TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm của đối tƣợng nghiên cứu
Khi lai giống giữa cây Trầm Rừng (Dendrobium parishii) và cây Giả Hạc (Phi Điệp Tím - Dendrobium anosmum), chúng ta sẽ tạo ra giống lan Trầm tím độc đáo.
Tên khoa học: Dendrobium nestor
Hình 1.1: Cây lan trầm tím
Hình 1.2: Hoa lan trầm tím
Cây Trầm Tím có nguồn gốc từ sự lai tạo giữa các mặt hoa đa dạng của bố và mẹ, với hàng trăm tổ hợp độc đáo Sự phong phú này mang lại nhiều biến thể ấn tượng cho cây Trầm Tím, làm nổi bật vẻ đẹp và giá trị của nó trong ngành trồng trọt.
Dendrobium nestor có giả hành mập hơn giả hạc nhưng gầy hơn trầm rừng, với chiều dài từ 60-100cm, trong khi giả hạc trung bình dài 80-150cm Giả hành của Dendrobium nestor thường đứng thẳng thay vì ngả hoặc thòng như giả hạc Kích thước bông của loài này lớn hơn trầm rừng nhưng nhỏ hơn bông giả hạc, tùy thuộc vào vùng miền.
Cây này thừa hưởng đặc tính di truyền từ cả cha và mẹ, mang đến hương thơm nhẹ nhàng dễ chịu, tương tự như hương trầm mà không quá nồng Hoa của cây có hình dáng giống với hai cây cha mẹ nhưng sở hữu màu tím hồng rất đẹp.
Các nghiên cứu, tìm hiểu về nhân giống và chăm sóc một số loại lan hoàng thảo
1.2.1 Nghiên cứu nhân giống một số loài lan:
Các nghiên cứu về nhân giống bằng phương pháp hữu tính
Vào năm 1844, nhà vườn người Pháp Newman đã thành công trong việc nảy mầm hạt lan bằng cách rắc hạt lên cục đất quanh gốc cây lan Thành công này đã được lan rộng nhưng chưa có lời giải thích cụ thể Đến năm 1904, Noel Bernard đã áp dụng phương pháp gieo hạt cộng sinh với nấm để kích thích sự nảy mầm Năm 1909, Hans Burgeff đã làm nảy mầm hạt Laelio và Catleya trong môi trường dinh dưỡng với 0,33% đường saccarose hoàn toàn trong bóng tối Năm 1922, Lewis Knudson, một nhà khoa học người Mỹ, đã thành công trong việc gieo hạt trong môi trường thạch và nhận ra rằng sự nảy mầm của hạt còn phụ thuộc vào thời gian hái quả.
Trong tự nhiên, hạt cần sự hỗ trợ của nấm ký sinh để nảy mầm Bernard (1904) đã phát hiện một số loại nấm có khả năng hỗ trợ quá trình nảy mầm cho hạt lan, mỗi loại nấm có tác dụng riêng đối với từng loài lan nhất định.
- Rhizoctonia repens giúp nảy mầm ở Cattleya, Laelia, Angraecum, Paphiope dium
-Rhizoctonia mucoroides giúp nảy mầm ở Vanda, Phalaenopsis
- Rhizoctonia lanuginosa giúp nảy mầm ở Oncidium, Dendrobium,
Nghiên cứu nhân giống in vitro cây lan Thạch hộc (Dendrobium nibile Lindl.) sử dụng môi trường MS – 1962 cải tiến với pH 5,8, khử trùng bằng hơi ở 121 oC trong 18 phút Điều kiện nuôi cấy bao gồm nhiệt độ 25 oC, độ ẩm 65%, và cường độ chiếu sáng 2000 lux với thời gian chiếu sáng 16 giờ Kết quả cho thấy, mẫu lan được khử trùng bằng dung dịch NaCLO 1% trong 15 phút đạt tỷ lệ sống cao 86,33% Sau vô trùng, tỷ lệ tái sinh đạt 100% trong môi trường MS cải tiến Trong giai đoạn nhân nhanh, môi trường MS bổ sung BA 1mg/L cho hệ số nhân nhanh chồi đạt 6,13 lần sau 4 tuần Giai đoạn ra rễ sử dụng môi trường MS kết hợp NAA 0,5mg/L cho tỷ lệ ra rễ đạt 100%, với số rễ/chồi là 4,10 và chiều dài rễ đạt 4,13cm Giá thể ghép lan Thạch hộc là than củi, cho tỷ lệ sống 92,22%, phù hợp với điều kiện thoáng và giữ nước tốt.
Nghiên cứu về nhân giống bằng phương pháp giâm hom (keiki) của sinh viên Nguyễn Đức Thành tại trường Đại học Lâm Nghiệp, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Yến vào năm 2017, đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với chủ đề "Tìm hiểu kỹ thuật nhân giống và chăm sóc lan phi điệp tím (Dendrobium anomum lindl) tại khu vực Vĩnh Phúc" Nghiên cứu đã đưa ra những kết luận quan trọng về kỹ thuật nhân giống và quy trình chăm sóc loại lan này.
+ Công thức mỗi hom từ 3 -4 mắt ngủ cho kết quả keiki phát triển tốt hơn so với công thức mỗi hom 1 mắt ngủ
+ So sánh giữa hai phương pháp nhân giống:
*Phương pháp cắt mỗi hom một mắt ngủ: Ƣu điểm:
-Tỷ lệ mắt ngủ lên keiki cao
-Dễ bị nhiễm nấm, bệnh nếu không xử lý và quản lý tốt
-Cây còi hơn so với phương pháp cắt mỗi hom từ 3 -4 mắt ngủ
*Phương pháp mỗi hom từ 3 -4 mắt ngủ: Ƣu điểm:
-Hom khó bị nhiễm nấm, bệnh
-Keiki phát triển khỏe hơn so với phương pháp cắt mỗi hom một mắt ngủ
Nhược điểm: Tỷ lệ mắt ngủ lên không cao bằng phương pháp mỗi hom một mắt ngủ
1.2.2 Chi lan Hoàng thảo ( Dendrobium ) a, Phân loại chi lan Hoàng thảo
Chi lan Hoàng thảo (Dendrobium) là một trong những chi lan lớn nhất, chỉ đứng sau lan lọng, với hơn 1000 loài phân bố chủ yếu ở Đông Nam Á Đặc điểm nổi bật của lan Hoàng thảo là sự đa dạng về cấu tạo sinh học, hình thái và các dạng cây, hoa khác nhau Để thuận tiện cho nghiên cứu và trồng trọt, các nhà khoa học đã phân chia chi này thành 40 nhóm nhỏ, trong đó có nhiều nhóm tiêu biểu đáng chú ý.
Nhóm thứ nhất có đặc điểm là lá xanh quanh năm hoa thường mọc ờ gần ngọn có nhiều màu sắc sặc sỡ nhƣ: Dendrobium higihhum, Dencirohium phaiaenopsis
Nhóm thứ hai có đặc diểm là các giả hành buông thõng xuống, mang nhiều lá xanh hai bên, hoa mọc thành từng chùm hoặc từng hoa nhƣ:
Nhóm thứ ba có đặc điểm là hoa mọc ờ đỉnh, buông thõng xuống và có
Nhóm thứ tƣ có đặc điêm là chùm hoa mọc thăng đứng, màu xanh hoặc màu vàng nhƣ: Dendrobium atroviolaceum, Dendrobium spetabile
Nhóm thứ năm có đặc điểm là giả hành mọc thẳng đứng có một lớp lông bao phủ nhƣ: Dendrobium draconis, Dendrobiuni forniosum
Bên cạnh đỏ có thể căn cứ vào đặc điềm sinh trưởng và dạng thân, lan
Dendrobium đƣợc chia thành 2 nhóm chính:
Nhóm thân mềm đặc trưng bởi các giả hành buông lỏng hoặc rủ xuống, thường phát triển ở vùng khí hậu lạnh Các giống này chủ yếu được tìm thấy ở các cao nguyên của Việt Nam, Miến Điện và thường mọc ở độ cao trên 1000m.
Nhóm thân cứng: Mọc thẳng đứng thường ở vùng nóng hơn (Malaysia, Indonexia )
Nhóm Dendrobium trung gian, như Dendrobium priniulinum và Dendrobium farmiri, có khả năng sống ở cả vùng nóng và lạnh Để nuôi trồng lan Dendrobium thành công, ánh sáng là yếu tố quan trọng; cây cần được đặt ở nơi có nhiều ánh sáng, gần như có thể để ngoài trời, nhưng cần có lưới che để bảo vệ lá non khỏi bị cháy nắng Nếu cây có dấu hiệu quặt quẹo, đó là biểu hiện của việc thiếu ánh sáng, điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng ra hoa của cây.
Lan cần được nuôi trong nhiệt độ từ 8 - 25°C, tuy nhiên có thể chịu được nhiệt độ cao tới 38°C và thấp tới 3,3°C Vào mùa đông, nếu nhiệt độ dưới 15,6°C kéo dài 4-6 tuần, lan sẽ gặp khó khăn trong việc ra nụ Độ ẩm lý tưởng cho lan là từ 60 - 70%; nếu độ ẩm quá thấp, cây non sẽ không phát triển và có thể bị teo Ngoài ra, lan cũng cần không khí thoáng đãng; trong thời kỳ ra nụ, nếu không có gió, số lượng nụ sẽ giảm.
Giá thể cho lan rất quan trọng, mặc dù một số loài có thể sinh trưởng tốt mà không cần đến giá thể Tuy nhiên, việc sử dụng giá thể sẽ mang lại lợi ích lớn hơn cho sự phát triển của cây Giá thể thường được làm từ các nguyên liệu dễ kiếm trong tự nhiên như vỏ thông, vỏ dừa và rêu Lựa chọn chất liệu giá thể phù hợp phụ thuộc vào điều kiện môi trường, loại lan và quy mô sản xuất.
Vào mùa hè, khi lan phát triển mạnh, cần tưới nước 2-3 lần mỗi tuần Sang mùa thu, khi cây ngừng tăng trưởng, chỉ cần tưới 1 lần mỗi tuần để tránh tình trạng thân cây bị teo lại Mùa đông là thời gian lan chuẩn bị ra hoa, vì vậy nên ngưng hoàn toàn việc tưới nước Nếu độ ẩm không đủ, có thể phun sương 1-2 lần mỗi tháng để duy trì độ ẩm cho cây.
1.2.3 Tìm hiểu kỹ thuật thay giá thể a Nhận biết thời điểm thay giá thể
Khi cây hoa lan bắt đầu bò ra khỏi chậu, chưa hẳn đã cần thay chậu ngay Việc thay chậu chỉ cần thực hiện khi chậu không còn đủ chỗ cho các giả hành mới và khi chất trồng không còn cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây Ngoài ra, nếu cây bị sâu bệnh hoặc rễ bị úng thối do độ ẩm kéo dài, cần thay giá thể càng sớm càng tốt Một số loại giá thể thường được sử dụng cho hoa lan bao gồm vỏ thông, than củi và xơ dừa.
Sơ dừa có nhược điểm như dễ mọc rêu, không thoáng khí, dễ mục và mặt trên nhanh khô, khiến cây dễ bị đổ Do đó, khi sử dụng sơ dừa, cần chú ý đến chế độ tưới để tránh tình trạng ngậm nước gây thối rễ Hơn nữa, tất cả các loại sơ dừa đều chứa nhiều muối, nên cần ngâm trong nước vài ngày và xả sạch trước khi trồng.
Vỏ cây là một trong những lựa chọn phổ biến để trồng lan, nhưng cần chọn loại vỏ cây lâu mục để tránh tình trạng bí chậu và đọng nước, gây thối rễ Bên cạnh đó, vỏ cây cũng dễ bị sâu bệnh, vì vậy cần thường xuyên kiểm tra tình trạng vỏ để thay chậu kịp thời Trong số các loại vỏ cây, vỏ thông được coi là tốt nhất nhờ chứa resin có tính sát khuẩn cao, lâu mục, không tạo rêu và ít bị bệnh hại.
Dớn, là thân và rễ của cây dương xỉ, có khả năng hút ẩm rất tốt nhưng không nên trồng riêng vì sẽ làm giảm độ thoáng cho chậu lan Cần tránh sử dụng dớn quá vụn, vì điều này có thể dẫn đến tình trạng rễ mục, gây bí và không thoát nước hiệu quả trong chậu lan.
Rêu là một yếu tố quan trọng trong việc trồng lan, nhưng không nên sử dụng loại rêu bản xứ hoặc Canada có màu nâu đen hoặc nâu xanh do phẩm chất kém và chứa nhiều chất gây yếu cây Thay vào đó, nên chọn rêu nhập khẩu từ New Zealand hoặc Brasil có màu vàng rơm, vì chúng có tác dụng chống nấm mốc hiệu quả Khi trồng, cần tránh nén rêu quá chặt để giữ độ ẩm, và rêu rất thích hợp để trồng lan trên cành cây và gỗ Đặc biệt, do rêu giữ nhiều muối, nên cần xả nước thường xuyên hoặc ngâm trong nước vài tháng một lần để duy trì sức khỏe cho cây lan.
MỤC TIÊU - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP
Mục tiêu
- Góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc nuôi trồng và chăm sóc cây Lan Trầm Tím (Dendrobium Nestor) nuôi cấy mô
- Xác định ảnh hưởng của giá thể đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây Lan Trầm tím nuôi cấy mô.
Đối tƣợng, địa điểm và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Cây lan Trầm tím tên khoa học Dendrobium
+ Chăm sóc cây lan con nuôi cấy mô
+ Nghiên cứu với khả năng sinh trưởng của Lan Trầm tím khi sử dụng
- Địa điểm nghiên cứu: Vườn ươm trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam.
Nội dung nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
- Kỹ thuật ra lan trầm tím nuôi cấy mô
- Kỹ thuật chăm sóc lan trầm tím nuôi cấy mô
- Ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng và phát triển của cây lan trầm tím nuôi cấy mô.
Vật liệu thí nghiệm
Các vật liệu nghiên cứu cần thiết gồm:
- Nhà lưới, khay trồng, sơ dừa, dớn, sô, chậu, rổ, giàn khung, bình tưới…
- Thuốc điều hòa sinh trưởng atonik, thuốc diệt nấm physan, vôi bột,…
- Lan cần thay giá thể.
Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp kế thừa tài liệu có chọn lọc
Phương pháp này bao gồm việc thu thập và kế thừa các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, sau đó tiến hành phân tích các tài liệu cần thiết để phục vụ cho việc lập báo cáo.
Các tài liệu kế thừa bao gồm:
1 Khóa luận của sinh viên khóa trước
2 Bài giảng, sách báo và các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu
- Tham khảo ý kiến của các nhà vườn và thầy cô có kinh nghiệm trong lĩnh vực trồng nhân giống hoa lan
- Tìm kiếm những cơ sở nuôi cấy mô có uy tín
2.5.3 Phương pháp ngoại nghiệp Đây là bước cần thiết để thu thập số liệu một cách khoa học đồng thời đảm bảo đƣợc tính chính xác cần có công tác chuẩn bị:
- Thí nghiệm: đánh giá được sự ảnh hưởng của giá thể tới sự sinh trưởng và phát triển tác giả tiến hành trồng theo 2 loại giá thể sau:
Bảng 01: Đánh giá chất lƣợng cây lan con đầu vào
Số lá trên số cây
Chiều dài GH/số cây
Chiều dài GHTB (cm) Đường kính GH (mm/cây) Đường kính GHTB (mm)
- Cây lan trầm tím đƣợc chia số lƣợng ra làm 2 với chất lƣợng cây bằng nhau sau đó trồng vào 2 loại giá thể thí nghiệm
- Theo dõi quá trình thay đổi nhiệt độ trong suốt quá trình thí nghiệm
Lấy kết quả số liệu độ ẩm, nhiệt độ tại 3 thời điểm là 8 giờ sáng, 13 giờ trƣa,
17 giờ chiều Nhiệt độ, độ ẩm đƣợc tính TB hàng ngày
Bảng 02 Theo dõi nhiệt độ, độ ẩm trong thời gian gieo ƣơm
Tại thời điểm 17h chiều Nhiệt độ TB (0C) Độ ẩm Nhiệt TB độ Độ ẩm
- Theo dõi kết quả, diễn biến thí nghiệm đánh giá tỷ lệ sống của cây Kết quả ghi vào bảng sau:
Bảng 03: Ảnh hưởng của giá thể tới tỷ lệ sống của cây lan
Tổng số cây con thí nghiệm
Ngày thứ Ngày thứ Ngày thứ Ngày thứ
- Đánh giá ảnh hưởng của giá thể tới khả năng ra rễ Kết quả ghi vào bảng sau:
Bảng 04: Xác định tỷ lệ ra rễ của các GTTN
Tỷ lệ ra rễ sau các ngày thí nghiệm
Số lƣợng cây ra rễ
Số lƣợng cây ra rễ
Qua quá trình theo dõi và làm thí nghiệm về đánh giá tình hinh phát triển của bộ rễ mới số liệu đƣợc thu thập vào các bảng 05 và 06:
Bảng 05: Đánh giá sự sinh trưởng bộ rễ mới
GTTN Độ dài rễ (cm)
Số cây Độ dài rễ TB
Bảng 06: Đánh giá số lƣợng bộ rễ mới
Số lƣợng rễ Số cây Số lƣợng rễ TB
- Đánh giá ảnh hưởng của giá thể tới sự sinh trưởng của giả hành mới qua thời gian
Bảng 07: Xác định tỷ lệ mọc giả hành (GH) mới của các GTTN
Tỷ lệ mọc giả hành sau các ngày thí nghiệm
Số lƣợng cây mọc GH
Số lƣợng cây mọc GH
Số lƣợng cây mọc GH
- Sau thời gian thí nghiệm cần đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến chất lượng giả hành cũ và giả hành mới mọc qua bảng
Bảng 08: Đánh giá kết quả chất lƣợng của giả hành (GH) cũ
GH (mm) Số cây Đường kính
Chiều dài GH dài nhất (cm)
Bảng 09: Đánh giá kết quả chất lƣợng của giả hành (GH) mới mọc
Số lƣợng cây Đường kính
GH (mm) Số cây Đường kính
GH (cm/cây) Số cây
- Chất lƣợng lá của giả hành cũ sau thí nghiệm đƣợc ghi vào bảng sau:
Bảng 10: Đánh giá chất lƣợng lá của giả hành (GH) cũ
GTTN Số cây chƣa thắt ngọn
GH cũ và số cây
Chiều dài lá và số cây
Chiều dài lá TB (cm)
Chiều rộng lá và số cây
Số lá Số cây Chiều dài (cm)
- Chất lƣợng lá của giả hành mới sau thí nghiệm đƣợc ghi vào bảng sau:
Bảng 11: Đánh giá chất lƣợng lá của giả hành (GH) mới
GH mới và số cây
Chiều dài lá và số cây
Chiều dài lá TB (cm)
Chiều rộng lá và số cây
Số lá Số cây Chiều dài
Tình trạng sức khỏe, sâu, bệnh hại của 2 GTTN đƣợc đánh giá vào bảng sau:
Bảng 12: Đánh giá tình sâu bệnh hại của cây Lan trầm tím
GTTN Sâu Bệnh Lá GH cũ Lá GH mới GH cũ GH mới
ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Điều kiện tự nhiên của khu vực thị trấn Xuân Mai
Trường Đại Học Lâm Nghiệp tọa lạc tại Thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội Xuân Mai được thành lập từ xã Thủy Xuân Tiên theo quyết định 53/QĐ – HĐTB ngày 27/3/1984 của Hội đồng Bộ trưởng, với tổng diện tích 1051,88 ha.
Thị trấn Xuân Mai có tọa độ địa lý 28 o 58 ’ vĩ độ Bắc, 205 o 05’ kinh độ Đông Nằm trân điểm giao nhau giữa Quốc lộ 6 và Quốc lộ 21A nay là đường
Hồ Chí Minh, nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội 33km về phía Tây, là một trong năm đô thị thuộc chuỗi đô thị vệ tinh của Hà Nội Vị trí địa lý của Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển đô thị và kết nối với các khu vực lân cận.
- Phía Tâu giáp Trị trấn Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Phía Bắc giáp với xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, Hà Nội
- Phía Đông giáp với xã Thủy Xuân Tiên, Chương Mỹ
- Phía Nam giáp với xã Thủy Xuân Tiên, Chương Mỹ
3.1.2 Địa hình Địa hình khu vực thị trấn Xuân Mai là địa hình đồng bằng bán sơn địa, vùng gò đời phía tây, có địa hình đồi núi thấp
Khu vực là nơi chuyển giao giữa trung du và đồng bằng
3.1.3 Địa chất, đất đai Đây là nơi tập trung các núi đá vôi, chủ yếu là đồi núi thấp xen lẫn thung lũng Đất trong khu vực hầu hết là đát feralit nâu vàng phát triển trên đá mẹ Foofiarit
Thị trấn Xuân Mai nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, với mùa đông khô lạnh Đặc điểm địa hình của khu vực này cũng tạo ra những ảnh hưởng nhất định đến khí hậu.
Vùng gò đồi có độ cao trung bình từ 15-50m, chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa và gió Lào, với nhiệt độ trung bình là 23,5°C Tháng 01 là tháng lạnh nhất với nhiệt độ 16,5°C, trong khi tháng 07 có nhiệt độ cao nhất đạt 28,5°C Nhiệt độ trong năm có xu hướng tăng từ tháng 01 đến tháng 07 và giảm từ tháng 08 đến tháng 12.
Báng 3.1 Thống kê nhiệt độ, độ ẩm trong khu vực nghiên cứu
Tháng Nhiệt độ trung bình
( O C) Độ ẩm không khí trung bình (%)
- Lƣợng mƣa trung bình 2.300 – 2.400 mm
- Số giờ nắng trung bình trong năm1.399 giờ
- Nguồn nước đây là nơi có nguồn nước mặt và nước ngầm khá dồi dào.
3.1.5 Điều kiện kinh tế xã hội
Thị trấn Xuân Mai hiện có 5.148 hộ với 27.312 nhân khẩu, bao gồm nhiều tầng lớp như bộ đội, sinh viên, cán bộ, nông dân và dân buôn bán Trong đó, thành phần dân tộc chủ yếu là công nhân viên chức với thu nhập tương đối ổn định, trong khi thu nhập của người nông dân vẫn còn thấp.
Khu vực này đang chứng kiến sự hoàn thiện của mạng lưới giao thông, cùng với việc mở rộng hạ tầng kỹ thuật, kinh tế và xã hội Đầu tư và quản lý các dịch vụ giao thông, bưu chính, khu sinh thái, hệ thống bệnh viện, cây xanh và điện chiếu sáng đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trấn.
Trên địa bàn có 34 cơ quan, đơn vị trường học và 105 công ty, bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân Khu vực này có thị trường buôn bán giao lưu giữa các tỉnh phía Tây Bắc, tạo ra sự cạnh tranh trong phát triển kinh tế, thương mại, dịch vụ, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Nền kinh tế đang chuyển mình từ nông nghiệp sang công nghiệp, với sự hình thành ngày càng nhiều cụm công nghiệp, dịch vụ và du lịch.
3.1.6 Giới thiệu sơ bộ về địa điểm nghiên cứu tại trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam
Khu vực nghiên cứu nằm tại vườn ươm của Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, tọa lạc trên quốc lộ 21, gần cổng chính của trường và tiếp giáp với nhà truyền thống cùng Bộ Lâm Nghiệp.
Khu vực vườn ươm rộng gần 1000m², bao gồm nhà kính và khu sản xuất, với địa hình bằng phẳng và độ dốc dưới 5% giúp thoát nước mưa hiệu quả, tránh tình trạng ngập úng Độ pH của đất trong khu vực này dao động từ 5,5 đến 5,6, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng.
Khu nghiên cứu sở hữu đa dạng loài cây, bao gồm cả cây tầng cao và cây tầng thấp như hoa sữa, cau vua, nhãn, và cọ, với tỷ lệ che nắng đạt tới 60%, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhân giống cây trồng.
- Nước được sử dụng cho vườn ươm được lấy từ nhà máy nước sạch của trường
- Hệ thống đường chính rộng khoảng 1,2m thuận lượ cho việc di chuyển theo dõi và chăm sóc cây trong vườn.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kỹ thuật ra lan nuôi cấy mô
4.1.1 Vật liệu sử dụng ra cây lan con nuôi cấy mô
Cây lan nuôi cấy mô mang lại giống cây chất lượng tốt và ổn định, với khả năng sinh trưởng nhanh và ít bị sâu bệnh, đặc biệt là bệnh siêu vi trùng Giống cây này có độ đồng đều cao, giữ nguyên các đặc tính sinh học và kinh tế của cây mẹ, đồng thời có hệ số nhân giống cao, phù hợp cho sản xuất đại trà.
Yêu cầu về vườn ươm và vật liệu :
Nhà lưới được che lưới đen phía trên cho 60 -70% ánh nắng đi qua và lưới che ngang quanh vườn
Trước khi ươm trồng, cần chuẩn bị giá thể gồm sơ dừa và dớn trắng, đây là những vật liệu chuyên dụng cho việc trồng lan con Các dụng cụ cần thiết bao gồm cây lan nuôi cấy mô giống, bình tưới mini để phun sương, chậu và rổ nhựa có lỗ nhỏ, thuốc điều hòa sinh trưởng Atonik, thuốc diệt nấm Physan, khung đỡ và khay ươm trồng.
Giá thể sơ dừa và dớn cần được phơi khô trước khi ngâm trong nước Quá trình ngâm nên sử dụng nước có chứa thuốc diệt nấm hoặc nước vôi nông nghiệp và kéo dài khoảng 1 ngày để đảm bảo hiệu quả.
Hình 4.2: Giá thể dớn mềm và sơ dừa chưa được sử lý
4.1.2 Kỹ thuật ra lan nuôi cấy mô:
Theo nghiên cứu và thực nghiệm của tác giả, kỹ thuật trồng cây hoa Lan Trầm Tím (Dendrobium Nestor) trong nuôi cấy mô được chia thành ba giai đoạn chính.
Giai đoạn 1 trong quá trình huấn luyện cây con là giúp chúng thích nghi với môi trường mới Cần nuôi cấy mô bình lan trong vườn ươm từ 2 đến 3 ngày để cây có thời gian làm quen với điều kiện sống mới.
Hình 4.3: Bình lan nuôi cấy mô
Sau khi cây trong bình đã thích nghi với môi trường mới, hãy mở nắp chai và để cây trong khoảng 4 – 8 giờ trước khi đưa ra ngoài Trong giai đoạn này, cần đặt bình ở nơi thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp để ngăn chặn tình trạng cây bị sốc đột ngột.
Khi cây lan trong bình đã thích nghi với môi trường vườn ươm, chúng ta tiến hành ra lan Trước khi ra lan, cần chuẩn bị chậu lớn chứa đầy nước sạch để rửa cây Sử dụng kẹp nhẹ nhàng gắp cây lan từ bình ra chậu rửa Sau khi đã chuyển toàn bộ cây lan từ bình sang chậu, chúng ta tiến hành rửa cây lan.
Hình 4.4: Thao tác rửa, xếp lan nuôi cấy mô
Trong quá trình rửa lan, cần chú ý tránh làm dập nát cây Lan con Hãy rửa sạch chất thạch bám ở bộ rễ và không để lan ngâm trong nước quá lâu để tránh tình trạng úng nước Ngoài ra, có thể ngâm lan trong dung dịch thuốc điều hoà sinh trưởng Atonik để hỗ trợ sự phát triển của cây.
Để giúp cây lan thích nghi với môi trường, cần đặt cây ở nơi thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp Trong giai đoạn này, cây rất nhạy cảm với nước mưa, vì vậy cần che chắn cẩn thận nhưng vẫn đảm bảo đủ ánh sáng Tiếp tục duy trì điều kiện này từ 3 đến 7 ngày, mỗi ngày phun sương 2-3 lần để giữ ẩm Giai đoạn này rất quan trọng để cây hồi phục sau khi ra lan, tránh tình trạng úng rễ có thể dẫn đến chết cây.
*Giai đoạn 3: Tiến hành trồng cây Lan trầm tím con vào giá thể
Lan Trầm tím là loài lan ƣa chật hẹp vì vậy cần bó chặt bộ rễ và trồng vào khay hoặc chậu nhỏ
Hình 4.6: Cây lan trầm tím được bó giá thể
Khi thực hiện thao tác bó giá thể, cần nhẹ nhàng để tránh làm gãy hoặc tổn thương bộ rễ Trong quá trình trồng, không nên cầm vào thân cây lan để tránh gãy cây giữa phần bó giá thể và thân Thay vào đó, hãy cầm vào phần giá thể đã được bó để dễ dàng thao tác trồng vào khay hoặc chậu.
Sau khi ổn định vị trí của Lan với giá thể trong khay hoặc chậu thì ta tiến hành bước vào giai đoạn chăm sóc cây.
Kỹ thuật chăm sóc lan trầm tím
4.2.1 Kỹ thuật chăm sóc cây Lan trầm tím nuôi cấy mô
4.2.1.1 Yêu cầu về chế độ tưới
Trong hai tuần đầu sau khi chuyển cây lan con nuôi cấy mô ra vườn ươm, không nên bón phân Chỉ cần tưới nước cho lan hai lần mỗi ngày để đảm bảo cây phát triển tốt.
* Lưu ý: Chỉ phun sương cho ướt lá và giá thể, không nên phun sau 4 giờ chiều
4.2.1.2 Yêu cầu về phân bón cho cây lan con Đối với phân bón nên phun phân vào buổi sáng
Sau khi ra lan đƣợc 3 tuần thì phun Vitamin B1 với nồng độ 1ml/lít nước (2 lần/tuần) Atonik 10ml/20l nước
Hình 4.7: Thuốc kích thíc ra rễ, sinh trưởng
Từ tuần thứ 4 trở đi, bạn có thể sử dụng phân cá cao cấp Fish Emulsion với liều lượng 5-10ml cho 8 lít nước, phun định kỳ 7 ngày một lần Đồng thời, sử dụng phân bón lá Grow More với tỷ lệ 10ml cho 10 lít nước và phun mỗi 10 ngày một lần để đảm bảo cây phát triển khỏe mạnh.
– Vitamin B1 dùng 0.5 – 1ml/lít nước
Hình 4.8: Phân bón cho cây lan
Sau khi thực hiện phun và bón các loại phân cho cây lan, cây sẽ có sự sinh trưởng và phát triển tốt hơn Điều này giúp tăng cường khả năng tạo giả hành mới, đặc biệt là ở giống GTTN2, với mức độ mạnh mẽ đáng kể.
Trong quá trình thí nghiệm, 68 trên 89 cây lan trầm tím được trồng trong mùa sinh trưởng mới, cho thấy sự cần thiết của phân bón để rút ngắn thời gian phát triển Trong giai đoạn này, cây cần lượng dinh dưỡng và nước tưới cao hơn Nếu không cung cấp đủ phân bón, giá trị cây có thể giảm đáng kể, kéo dài thời gian trưởng thành và làm giảm giá trị kinh tế.
4.2.1.3 Những bệnh thường gặp trên lan
Trồng lan Trầm tím bệnh thường gặp là nhện đỏ, rầy, rệp, bọ trĩ hay cũng có khí bị nấm, thối nhũn
Phòng trừ sâu bệnh là yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ kinh tế và nâng cao giá trị sản phẩm cho nhà vườn Tác giả đã áp dụng một số loại thuốc phòng trừ bệnh để thực hiện thí nghiệm nhằm đạt hiệu quả tốt nhất.
Thực hiện phun phòng sau 15 ngày lan đƣợc ra Sử dụng luân phiên các loại thuốc khác nhau 7 ngày 1 lần
Hình 4.9: Thuốcphòng, trừ nấm bệnh cho lan
Sử dụng thuốc phòng trừ sâu bệnh với liều lượng tối thiểu theo khuyến cáo và phun vào buổi chiều tối là biện pháp hiệu quả Đồng thời, có thể bắt thử sâu và ốc sên gây hại để kiểm soát tình hình.
4.2.1.5 Nguyên nhân gây sâu, bệnh và biện pháp phòng trừ
- Bệnh thối nâu vi khuẩn (thối nhũn)
Triệu chứng của bệnh bao gồm vết bệnh màu nâu nhạt, hình tròn và mọng nước, sau đó chuyển sang màu nâu đen Bệnh ảnh hưởng đến cả lá, thân và mầm, gây thối rữa cho các bộ phận này, kèm theo mùi hôi khó chịu.
Nguyên nhân: Do vi khuẩn Erwinia carotovora gây ra
Để phòng trừ bệnh cho cây, cần cắt bỏ phần thối và ngâm cây vào dung dịch thuốc Natriphene hoặc Physan 20 với tỷ lệ 1:2000, hoặc dùng vôi bôi lên vết cắt, đồng thời ngừng tưới nước trong 1-2 ngày Những cây có dấu hiệu bệnh cần được loại bỏ Đối với cây lan trầm tím, nếu bệnh chỉ mới xuất hiện ở lá và được chữa trị kịp thời, tỷ lệ sống sót rất cao Tuy nhiên, nếu bệnh bắt đầu từ gốc hoặc giả hành, khả năng sống sót gần như bằng không.
Hình 4.10: Bệnh do vi khuẩn Erwinia carotovora gây ra
- Bệnh thối mềm vi khuẩn
Triệu chứng của bệnh trên cây phong lan bao gồm vết bệnh có hình dạng bất định, ủng nước và màu trắng đục, thường lan rộng theo chiều ngang của lá Trong điều kiện ẩm ướt, mô bệnh sẽ bị thối úng, còn trong thời tiết khô hanh, mô bệnh sẽ khô tóp và chuyển sang màu trắng xám.
Nguyên nhân: Do vi khuẩn Pseudomonas Gladioli gây ra
Biện pháp phòng trừ: cắt bỏ phần bị thối, dùng các loại kháng sinh nhƣ Streptomycin dạng bột dùng cho nông nghiệp bôi vào vết cắt
Bệnh thường xuất hiện ở lá phát hiện bệnh sớm tỷ lệ sống sót khá cao
Hình 4.11: Bệnh do vi khuẩn Pseudomonas Gladioli gây ra
Nhện đỏ thường xuất hiện ở mặt dưới của lá cây lan và sinh sôi nhanh chóng, gây hại cho lá bằng cách chích hút dịch bào, tạo ra các đốm li ti màu nâu Khi bị nhiễm nặng, lá lan sẽ xuất hiện sợi tơ, dẫn đến hiện tượng vàng lá, khô héo và rụng.
Cách phòng trừ: Dùng thuốc hoá học Methylated Spirit, Kelthane 1 thìa cà phê/1L nước, Malathion 30g/20L nước phun liên tục l – 2 lần/tuần
Cây sau khi bị bệnh nhện đỏ được phun thuốc thường phát triển chậm, tỷ lệ sống cao
Ốc sên là loài gây hại cho cây trồng, đặc biệt là các chậu phong lan Dendrobium, khi chúng ăn các đọt lá và đầu rễ non Chúng thường ẩn nấp trong rễ của cây và chỉ xuất hiện vào ban đêm để ăn lá, gây tổn thương cho cây Những vết thương này tạo điều kiện cho bệnh tật xâm nhập, làm suy yếu sức khỏe của cây trồng.
Hình 4.12: Ốc sên có vỏ
Để phòng trừ ốc sên hiệu quả, cần làm cỏ trong và xung quanh vườn lan, nơi ốc sên thường trú ngụ Nếu mật số ốc sên thấp, có thể bắt bằng tay và tiêu hủy ổ trứng khi phát hiện Khi mật số ốc sên cao, nên sử dụng thuốc trừ ốc, như honeycin, vào buổi chiều mát Do ốc sên sinh sản nhanh chóng, sau mỗi cơn mưa cần kiểm tra vườn và nếu thấy ốc sên xuất hiện lại, phải tiếp tục rải thuốc.
Ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng và phát triển của cây lan trầm tím
4.3.1 Diễn biến thời tiết trong quá trình đánh giá sinh trưởng và phát triển cây Lan trầm tím
Thời tiết, với các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng, đóng vai trò quan trọng trong sự sống và phát triển của cây lan con Trong quá trình ươm trồng cây lan nuôi cấy mô, tác giả đã theo dõi nhiệt độ và độ ẩm không khí vào ba thời điểm: 8 giờ sáng, 13 giờ trưa và 17 giờ chiều Kết quả thu được được tính trung bình hàng ngày và được tổng hợp thành các bảng biểu.
Biểu đồ 4.1: Diễn biến nhiệt độ và độ ẩm trong thời gian thí nghiệm
Biểu đồ nhiệt độ, độ ẩm qua thời gian
Nhiệt độ TB Độ ẩm TB
Biểu đồ 4.1 cho thấy nhiệt độ trung bình đang tăng dần theo thời gian, phản ánh sự biến đổi theo mùa ở miền Bắc Tuy nhiên, từ 20/03/2018 đến 24/03/2018, thời tiết bất ổn với sự thay đổi liên tục về nhiệt độ và độ ẩm đã ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sống của cây lan Đặc biệt, từ 06/04/2018 đến 09/04/2018, một đợt không khí lạnh đã giảm nhiệt độ từ 4-6°C, khiến độ ẩm trung bình giảm xuống còn 44% vào ngày 08/04/2018.
Hình 4.13: Nhiệt ẩm kế cơ học phục vụ công tác
4.3.2 Chất lƣợng cây lan trầm tím con đầu vào
Chất lượng cây lan con đóng vai trò quyết định trong sự sinh trưởng, phát triển và khả năng thích nghi của cây Lan trầm tím ở các giai đoạn tiếp theo Do đó, tác giả đã tiến hành tổng hợp chất lượng đầu vào của cây Lan Trầm tím, tạo cơ sở khoa học để so sánh cho các giai đoạn tiếp theo Kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày cụ thể trong bài viết.
Số lƣợng giả hành/cây phần lớn bằng 1, 2 -3 giả hành/cây chiếm tỷ lệ rất thấp
Bảng 4.1: Bảng tổng hợp chất lƣợng cây Lan con đầu vào
Số lá trên số cây (lá)
Chiều dài Giả hành (cm/số cây)
Chiều dài GHTB (cm) Đường kính
GH (mm/cây) Đường kính GHTB (mm)
4lá/123 cây 3cm/120 cây 3mm/107
- Cây lan trầm tím được phân thành 2 phần với chất lượng cây tương đối cân bằng nhau sau đó trồng vào 2 loại giá thể thí nghiệm:
Hình 4.14: Cây lan mới trồng
4.3.3 Ảnh hưởng của giá thể tới tỷ lệ sống của cây lan trầm tím Để đánh giá được ảnh hưởng của giá thể tới sự sinh trưởng của cây lan trầm tím nuôi cấy mô tại 2 thí nghiệm với 2 loại giá thể là Dớn trắng (GTTN1) và Xơ dừa (GTTN2) ở các điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, ánh sang giống nhau
Để chăm sóc cây lan con hiệu quả, cần theo dõi thường xuyên để loại bỏ những cây bị bệnh hoặc chết, đồng thời phun thuốc phòng ngừa nấm và bệnh Việc loại bỏ sâu và ốc sên gây hại cũng rất quan trọng Kết quả thống kê số cây lan sống được ghi nhận như sau:
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của giá thể tới tỷ lệ sống của cây lan
Tổng số cây con thí nghiệm
Từ số liệu bảng 4.2 ta có nhận xét nhƣ sau:
GTTN1 cho thấy sự ổn định hơn về tỷ lệ cây lan chết theo thời gian so với GTTN2 Nguyên nhân chính là do GTTN1 có khả năng giữ nước tốt hơn, giúp cây không bị mất nước và duy trì sức sống sau khi sản sinh giả hành mới.
GTTN2 có khả năng giữ nước kém, kết hợp với mùa nghỉ của cây lan trầm, dẫn đến quá trình thắt ngọn để dự trữ chất dinh dưỡng Khi cây chưa thích nghi kịp thời để dự trữ chất dinh dưỡng, tình trạng chết cây gia tăng từ ngày 31/03/2018 đến 08/04/2018 Tuy nhiên, sau khi cây thắt ngọn, quá trình mọc giả hành bắt đầu, giúp tỷ lệ cây chết giảm dần.
GTTN1 và GTTN2 có tỷ lệ sống đến ngày thứ 56 giống nhau, nhưng GTTN2 cho thấy sự phát triển vượt trội hơn Cây trong GTTN2 có khả năng sống sót cao hơn, với nguy cơ chết ở cây yếu giảm đáng kể so với GTTN1.
4.3.4 Ảnh hưởng của giá thể tới khả năng ra rễ của cây lan trầm tím
Trong quá trình hình thành và phát triển bộ rễ của cây lan trầm tím nuôi cấy mô, yếu tố giá thể đóng vai trò quan trọng trong việc giữ nước và dinh dưỡng, từ đó quyết định khả năng ra rễ của cây.
Cuối đợt thí nghiệm, các chỉ tiêu về số lượng cây ra rễ, chiều dài rễ và số rễ trên mỗi cây được thu thập Cụ thể, số lượng cây ra rễ và số rễ được xác định thông qua phương pháp quan sát và đếm, trong khi chiều dài rễ được đo bằng thước kẻ có chia độ tới mm.
Bảng 4.3 Xác định tỷ lệ ra rễ của các GTTN
Tỷ lệ ra rễ sau các ngày thí nghiệm
Số lƣợng cây ra rễ
Số lƣợng cây ra rễ
Hình 4.16: Độ dài rễ của 2 GTTN
Nhận xét từ bảng 4.3 cho thấy, tại thời điểm ngày thứ 56 của thí nghiệm trên hai loại giá thể, số lượng cây ra rễ là bằng nhau, dẫn đến tỷ lệ sống của cây cũng tương đương cho đến ngày này.
Qua quá trình theo dõi và làm thí nghiệm về đánh giá tình hinh phát triển của bộ rễ mới số liệu đƣợc thu thập vào bảng sau:
Bảng 4.4: Đánh giá sự sinh trưởng bộ rễ mới
GTTN Độ dài rễ (cm) Số cây Độ dài rễ TB
Bảng 4.5: Đánh giá số lƣợng bộ rễ mới
GTTN Số lƣợng rễ Số cây
Theo bảng 4.4 và 4.5, chúng ta có thể kết luận rằng GTTN1 có số lượng cây với bộ rễ dài 3cm là cao nhất, đạt 3/43, trong khi có 6 cây có bộ rễ dài 4cm Ngược lại, GTTN2 có số lượng cây với bộ rễ dài 2cm nhiều nhất, đạt 2/45, nhưng không có cây nào đạt mức rễ 4cm Chỉ số ra rễ của GTTN1 cao hơn GTTN2 với sự chênh lệch là 0,09.
GTTN1 phát triển rễ mới trên GH cũ, dẫn đến sự phát triển nhanh hơn so với GTTN2 Trong khi đó, GTTN2 chỉ bắt đầu phát triển rễ cây lan mới.
GH non mới mọc GTTN2 so với cây trồng ở GTTN1 thì rễ phát triển muộn hơn
- Kết Luận chung: Độ dài rễ TB của GTTN1 dài hơn so với GTTN2 4,1mm Số lƣợng rễ
TB của GTTN1 nhiều hơn so với GTTN2 là 0,62 rễ/cây Chỉ số ra rễ ở GTTN1 lớn hơn GTTN2 là 0,102
Từ những số liệu trên cho thấy GTTN1 khả năng ra rễ tốt hơn GTTN2
4.3.5 Ảnh hưởng của giá thể tới sự sinh trưởng giả hành của cây lan trầm tím
Nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình thắt ngọn và ngừng sinh trưởng ở giả hành cây lan, đặc biệt vào cuối đông đầu xuân, khi các loài lan hoàng thảo bắt đầu dụng lá và thắt ngọn, đánh dấu sự kết thúc chu kỳ sống của một giả hành Sau giai đoạn này, cây sẽ tiến tới ra hoa, trái, mọc keiki và phát triển giả hành mới Những giả hành chưa đạt độ trưởng thành vẫn trải qua quá trình dụng lá và thắt ngọn, tiếp tục sinh trưởng bằng cách mọc giả hành mới Kết quả thí nghiệm đã được theo dõi và thống kê qua các bảng, biểu.
Bảng 4.6: Xác định tỷ lệ mọc giả hành (GH) mới của các GTTN
Tỷ lệ mọc giả hành sau các ngày thí nghiệm
Số lƣợng cây mọc GH 0 2
Số lƣợng cây mọc GH 5 8
Số lƣợng cây mọc GH 10 12
Số lƣợng cây mọc GH 18 18
Số lƣợng cây mọc GH 25 42
Số lƣợng cây mọc GH 35 56
Số lƣợng cây mọc GH 40 65
Số lƣợng cây mọc GH 44 68
Từ bảng 4.6 ta rút ra kết luận nhƣ sau:
Từ ngày 31/03/2018, GTTN1 chỉ xuất hiện 5 cây mọc giả hành mới, chậm hơn so với GTTN2 Tuy nhiên, từ ngày 14/04/2018 đến 26/04/2018, GTTN1 đã có giai đoạn ra giả hành mới nhiều nhất.
Từ 18 – 40 cây mọc giả hành mới trong vòng 18 ngày, sấp sỉ 1,22 GH mọc đƣợc