , tập trung vào một chủ đề tư tưởng

- Chủ yếu và thứ yếu –vai trò chính và phụ:

Trang 19

Trong nghệ thuật, văn học, âm nhạc thường do nhiều yếu tố tạo thành – bức tranh thường có nhiều mảng, đường nét, màu sắc Văn thơ đều có nhiều nhân vật, nhiều tình tiết câu chuyện Am nhạc thì lại nhiều loại tiết tấu âm thanh Nhưng nếu tất cả đều có vai trò như nhau thì bức tranh, cuốn tiểu thuyết, bản nhạc đều không biểu đạt chủ đề, mà sẽ chung chung mờ nhạt hỗn độn Cho nên phải có cái được tập trung diễn tả gọi là phần chủ yếu, các yếu

tố khác chỉ là hỗ trợ, làm nền để tôn phần chính, đó là vai trò phụ hay thứ yếu Cũng như vậy, trong tác phẩm nội thất cũng có phần chủ yếu và thứ yếu (ở mặt đứng, mặt bằng …)

Vậy muốn lựa chọn một yếu tố nào để làm vai trò chủ yếu thì phải:

phần chủ yếu (chính), các phần thứ yếu phải phụ thuộc hỗ trợ vào phần chủ yếu để làm nền tôn phần chủ đạo

nhấn, lôi cuốn mọi người từ các hướng, các góc nhìn Phần thứ yếu không che khuất phần chủ yếu hoặc làm sai lệch ý đồ chủ đạo

biểu tượng được đặc điểm tính cách của toàn bộ tác phẩm

- Sự liên hệ và phân cách:

Tác phẩm nghệ thuật thường do nhiều yếu tố tạo thành Các yếu tố đó thường có những đặc điểm, tính chất khác nhau, được bố trí theo quy luật nào đó Song nếu nó nối tiếp nhau theo một chuỗi dài thì dù theo quy luật bố cục nó cũng gây cảm giác mệt mỏi, nhàm chán Ngược lại, nếu ngắt ra những phân cách quá mức sẽ gây nên cảm giác rời rạc, biệt lập Vì vậy, để

Trang 20

tác phẩm được hoàn chỉnh, tác giả phải điều chỉnh mối quan hệ giữa các yếu

tố theo quy luật liên hệ và phân cách nhằm đạt được sự thống nhất, hài hòa của tác phẩm

c Sự chuyển động và cân bằng ổn định trong bố cục tạo hình:

Tất cả mọi vật tồn tại được trong thiên nhiên đều phù hợp với quy luật trọng lượng Chúng đều có một thế đứng cân bằng và ổn định Đây là bản chất của tính thống nhất trong tự nhiên, đó cũng là tính hợp lý trong nguyên lý thẩm

mỹ tạo hình nói chung

- Chuyển động:

Con người luôn chịu ảnh hưởng của trọng lực và nhận thức vật thể thể hiện trên hệ quy chiếu 3 chiều: trên- dưới, trước- sau, phải-trái

nhận luôn có sự so sánh vật thể với trục thăng bằng này

được thông qua việc bố cục các yếu tố tham gia tạo hình có sự biến đổi chiều hướng hay bản thân một yếu tố có trục kiến trúc biến đổi Trong thiết kế tạo hình để đạt được giá trị thẩm mỹ chứa đựng nội dung hấp dẫn, người ta thường vận dụng các quy luật của nhận thức thị giác về sự chuyển động vào việc bố cục các thành tố, nghĩa là các thành tố phải phân bố sắp xếp theo một vị trí nào đó hoặc bản thân các thành tố đó có cấu trúc biến đổi, có chiều hướng tạo nên chuyển động Một số các tổ hợp bố cục tạo hình mang lại hiệu quả chuyển động:

Trang 21

1 “Động” do tạo tương quan giữa các yếu tố:

2 Các yếu tố ngang: hàm chứa sự tĩnh tại, nhưng khi so sánh với trụ các yếu tố không bằng nhau tạo nên “động”

3 Các yếu tố đứng: đạt sự cân bằng nhưng hàm chứa “động” thế năng

4 Yếu tố nghiêng: biểu hiện trạng thái động Các biểu hiện tư thế của vật thể nhờ vào đường cong hoặc trục, đây cũng được hiểu là “động”

do thế năng

5 “Động” do tạo sức thu hút: trong đó sắp xếp tạo bố cục hoặc làm cho

một yếu tố có cấu trúc biểu hiện:

11 Hiệu ứng “động” của yếu tố tĩnh

12 Hiệu ứng “động” do dùng cách biểu hiện và liên tưởng:

13 Ví dụ: bức tranh sóng biển của Kanagawa

14 Hiệu ứng động trong bố cục của chúng có thể là tổ hợp của nhiều cách trên

15 “Động” do tạo bố cục chuyển động của mắt trong tác phẩm tạo hình:

16 Tuỳ thuộc vào bố cục điều tiết hướng của mắt mà yếu tố “động” có thể hình thành và mang trạng thái động Bố cục của tác phẩm tạo hình phải sao cho chuyển động của mắt được khép kín, có tâm điểm và có

ý nghĩa nội tại

Để làm được điều này cần có 2 yếu tố:

Trang 22

 Lực hấp dẫn ở trọng tâm đủ mạnh để cân bằng với xung quanh và tạo

sự biến đổi

- Cân bằng ổn định: là trạng thái của một bố cục tạo hình ở thể tồn tại bền vững Cân bằng và ổn định trong nội thất cũng là yếu tố dùng để so sánh, dùng để nhấn mạnh trọng tâm của công trình Nó góp phần biểu đạt ý đồ tư tưởng của tác giả qua tác phẩm nội thất

1 Cân bằng đối xứng: gây cảm giác nghiêm trang, hoành tráng, thường

áp dụng trong kiến trúc cổ như đình chùa, nhà thờ, trụ sở chính quyền,

cơ quan pháp luật, nhà Quốc hội … Có 2 hình thức cân bằng đối xứng:

2 Cân bằng đối xứng tuyệt đối: hình khối, đường nét, chi tiết, vật liệu, trang trí giống hệt nhau qua một trục đối xứng

3 Cân bằng đối xứng cân đối: hình khối, mảng nét giống hệt nhau qua trục đối xứng, còn các chi tiết trang trí có thể khác nhau

4 Cân bằng không đối xứng: gây cảm xúc mạnh, vui tươi, phóng khoáng, hấp dẫn vì nó gây sự đột biến trong bố cục, sử dụng trong nhà văn hóa, khách sạn và công trình văn hóa công cộng khác

5 Cân bằng và ổn định trong sáng tạo thể hiện trong sự sắp xếp, lựa chọn hình khối, mảng nét; sự so sánh giữa các định lượng chiều dài, rộng, cao và xác định các chiều hướng của chúng, ví dụ một khối phát triển theo chiều ngang dễ gây cảm giác ổn định do tâm của nó gần mặt đất Khối phát triển theo chiều hứơng đứng lại quá mạnh dễ gây cảm giác mất ổn định nhưng thể hiện sự thanh mảnh Một công trình có giá trị phải biểu hiện sự cân bằng ổn định giữa khối hình, đường nét; đạt tỉ

lệ hài hòa và có chiều hướng rõ rệt

Trang 23

- Tỷ lệ và tầm thước trong nội thất:

Tỷ lệ cho biết mối quan hệ của phần này với phần kia, hoặc với toàn bộ, hoặc giữa vật này với vật khác Mối quan hệ này có thể là kích cỡ, số lượng, mức độ Trong thiết kế nội thất, chúng ta quan tâm đến các mối quan hệ tỷ lệ giữa các phần của một thành phần thiết kế, giữa một vài thành phần, giữa các thành phần, hình thức và sự khép kín không gian

Tầm thước trong nội thất: là so sánh giữa quy mô của các bộ phận của công trình với kích thứơc con người Cho nên ngoài tỷ lệ tốt giữa các bộ phận của bản thân công trình, nó còn phải tỷ lệ với con người, ví dụ: tỷ lệ giữa các cửa

đi, cửa sổ, mảng tường rất tốt; song so với con người thì toàn bộ ngôi nhà quá nhỏ Rất có thể , do điều kiện nào đó, người ta vẫn phải sử dụng ngôi nhà đó, nhưng khi đi qua cửa người ta phải cúi đầu hoặc thậm chí phải chui qua cửa Như vậy, ngôi nhà có tỷ lệ tốt nhưng không đạt tầm thước

- Vấn đề phi tỷ lệ – không tầm thứơc:

Trong thực tế, người ta cũng đã áp dụng vấn đề phi tỷ lệ – không tầm thứơc trong một số công trình (không tầm thước là các bộ phận của công trình có

tỷ lệ tốt với nhau song không tỷ lệ với kích thước con người) Ví dụ: một công trình cột và bệ đỡ tỷ lệ với nhau, nhưng bệ đỡ cột – các phiến đá giống như các bậc tam cấp thông thường, song thực tế mỗi bậc cao 1m Như vậy công trình tạo nên sự đồ sộ quá mức so với con người

+ Nghệ thuật chiếu sáng nội thất và sự chọn lựa phương pháp chiếu sáng

trong nội thất:

Trang 24

Một thiết kế chiếu sáng nội thất hoàn hảo phải giải quyết tốt ba bài toán cơ bản sau đây:

thể, phù hợp với chức năng của nội thất

của nghệ thuật kiến trúc và các vật trưng bày trong nội thất

chiếu sáng thoả mãn cả công năng và nghệ thuật kiến trúc

phẳng làm việc) Đó là bài toán thiên về kỹ thuật chiếu sáng

hợp khéo léo ánh sáng với không gian, hình dạng, trang trí điêu khắc

và màu sắc nội thất, với tâm sinh lý con người để tạo nên một hiệu quả nghệ thuật hài hòa và ấn tượng Lời giải của bài toán này hết sức phong phú, đa dạng, đầy sáng tạo theo trí tưởng tượng của người thiết

kế và không bao giờ là duy nhất Người thiết kế giỏi phải biến chiếu sáng thành một nghệ thuật không thể tách rời với kiến trúc nội thất

Từ đó đã hình thành khái niệm “kiến trúc ánh sáng nội thất”, như là một khái niệm mới trong kiến trúc hiện đại

sáng được tìm theo hai hướng sau đây:

1 Theo hướng thứ nhất, người ta nghiên cứu các đặc điểm của quy luật

chiếu sáng của mặt trời trong tự nhiên, các quy luật cảm thụ hình khối, màu sắc của mắt người trong ánh sáng mặt trời để bắt chước áp dụng trong chiếu sáng nội thất Nói theo giáo sư N.M.Guxev – chuyên gia hàng đầu về chiếu sáng của nước Nga – đó là “con đường nội tiếp nội thất vào thiên nhiên” và

Trang 25

thỏa mãn tốt nhất nhu cầu tâm sinh lý của con người Bởi vì chiếu sáng tự nhiên bằng ánh sáng mặt trời là loại chiếu sáng quen thuộc nhất với loài người, nó đem lại sự cân bằng tâm sinh lý, trạng thái yên tĩnh cho con người

Đặc điểm của chiếu sáng tự nhiên trước hết là đặc điểm của sự phân bố độ chói trong trường nhìn của chúng ta: phần bầu trời cao nhất (thiên đỉnh) có

độ chói lớn nhất, chân trời có độ chói trung bình và mặt đất – thấp nhất Sự phân bố này của độ chói tự nhiên đã tạo thành thói quen tâm sinh lý của con người Khi đem tỷ lệ này vào nội thất sẽ tạo được cảm giác tự nhiên, quen thuộc, yên tĩnh rất cần thiết cho các phòng làm việc, lớp học, nhà tập luyện

và thi đấu thể thao, bệnh viện …

Đối với những không gian có yêu cầu độ rọi cao (từ 700-1200 1x) có thể tạo

ra một trần sáng Khi đó sẽ gây được cảm giác chan hòa ánh sáng, không khí trang trọng và nghi lễ Khi áp dụng trong kiến trúc công nghiệp có thể loại

bỏ được cảm giác nặng nề của kết cấu mái Ap dụng giải pháp này cho các công trình ngầm (như tàu điện ngầm, đường ngầm …) cũng đạt hiệu quả tương tự

Nhưng sự phân bố điều độ ở không gian xung quanh chúng ta lại không có lợi cho sự cảm nhận hình khối, các chi tiết điêu khắc trang trí và thường tạo

ra cảm giác đồng điệu căng thẳng mệt mỏi, có tác động xấu đến tâm sinh lý của con người, sự chan hòa ánh sáng trong các sảnh nhà công cộng, trong phòng khán giả sẽ làm mất đi khả năng cảm nhận những nét điêu khắc gợi cảm của tạo hóa trên khuôn mặt con người Để khắc phục tình trạng này, ta

có thể bố trí thêm các nguồn điểm có độ chói cao sắp xếp theo một nhịp điệu xác định

Trang 26

Một đặc điểm có ý nghĩa quan trọng của ánh sáng tự nhiên là tính định hướng của nó: ánh sáng luôn tới từ phía trên, các thực nghiệm cho thấy, người ta có thể, thậm chí không nhận ra khuôn mặt của chính mình, nếu nó được chiếu sáng từ phía dưới, bởi vì mắt người không quen với hướng sáng

đó và trong tự nhiên gần như không có những ví dụ tương tự Bởi vậy nếu nội thất được chiếu sáng từ trên xuống sẽ tạo được tình cảm tự nhiên, ngược lại là không bình thường Các chuyên gia ánh sáng khuyên chúng ta nên để ánh sáng chiếu từ trên xuống, tạo thành góc nghiêng từ 45 – 60 độ so với mặt phẳng ngang

Nhờ tính có hướng, ánh sáng sẽ tạo ra các nhịp điệu sáng tối trên mọi vật

Đó cũng là cách tự nhiên dạy chúng ta cảm nhận hình khối, rồi chúng ta lưu giữ nó trong trí nhớ của mình một cách tự nhiên Độ chói đồng đều làm ta liên tưởng tới mặt phẳng không đều – liên tưởng tới mặt phẳng cong Nều trên mặt phẳng có những dãy sáng tối xen kẽ, sẽ tạo ra ảo giác một mặt gợn sóng Chỗ trần tiếp giáp với tường, nếu ánh sáng tối hơn vùng giữa, ta có ảo giác trần bị nghiêng tại chỗ tiếp giáp này Nhu vậy, cảm giác phẳng chỉ xuất hiện khi độ chiếu đồng đều trên trần

Độ tương phản ánh sáng không chỉ là một yếu tố cần thiết để phân biệt chi tiết mà còn thuộc phạm trù thẫm mỹ Độ tương phản này ở các địa phương khác nhau không giống nhau Người dân ở các nước phương Bắc quen với

độ sáng tối thấp, khoảng 0,3 – 0,4; trong khi người phương Nam lại quen với

độ tương phản cao (0,7 – 0,8) Chính vì vậy ta thấy người phương Bắc hay dùng quần áo có màu nhạt, trong khi người phương Nam lại ưa dùng màu đậm, có độ tương phản cao (như trắng, đỏ, đen) Trong nội thất nên sử dụng

tỷ lệ sáng tối sao cho tạo được tỷ lệ sáng tối tương tự như tỷ lệ quen thuộc trong tự nhiên của địa phương mình

Trang 27

2 Theo hướng thứ hai đi tìm giải pháp cho chiếu sáng nội thất, người ta lại làm trái với quy luật tự nhiên: trần tạo khối, sàn sáng, phá vỡ nhịp điệu bình thường của kiến trúc ánh sáng Khi đó sẽ tạo nên cảm giác khác thường và gọi là “hiệu quả sân khấu”

Cần nói thêm rằng, khi chiếu sáng để nhìn rõ được các chi tiết điêu khắc, nhìn kĩ được các đường vân của bề mặt vật liệu, lại có ảnh hưởng xấu đến sự cảm nhận độ sâu không gian Khi đó ta có ảo giác bề mặt ở gần mình và ngược lại Vì vậy khi muốn nhấn mạng vật liệu, chi tiết trang trí, nên dùng ánh sáng trượt trên bề mặt vật liệu đó

2.2 Hoa văn trống đồng - giới thiệu, phân tích và đề xuất áp dụng vào nội thất:

2.2.1 Tổng quan về nền văn hóa Đông Sơn:

dân tộc và lịch sử thế giới với một sự kinh ngạc của các học giả trong

và ngoài nước Từ Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp đến các trường phái khoa học nhân văn Việt Nam ngày nay, một thế kỷ nghiên cứu đã đưa đến một chân lý lịch sử: tổ tiên người Việt là người Việt cổ, còn gọi là người Lạc Việt, và thời đại đầu tiên của lịch sử Việt Nam là thời đại các vua Hùng (Hùng Vương), vua Thục (Thục Phán), vua Trưng (Trưng Trắc- Trưng Nhị) dựng nước Văn Lang – Âu Lạc, thời đại của Văn Hóa Đông Sơn, còn gọi là văn minh sông Hồng Và cách đây hơn 3000 năm, tổ tiên chúng ta, bằng đồ gốm Phùng Nguyên – Bắc Đậu – Đồng Đậu, đồ đồng Đông Sơn, và bằng những chữ viết còn

Trang 28

đầy bí ẩn, đã sáng tác nên những trang cổ kính nhất của nền văn hóa học Việt Nam

văn hoá Việt Nam Qua 80 năm phát hiện và nghiên cứu, văn hoá Đông Sơn được biết đến như là cơ sở vật chất cho sự ra đời của Nhà nước Văn Lang – Au Lạc – Nhà nước đầu tiên thời đại các vua Hùng

2.2.2 Nguồn gốc, khái niệm và đặc trƣng văn hoá Đông Sơn:

Đông Sơn là tên một làng nằm ở bờ sông

Mã, cách cầu Hàm Rồng khoảng 1km về phía thượng nguồn (thuộc huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá) Năm 1924, người nông dân tên gọi Nguyễn Văn Lắm ở làng Đông Sơn khi ra bờ sông Mã câu cá

đã tìm thấy một số đồ đồng ở nơi bờ sông sạt lở Viên thuế quan người Pháp tại tỉnh Thanh Hoá tên là Pajot – một người say mê nghiên cứu lịch sử Đông Dương và phong tục tập quán của Việt Nam đã mua những đồ đồng đó và đem đến trường Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) để xác định giá trị Được sự uỷ quyền của Giám đốc EFEO thời đó, từ năm 1924 đến 1932, viên quan Pajot tiến hành khai quật ở Đông Sơn và thu được nhiều hiện vật có giá trị Năm

1929, với những hiện vật thu được ở Đông Sơn kết hợp với những di vật do các nhà nghiên cứu của Pháp tìm thấy ở lưu vực sông Hồng, các học giả về Đông Nam Á ở trên thế giới đã biết về “Thời đại đồng thau ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ” (bài viết của Gloubew) Năm 1934, R.Heine Geldern, một nhà nghiên cứu người Ao lần đầu tiên đề nghị định danh nền văn hoá đó là “Văn hóa Đông Sơn” Cùng với Gloubew (1929), Geldern coi Văn hóa Đông Sơn

có vai trò của “văn hóa mẹ” đối với toàn vùng Đông Nam Á Những di vật

Ngày đăng: 22/06/2021, 10:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w