Các yếu tố thuộc về quá trình dán ép như: nhiệt độ, áp suất, thời gian, cách tráng keo hay các yếu tố về vật dán: Độ ẩm, độ nhẵn bề mặt, loại gỗ…Do đó việc lựa chọn, sử dụng loại keo nào
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay cùng với sự phát triển của công nghệ chế biến gỗ, đặc biệt là công nghệ sản xuất ván nhân tạo, nhu cầu sử dụng keo dán gỗ cũng ngày càng một tăng lên cả về chất lượng và số lượng Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng dán dính của keo: Độ nhớt, thời gian bảo quản, hàm lượng fomaldehyd tự do Các yếu tố thuộc về quá trình dán ép như: nhiệt độ, áp suất, thời gian, cách tráng keo hay các yếu tố về vật dán: Độ ẩm, độ nhẵn bề mặt, loại gỗ…Do đó việc lựa chọn, sử dụng loại keo nào để đạt được hiệu quả tốt
cả về chất lượng và kinh tế là một trong những vấn đề đặt ra cho các nhà chế biến chúng ta hiện nay
Được sự đồng ý của nhà trường, của khoa Chế Biến Lâm Sản và được
sự hướng dẫn của thầy giáo: Nguyễn Văn Thuận Em tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu khả năng sử dụng keo Synteko 1971/1999 để tạo gỗ ép định hình sử dụng làm đồ mộc ngoài trời từ gỗ Keo Lá Tràm”
Trang 2CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số vấn đề chung
1.1.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá khả năng sử dụng keo Synteko 1971/1999 cho các sản phẩm mộc sử dụng ngoài trời từ gỗ Keo Lá Tràm Từ đó đưa ra kết luận hợp lý về keo Synteko 1971/1999 có khả năng ứng dụng được sản phẩm mộc sử dụng ngoài trời
1.1.2 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài này giới hạn chỉ nghiên cứu độ bền dán dính của màng keo thông qua khả năng bong tách màng keo (theo tiêu chuẩn JAS type II), lực bám đinh và khả năng chống chịu của màng keo với môi trường
Nguyên liệu sử dụng cho nghiên cứu là:
- Nguyên liệu gỗ: Gỗ Keo Lá Tràm độ tuổi từ 8 – 10 năm, độ ẩm mẫu 8 –
12 %
- Chất kết dính EPI 1971/1999 do công ty keo dán Casco cung cấp
1.1.3 Nội dung nghiên cứu
- Phân tích nguyên liệu gỗ Keo Lá Tràm
- Tìm hiểu một số tính chất kỹ thuật, công nghệ của keo EPI 1971/1999
- Xây dựng cơ sở lý luận (giả thuyết nghiên cứu)
- Thực hiện tạo mẫu thí nghiệm
- Kiểm tra độ bền dán dính của màng keo
- Xử lý số liệu, viết báo cáo
1.1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Kế thừa các kết quả nghiên cứu có trước về vật dán từ Keo Lá Tràm, kế thừa thông tin cơ bản về keo EPI
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các nhà chuyên môn
- Phương pháp thực nghiệm: Tạo sản phẩm và xác định 1 số tính chất cơ bản của mẫu
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học:
Trang 3Với các đặc trƣng của mẫu đƣợc tính nhƣ sau:
n
i i
Trang 4t2(k ) (với độ tin cậy 95%)
1.1.5 Ý nghĩa của đề tài
- Thực nghiệm đề tài ngiên cứu nhằm tăng cường khả năng nghiên cứu giải quyết một vấn đề khoa học cho sinh viên
1.2 Các nghiên cứu về sản phẩm mộc ngoài trời
Sản phẩm mộc nói chung và sản phẩm mộc sử dụng ngoài trời nói riêng
là một trong những mặt hàng xuất khẩu chiến lược của nước ta Có thể thấy rằng sản xuất sản phẩm mộc và nhu cầu sử dụng sản phẩm mộc chúng ta là rất lớn Các sản phẩm đã trở thành một nhu cầu thưởng thức của con người, chúng làm cho không gian nội thất trở nên sang trọng, thoáng tự nhiên Ngày nay, sử dụng sản phẩm mộc vấn đề công năng ứng dụng không còn mối quan tâm hàng đầu, mà vấn đề được đặt ra hàng đầu cho các nhà sản xuất là thẩm
mỹ của sản phẩm Sản phẩm mộc vô cùng phong phú và đa dạng Tình đa dạng của sản phẩm mộc, thể hiện qua khía cạnh từ hình dạng, màu sắc chất liệu dạng liên kết, kết cấu và được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau
Xã hội phát triển, cuộc sống ngày càng phức tạp, lao động chân tay đang dần được thay thế bằng lao động trí óc… tất cả các yếu tố trên luôn gây sức
Trang 5vậy nhu cầu giải trí, thư giãn của con người ngày càng lớn, các sản phẩm mộc ngoài trời được ưa chuộng chính vì lý do như vậy
Trang 6làm tăng chức năng chống chịu với nhiệt độ môi trường cho những liên kết hóa học tạo ra giữa các chuỗi polime, giữa các thành phần keo và nền gỗ
Từ năm 1975 keo EPI đã được sử dụng ở Nhật cho ván nhân tạo có bề mặt chịu lực Keo EPI (phenol, resorcinol, fomaldehyde) thường được sử dụng, cho đến nay đã được thay thế bởi keo EPI vì tính đàn hồi lớn hơn của chúng với nhiệt độ làm việc, hình dạng đường dán phù hợp hơn, dễ vận chuyển, và tốc độ sản xuất nhanh hơn Rất nhiều căn nhà được xây dựng sử dụng keo EPI với hiệu quả có thể so sánh được với PRF như: EPI gắn kết ván sàn nhà, mái nhà và tường, nhà một tầng hay nhiều tầng
Những tiêu chuẩn ở Mỹ và Nhật Bản đã chứng minh hiệu quả tuyệt vời của keo EPI liên quan tới độ biến dạng, khả năng chống chịu nước và nhiệt Ngoài ra keo EPI còn có độ bám dính tốt đối với loại chất liệu khác ngoài gỗ,
ví dụ: chúng có thể dùng để dán dính những tấm bọc bằng nhôm với gỗ Khả năng này đem đến cho keo EPI triển vọng lớn trên thị trường keo dán gỗ Với keo EPI, việc nghiên cứu phản ứng hoá học xảy ra trong keo dán, và ảnh hưởng của emulsion và polyisocyanate đến đặc tính của keo trở nên rất quan trọng Những nhóm có cấu tạo chứa isocyanate có thể có tác động mạnh đến nỗi chúng phản ứng với hầu hết các chất có cực như nước, rượu, cacbonat
và các chất trong một hệ Thông thường những phản ứng phụ xảy ra ở liên kết C=N, chính sự ngưng tụ của isocyanate là một phản ứng cơ bản khác Sự ngưng tụ và phản ứng phụ được nối với nhau và xảy ra cùng một lúc, sinh ra sản phẩm đa dạng, đặc biệt khi polyisocyanate được sử dụng Thêm nữa, những phản ứng này có thể xúc tác lẫn nhau, và những phản ứng lưu hoá nhanh hơn ngay khi chúng bắt đầu Hoạt động hoá học của isocyanate làm cho keo EPI lưu hoá hoàn toàn và vĩnh cửu ngay sau khi màng keo được hình thành, từ đó các phản ứng lưu hoá bao gồm phản ứng không thuận nghịch và xảy ra nhanh
Thông thường mạng lưới càng lớn bền hơn thì nhiệt độ chuyển pha thuỷ tinh (T) cao hơn Với một loại keo tốt đối với gỗ T có thể đem lại sự
Trang 7chống kéo trượt và chống nhiệt trong nguyên liệu nhưng mặt khác làm các lớp keo quá giống để chống lại ứng suất cơ học Để cân bằng các tính chất cần phải điều khiển T bằng cách điều chỉnh sự tổng hợp keo dán để đạt được yêu cầu sử dụng riêng Keo dán có cấu tạo điển hình đối với gỗ, như là PRF thông thường không có T đo được từ những đơn phân tử được polimer hoá ở đúng chỗ của nó và hình thành một mạng khổng lồ, kéo theo tính giòn
Keo EPI có thể kết hợp với những ưu điểm của keo cấu trúc và không cấu trúc Sự lựa chọn kỹ lưỡng isocyanate và emulsion, và việc điều chỉnh tỷ
lệ của chúng cho phép tạo phương án keo với T đáp ứng sử dụng đến cùng Emulision được xác định và có công thức chính xác có thể tạo thành những màng keo tốt không cần kể đến T của chúng cao như thế nào
Khi dán gỗ, isocyanate có thể phản ứng với các thành phần gỗ (cellulose, hemicellulose, lignin và các chất chiết xuất) để hình thành liên kết hóa trị Rất nhiều phản ứng có thể xảy ra đồng thời và cạnh tranh Trong tình trạng như vậy độ phản ứng của isocyanate và hydrophilicity của những thành phần khác sẽ điều khiển mức độ của mỗi phản ứng Có thể dự đoán rằng sự thay đổi emulision hoặc isocyanate trong keo EPI sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của keo trong mối dán gỗ
Dòng keo gốc Isocyanate đã được nghiên cứu và sử dụng vào nghành công nghiệp chế biến gỗ từ lâu trên thế giới Tuy nhiên, nó chỉ mới được đưa vào nước ta những năm gần đây nên các đề tài nghiên cứu khoa học về loại keo này nước ta còn hạn chế
Là một trong những cơ sở đầu nghành nghiên cứu về chế biến gỗ, trường Đại học Lâm Nghiệp đã có một số đề tài nghiên cứu về loại keo dán này
Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng keo tráng FPI tới độ bền dán dính một
Trang 8- Keo Tai Tượng: 200g/m2 cường độ đạt 6,186 (N/ m2
)
Nghiên cứu ảnh hưởng cuả áp suất ép tới khả năng dán dính một số vật liệu gỗ sử dụng chất kết dính EPI (Đỗ Vũ Thắng, ĐHLN 2008)
Tác giả tìm áp suất ép hợp lý đối với một số loại gỗ keo như sau:
- Keo Tai Tượng : 0,6 – 0,8 (Mpa)
- Keo Lai: 0,8 – 1,0 (Mpa)
Nghiên cứu ảnh hưởng chất lượng gia công bề mặt gỗ Keo Lai tới cường
độ dán dính keo EPI (Trần Văn Trung, ĐHLN 2009)
Qua nghiên cứu tác giả kết luận: khi chất lượng gia công bề mặt càng cao thì độ dán dính cảu màng keo càng cao Ở cùng chế độ gia công thì cường
độ màng keo EPI 1980/1993 cao hơn keo EPI 1911/1999 khi dán dính gỗ keo lai
Nghiên cứu ảnh hưởng gỗ giác gỗ lõi của keo lá tràm tới cường độ dán dính keo EPI (Nguyễn Hà Giang, ĐHLN 2009)
Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy cường độ dán dính tốt nhất khi
gỗ lõi – lõi và thấp nhất khi gỗ giác – giác
Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian sau khi trộn keo đến độ bền dán dính keo Synteko 1911/1999 (Hà Thị Thu, ĐHLN 2009)
Nghiên cứu của tác giả cho thấy sau khi pha chất đóng rắn ta tiến hành tráng keo ngay thì cường độ dán dính cao nhất
Nghiên cứu ảnh hưởng của Assembly time đến độ bền dán dính keo Synteko 1980/1993 và Synteko 1980/1993 với gỗ Keo lai (Đỗ Thị Khoa
Lanh, ĐHLN 2009)
Qua nghiên cứu tác giả kết luận:
- Assembly time ảnh hưởng đến độ bền dán dính cảu keo Synteko 1980/1993
và 1985/1993 khi dán vào bề mặt
- Assembly time ảnh hưởng đến độ bền dán dính có quy luật vì có thể lập được phương trình tương quan của độ bền dán dính và assembly time
Trang 9- Khoảng assembly time hợp lý đối với loại keo Synteko 1980/1993 là mức R2 (OAT = 4 phút, OAT = 8 phút), với Synteko 1980/1993 là mức R5 (OAT
= 4 phút, OAT = 10 phút)
1.3.2 Một số loại keo khác có khả năng sử dụng ngoài trời
Trong sản xuất ván nhân tạo chúng ta sử dụng nhiều loại keo khác nhau Tuỳ thuộc vào dung dịch của loại keo mà người ta có thể lựa chọn loại keo cho mục đích sử dụng sản phẩm tuỳ theo trạng thái vật lý của keo mà người
ta chia ra các loại keo: keo lỏng, keo bột, keo tấm phiến, keo dạng hạt, hoặc theo tính chất của keo mà người ta chia ra keo nhiệt rắn và keo nhiệt dẻo Ngoài ra có thể phân các loại keo theo nguồn gốc từ tự nhiên, keo tổng hợp Trên thực tế hiện nay sử dụng keo tổng hợp là keo nhiệt rắn, keo U – F, P – F,
và các loại keo biến tính như: keo U – F, P – F, U – M – F…vv Các loại keo nhiệt dẻo như các loại keo thuộc hệ keo PVAC 01 và 02 thành phần do nhiều công ty sản xuất như công ty DYNEA, CASCO,… Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ sản xuất, nhu cầu tiêu dùng, yêu cầu về chất lượng sản phẩm thì việc sử dụng keo không độc hại, cường độ dung dịch cao, khả năng chống chịu tác động của môi trường đang được quan tâm Có thể kể đến một
số loại keo đang được sử dụng trong các nhà máy ván nhân tạo như: keo DYNOCOLL 1186LV, hay DYLOCLL185 là loại keo PVAC 01 thành phần Loại keo thích hợp cho việc liên kết các loại gỗ cứng và loại gỗ mềm Chúng
có đặc điểm là không chứa các độc tố như Formaldehyl, phenol, kim loại nặng…, chúng có khả năng kháng ẩm nhiệt tốt Có thể đóng rắn nguội hay đóng rắn nhiệt, độ pH của keo trung tính Vì vậy có thể sử dụng rộng rãi trong sản xuất ván phục vụ cho sản phẩm mộc trong gia đình, đồ mộc ngoài trời và xây dựng
Đối với ván nhân tạo keo có yêu cầu sau:
- Loại keo không độc hại đối với con người, hàm lượng Formaldehyl tự
do không vượt quá 1,5%
Trang 10- Màu sắc của keo khi đóng rắn không được ảnh hưởng đến màu sắc của vật dán
- Độ pH của keo không thay đổi tính chất của vật dán
- Thông số kỹ thuật của keo phải đảm bảo cho quá trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm
1.4 Các nghiên cứu về sản phẩm ván định hình
a Tình hình sản xuất ván định hình trên thế giới
Sản xuất ván nhân tạo trên thế giới bắt đầu từ thế kỷ XIX các loại ván nhân tạo gồm có ván dán, ván dăm, ván sợi…
Hiện nay các nước và vùng lãnh thổ Châu Á cũng đã phát triển mạnh sản xuất ván nhân tạo, năm 1976 Thái Lan có 58 triệu dân, sản xuất 2,2 triệu m3
ván nhân tạo, bính quân gần 0,04m3/người/năm (trong đó ván dăm 1,3 triệu m3
), Malaysia có 18 triệu dân, sản xuất khoảng 1 triệu m3
ván sợi bình quân 0,03m3/người/năm Đài Loan có 22 triệu dân, hàng năm sản xuất 40.000m3
ván MDF và nhập khẩu khoảng 350.000m3
ván nhân tạo các loại
b Tình hình sản xuất ván định hình tại Việt Nam
Ở nước ta công nghệ chế biến gỗ chậm phát triển và vẫn còn ở trình độ thấp so với thế giới Sản phẩm chủ yếu gồm đồ gỗ gia dụng, hàng thủ công
mỹ nghệ
Hiện nay cả nước có 25 dây chuyền sản xuất ván nhân tạo với hầu hết
là công suất nhỏ dưới 6000 m3/năm (trừ nhà máy MDF Gia Lai và nhà máy ván dăm Thái Nguyên) Trong đó có 8 nhà máy ván dán, 2 nhà máy ván sợi, 6 nhà máy ván dăm và 14 nhà máy sản xuất ván ghép thanh Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã có dự án 1999-2000 sản xuất 1.100.000m3
ván nhân tạo Trong đó ván dăm 698.000m3
chiếm 63,4%, ván sợi 375.000m3 chiếm 34,15%, ván ghép thanh khoảng 18.000m3
Các nhà máy sản xuất ván dán có nhà máy gỗ dán Tân Mai (Đông Nai) được sản xuất vào 1961-1962, sản xuất sản phẩm chủ yếu vào gỗ khai thác rừng nên thiếu nguyên liệu, nhà máy không phát huy hết công suất, công ty cổ
Trang 11phần Lâm sản Thái Nguyên được thành lập vào năm 1992 chuyên sản xuất ván dán, ván định hình
Sơ đồ công nghệ sản xuất ván dán định hình
*Qui trình sản xuất ván dán:
- Xử lý nguyên liệu: Cắt khúc và bóc vỏ cây, có thể xử lý mềm cho gỗ trước khi bóc để tránh hiện tượng rách ván
- Tạo ván mỏng: Thường được sử dụng phương pháp bóc gỗ tròn bằng máy bóc
- Cắt và phân loại ván mỏng: Tiến hành cắt ván mỏng để tạo chiều dài phù hợp với chiều dài sản phẩm ván ép và phân loại theo chất lượng để thuận lợi cho việc vá và ghép ván
- Sấy ván mỏng: Để đảm bảo chất lượng dán ép Ván mỏng cần được sấy khô tới độ ẩm 58-12% Công việc được tiến hành bằng cách phơi nắng hoặc sấy bằng máy ép với nhiệt độ 60-700
C Thời gian sấy phụ thuộc vào chiều dày ván, độ ẩm ban đầu
- Vá ghép ván mỏng: Các khuyết tật của ván mỏng do mắt, vết mục của cây gỗ cần được loại bỏ sau đó vá lại, công đoạn này được thực hiện thủ
Gỗ tròn
Sấy ván
Xư lý nguyên liệu
Tạo ván mỏng
Vá, ghép ván
Tráng keo,
xếp ván
Cắt ván, phân loại
Ép ván trong khuôn
Xử lý sản phẩm
Trang 12công Những ván mỏng có kích thước nhỏ cần được ghép lại với nhau để đảm bảo kích thước của sản phẩm
-.Tráng keo:
Các lớp ván mỏng được tráng keo ở một mặt, công đoạn này được thực hiện bằng thủ công Sau đó các tấm ván mỏng được xếp vuông thớ với nhau, đảm bảo các lớp ván mỏng đối xứng với nhau qua đường trung tâm của ván phỉa có chiều dày, loại gỗ, có các tính chất như nhau
- Ép ván: Sản phẩm được ép với các thông số kỹ thuật khác nhau tuỳ theo kết cấu, mục tiêu sử dụng
Trang 13CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tìm hiểu về nguyên liệu
2.1.1 Tìm hiểu về gỗ Keo Lá Tràm
*Đặc điểm cấu tạo của gỗ Keo Lá Tràm
Keo Lá Tràm là loại gỗ rừng trồng mọc nhanh mới được đưa vào nước
ta, có nguồn gốc từ Châu Úc Loại cây này đã được sử dụng rất phổ biến và rộng rãi, cây Keo Lá Tràm cho năng suất cao, chu kỳ kinh doanh ngắn Là cây
có đường kính trung bình khá lớn, cao từ 18-20m Ở một vài vùng thuận lợi nằm trong vùng phân bố tự nhiên của nó có thể cao tới 30m, đường kính trung bình ừ 20-40cm Là loại cây có nhiều cành với những đoạn thân cong ngắn
Đặc điểm cấu tạo gỗ là nhân tố chủ yếu quyết định đến mọi tính chất của gỗ Keo Lá Tràm là loại cây có gỗ giác, gỗ lõi phân biệt, gỗ giác có màu trắng xám, gỗ lõi có màu vàng nhạt để lâu chuyển thành màu nâu xám Tỷ lệ
gỗ giác, lõi phụ thuộc vào loại cây, ở độ tuổi 6-10 năm tỷ lệ trung bình phần
gỗ lõi chiếm 72% Giữa phần lõi có tủy nhỏ (đặc biệt là giai đoạn 10 năm trở đi), xung quanh tủy nhẹ, xốp, có những nét gỗ già giống Keo Tai Tượng
Keo Lá Tràm là loại cây mọc nhanh, vòng năm phân biệt không rõ ràng, mỗi vòng năm rộng khoảng 1-1.5cm, trong mỗi vòng năm gỗ sớm, gỗ muộn phân biệt không rõ ràng Keo Lá Tràm có thớ gỗ hơi nghiêng và tương đối mịn, mạch gỗ có thể quan sát được bằng mắt thường, lỗ mạch khoảng 5-8 lỗ/mm2
Tế bào nhu mô dọc vòng quanh lỗ theo kiểu hình tròn kín và nửa kín,
số lượng ít
Tia gỗ nhỏ, số lượng trung bình khoảng 3-7 tia/mm2, khả năng sinh trưởng nhanh đường kính gỗ lớn, thớ mịn Do khả năng sinh trưởng nhanh nên ứng suất sinh trưởng lớn, đồng thời do mắt nhiều, thớ gỗ nghiêng nên dễ
bị nứt tách trong quá trình gia công
Gỗ Keo Lá Tràm có tỷ lệ mắt khá nhiều từ 6-7 mắt/1m chiều dài, vì vậy trong quá trình gia công công cụ cắt gọt có thể bị ảnh hưởng tương đối lớn
Trang 14Phần gỗ lõi có tủy nhỏ (Đặc biệt là từ giai đoạn 10 năm tuổi trở đi), xung quanh tủy nhẹ, xốp, nên dễ bị nứt tách sau khi sấy
Bảng 01: Tính chất cơ lý của gỗ Keo Lá Tràm
Độ co rút: - Phương xuyên tâm
- Phương tiếp tuyến
- Thể tích
1.53 3.81 4.72
Mô đun đàn hồi
Tiếp tuyến 8.9×103 MPa
Trang 152.1.2 Tìm hiểu về keo dán EPI 1971/1999
Synteko 1971/1999 là loại chất kết dính đặc biệt được sử dụng trong nghành chế biến gỗ
Synteko 1971/1999 có thể sử dụng trên máy ép nhiệt hoặc ép nguội, cho chất lượng keo tương đương nhau Dưới đây là bảng thông số kỹ thuật của keo
Bảng 02: Đặc điểm kỹ thuật của keo dán EPI 1971/1999
Điều kiện bảo quản
Nhiêt độ bảo quản từ
5-350C
Sản phẩm có thể tạo màng
ở bề mặt nếu thùng chứa không được đóng kín
Nếu sản phẩm bị đông cứng thì không thể làm tan ra và sử dụng lại
Keo có thể bị phân lớp sau 1-2 tháng bảo quản, sự phân lớp này không làm ảnh hưởng đến chất lượng
Nhiêt độ bảo quản từ
5-350C Sản phẩm có thể tạo màng ở bề mặt nếu thùng chứa không được đóng kín
Nếu sản phẩm bị đông cứng thì không thể làm tan ra và sử dụng lại
Trang 16dán dính nếu khuấy đều trước khi sử dụng
Formaldehyde tự do Đáp ứng tiêu chuẩn F****
Khối lượng thể tích Khoảng 1200 Kg/m3 Khoảng 1200 Kg/m3
Thông tin trong việc dán dính
Loại hình ép Ép nguội và ép nóng, ép cao tần Nhiệt độ keo dán Trên 50C
Thời gian sống (300
C) Tối đa 60 phút Thời gian ép, 300
C (Khi dán gỗ thông –thông, độ ẩm môi
Thời gian pha trộn
30 giây với trộn tự động bằng máy,
2 phút nếu trộn thủ công bằng tay Keo sau khi trộn phải được đồng nhất
Trang 17
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng mối dán
2.2.1 Các yếu tố thuộc về vật dán
a Loại gỗ
Gỗ là vật liệu hữu cơ không đồng tính, không đẳng hưởng Các loại gỗ khác nhau có tính chất khác nhau, cùng một loại gỗ thì tích chất của gỗ khác nhau ở vị trí thân cây, ở các tuổi cây và điều kiện sinh trưởng, Vì vậy gỗ là vật dán đa dạng, mỗi một mối dán từ gỗ là một trường hợp cụ thể không giống nhau hoàn toàn
b Bề mặt gỗ
Bề mặt dán là một phần hoặc toàn bộ bề mặt ngoài gỗ
Bề mặt ngoài gỗ: là bề mặt phân chia giữa gỗ và môi trường bên ngoài,
bề mặt này được hình thành do sự lộ diện toàn bộ của các khoang trống trong
gỗ khi chúng bị phá vỡ bởi quá trình gia công cắt gọt, các vết tích của cắt gọt
để lại nó phụ thuộc vào phương thức cắt gọt (lạng, bóc) phụ thuộc vào tốc độ ,
độ ẩm, tốc độ đẩy, độ ăn dao, độ tù của lưỡi cắt… bề mặt gỗ phụ thuộc vào cấu tạo thô đại, cấu tạo hiển vi của gỗ khi bị khá huỷ như: các vết xướt các thớ gỗ trong quá trình bóc hoặc lạng… có rất nhiều tiêu chuẩn để đánh giá bề mặt gỗ như: GOCT 7016-54, CSN 014450 bề mặt thực (bề mặt vật dán) của
gỗ ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình hình thành, tồn tại của các pha khi keo dán tiếp xúc với bề mặt gỗ
Bề mặt bên trong gỗ
Bề mặt trong gỗ là khoảng không gian bên trong của gỗ(độ rỗng) được hình thành do hệ thống mao mạch ống dẫn, các phần rỗng trong ruột tế bào…
Ở trạng thái khô kiệt diện tích bao bọc toàn bộ khoảng trống đó khoảng
108m2/m3 Vì vậy việc lấp đầy keo, các chất phụ gia trong quá trình dán dính
là rất khó khăn
- Bề mặt bên trong do các Lumen tạo ra
- Bề mặt bên trong do các Fibril trong vách tế bào tạo ra
- Bề mặt bên trong do các mixen trong Microfibril tạo ra
Trang 18Bề mặt bên trong của gỗ tỷ lệ nghịch với khối lượng thể tích và tỷ lệ thuận với độ ẩm Bề mặt bên trong của gỗ ở độ ẩm bão hồ thớ gỗ lớn hơn 103
bề mặt bên trong của gỗ ở độ ẩm khô kiệt và có thể đạt tới 1011
m2/m3
Độ sạch của bề mặt: trên bề mặt dán thường tồn tại một lượng bụi do quá trình gia công, do môi trường, sự tồn tại của nhựa cây… chúng làm cản trở quá trình thẩm thấu của dung môi, sự khuyếch tán của keo, làm gián đoạn các liên kết cản trở quá trình hình thành và đóng rắn của keo
c Khối lượng thể tích
Khối lượng thể tích gỗ là một trong những tính chất vật lý quan trọng ảnh hưởng đến mối dán Khối lượng thể tích gỗ phụ thuộc vào cấu tạo và độ rỗng gỗ, khối lượng thể tích gỗ lớn cần lực ép lớn (điều này còn phụ thuộc vào độ phẳng của bề mặt, gỗ cứng có khối lượng thể tích lớn yêu cầu độ nhẵn lớn hơn gỗ có khối lượng thể tích nhỏ, mềm nhẹ) lực ép lớn vượt quá giới hạn
là không cần thiết vì keo có thể tràn ra ngoài làm nghèo mối dán
d Ảnh hưởng do cấu tạo gỗ
Gỗ được cấu tạo do các tế bào thực vật nó được hình thành, phát triển
và tồn tại theo điều kiện của môi trường sống Thành phần hoá học cơ bản gồm cellulose, hemicellose, lingin, các chất chiết xuất, đưòng, muối vô cơ…
do cấu tạo đặc biệt và tính không đẳng hướng nên ở các bề mặt cắt khác nhau thì tính chất, thành phần hoá học trên bề mặt cũng khác nhau
Cường độ dán dính của mối phụ thuộc vào 3 loại liên kết cơ bản
Liên kết cơ học chiếm khoảng 2-3% tổng giá trị lực
Liên kết hoá học chiếm khoảng 70% tổng giá trị lực
Liết kết vật lý chiếm khoảng 22-27% tổng giá trị lực
Trong sự liên kết cơ học là cơ bản nó được hình thành do các cầu nối hoá học giữa keo dán và các thành phần hoá học của gỗ Các cầu nối cơ bản là -CH2, -CH2-O-CH2- chủ yếu được tạo ra các nhóm chức của keo và các nhóm –OH của các thành phần hoá học trong gỗ, đặc biệt là của cellulose (ở các mặt cắt khác nhau lượng cellulose khác nhau)
Trang 19Cây gỗ được phát triển theo điều kiện sống và theo màu nên tạo ra gỗ sớm gỗ muộn khác nhau, cũng có khối lượng thể tích khác nhau, cấu tạo khác nhau, do đó ở các mặt khác nhau thì tính chất của bề mặt khác nhau, khả năng dán dính khác nhau
Mỗi loại gỗ có giá trị pH khác nhau ảnh hưởng đến quá trính dán dính,
đa số các loại gỗ có độ pH từ 5 ~ 7(chỉ có một số ít loại gỗ nằm ngoài vùng này) Nếu các loại keo dán có pH<2,5 và pH>10 sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến gỗ và việc thực hiện các công nghệ dán ép, nó sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình đóng rắn của keo và ăn mòn thiết bị
e Ảnh hưởng của nhiệt độ gỗ
Công nghệ dán ép bằng keo dán phải trải qua khâu tráng keo, đa số việc tráng keo đều thực hiện ở nhiệt độ môi trường từ 15 ~ 35o
C, ở nhiệt độ này các phản ứng của dung dịch keo xảy ra chậm, không ảnh hưởng đến tính chất của dung dịch Nếu nhiệt độ của vật dán lớn sẽ làm tăng tốc phản ứng của dung dịch keo, làm giảm độ nhớt dẫn đến việc keo đóng rắn sớm và tràn keo
ra ngoài, nếu nhiệt độ của vật dán thấp sẽ làm độ nhớt, khó khăn cho việc tránh keo, kéo dài thời gian ép
2.2.2 Các yếu tố thuộc về chất kết dính
Chất kết dính là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng mối dán Độ bền mối dán phụ thuộc vào các yếu tố thuộc về keo dán bao gồm: loại keo, hàm lượng khô, độ nhớt, độ pH của keo, lượng keo tráng…một màng keo mỏng đều, liên tục và không có bọt khí luôn là điều mong muốn hàng đầu trong sản xuất bởi vì nó không những làm tăng chất lượng mối dán mà còn tiết kiệm chi phí về keo dán
Trang 20Nếu độ nhớt của keo nhỏ sẽ xảy ra hiện tượng thẩm thấu thông thường,
dễ bị trào keo ra khỏi mối dán đặc biệt khi có lực ép lớn Hoặc làm nghèo lượng keo tráng trên bề mặt vật dán làm chất lượng mối dán giảm Độ nhớt nhỏ chỉ thích hợp với các phương thức phun keo lên bề mặt vật dán, không thích hợp với tráng keo bằng rulo
Độ nhớt của keo cao thì khả năng dàn trải của keo lên bề mặt ván mỏng khó Do đó khó có thể tạo màng keo đều và liên tục
b Ảnh hưởng của độ pH
Dung dịch keo thường được bảo quản ở độ pH sao cho các phản ứng hóa học xảy ra ít nhất để kéo dài thời gian bảo quản song khi sử dụng người ta mong muốn ngược lại Vì vậy khi pha chế dung dịch keo cần pha chế tới độ
pH thích hợp Nếu độ pH của keo quá cao thì thời gian đóng rắn quá dài làm giảm năng suất Khi ép ván ở nhiệt độ cao thì màng keo ngoài cùng thường bị phá hủy vì nhiệt, giảm cường độ kéo trượt màng keo Ngược lại nếu độ pH quá thấp keo thường có hiện tượng đóng rắn sớm làm cho chất lượng mối dán giảm
c Ảnh hưởng của hàm lượng khô
Hàm lượng khô ảnh hưởng tới chất lượng mối dán Vì trong quá trình dán ép, dung môi chủ yếu của keo được gỗ hút ẩm Nếu hàm lượng khô của keo thấp thì làm cho độ ẩm của sản phẩm cao Trong điều kiện ép nhiệt nếu hàm lượng khô của keo thấp sẽ dẫn tới độ nhớt của keo giảm đáng kể, chất lượng mối dán giảm Mặt khác khi hàm lượng khô của keo thấp thường có hiện tượng bị đóng rắn trong dung môi trước khi sử dụng Ngược lại khi hàm lượng khô của keo cao sẽ làm cho keo dàn trải trên bề mặt ván mỏng không đều sẽ tạo ra hiện tượng màng keo không liên tục
d Thời gian gel hóa: Là thời gian chuyển từ pha lỏng sang pha rắn trong
điều kiện nhất định nào đó và chính là thời gian các phân tủ thực hiện phản ứng cuối cùng trong dung dich keo Thời gian geltime phụ thuộc vào tính chất
và nhiệt độ dung dịch keo
Trang 21e Ảnh hưởng của lượng keo tráng
Trên cơ sở lý thuyết dán dính cho thấy các lực liên kết của mối dán phụ thuộc rất nhiều vào sự hình thành các cầu nối hóa học giữa chúng Mỗi loại keo có cấu trúc phân tử khác nhau thì có các cầu nối hóa học khác nhau về số lượng và loại cầu nối, kết quả là cường độ dán dính sẽ khác nhau Khi thực hiện quá trình dán ép các lực liên kết của mối dán phụ thuộc rất nhiều vào sự hình thành các cầu nối hóa học giữa chúng Số lượng các cầu nối phụ thuộc vào lượng keo tráng Lượng keo tráng luôn nhận được sự quan tâm của người
sử dụng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dán dính và giá thành sản phẩm Người sử dụng mong muốn lượng keo sử dụng là ít nhất mà vẫn đảm bảo chất lượng của mối dán đáp ứng yêu cầu của sử dụng Nhưng thực tế nếu lượng keo tráng quá ít sẽ không đủ số lượng các cầu nối hóa học dẫn đến màng keo không đều, không liên tục dẫn đến chất lượng mối dán giảm Mặt khác lượng keo tráng ít thì khi dung môi bay hơi và bị hút vào trong gỗ sẽ làm keo bị đóng rắn sớm cục bộ trước khi ép, ngược lại lượng keo tráng quá lớn làm cho chiều dày màng keo tăng sinh ra nội ứng suất trong màng keo khi
đã đóng rắn làm xuất hiện các khuyết tật như giòn và lãng phí keo vì khi tráng keo bị tràn ra ngoài, khi dung môi bay hơi để lại các bọt khí làm cho màng keo không liên tục, cường độ dán dính giảm
f Ảnh hưởng của phương thức pha chế
Các chất phụ gia, chất độn, chất đóng rắn… được pha vào dung dịch keo theo một trình tự nhất định của đơn pha chế nếu không sẽ xảy ra các hiện tượng sau: dung dịch keo không đều, không tan, gây vón cục không điều chỉnh được độ nhớt, độ pH, rút ngắn thời gian sống, không có khả năng bôi tráng
g Lựa chọn chất kết dính
Mỗi loại chất kết dính có những đặc tính riêng của nó, từ đó kéo theo các yếu tố công nghệ cũng phải phù hợp Vì vậy việc lựa chọn chất kết dính
Trang 22phù hợp với công nghệ, với mục đích sử dụng là điều rất cần thiết, đảm bảo chất lượng cho sản phẩm
2.2.3 Các yếu tố thuộc về chế độ ép
Trong công nghệ dán ép, chế độ ép luôn là một yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến chất lượng mối dán nói riêng và chất lượng sản phẩm nói chung Chế độ ép được đặc trưng bởi ba thông số: áp suất ép, nhiệt độ ép, và thời gian ép
a Áp suất ép
Áp suất ép có vai trò quan trọng hàng đầu, nó có tác dụng làm tăng khả năng tiếp xúc giữa các bề mặt vật dán, dàn trải đều keo trên bề mặt dán, khắc phục một phần hiện tượng cong vênh, mấp mô của bề mặt vật dán
Theo lý thuyết dán dính, khi bề mặt vật dán phẳng nhẵn khả năng dàn trải màng keo đồng đều màng keo lớn thì áp suất là không đáng kể, thậm chí nếu độ nhẵn là tuyệt đối thì không cần đến áp suất ép, nhưng trên thực tế sản xuất do bản chất vật liệu gỗ cũng như điều kiện máy móc thiết bị một bề mặt phẳng nhẵn là không thể thực hiện được, vì vậy cần chọn ra một trị số áp suất
đủ lớn để làm tăng khả năng tiếp xúc giữa các bề mặt ván là tốt nhất mà không phá hủy vật dán
Tuy nhiên áp suất ép không được quá lớn vì có thể gây biến dạng hay phá hủy vật dán, hoặc gây hiện tượng tràn keo, làm cho mang keo không đồng đều lượng keo tráng thực tế không đảm bảo Nếu áp suất ép nhỏ thì sự tiếp xúc giữa vật dán kém do đó cường độ dán dính giảm làm ảnh hưởng đến chất lượng mối dán, vậy trị số của áp suất ép phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, chúng
ta có thể biểu diễn qua công thức:
Pmax=f(loại gỗ, khối lượng thể tích sản phẩm, độ ẩm vật dán, thông số công nghệ ép…)
Trong đề tài này chọn áp suất ép là 1,6 MPa
b Nhiệt độ ép
Trang 23Nhiệt độ ép làm tăng khả năng hoạt động hóa học của keo, giảm thời gian đóng rắn, làm mềm hóa vật dán do đó tăng khả năng tiếp xúc, dán ép
Để lựa chọn được nhiệt độ ép hợp lý phải căn cứ rất nhiều vào loại keo
sử dụng, với những loại keo khác nhau thì phương pháp ép (ép nóng, ép nguội) cũng khác nhau do đó nhiệt độ ép cũng khác nhau
Đối với phạm vi nghiên cứu của đề tài, thông số về nhiệt độ ép (T) là một yếu tố cố định (bằng nhiệt độ môi trường khi ép)
c Thời gian ép
Thời gian ép là khoảng thời gian duy trì vật dán trong máy ép để thu được cường độ dán dính cao nhất, thời gian ép phụ thuộc nhiều vào các yếu tố công nghệ khác (áp suất ép, nhiệt độ ép), ngoài ra còn phụ thuộc vào loại keo
và lượng keo…
Đối với quá trình dán dính, thời gian ép phải đủ để quá trình đóng rắn được thực hiện Thông thường trong sản xuất ván nhân tạo nếu bỏ qua khoảng thời gian phụ trợ thì thời gian ép công nghệ được tính như:
cn=3+4+5
Trong đó:
3: thời gian tăng áp
4: thời gian duy trì áp
5: thời gian giảm áp
Trên thực tế cho thấy thời gian ép công nghệ cần thiết phải đủ cho keo trong mối dán đóng rắn trong khoảng 85% phần còn lại keo sẽ tự đóng rắn trong quá trình bốc dỡ dưỡng mẫu và cắt mẫu theo tiêu chuẩn Trong đề tài này chọn thời gian ép là 2h/sp
2.3 Tìm hiểu về sản phẩm định hình
2.3.1 Loại hình sản phẩm định hình
Các sản phẩm, thiết bị, máy móc, kiến trúc…vv mà con người sử dụng là
vô cùng đa dạng do nhu cầu mục đích, đa dạng của con người Vì vậy các hình dạng kích thước của các sản phẩm đa dạng và phong phú
Trang 24Trong thiết kế sản phẩm mộc do tính đa dạng, đa mục tiêu nên có nhiều chi tiết có hình dạng khác nhau Nếu để gia công các chi tiết cong, đa dạng đó
từ nguyên liệu gỗ sẽ rất tốn nguyên liệu Vì vậy, mà rất nhiều chi tiết định hình được sản xuất và sử dụng cho đồ mộc hiện đại
Có thể hiểu các sản phẩm định hình và các sản phẩm hoặc chi tiết sản phẩm được sản xuất theo khuôn mẫu theo thiết kế nhất định nhằm thoả mãn thiết kế tổng thể và đảm bảo được yêu cầu về khả năng chịu lực, yêu cầu về thẩm mỹ, yêu cầu về chi tiết kiệm nguyên liệu…vv
- Trong thiết kế, sản xuất đồ mộc có thể sản xuất tất cả các chi tiết theo phương pháp sản xuất định hình Song do một số các hạn chế sau đây mà người ta chỉ sản xuất 1 số chi tiết định hình cho sản phẩm mộc mà không sản xuất tất cả mọi chi tiết:
+ Khả năng chịu lực không đồng đều trên chi tiết sản phẩm định hình + Công nghệ sản xuất cho các sản phẩm định hình phức tạp hơn so với các sản phẩm tương tự
Các sản phẩm, chi tiết định hình trong đồ mộc có thể sản xuất từ công nghệ uốn từ gỗ nguyên hoặc ép từ các dạng phôi từ như; Dăm, sợi, thanh, vác mỏng…vv
2.3.2 Kết cấu sản phẩm
Ván dán là một loại vật liệu mới Trên quan điểm cơ học ván dán là một loại vật liệu có cấu trúc không xác định Mỗi lớp ván mỏng trong kết cấu ván dán đều có ảnh hưởng tới độ bền cơ học của ván theo phương thức và giá trị khác nhau Một tấm ván dán có 7 lớp thực chất có 13 lớp tham gia vào cấu trúc của ván Trong đó có 4 lớp ván dọc (chiều thớ của các ván trùng với chiều thớ của lớp ngoài cùng), 3 lớp ván ngang (chiều thớ của các lớp ván vuông góc với chiều thớ của lớp ngoài cùng) và 6 màng keo tạo thành Như vậy trong chỉ tiêu ứng suất uốn tĩnh của ván thì tất cả các thành phần trên đều tham gia vào quá trình chịu uốn, nhưng với những giá trị cường độ chịu lực khác nhau
Trang 25Như chúng ta biết độ bền uốn ngang thớ của gỗ tự nhiên chỉ 1/10 – 1/20 độ bền uốn dọc thớ Đối với ván mỏng (bóc và lạng) do trong quá trình cắt gọt làm cắt đứt các thớ gỗ cho nên tỷ lệ này có thể giảm xuống 1/50 – 1/200 Mặt khác đối với màng keo đóng vai trò là một màng liên kết, có chiều dày rất mỏng so với chiều dày sản phẩm Do ảnh hưởng của nó với cường độ uốn của ván là không đáng kể, nên nó không ảnh hưởng đến kết cấu sản phẩm Vì vậy, kết cấu của sản phẩm ảnh hưởng rất lớn đến khả năng chịu lực của sản phẩm và chất lượng của sản phẩm
2.3.3 Chế độ ép
*Áp suất ép
Áp suất ép có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm Nó đóng vai trò: tạo ra sự tiếp xúc cần thiết giữa các tấm ván mỏng nhằm thu được tấm ván có cường độ nhất định đồng thời loại bỏ được túi khí trong ván ra ngoài
Theo nguyên lý dán dính khi bề mặt vật dán phẳng nhẵn tuyệt đối thì mức độ dàn trải keo trên bề mặt vật dán dễ dàng hơn Thực tế để các lớp ván tiếp xúc với nhau tốt, nghĩa là khả năng liên kết giữa keo-gỗ tốt thì phaair duy trì một áp suất nhất định, trị số của áp suất phụ thuộc vào giá trị mà màng keo
có thể dàn trải đông đều, liên tục và không có bọt khí giưa các lớp ván mỏng
Áp suất ép có thể tạo ra ván có khối lượng thể tích khác nhau Đối với cùng loại vật dán, cùng số lớp ván mỏng như nhau, nếu ép với những áp suất khác nhau dẫn đến ván thành phần có chiều dày ván khác nhau, do đó khối lượng thể tích của chúng khác nhau Ở những nước phát triển thì mỗi nhà máy
có thể sản xuất ván từ một hay nhiều loại gỗ, mỗi loại gỗ có khối lượng thể tích khác nhau tronh quá trình ép ván, khi tăng áp suất ép ván mỏng có thể tạo
ra ván thành phẩm có kích thước, khối lượng khác nhau nhưng đến một giai đoạn nhất định áp suất ép dù có tăng lên rất lớn mà khối lượng thể tích của ván cũng tăn lên rất lớn Vì vậy nên chọn áp suất phù hợp với yêu cầu sản phẩm, áp suất epa ván định hình được chọn trong khoảng 1≤ p ≤ 3 Mpa Áp suất quá thấp hay quá cao đều ảnh hưởng đến chất lượng ván Nếu áp suất
Trang 26thấp thì khả năng loại bỏ triệt để túi khí trong ván sẽ khó hơn đồng nghĩa với việc khó tạo ra sự tiếp xúc giưa các lớp ván mỏng, do đó mối liên kết giữa keo và gỗ sẽ kém hơn Nếu áp suất ép quá cao gây mất an toàn, lãng phí nguyên liệu, không cần thiết trong sản xuất
Khi xét sự ảnh hưởng của áp suất ép dẫn đến chất lượng sản phẩm không thể không nói tới dao động áp suất ép trong quá trình ép, sự dao động này sẽ làm tăng khả năng thấm keo vào gỗ và nguy hiểm khi mối dán được hình thành Mặt khác nó sẽ làm mất đi bản chất vật lý của mối liên kết, nhiều khi mối dán bị phá hủy nếu sự dao động này quá lớn và đúng thời điểm màng keo đóng rắn Vì vậy việc tìm cách làm sao cho sự dao động áp suất ép càng nhỏ và tăng độ ổn định của áp suất trong quá trình ép ván là vấn đề cần quan tâm
*Thời gian ép
Thời gian ép là thời gian cần thiết để duy trì ván mỏng để thu được một mối dán có cường độ dán dính nhất định Thời gian ép không những ảnh hưởng đến tính năng của ván mà còn quyết định đến năng suất và giá thành sản phẩm
*Nhiệt độ ép
Nhiệt độ ép qua thực tế cho thấy rằng khi ép ván tốt hơn ép ở nhiệt độ thường, phương pháp này góp phần tăng hiệu quả kinh tế và phương pháp này cho năng suất cao và chất lượng tốt Như vậy khi ép ván ở nhiệt độ cao cùng với độ ẩm nhất định của ván gỗ được hóa dẻo, khả năng tiếp xúc giữa các tấm ván mỏng tốt hơn Độ nhớt của keo giảm xuống và khả năng dàn trải keo trên
bề mặt của ván dẽ dàng hơn, nhiệt độ còn làm tăng khả năng đóng rắn của màng keo góp phần nâng cao chất lượng mối dán Như vậy, chất lượng mối dán cũng phụ thuộc vào nhiệt độ, nếu nhiệt độ ép quá cao thì độ nhớt của keo giảm rất nhanh làm tăng khả năng thẩm thấu của keo trong gỗ dẫn đến màng keo bị gián đoạn trên bề mặt ván có hiện tượng vón cục Đặc biệt khi ép ván
có chiều dày lớn sản lượng ván mỏng nhiều, nếu nhiệt độ ép ở nhiệt độ cao thì
Trang 27màng keo trong cùng đạt mức độ đóng rắn cần thiết thì màng keo phía ngoài
bị khô giòn làm giảm chất lượng mối dán Nhiệt độ cao sẽ làm tốc độ hóa hơi trong ván tăng làm ẩm trong ván thoát ra ngoài mạnh dẫn đến độ ẩm ván mỏng nhanh chóng giảm xuống Khi đó ván bị khô giòn đồng thời dưới tác dụng của nhiệt độ cao cellulose và lignin trong ván từ đó làm ảnh hưởng lớn đến khả năng chịu lực và khả năng đàn hồi của ván
Nếu nhiệt độ quá thấp thì khả năng dàn trải của keo trên bề mặt ván khó khăn hơn làm cho lượng keo phân bố không đồng đều trên bề mặt ván và
bề mặt keo rất dễ bị gián đoạn, khả năng tồn tại các túi khí ngay sát bề mặt ván rất cao Ở nhiệt độ ép này khả năng dẻo hóa ván mỏng rất khó khăn nên thời gian ép ngắn, do đó cần phải kéo dài thời gian và như vậy sẽ ảnh hưởng đến chất lượng mối dán, chất lượng sản phẩm và giảm năng suất lao động
2.4 Tìm hiểu về sản phẩm mộc ngoài trời
Ưu điểm khi sử dụng ván nhân tạo: giá thành sản phẩm rẻ, dễ sản xuất hàng loạt, không hạn chế về kích thước và kiểu dáng, rất thuận lợi với các sản phẩm yêu cầu kích thước lớn như mặt ghế, mặt bàn rộng
Nhược điểm: do sử dụng một số hoá chất như keo, chất bảo quản tạo màu nên có thê gây hại cho người sử dụng, khó trang sức, màu sắc vân thớ không đồng đều đẹp mắt
Sản phẩm mộc ngoài trời gồm 2 loại cơ bản:
+ Sản phẩm mộc ngoài trời có mái che
Trang 28+ Sản phẩm mộc ngoài trời không có mái che
Đa số các sản mộc ngoài trời được thiết kế đơn giản ít chi tiết chủ yếu sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu giải trí nghỉ ngơi của con người Vì vây, khi kinh tế xã hội phát triển thì nhu cầu ngày càng tăng lên Các sản phẩm mộc ngoài trời không đòi hỏi quá khắt khe mỹ thuật song lại đòi hỏi về độ bền với môi trường Ở mỗi môi trường khác nhau thì khả năng tác động ảnh hưởng tới sản phẩm mộc khác nhau Các tác động chủ yếu của môi trường bao gồm: + Nhiệt độ và sự thay đổi nhiệt độ
+ Độ ẩm
+ Vi sinh vật
+ Các đặc điểm khác nhau của các vùng khí hậu khác nhau…vv
2.4.2 Các sản phẩm ván nhân tạo định hình sử dụng ngoài trời
Có rất nhiều loại sản phẩm ván nhân tạo được sử dụng ngoài trời Có thể hiểu là các sản phẩm ván nhân tạo đều là sản phẩm định hình Các sản phẩm ván nhân tạo được sử dụng ngoài trời trong lĩnh vực: giao thông vận tải, xây dựng, đồ thể thao, đồ mộc…vv Tuỳ theo mục tiêu sử dụng mà các sản phẩm ván nhận tạo được sản xuất theo hình dạng theo kích thước khác nhau
Trong khuôn khổ và mục tiêu nghiên cứu của đề tài Sản phẩm được lựa chọn là chân ghế từ ván dán 35 lớp
2.4.3 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm của sản phẩm được sử dụng ngoài trời phụ thuộc vào rất nhiều vào yếu tố công nghệ cũng như ngoại cảnh sử dụng như độ ẩm môi trường, nhiệt độ môi trường, độ PH môi trường, vi sinh vật…vv
a Ảnh hưởng của nhiệt độ
Ta biết nhiệt độ môi trường là yếu có tác động tới quá trình vât lý hoá học, nhiệt độ ảnh hưởng tới tốc độ, và hiệu suất của mọi phản ứng hoá học Nếu nhiệt độ môi trường cao thì trong quá trình dán dính các phản ứng hoá học trong dung dịch keo diễn ra nhanh hơn do đó sẽ thúc đẩy quá cao thì vật dán sẽ thoát ẩm nhanh dẫn đến vật dán bị co rút các phân tử keo bị thay đổi vị