1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xác định ảnh hưởng của chế phẩm bảo quản có hoạt chất là dầu neem cóc hành và tanin đến màu sắc độ ăn mòn kim loại và chất lượng màng trang sức của gỗ tẩm

41 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 404,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có thể trở thành nguyên liệu tạo thuốc bảo quản lâm sản thì bên cạnh yêu cầu hoạt chất phải có hiệu lực tốt đối với sinh vật hại lâm sản thì phải đảm bảo yêu cầu khác như: không hoặc

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm qua, trên thế giới và tại Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về đặc tính sinh vật học của sinh vật hại Lâm sản, quá trình xâm nhập vào lâm sản và các thiệt hại do chúng gây ra Từ đấy pha chế các công thức thuốc bảo quản để phòng trừ sinh vật hại lâm sản Hầu hết các loại thuốc Bảo quản Lâm sản đều có nguồn gốc hoá học, thuốc có hiệu lực tốt, tính ổn định cao, dễ sử dụng Tuy nhiên, các loại thuốc trên đang dần hạn chế

sử dụng do các tác động xấu của thuốc đến con người và môi trường sử dụng Trước hiệu quả mà lĩnh vực bảo quản mang lại, cùng với thách thức và trở ngại thì vấn đề đặt ra là: cần nghiên cứu tìm ra loại thuốc mới ít độc hại đến con người, động vật có ích, thân thiện môi trường, mà vẫn đảm bảo hiệu quả phòng trừ sinh vật hại lâm sản Với mục tiêu đó, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã nghiên cứu sử dụng một số nguồn nguyên liệu có nguồn gốc sinh học như: chế phẩm diệt mối theo phương pháp lây nhiễm từ vi nấm

Metarrhizum và chế phẩm chống mối từ dầu vỏ hạt điều Đây là các chế phẩm

mới, được đánh giá là có hiệu quả rất khả quan

thuốc bảo quản lâm sản là dầu hạt Neem, dầu hạt Cóc hành, Tanin Để có thể trở thành nguyên liệu tạo thuốc bảo quản lâm sản thì bên cạnh yêu cầu hoạt chất phải có hiệu lực tốt đối với sinh vật hại lâm sản thì phải đảm bảo yêu cầu khác như: không hoặc ít ảnh hưởng tới màu sắc gỗ, ít ăn mòn kim loại, khả năng trang sức không bị ảnh hưởng…

Để góp phần đánh giá tiềm năng sử dụng nguồn nguyên liệu thực vật của nước ta làm thuốc bảo quản lâm sản, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn

Thị Bích Ngọc, em tiến hành nghiên cứu: “Nghiên cứu xác định ảnh hưởng

của chế phẩm bảo quản có hoạt chất là dầu Neem, Cóc hành và Tanin đến màu sắc, độ ăn mòn kim loại và chất lượng màng trang sức của gỗ tẩm”

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu chế phẩm bảo quản Lâm sản có nguồn gốc sinh học ……… …2 1.2 Cơ chế tác dụng của thuốc Bảo quản Lâm sản tới sinh vật hại Lâm sản 6

a Cơ chế tác dụng đối với mọt, xén tóc gây hại Lâm sản ………6

b Cơ chế tác dụng đối với nấm gây hại Lâm sản ……….7 1.3 Cơ sở lý luận và ảnh hưởng của các loại thuốc

Bảo quản tới một số đặc tính của gỗ ………8

1.3.1 Gỗ ……….8

- Vai trò và cấu tạo của gỗ

- Màu sắc của gỗ

- Các đo màu sắc

- Ảnh hưởng của chế phẩm bảo quản tới màu sắc gỗ

1.3.2 Ăn mòn kim loại ……….14

- Lý thuyết ăn mòn kim loại

- Khả năng ăn mòn kim loại của chế phẩm bảo quản

Trang 3

2.1 Mục tiêu của đề tài ……… … 23

2.2 Phạm vi nghiên cứu ……… 23

2.3 Nội dung thực hiện ………23

2.4 Dụng cụ thí nghiệm ……… ……23

2.5 Phương pháp nghiên cứu ……… ……24

2.5.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc Bảo quản tới màu sắc gỗ tẩm 2.5.2 Nghiên cứu khả năng ăn mòn kim loại của thuốc Bảo quản 2.5.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc bảo quản tới chất lượng màng trang sức CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Kết quả sự thay đổi màu sắc của gỗ tẩm ……… ………28

3.2 Kết quả xác định độ AMKL của thuốc bảo quản ………… ……29

3.3 Kết quả kiểm tra chất lượng màng trang sức của các mẫu gỗ đã được Bảo quản ………35

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 4.1 KẾT LUẬN ………39

4.2 KIẾN NGHỊ ……… 39

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1.Sơ lược lịch sử nghiên cứu chế phẩm bảo quản lâm sản có nguồn gốc sinh học

Thuốc bảo quản là những chế phẩm hóa học, có khả năng thẩm thấu và

ổn định trong gỗ và lâm sản Thuốc bảo quản giúp cho gỗ chống lại các tác động của nhân tố ngoại cảnh như côn trùng, nấm hại lâm sản và các tác nhân gây cháy…vv, nhằm kéo dài tuổi thọ sử dụng gỗ và lâm sản lên gấp nhiều lần Ngày nay, qua quá trình nghiên cứu, khảo nghiệm thực tế, đã có rất nhiều loại thuốc bảo quản khác nhau để phòng chống các loại sinh vật hại gỗ Đặc điểm

và mục đích sử dụng của từng loại thuốc tuy có khác nhau nhưng nhìn chung chúng đều có yêu cầu cơ bản sau:

- Thuốc có độ độc cao đối với sinh vật hại lâm sản nhưng ít độc đối với người và gia súc, gia cầm

- Ít gây ô nhiễm môi trường

- Dễ thấm vào gỗ và lâm sản, dễ kiếm, chịu được nhiệt độ cao và ít ăn mòn kim loại

- Không làm giảm tính chất của gỗ và lâm sản

- Có độ ổn định lâu dài trong gỗ và lâm sản

- Không làm tính bắt lửa của gỗ và lâm sản

- Không làm ảnh hưởng đến màu sắc và việc trang sức bề mặt vật liệu tẩm

- Giá thành rẻ, dễ sản xuất

Thực tế, khó có một loại thuốc bảo quản nào có thể đáp ứng được tất cả các yêu cầu trên, song khi sử dụng con người làm công tác bảo quản phải tùy thuộc vào yêu cầu cụ thể của việc sử dụng gỗ mà có thể lựa chọn loại thuốc

Trang 5

Trong quá trình phát triển, các hóa chất có tính độc cao đối với sức khỏe con người và môi trường dần bị loại bỏ Do đó, việc tìm kiếm thay thế bằng các hợp chất khác ít độc hại mà vẫn có hiệu quả cao là cần thiết

Từ thập kỷ 80, người ta phát hiện trong thành phần hoa cúc dại

(Chrysamthemum cineraefonium và Chrysamthemum roseum) có 6 este độc

đối với sâu hại cây trồng Đó là các nhóm pyrethrin I và II (chiếm 73%): cinerin I và II: Jasmolin I và II Chúng có những đặc điểm sau:

- Lượng hoạt chất sử dụng thấp

- Có tính chọn lọc cao, ít độc với thiên địch có ích

- Tan nhanh trong lipit và liprotein nên có tác dụng gây độc nhanh và

có tác dụng xua đuổi côn trùng

- Ít độc đối với côn trùng và con người, phân hủy nhanh nhưng rất độc đối với động vật thủy sinh

Tuy nhiên, do số lượng hoa cúc dại trong tự nhiên rất có hạn, nên các nhà khoa học đã tổng hợp ra rất nhiều dẫn xuất pyrethrin bằng con đường hóa học có hiệu lực trừ sâu cao hơn so với các este tự nhiên, gọi chung là các Pyrethroit Trong số các hợp chất Pyrethroi, được sử dụng nhiều nhất làm hoạt chất chính của các chế phẩm bảo quản lâm sản dạng dầu và chế phẩm phòng mối cho công trình xây dựng là Deltamethrin, Cypemethrin, và Permethrin Cho đến nay, chế phẩm bảo quản lâm sản thuộc nhóm Pyrethroit đang được lưu hành rộng rãi trong thị trường quốc tế Mặc dù vậy, chúng vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu theo dõi khả năng bị phân hủy dưới tác dụng của ánh sáng làm ảnh hưởng đến hiệu lực bảo quản lâm sản

Theo kết quả nghiên cứu của các nhà Khoa học thuộc Đại học Kyushu

và Trường Đại học Quốc gia Đài Loan (2002) thì hỗn hợp giữa Tanin chiết xuất từ thực vật và Amoniac đồng với lượng thuốc thấm đạt 286−326 kg/m3

,

độ sâu thấm thuốc đạt 2 −12mm, mẫu gỗ tẩm có hiệu lực phòng mối rất tốt

Trang 6

Năm 1989, tại Inđônêxia, Jain Narayan và Gazwal đã nghiên cứu thăm

dò khả năng sử dụng dầu vỏ hạt điều làm thuốc bảo quản lâm sản Kết quả cho thấy, dầu vỏ hạt điều với lượng thuốc thấm 25 kg/m3

trở lên có khả năng

chống lại sự xâm nhập của mối đất Odontotermes ở năm thử đầu, và ở năm

thử nghiệm thứ 2 với lượng thuốc thấm 60 kg/m3

trở lên Sau đó, để tăng hiệu lực phòng chống mối, các tác giả đã bổ sung thêm Arsenic và Boron vào dầu Điều Kết quả thử nghiệm tại thực địa cho thấy, với lượng thuốc thấm đạt 40 kg/m3, hỗn hợp này có khả năng phòng chống mối tương đối tốt

Trường Đại học Quốc gia Delta của Negria (2001) đã nghiên cứu chiết

xuất phenolic từ lá loài cây Acalypha hispida với hàm lượng 10−14 mg/ml, dung dịch có khả năng hạn chế sự phát triển của loài nấm hại gỗ Gloephyllum

sepiarium và Pleurotussp

Năm 2000, Viện Nghiên cứu Bảo vệ Cây trồng Ai Cập đã xác định

được khả năng phòng ngừa mối gỗ khô (Crytotermes brevis Wallker) của hạt tiêu đen, trong đó hoạt chất hexame tỏ ra có hiệu lực tốt nhất, với nồng độ

0,5% đảm bảo tỉ lệ mối chết 50%, nồng độ 5%, tất cả các chất chiết suất đều

có khả năng diệt 100% mối gỗ khô

Năm 2002 Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Dehra Dun đã bước đầu thử nghiệm hiệu lực phòng chống mối gây hại lâm sản của hoạt chất chiết suất từ

lá cây Ipomoea spps cho kết quả khả quan với tỉ lệ hao hụt khối lượng các

mẫu gỗ tẩm hoạt chất là 29,9% so với 81,5% ở các mẫu đối chứng.[ 7 ]

Bên cạnh đó, nghiên cứu vi sinh vật có ích để hạn chế sự gây hại của côn trùng và nấm gây bệnh đối với cây trồng nông nghiệp đã được quan tâm

từ những thế kỷ trước Đến nay, người ta đã biết tới 1500 loại vi sinh vật hoặc sản phẩm của chúng có khả năng tạo được các chế phẩm tham gia vào công tác phòng trừ côn trùng gây hại, trong đó bao gồm nhiều vi sinh vật khác nhau

Trang 7

Có rất nhiều loài vi nấm có khả năng gây bệnh cho côn trùng gây hại Tuy vậy, cho tới nay mới chỉ có các loài sau được sử dụng nhiều chế phẩm

diệt côn trùng: Aschersoria spp, Beauveria bassiana, Conidiobolus obscurus,

Culicinomyces clavosporus, Metarrhizium anisopliae, Hirsutella thompsomy

Trong các loài vi nấm trên thì nấm bạch cương (Beauveria bassina) và nấm lục cương (Metarrhizium anisopliae) được nghiên cứu sử dụng phổ biến

nhất Năm 1878, nhà khoa học người Nga Metchnikop đã phát hiện thấy một loài nấm có bào tử màu lục làm chết hàng loạt côn trùng Ông đặt tên cho loài

nấm này là Entomophthora anisopliae Sau này các nhà khoa học đã phân loại xếp vào giống Metarrhizium Hiện nay, từ những chủng vi nấm có ích, mới có

các nghiên cứu tạo chế phẩm phòng trừ mối gây hại lâm sản từ vi nấm

Metarrhizium.[1]

Đối với chế phẩm Bảo quản Lâm sản có hoạt chất từ thực vật đã có một

số kết quả nghiên cứu bước đầu và khẳng định được đây là một hướng nghiên cứu còn rất nhiều tiềm năng

Những năm trở lại đây, nước ta chú trọng hơn đến vấn đề môi trường, việc nghiên cứu tạo chế phẩm bảo quản từ nguồn nguyên liệu thực vật thay thế các chế phẩm độc hại hơn là cần thiết

Với công trình nghiên cứu sử dụng dầu vỏ hạt điều làm thuốc bảo quản lâm sản của tác giả Bùi Văn Ái (2002) đã bước đầu nghiên cứu đánh giá hiệu lực phòng, chống sinh vật hại lâm sản của dầu vỏ hạt điều rất khả quan với tỉ

lệ sử dụng từ 15% trở lên

Để nâng cao hơn nữa khả năng phòng chống mối hại lâm sản của dầu

vỏ hạt điều, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2004) đã tiếp tục nghiên cứu tác động vào dầu vỏ hạt điều bằng cách sục khí clo trong tháp có đệm trơ với thời gian 10 phút và đã tạo ra 2 loại chế phẩm bảo quản đạt hiệu lực phòng chống mối rất tốt, đó là:

Trang 8

- Chế phẩm dạng dầu lỏng: Tỷ lệ sử dụng dầu vỏ hạt Điều là 9%

- Chế phẩm dạng bột: Tỷ lệ dầu vỏ hạt điều là 10%, chế phẩm dùng để phòng chống mối nền móng cho công trình xây dựng với định mức là 12kg/m3

Năm 2006, công trình nghiên cứu xác định hiệu lực phòng chống mối

gây hại lâm sản từ dầu hạt Neem (Ajacdirachta Indica) của TS Nguyễn Thị

1.2 Cơ chế tác dụng của thuốc bảo quản lâm sản tới sinh vật hại lâm sản

Thuốc bảo quản hiện nay rất phong phú về số lƣợng, cơ chế tác dụng bảo quản cũng rất khác nhau Thuốc có thể đƣợc xử lý trực tiếp lên cơ thể sinh vật hại lâm sản (nhƣ đối với mối) hoặc đƣợc tẩm sâu vào gỗ, hoặc xông hơi, nhƣng dù cách xử lý thế nào cũng đều nhằm phòng ngừa hoặc tiêu diệt các tác nhân sinh vật gây hại lâm sản với các tác động nhƣ sau:

a) Cơ chế tác dụng đối với mọt, xén tóc gây hại lâm sản:

Thuốc bảo quản lâm sản có nguồn gốc hoá học hoặc từ thực vật khi sử dụng để phòng trừ côn trùng sẽ xâm nhập vào cơ thể của chúng qua vỏ cơ thể, qua miệng và qua hô hấp

- Thuốc xâm nhập qua vỏ cơ thể: Thuốc có đặc tính thẩm thấu qua vỏ

cơ thể côn trùng bằng cách hoà tan trong lipit và lipoprotein của lớp biểu bì trên của vỏ cơ thể Hoặc thuốc có thể xâm nhập vào cơ thể côn trùng qua những đoạn da mềm nhƣ các đoạn khớp đầu, ngực, bàn chân, chân lông, râu

cơ quan cảm giác Thuốc xâm nhập qua chỗ da mềm này và qua các tuyến tiết

Trang 9

dịch vào lớp hạ bì và màng đáy rồi từ đó vào tế bào thần kinh, tế bào máu và được truyền đi khắp cơ thể thông qua hệ thống tuần hoàn

- Thuốc xâm nhập qua đường tiêu hoá: Thuốc xâm nhập vào cơ thể côn trùng qua miệng vào đường ruột cùng với thức ăn và được hấp thụ chủ yếu ở đoạn ruột giữa qua bao ruột peritrophit rồi khuếch tán qua lớp biểu bì ruột vào

tế bào thần kinh, máu truyền đi khắp cơ thể Một lượng thuốc cũng có thể thẩm thấu qua thành ruột trước vào thành ruột sau và được giữ lại ở đó Quá trình đồng hoá và bài tiết thức ăn tiến triển càng chậm chất độc càng lưu lại lâu trong ruột, thức ăn không tiêu hoá được vì thuốc bảo quản sẽ tiêu diệt các

vi khuẩn trong ruột côn trùng có tác dụng giúp tiêu hoá thức ăn, hoặc phá huỷ men tiêu hoá của côn trùng

- Chế phẩm xâm nhập qua đường hô hấp: Ngoài những loại thuốc tác

động qua đường tiếp xúc, đường tiêu hoá còn có loại thuốc gây hiệu lực qua đường hô hấp do một phần thuốc biến thành thể khí có tác dụng xông hơi Chất độc xâm nhập qua lỗ thở cơ thể côn trùng và từ đó qua hệ thống khí quản và vi khí quản vào tổ chức tế bào thông qua quá trình thông hơi Chế phẩm xâm nhập qua đường hô hấp gây độc nhanh và mạnh hơn rất nhiều so với xâm nhập qua đường ruột và qua vỏ cơ thể côn trùng bởi sẽ tác động ngay tới tế bào thần kinh

b) Cơ chế tác dụng đối với nấm gây hại lâm sản:

Thuốc bảo quản đã được tẩm vào lâm sản, trước hết nó đã tạo ra một môi trường khác hẳn với lâm sản không tẩm, nó tước bỏ những điều kiện tối

ưu hoặc ít ra là không thuận lợi cho việc nảy mầm của các bào tử nấm, hơn thế nữa nó phá hoại ngay các bào tử nấm Các chất thấm vào các bào tử, phản ứng với các thành phần chủ yếu của bào tử làm cho bào tử không thể nảy mầm được vì trong thành phần cấu tạo của bào tử có nhiều nhóm có hoạt tính hoá học như nhóm hydroxin, photphatamin, cacbonxin, sunfrin, amidzol

Trang 10

trong đó nhóm nào cũng có khả năng phản ứng với hoá chất tích luỹ trong bào

tử Mặt khác, các hoá chất khi đã xâm nhập được vào nấm, chúng có khả năng tạo thành các lực liên kết Vanderval, liên kết hydro, liên kết ion, liên kết bán phân cực hoặc liên kết đồng hoá trị với các axit amin, protein và các chất khác trong quá trình cơ bản trao đổi chất của nấm, ức chế sự phân chia tế bào, làm biến đổi cấu trúc bên trong của tế bào Tuỳ loại hoá chất mà một số men của

tế bào bị ức chế làm rối loạn các hoạt động dinh dưỡng như hút nước, hút glucose quá nhiều, làm ngưng kết hoặc biến tính protit Kết quả tổng hợp của các tác động nói trên của chế phẩm bảo quản sẽ làm cho nấm biến dạng về hình thái hoặc bị tiêu diệt ngay trên lâm sản đã tẩm.[1]

1.3 Cơ sở lý luận và ảnh hưởng của các loại thuốc bảo quản tới một số đặc tính của gỗ

1.3.1 Gỗ

Gỗ là một loại nguyên, vật liệu được con người sử dụng lâu đời và rộng rãi, là một vật liệu chủ yếu nhất của nền kinh tế quốc dân Trong các văn kiện chính thức từ trước đến nay, Nhà nước vẫn xếp gỗ hàng thứ 3 sau điện và than Gỗ được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, kiến trúc, xây dựng, khai khoáng Xin được nêu ra vài ví dụ:

Gỗ được dùng sản xuất giấy, sản xuất ván nhân tạo, gỗ trụ mỏ chèn chống lò, tà vẹt cho đường ray, dụng cụ văn phòng, nhạc cụ…v.v Mà những nguyên vật liệu khác không thể thay thế được Gỗ có thể thay thế bông vải sợi, tơ tằm, lông cừu, nhờ các phưong pháp chế biến hóa học Với công nghệ thủy phân, sản phẩm chính dùng chế tơ nhân tạo, làm phim, đĩa hát, giấy mi

ca, áo mưa…, sản phẩm phụ dùng sản xuất đường, rượu, lên men, làm thức ăn gia súc…, Với công nghệ nhiệt phân từ gỗ cho ta các than và các hóa chất (axit axetic , phenol, dầu gỗ…)

Trang 11

Gỗ có thể thay thế gang thép Một số loại cây cho ta nguyên liệu chính cho ngành hóa lâm sản như: Nhựa thông, cao su, chất chát, tinh dầu thơm, chất béo, chất màu …

Chính vì vậy, gỗ được dùng rộng rãi trong đời sống con người Tuy nhiên gỗ còn tồn tại một số nhược điểm như: Sinh trưởng chậm, đường kính

có hạn, có nhiều khuyết tật tự nhiên, dễ mục, dễ biến màu, dễ cháy, mô đun đàn hồi thấp Trong quá trình phơi sấy thường dễn nứt nẻ, cong vênh, biến hình Tính chất bị biến động tùy theo điều kiện sinh trưởng Ngay trong cùng một cây cũng có sự thay đổi về tính chất Do cấu tạo không đồng đều theo các chiều nên cường độ và sức giãn theo các phương dọc thớ, xuyên tâm và tiếp tuyến khác nhau Hút ẩm và thoát ẩm mạnh nên dễ bị cong vênh, biến hình, nứt nẻ, cường độ và tính chất khác thay đổi

Về đặc điểm cấu tạo, gỗ là một vật liệu có cấu tạo đặc biệt, trong gỗ có tới 99÷99.7% là chất hữu cơ, bao gồm chủ yếu là xenlulo, hêmixenlulô, linhin

và các chất đường, bột Những chất này là thức ăn chủ yếu các loại sâu, nấm gây hại Để hạn chế sự gây hại đó, người ta phải loại bỏ các chất là thức ăn của sinh vật hại gỗ bằng cách ngâm gỗ vào trong nước, làm cho các chất đường, bột bị hòa tan Nhưng công việc này chỉ làm giảm một phần nên kết quả không được triệt để với các sinh vật khác nhau Ngày nay khoa học kỹ thuật đã phát triển, công nghệ bảo quản ra đời, con người có thể dùng hóa chất độc đối với các tác nhân phá hoại để bảo quản lâm sản bằng những phương pháp bảo quản hóa chất Do đó nó cũng làm ảnh hưởng đến một số tính chất của gỗ (màu sắc, độ AMKL, khả năng trang sức…) Mức độ tùy thuộc vào yếu tố tác động (các loại thuốc khác nhau thì có ảnh hưởng khác nhau).[6]

Màu sắc của gỗ:

Trang 12

Gỗ có thể hấp thụ ánh sáng nhìn thấy, do vậy mà ta có thể nhìn được màu sắc của gỗ là đỏ, nâu, vàng, lục…Màu sắc của gỗ do các loài cây khác nhau, mặc cho có cùng loại cây nhưng do khu vực phân bố khác nhau, điều kiện lập địa, tuổi cây và các điều kiện khác có sự sai lệch mà khác nhau Có thể là cùng trên một cây gỗ mà chỉ do vị trí có sự sai khác như gỗ dác, gỗ lõi

mà màu sắc cũng có sự khác nhau Tại các mặt cắt khác nhau (ngang, xuyên tâm, tiếp tuyến …) thì màu sắc cũng có sự biến đổi Bề mặt của gỗ khác với kim loại, nó được tổ thành bởi sự sắp xếp không cùng một phương thức của các loại tế bào, do đó cho cùng một mặt gỗ các khe kẽ của tế bào và các phần của nó có sự sai khác mà màu sắc có sự khác nhau.[5]

Cách đo màu sắc bằng máy đo phổ:

Trong quá trình đo ánh sáng được chịếu tới mẫu đo Ánh sáng phản xạ

đi qua một hệ thống ống kinh và tới bộ cảm biến, bộ cảm biến này dùng để đo cường độ ánh sáng của mỗi màu và chuyển tín hiệu cảm nhận được cho một máy tính Tại đó, các tín hiệu này được đối chiếu với giá trị cảm nhận tương ứng của 3 loại tế bào hình nón trong mắt người được xác định theo chuẩn quan sát của CIE Kết quả nhận được là các giá trị kích thích X, Y và Z Sau cùng, các giá trị này được chuyển đổi thành các độ màu hay các toạ độ của các không gian màu khác (thí dụ như CIE-Lab hay CIE-Luv)

Trang 13

Đối với những người sử dụng trong thực tế, giản đồ này rất cần thiết

Trang 14

*Màu tham chiếu:

Là màu đƣợc chọn để làm chuẩn hay màu cần phục chế lại

Sự khác biệt về vị trí màu có thể đƣợc phân loại nhƣ sau:

không thể cảm nhận đƣợc

kinh nghiệm mới cảm nhận đƣợc

kinh nghiệm cũng cảm nhận đƣợc

Trang 15

[Theo wedside: www.vietphotoshop.com]

Ảnh hưởng của chế phẩm bảo quản tới màu sắc của gỗ:

Thuốc bảo quản ảnh hưởng tới màu sắc gỗ thông qua các con đường sau:

- Bản thân thuốc bảo đã có màu sắc đặc trưng nên khi tẩm vào gỗ gây nên

sự thay đổi màu sắc của gỗ Nhưng mức độ ảnh hưởng còn tùy vào từng loại thuốc Ví dụ: chế phẩm Creosote có màu tối, mùi hắc nên khi tẩm vào gỗ sẽ làm cho bề mặt gỗ có màu đen; chế phẩm XM5 có thành phần CuSO4 và

Na2Cr2O7 có màu xanh đậm nên khi tẩm vào gỗ làm cho gỗ có màu xanh; và chế phẩm LN5 có màu trắng nên khi tẩm vào gỗ sẽ không gây ảnh hưởng gì đến màu sắc của gỗ

- Thuốc bảo quản tác dụng tới các gốc phát màu của gỗ: C=O và C=C và

C6H5- Đây là 3 gốc tạo ra màu sắc của gỗ Do đó thuốc bảo quản mà tác động đến 3 gốc này sẽ gây ra những ảnh hưởng tới màu sắc gỗ

- Thuốc bảo quản tác động đến vật chất trích ly từ gỗ Vật chất trích ly từ

gỗ là thành phần thứ yếu của gỗ chiếm khoảng 10% lượng gỗ khô tuyệt đối, đây là một nhóm vật chất không cấu thành vách tế bào, có thể tan trong nước hay dung môi hữu cơ Chủng loại của chất trích ly có rất nhiều thành phần mà thành phần lại rất phức tạp, bao gồm các chất trung gian trong hoạt động sống của cây và là sản phẩm đồng hóa cuối cùng để trở thành chất dinh dưỡng Loại cây khác nhau thì số lượng và thành phần chất trích ly cũng khác nhau Cùng một cây gỗ, phần gỗ ở các vị trí khác nhau cũng có sự sai khác lớn về hàm lượng và thành phần trích ly Vật chất có chứa gốc Phenol trong chất trích ly và chất màu có thể hấp thụ ánh sáng có bước sóng lớn hơn 500 ŋm, từ

Trang 16

1.3.2 Ăn mòn kim loại

Lý thuyết về ăn mòn kim loại:

AMKL là sự phá hủy kim loại một cách tự phát khi kim loại chịu tác động của môi trường xung quanh Sự phá hủy kim loại bằng các nguyên nhân vật lý, các tác dụng cơ học không gọi là ăn mòn mà là mài mòn hoặc bằng một danh từ khác thích hợp với từng loại nguyên nhân Khi các kim loại bị ăn mòn chúng sẽ trở về trạng thái ion, thế nhiệt động học của chúng giảm đi và

do đó quá trình ăn mòn xảy ra một cách tự phát Trong khi kim loại bị ăn mòn thì môi trường xung quanh cũng có sự biến đổi cho nên nói một cách chặt chẽ thì điều kiện cần thiết để xảy ra ăn mòn kim loại là thế nhiệt động học của toàn bộ hệ thống kim loại và môi trường phải được giảm đi Điều đó cắt nghĩa được tại sao có kim loại bị ăn mòn trong môi trường này lại không bị ăn mòn trong môi trường khác, đồng thời cũng cho ta thấy rằng khả năng bị ăn mòn của kim loại có tính chất tương đối và khả năng ấy có thể bị hạn chế hoặc bị mất đi khi ta làm cho điều kiện cần thiết nói trên thỏa mãn một cách không rõ rệt (thế nhiệt động học giảm rất ít) hoặc không không được thỏa mãn tý nào (thế nhiệt động học không giảm hoặc tăng)

a Ăn mòn hóa học:

Quá trình ăn mòn hóa học sảy ra như một phản ứng hóa học giữa kim loại và môi trường xung quanh Nó sảy ra trong môi trường khi ở nhiệt độ cao, trong môi trường các chất hữu cơ không dẫn điện

Ví dụ: Ăn mòn hóa học sảy ra khi sắt, đồng tác dụng với nước, khí clo, iot, các khí Oxyt cacbon, H2S, NH3, ở nhiệt độ cao hoặc tác dụng với các dung môi hữu cơ như: Clorofom, ete, xăng, dầu hỏa…

độ của phản ứng hóa học giữa kim loại với môi trường và tốc độ quá trình

Trang 17

khuyếch tán các tác nhân phản ứng (kim loại và thành phần môi trường) qua màng bao phủ trên bề mặt kim loại do các sản phẩm ăn mòn tạo nên

b Ăn mòn điện hóa.

Ăn mòn điện hóa xẩy ra trong môi trường chất điện giải Môi trường ấy

có thể là dung dịch chất điện ly như axit, muối…như nhiều trường hợp ăn mòn trong kỹ nghệ hóa học, ăn mòn dưới biển Nó có thể là một màng mỏng hơi ẩm ngưng tụ trong đó có hòa tan khí và các tạp chất khác như trường hợp

ăn mòn khí quyển Nó có thể là một chất rắn có chứa có chứa các chất điện giải và có khẳ năng dẫn điện như trong trường hợp kim loại bị ăn mòn thường gặp là các ăn mòn điện hóa Ăn mòn điện hóa tuân theo các quy luật của động học các quá trình điện hóa Quá trình điện hóa gồm hai quá trình: Quá trình anot và quá trình catot Quá trình catot ở đây là quá trình ion hóa kim loại, kim loại chuyển sang trạng thaí ion, đây chính là quá trình AMKL

Quá trình anot có thể là quá trình khử oxy thành ion OH

-Khi quá trình anot là quá trình khử ion hydrat thoát ra, người ta gọi đó

là sự ăn mòn điện hóa cho thoát Hidro hay là sự ăn mòn điện hóa với khử cực Hidro Khi quá trình anot là quá trình khử oxy thành OH-, người ta gọi đó là

Trang 18

sự ăn mòn tiêu thụ oxy hay sự ăn mòn với khử cực oxy Muốn cho quá trình catot tiến hành được thì quá trình anot cũng phải tiến hành thong suốt Vì vậy muốn hạn chế quá trình ăn mòn, ta có thể hạn chế quá trình anot mà cũng có thể hạn chế quá trình catot hoặc hạn chế hai quá trình Khi hạn chế quá trình catot, ta hạn chế trực tiếp quá trình ăn mòn, còn khi hạn chế quá trình anot ta hạn chế gián tiếp quá trình ăn mòn Điều kiện cần thiết xẩy ra quá trình điện hóa là sự tiến hành cả hai quá trình catot và anot.[6]

Khả năng ăn mòn kim loại của chế phẩm bảo quản:

Chế phẩm bảo quản sau khi tẩm vào gỗ sẽ cố định trên gỗ Một số chế phẩm có thành phần hóa học có khả năng phản ứng với kim loại nên có thể gây ra hiện tượng ăn mòn kim loại Ví dụ: chế phẩm Creosote có khả năng ăn mòn kim loại lớn; chế phẩm có NaF cũng có tính ăn mòn kim loại, khi nồng

độ tăng thì tính ăn mòn kim loại cũng tăng Do đó, khi sử dụng ngoài yêu cầu

về hiệu lực phòng chống sinh vật hại lâm sản ta còn phải chú ý đến mục đích

sử dụng để lựa chọn loại chế phẩm bảo quản thích hợp

1.3.3 Màng trang sức của sản phẩm gỗ

Chất lượng màng trang sức

Chất lượng của quá trình trang sức được đánh giá bởi rất nhiều chỉ tiêu như khả năng bám dính, độ bong, độ bền, khả năng chịu nhiệt…và nó chịu sự chi phối bởi rất nhiều yếu tố khác nhau Ngoài sự ảnh hưởng của phương pháp trang sức, còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau:

a Nhóm nhân tố thuộc về chất liệu trang sức

+ Nồng độ và loại dung môi sử dụng: Nhân tố này không những tác dụng tới sự thay đổi kích thước “hạt sương” trong quá trình phun, mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ bay hơi dung môi, khả năng bám dính màng phủ Loại dung môi sử dụng có tác dụng rất lớn tới tốc độ khô của màng phủ, ảnh

Trang 19

màng sơn mỏng, đều, không gây ra hiện tượng rạn nứt bề mặt, làm gián đoạn màng phủ, giảm độ bong cũng như hiệu quả bảo vệ màng trang sức do tốc độ khô quá nhanh

+ Độ nhớt: Trong quá trình trang sức, ngoài sự ảnh hưởng đến khả năng thấm ướt và dàn trải lên bề mặt phôi liệu, độ nhớt còn tác động trực tiếp đến khả năng phun của thiết bị, gây ảnh hưởng đáng kể tới bề mặt trang sức

+ Màu sắc của chất phủ: Màu sắc cũng như độ trong suốt của màng phủ

có ảnh hưởng trực tiếp đến vẻ đẹp của sản phẩm Ngoài ra màu sắc đôi khi còn khắc phục các hạn chế không đồng nhất về màu sắc của loại gỗ đem lại, tạo cảm giác chắc chắn cho đồ mộc

b Nhân tố thuộc về môi trường trang sức:

+ Ảnh hưởng của nhiệt độ: Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ bay hơi của dung môi Nhiệt độ cao tốc độ bay hơi của dung môi nhanh làm cho màng trang sức giòn Nhiệt độ thấp làm cho quá trình bay hơi chậm, làm chậm quá trình đóng rắn màng trang sức, chất lượng dán dính thấp Thường với sơn P-U nhiệt độ (20÷ 30)oC khi phun sơn là tốt nhất

+ Ảnh hưởng của độ ẩm môi trường: Độ ẩm của môi trường ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ khô của màng trang sức, độ ẩm có tác dụng tăng, giảm đáng

kể chất lượng màng phủ Độ ẩm của môi trường quá cao gây ra hiện tượng đọng nước trên bề mặt, làm giảm đáng kể chất lượng màng phủ Thường khi trang sức P-U độ ẩm môi trường khoảng (40 ÷ 60%) là tốt nhất

+ Ảnh hưởng của gió: Gió ảnh hưởng đến quá trình lưu thông không khí, tạo sự thuận lợi cho sự bay hơi dung môi đồng thời liên quan đến khâu thu hồi dung môi, cũng như sơn thừa trong khi phun

+ Ảnh hưởng của bụi: Là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp chất lượng màng phủ Do trong không khí luôn tồn tại một lượng các hạt bụi, chính các hạt bụi

lơ lửng trong không khí sẽ tạo thuận lợi cho quá trình kết hạt trong đám bụi

Trang 20

sơn làm tăng kích thước hạt sơn, đồng thời tạo ra các hạt sạn trên bề mặt màng phủ, không những làm giảm độ bám dính mà còn làm giảm trầm trọng tính thẩm mỹ của sản phẩm

c Nhóm nhân tố thuộc về phôi liệu trang sức

+ Ảnh hưởng của loại gỗ: Mỗi loại gỗ khác nhau cho ta chất lượng màng trang sức khác nhau Gỗ có khối lượng thể tích càng lớn, mịn thớ khi trang sức cho chất lượng màng trang sức cao Gỗ có khối lượng thể tích càng nhỏ, cường độ lớp mặt thấp thì khi trang sức cho chất lượng màng trang sức

thấp

+ Ảnh hưởng của độ ẩm ván nền: Độ ẩm ván nền có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng màng trang sức Nếu độ ẩm ván nền thấp màng trang sức khô nhanh làm giảm chất lượng Độ ẩm ván nền hợp lý w = (8 ÷ 12%)

+ Ảnh hưởng của độ nhẵn bề mặt: Đây là nhân tố quyết định tới chất lượng sơn phủ, nó không chỉ có vai trò quyết định đến độ nhẵn bong của màng trang sức, mà còn ảnh hưởg trực tiếp đến lượng tiêu hao để tạo ra cùng một màng sơn phủ với chất lượng tương đương Độ nhẵn của ván nền còn ảnh hưởng đến độ bóng, độ bám dính Thường khi phun bằng khí nén độ nhẵn bề mặt nền trong khoảng ∆8 ÷∆ 10 (Rmax = 30 ÷ 60% µm)

+ Cường độ lớp mặt: Ảnh hưởng trực tiếp đến chiều sâu của dung môi cũng như chất lượng sơn phủ vào ván nền mà còn quyết định đến độ cứng của màng phủ sau khi thực hiện quá trình sơn phủ

d Ảnh hưởng của phương pháp trang sức bằng cơ giới

+ Phương pháp phun bằng thủy lực: Phương pháp phun bằng thủy lực cho dòng vecny có độ mịn cao, năng suất lớn có thể đạt 350 m2/h Chất lượng màng phủ khi phun bằng thủy lực rất cao, áp suất khi phun bằng thủy lực cần đến (30 ÷50 at) Cho nên chi phí cho phương pháp này rất lớn

Ngày đăng: 22/06/2021, 10:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w