sáng và phân bón đến sinh trưởng của cây Nhội Bischofia javanica Blume 8 tháng tuổi trong giai đoạn vườn ươm” nhằm củng cố kiến thức cho bản thân, khảo nghiệm thực tế cũng như hiểu biết
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN VÀ NỘI THẤT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ÁNH SÁNG VÀ PHÂN BÓN
8 THÁNG TUỔI TRONG GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM
Trang 2sáng và phân bón đến sinh trưởng của cây Nhội ( Bischofia javanica Blume) 8 tháng
tuổi trong giai đoạn vườn ươm” nhằm củng cố kiến thức cho bản thân, khảo nghiệm thực tế cũng như hiểu biết hơn về sự ảnh hưởng của phân bón và cường độ ánh sánh đến cây Nhội trong giai đoạn vườn ươm
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu khóa luận, bản thân đã có rất nhiều cố gắng, tuy nhiên không tránh được những thiếu sót do trình độ bản thân cũng như thời gian có hạn Vì vậy rất mong nhận được những ý kiến góp ý, bổ sung của các thầy cô và các bạn để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn và có kết quả cao
Qua đây tôi xin được gửi lời cảm ơn đến trường Đại học Lâm nghiệp đã tạo điều kiện để tôi có cơ hội làm quen với đề tài khóa luận sát với chuyên ngành thực
tế, gửi lời cảm ơn trân thành sâu sắc đến cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Yến người đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành bài khóa luận này Bên cạnh đó, cũng không thể quên được sự quan tâm, khích lệ, động viên từ phía gia đình, những người đi trước
và bạn bè xung quanh đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa luận của bản thân đúng thời hạn và đúng quy định
Tôi xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 11 tháng 05 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Tuấn Thị Kim Thoa
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH ẢNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1.Giới thiệu về đối tượng nghiên cứu và một số đặc điểm sinh học của cây Nhội 2
1.1.1.Đặc điểm hình thái: 3
1.1.2 Sinh học 3
1.1.3.Đặc điểm sinh thái 3
1.1.4 Phân bố địa lý 4
1.1.5 Giá trị 4
1.1.6 Khả năng kinh doanh, bảo tồn 5
1.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng phân bón 6
1.2.1 Ở trên thế giới 6
1.2.2 Ở Việt Nam 7
1.3.Ảnh hưởng của ánh sáng đối với cây xanh 10
1.3.1.Ở trên thế giới 10
1.3.2.Ở Việt Nam 12
1.4 Giới thiệu loại phân bón nghiên cứu: phân chồng hoai mục và phân đầu trâu xanh 15
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 17
2.1.1 Mục tiêu tổng quát: 17
2.1.2 Mục tiêu cụ thể: 17
2.2 Đối tượng, phạm vi, địa điểm nghiên cứu 17
2.2.1Đối tượng nghiên cứu 17
Trang 42.2.2 Phạm vi nghiên cứu 17
2.3 Nội dung nghiên cứu: 17
2.4 Phương pháp nghiên cứu 17
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu có chọn lọc 17
2.4.2 Phương pháp chuyên gia 18
2.4.3 Phương pháp ngoại nghiệp 18
2.4.4 Phương pháp nội nghiệp 22
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 25
3.1 Vị trí địa lý 25
3.1.1 Thành phố Hà Nội 25
3.1.2 Huyện Chương Mỹ 25
3.2 Điều kiện tự nhiên 25
3.2.1.Địa hình 25
3.2.2 Khí hậu 25
3.2.3 Sông ngòi 26
3.3 Tài nguyên 26
3.3.1 Đất đai 26
3.3.2 Sinh vật 26
3.3.3 Khoáng sản 27
3.4 Giao thông 27
3.5 Điều kiện kinh tế xã hội 27
3.5.1 Dân số 27
3.5.2 Kinh tế 27
3.5.3 Văn hóa – xã hội 28
3.6 Giới thiệu sơ bộ địa điểm nghiên cứu tại trường Đại học Lâm nghiệp 29
3.6.1 Vị trí, ranh giới, diện tích 29
3.6.2 Giới thiệu về vườn ươm Bộ môn Lâm nghiệp Đô Thị 30
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
Trang 54.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ phân bón đến cây trong giai đoạn vườn
ươm 31
4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng đến tình hình sinh trưởng của cây 35
Chương 5 KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KHUYẾN NGHỊ 39
5.1.Kết luận 39
5.2.Tồn tại 39
5.3.Kiến nghị 40 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp chiều cao vút ngọn của ảnh hưởng phân bón đến cây Nhội 20Bảng 2.2: Bảng tổng hợp đường kính cổ rễ của ảnh hưởng phân bón đến cây Nhội 20Bảng 2.3: Bảng tổng hợp số liệu phân cành ảnh hưởng phân bón đến cây Nhội 20Bảng 2.4: Bảng số liệu tình hình sinh trưởng của ảnh hưởng ánh sáng đến chiều cao vút ngọn và đường kính cổ rễ đến cây Nhội 22Bảng 2.5: Bảng thống kê bảng ANOVA 24Bảng 4.1: Bảng tổng hợp ảnh hưởng phân bón của chiều cao vút ngọn đến cây Nhội 31Bảng 4.2: Bảng tổng hợp ảnh hưởng phân bón của đường kính cổ rễ đến cây Nhội 33Bảng 4.3: Bảng tổng hợp số liệu ảnh hưởng phân bón của phân cành đến cây Nhội 35Bảng 4.4: Bảng số liệu tình hình sinh trưởng của ảnh hưởng ánh sáng đến chiều cao vút ngọn và đường kính cổ rễ đến cây Nhội 36
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Hình thân cây, lá và quả của cây Nhội 2
Hình 1.2: Hình cây Nhội trồng tạo cảnh quan ở vỉa hè đường phố 5
Hình 1.3: Bao bì phân bón đầu trâu NPK 13-13-13+TE 16
Hình 2.1: Cây chia thành từng khu công thức 18
Hình 2.2: Hình bình tưới nước, tưới phân; lưới che sáng 50%, 80% 18
Hình 2.3: Hình ảnh nước phân chuồng hoai mục và phân đầu trâu xanh 13-13-13+TE, phân chuồng hoai mục 19
Hình 2.4: Tiến hành che lưới ánh sáng 50%, 80% cho công thức thí nghiệm 21
Hình 4.1: Biểu đồ ảnh hưởng của các loại phân bón khác nhau đến chiều cao trung bình cây Nhội 31
Hình 4.2: Hình ảnh các CTTN về chiều cao vút ngọn sau ba tháng theo dõi 32
Hình 4.3: Biểu đồ ảnh hưởng của các loại phân bón khác nhau đến đường kính cổ rễ trung bình cây Nhội 33
Hình 4.4: Hình ảnh các CTTN về đường kính cổ rễ sau 3 tháng theo dõi 34
Hình 4.5: Biểu đồ ảnh hưởng ánh sáng đến chiều cao vút ngọn trung bình cây Nhội 36
Hình 4.6: Biểu đồ ảnh hưởng của ánh sáng đến đường kính cổ rễ trung bình cây Nhội 37
Hình 4.7: Hình ảnh về chiều cao vút ngọn và đường kính cổ rễ của các CTTN sau 2 tháng theo dõi về ánh sáng 38
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây Nhội – Bischofia javanica Blume là một loại cây gỗ lớn, có thân thẳng,
tán tròn, xanh quanh năm, có giá trị cả về kinh tế, xã hội môi trường, phân bố rộng
ở Ấn Độ, Đông Nam á Ở Việt Nam có thể gặp cây mọc tự nhiên ở các tỉnh trung du
và miền núi Cây Nhội là một trong số cây đang trong quá trình nghiên cứu để đưa vào sử dụng rộng rãi trong không gian cảnh quan đô thị như công viên, trường học, biệt thự, khu nghỉ dưỡng, khu đô thị,… mang lại giá trị tinh thần không nhỏ cho cuộc sống con người Hiện nay cây Nhội đang được sử dụng làm cây bóng mát ở các con đường, khu đô thị, ví dụ: các con đường hà nội có một số lượng cây Nhội không nhỏ được trồng từ thời pháp thuộc đến nay, khu đô thị Ecopark, khu đô thị
Mễ Trì…
Năng lượng ánh sáng mặt trời là 1 yếu tố rất có ý nghĩa trong sự sinh trưởng
và phát triển của cây trồng Chất lượng, cường độ, và thời gian chiếu sáng là các thông số quan trọng Ánh sáng trong ngày quang mây là 1 chỉ thị hữu dụng của lượng năng lượng mặt trời cung cấp cho các quá trình sinh lý bên trong cây trồng Những sự thay đổi ánh sáng gây ra do che bóng có thể tạo ra ảnh hưởng đáng kể đến sự sinh trưởng của cây trồng
Phân bón có ý nghĩa rất quan trọng đến đời sống thực vật nói chung và cây Nhội nói riêng Nó không những có tác dụng làm cho cây sinh trưởng nhanh mà còn là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển cơ thể thực vật
Tuy nhiên loài này có ứng dụng, có giá trị cao, có nhiều ưu điểm vượt trội nhưng trên thực tế chưa có nhiều tài liệu tìm hiểu chi tiết về ảnh hưởng ánh sáng và bón phân cho cây trong giai đoạn vườn ươm của loài cây Nhội này Vì vậy tôi tiến
hành thực nghiệm với đề tài: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng và phân bón
đến sinh trưởng của cây nhội (Bischofia javanica Blume) 8 tháng tuổi trong giai
đoạn vườn ươm”
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.Giới thiệu về đối tượng nghiên cứu và một số đặc điểm sinh học của cây Nhội
Tên phổ thông: Nhội
Tên khoa học: Bischofia Javanica Blume
Tên khác: Nhội tía, lội, bích hợp, quả cơm nguội, sô trang, loi tia, thu phong,
Trang 11Hoa đơn tính khác gốc Hoa tự hình xim viên chùy ở nách lá Đài hoa 5 cánh, xếp kịp; nhị hoa 5 vòi; triền hoa không rõ.Hoa cái có bầu trên, 3 ô; mỗi ô 2 noãn
Quả hình cầu, đường kính 7-12mm, khi chín màu nâu đen dạng quả hạch sau
1.1.3.Đặc điểm sinh thái
- Yêu cầu nhiệt độ:
+ Cây ưa khí hậu mát mẻ, có khả năng chịu rét hơn chịu nóng
+ Nhiệt độ thích hợp nhất cho cây sinh trưởng phát triển từ 17- 250C, nhiệt
độ thích hợp để nảy mầm từ 20-250C
+ Nhiệt độ dưới 100C hoặc trên 300C sẽ làm cho số lượng hoa giảm, khả năng đậu quả thấp hơn, cây dễ bị tấn công bởi sâu bệnh hại đặc biệt là cây con
-Yêu cầu về độ ẩm:
+ Cây có khả năng chịu hạn trung bình, chịu úng kém
+ Độ ẩm đất thích hợp cho cây từ 70-80% và độ ẩm không khí từ 65-75% -Yêu cầu ánh sáng:
+ Là loài cây ưa sáng, khi nhỏ chịu bóng Cây có thể chịu được cường độ ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp
Trang 12+ Khi được tiếp nhận nhiều ánh sáng, lá cây sẽ có màu xanh lục đậm, phiến
lá dày, quả nhanh già và chín Trong trường hợp thiếu sáng, lá cây cây có màu xanh vàng, lá dễ bị xoăn hoặc khong mở rộng phiến lá
-Yêu cầu đất:
+ Đối với các loại cây gỗ nói chung và cây Nhội nói riêng Loài đất thích hợp chúng có thể trồng trên nhiều loại khác nhau như: đất màu, đất đỏ bazan, đất đồi, feralit,… Nhìn chung, cây Nhội có thể sinh trưởng và phát triển tốt nhất trên loại đất feralit vàng hoặc đỏ vàng, nơi có lượng mưa hàng năm từ 1500-2000mm
-Yêu cầu dinh dưỡng:
+ Trong giai đoạn cây con phát triển cần bón phân định kỳ để cung cấp đủ dinh dưỡng cần thiết cho cây con có thể phát triển tốt hơn
+ Trong giai đoạn cây trưởng thành, bón phân NPK cho cây phát triển để cải thiển thành phần dinh dưỡng có trong thành phần chất đất(6)
- Cây được trồng chủ yếu để lấy gỗ: Gỗ cây Nhội có màu đỏ nhạt, rất cứng
và chắc chắn dùng để làm cột nhà, chày giã gạo, ván sàn, đóng thuyền, làm trụ mỏ… Tuy nhiên loại gỗ này thường bị sâu bọ ăn, tấn công nên chỉ được coi loại gỗ hồng sắc, độ bền gỗ không quá 20 năm
- Trước đây ít thấy dùng lá để làm thuốc Nhưng hiện nay, người ta bắt đầu
sử dụng lá làm thuốc Lá có thể hái quanh năm, nhưng để lá có chất lương tốt nhất thì nên hái lá vào lúc cây đang ra hoa Quả Nhội có thể ăn được, chim cũng rất ưa thích loại quả này
- Lá Nhội non được sử dụng làm rau khi ăn các món dân tộc như gỏi cá, nem chua,…
- Ngoài ra, lá Nhội còn có tác dụng rất mạnh đối vối trùng roi (Trichomonas vaginalis) nó được áp dụng để điều trị thí nghiện bệnh iarchayr của khỉ do ly trực
Trang 13trùng, cho kết quả khỏi tới 88% trên người, lá cũng được dùng để chữa trị bệnh khí
hu do trùng roi, cho kết quả rất tốt Độc tính rất thấp
- Cây được trồng để làm cảnh, thường được trồng ven đường phố lấy bóng mát
- Lá Nhội sử dụng giải độc, tiêu sưng thủng Lá được dùng trị viêm gan do virus, trẻ em cam tích, trị viêm phổi, khí hư, bạch đới
- Rễ và vỏ được dùng trị phong thấp, đau nhức xương khớp
- Ngoài ra, một số nơi còn dùng lá non thái nhỏ, rửa kỹ để xào và nấu canh (6)
Hình 1.2: Hình cây Nhội trồng tạo cảnh quan ở vỉa hè đường phố
1.1.6 Khả năng kinh doanh, bảo tồn
Là loài cây cho gỗ thích hợp với nhiều loại công việc, khá phổ biến lại mọc nhanh cần được nghiên cứu phát triển(1)
Trang 141.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng phân bón
1.2.1 Ở trên thế giới
Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX thuyết Mùn do Thaer (1873) đề xuất cho từng cây hấp thụ mùn để sống Đến thế kỷ XIX nhà hoá học người Đức Liibig (1840) đã xây dựng thuyết chất khoáng Liibig cho rằng độ màu mỡ của đất là do muối khoáng trong đất Ông nhấn mạnh rằng việc bón phân hoá học cho cây sẽ làm tămg năng suất cây trồng Năm 1963,Kinur và Chiber khẳng định việc bón phân vào đất cho từng thời kỳ khác nhau là khác nhau(14)
Cũng năm đó, Turbittki đã đưa ra quan điểm: “Các biện pháp bón phân sẽ được hoàn thiện một cách đúng đắn theo sự hiểu biết sâu sắc về nhu cầu dinh dưỡng của cây, loại đất và phân bón”(14)
Vào năm 1964 ông Prianitnikov đưa ra quan điểm: phân bón là nguồn dinh dưỡng
bổ sung cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, đối với từng loài cây, từng tuổi cây cần có những nghiên cứu cụ thể tránh lãng phí phân bón không cần thiết Việc bón phân thiếu hoặc thừa đều dẫn đến biểu hiện về chất lượng cây kém đi ,sinh trưởng chậm(2)
Năm 1974, Polster, Fidler và Lir cũng đã kết luận: sinh trưởng của cây thân
gỗ phụ thuộc vào sự hút các nhân tố khoáng từ trong đất trong suốt quá trình sinh trưởng Nhu cầu dinh dưỡng của mỗi cây thân gỗ qua các thời kỳ khác nhau là khác nhau…(14)
Theo Thomas (1985), chất lượng cây con có mối quan hệ logic với tình trạng chất khoáng Nitơ và phốt pho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây con Tình trạng dinh dưỡng của cây con thể hiện rõ qua màu sắc của
lá Phân tích thành phần hóa học của mô là một cách duy nhất để đo lường mức độ thiếu hụt dinh dưỡng của cây con(14)
Trong những năm gần đây, nhiều nước trên thế giới như: Mỹ, Anh, Nhật, Trung Quốc… đã sử dụng nhiều chế phẩm phân bón qua lá có tác dụng làm tăng năng suất phẩm chất nông sản, không làm ô nhiễm môi trường như: Atonik, Yogen…(Nhật Bản), Cheer, Organic…(Thái Lan),Bloom Plus, Solu Spray, Spray – NGrow…(Hoa Kỳ), Đặc đa thu, Đặc Phong, Diệp lục tố… (Trung Quốc) Nhiều chế phẩm đã được khảo nghiệm và cho phép sử dụng trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam(14)
Trang 15Theo Prianitnikov (1964) phân bón là nguồn dinh dưỡng bổ sung cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, đối với từng loài cây cần nghiên cứu cụ thể để tránh sự lãng phí phân bón không cần thiết(2)
Polster, Fidler, Lir (1974) đã có kết luận sinh trưởng của cây thân gỗ phụ thuộc vào sự hút các nguyên tố khoáng từ đất Trong suốt quá trình sinh trưởng sự hút đó thuộc vào độ dự trữ và mức độ dễ tan của chúng trong đất(2)
Theo Jurbitxki (1963) cho rằng các biện pháp sử dụng phân bón sẽ được hoàn thiện một cách đúng đắn theo sự hiểu biết sâu sắc nhu cầu của cây, đặc điểm của đất và phân bón
Theo Peterburgeskii (1964) chỉ rõ các nhà nông hóa nghiên cứu dinh dưỡng của cây và tác động của phân bón trong mối quan hệ với các dinh dưỡng của đất Ông cho rằng 3 vấn đề lớn chiếm vị trí trung tâm của nông hóa là dinh dưỡng, độ phì của đất và việc sử dụng phân bón(2)
Giáo sư Ratnet cho rằng để nhận được sản lượng theo dự kiến trong việc sử dụng định hướng và tiết kiệm hơn nguồn phân bón Một mặt nhằm thỏa mãn nhu cầu thay đổi của cây về dinh dưỡng trong các giai đoạn sinh trưởng khác nhau của chúng Mặt khác phải sử dụng hợp lý độ phì tự nhiên của đất(2)
Lodinski, Zipi, 1975 cho biết trong các thí nghiệm dinh dưỡng trên các đất cát có bón P, K hoặc N, P, K thì 1/3 lượng nitơ cây hút được là thuộc về phân bón
và 2/3 thuộc về nitơ Cây đã sử dụng ¼ lượng nitơ bón vào Tuy nhiên, cây chỉ đồng hóa được chất dinh dưỡng nằm trong đất hoặc đưa vào đất cùng phân bón trong dạng hợp chất dễ tan (MiKhailov, Kniper, 1971)(2)
Viện sĩ Prianiskov ( theo Jurbitxki, 1963) đã nhấn mạnh việc sử dụng phân bón có thể chỉ trong sự phối hợp rất sâu sắc các phân bón với hóa học đất và sinh lí thực vật(2)
1.2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của thực vật đã được nghiên cứu từ rất lâu
Trong sách “ Nghề lâm sinh “ đã đưa ra tỷ lệ phân bón và thành phần ruột
bầu của một số cây lâm nghiệp như: Bạch đàn, Thông, Keo, Mỡ, Phi lao Trong
sách “ Kỹ thuật trồng một số loài cây rừng” Vụ Khoa học công nghệ, Bộ Lâm
Trang 16nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 1994 đã xác định được tỷ lệ phân bón thích hợp cho một số loài cây như: Mít, Dầu rái, Sến Mật,…(2)
Trương Thị Thảo với đề tài “ Nghiên cứu ảnh hưởng của dinh dưỡng N, P, K đến chất lượng cây ươm thông nhựa ( Pinus merkusi)” đã đưa ra kết luận: bón phân
khoáng tỷ lệ N: P: K là 40:80:40 kg/ ha hoặc có thể là 40:80:0 kg/ ha thích hợp với cây ươm Thông nhựa 1 năm tuổi (với đất có thành phần lý hóa tính phù hợp)(2)
Nguyễn Minh Đường, 1986 khi nghiên cứu chế độ phân bón cho một số loài
đã kết luận: cây sử dụng chất dinh dưỡng, nước trong đất thông qua hệ rễ, mức độ yêu cầu về số lượng, chủng loại không giống nhau mà phụ thuộc vào loài cây và thời kỳ sinh trưởng(2)
Theo Lê Văn Khoa và cộng sự (1996), cây trồng hút dinh dưỡng trong phân chuồng hữu cơ chậm hơn phân khoáng Nhưng nếu chỉ nhìn trước mắt thì thấy phân khoáng tham gia vào năng suất cây trồng nhiều hơn còn phân chuồng thì cung cấp chất dinh dưỡng cho cây và cung cấp trong thời gian dài,tổng số chất dinh dưỡng
mà phân chuồng cung cấp cho cây trồng là rất lớn(2)
Công trình nghiên cứu của Hoàng Công Dũng (1996) thử nghiệm về bón lót
các loại phân hữu cơ và vô cơ với các tỷ lệ khác nhau cho cây Bần chua (Sonneratia caseolaris (L.) Engler) ở giai đoạn vườn ươm: 1 – 2 – 4- 6% tính theo khối lượng
Bần chua và sử dụng công thức đối chứng là toàn đất để so sánh Công trình đã rút
ra kết luận sau: ở các công thức ruột bầu có tỷ lệ lân 2 – 4% và công thức có 1-2% phân bón cây sinh trưởng tốt nhất về cả chiều cao, đường kính cũng như sinh khối của cây(2)
Phạm Thị Quyên, 2003 đã Nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức phân bón đến sinh trưởng rừng Luồng ( Dendrocalamus membranaceus Munro),
đưa ra biện pháp có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển của rừng Luồng
Nguyễn Đức Thịnh (1997) với đề tài thạc sĩ khoa học “ Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ che bóng, thành phần ruột bầu của cây Xoan mộc (Toona sureni (Bl.) Merr) trong giai đoạn vườn ươm ở Đak Lak” đã đửaa được công thức thành
phần ruột bầu thích hợp nhất cho loài cây này là:87% đất + 7% phân chuồng + 3% NPK(2)
Nguyễn Bích Thủy (2006) với công trình nghiên cứu về các loại hỗn hợp ruột bầu ươm cây Dó trầm Đã rút ra kết luận: cây Dó trầm sinh trưởng tốt nhất ở
Trang 17công thức ruột bầu gồm đất – phân bò hoai – xơ dừa tương ứng với tỷ lệ 1:1:2 và bổ sung 4% lân, 1% kali(2)
Đề tài khóa luận của Đào Thị Thắm (2011) Trường Đại học Hồng Đức về:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón NPK (3-6-1) đến sinh trưởng của Lát hoa (Chukrasia tabularis A Juss) giai đoạn 1-3 tháng tuổi tại vườn ươm cơ sở 3 trường Đại học Hồng Đức” Ở tất cả các công thức có sử dụng NPK(3-6-1), các chỉ tiêu về
sinh trưởng Hvn, D0, Ll ở các lần thu thập số liệu củacây con Lát hoa đều sinh trưởng theo thời gian và ở các công thức bón phâncao hơn công thức đối chứng(14)
Tạp chí Khoa học lâm nghiệp 2/2014 (3288-3292), Phạm Duy Long (Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng), Luyện Thị Minh Hiếu (Cao đẳng Nông nghiệp và
PTNT Bắc bộ) đã thảo luận về vấn đề: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của rừng trồng Keo Lai (Acacia mangium × Acacia auriculiformis) tại Công Ty Lâm Nghiệp Tam Thanh - Phú Thọ” đã đưa ra kết luận nghiên cứu về ảnh
hưởng của phân bón tới sinh trưởng và năng suất của rừng trồng 3 dòng keo lai BV10, BV16 và BV32 tại Công ty Lâm nghiệp Tam Thanh - Phú Thọ cho thấy, công thức đối chứng (không bón phân) có tỷ lệ sống cao nhất cả ở tuổi 1 và tuổi 4 với tỉ lệ sống tương ứng là 92,6% và 90,6% Trong khi đó tỷ lệ sống ở các công thức bón lót phân NPK (10 : 5 : 5) chỉ đạt từ 82,6% đến 90,6% Điều này là do các công thức bón lót phân NPK với liều lượng cao đã làm cho rễ cây bị sót và chết nhiều hơn Khả năng sinh trưởng của keo lai ở công thức bón lót 100g NPK + 400g
vi sinh sông Gianh và công thức bón 500g vi sinh sông Gianh có ảnh hưởng tốt nhất đến sinh trưởng đường kính tại tuổi 4 với đường kính của keo lai đạt trung bình 10,82cm Công thức bón 300g NPK và công thức bón lót 100g NPK + 400g vi sinh sông Gianh có ảnh hưởng tốt nhất đối với sinh trưởng chiều cao tại tuổi 4 với chiều cao trung bình của keo lai đạt 11,52m Xét về năng suất thực tại tuổi 4, công thức bón 100gNPK + 400g vi sinh sông Gianh và công thức bón 500g vi sinh sông Gianh
có năng suất cao nhất, đều đạt trên 18,9m3/ha/năm, cao hơn từ 22 - 29% so với đối chứng không bón(5)
Nguyễn Huy Sơn (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), Nguyễn Văn Tiến
(Cục Kiểm Lâm),2013 nghiên cứu về” Ảnh hưởng của phân bón và ánh sáng đến sinh trưởng của cây Re gừng (Cinnamomum obtusifolium) trong giai đoạn vườn ươm” đã kết luận: Bón thúc phân cho cây con trong giai đoạn vườn ươm có ảnh
Trang 18hưởng khá rõ đến tỷ lệ sống cũng như khả năng sinh trưởng cả đường kính gốc (D00) và chiều cao (H) của cây con Re gừng, cây con được bón thúc bằng cách tưới phân NPK (tỷ lệ 5:10:3) với nồng độ 5% (100g NPK hoà tan trong 2 lít nước) có tỷ
lệ sống và khả năng sinh trưởng tốt hơn tưới nước phân chuồng ngâm và không bón thúc (Đối chứng)(8)
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp của Phùng Thị Chung, 2011, Bộ môn Lâm
sinh, khoa Lâm học, trường Đại học Lâm Nghiệp về : “ Nghiên cứu ảnh hưởng của cường độ ánh sáng và phân bón đến sinh trưởng của một số cây gỗ đô thị ở giai đoạn vươn ươm” đã đưa ra kết luận sau: qua các thí nghiệm ta thấy việc bón phân
ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây Công thức 1,5% N5P10K3 tốt nhất cho sinh trưởng và phát triển của cây Sấu và Lát hoa(2)
1.3.Ảnh hưởng của ánh sáng đối với cây xanh
1.3.1.Ở trên thế giới
Ánh sáng là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống của thực vật Nó ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống của thực vật, từ khi hạt nảy mầm, sinh trưởng, phát triển cho đến khi cây ra hoa kết quả rồi chết
Theo Kimmins (1988) khi bị che bóng thì hệ số có lá (sản lượng thuần/ đơn
vị khối lượng lá (kg) hoặc sản lượng thuần/ diện tích lá sẽ giảm vì rằng khối lượng
lá hoặc diện tích lá không quang hợp được sẽ tăng lên (2)
Tại Ấn Độ Nandi R.P, và Chaterjee S.K (1992) đã tìm hiểu của chế độ che
bóng tạm thời của các loài Crotaladia algroidees, Tephorosia cadida và Indigofera tinctoria đến sinh trưởng và sản lượng Cankina ( Cinchonaspp) Kết quả nghiên cứu được so sánh với sinh trưởng Cankia được che bóng dài ngày bằng các loài cây như Alnus nepalensis, Mallotus philippinensis, Alanries Motana và Leucaena leucocaphana và so sánh đối chứng ( không che bóng) Tốt nhất được ghi nhận ở loài Alnus nepalensis và ở cự ly hàng cây che bóng 24x24 feet tốt hơn cự ly 12 x 12 feet (cự ly Cankina là 4 x4 feet)(2)
Sasaki và Mori (1981) đã đánh giá khả năng chịu bóng của một số loài
như: Shorea talura, S ovalis, Hopea helferei và Vatica odorata Kết quả cho thấy
sinh trưởng của cây con bị ức chế khi cường độ ánh sáng cao hơn 50%(7)
Bài báo” Ảnh hưởng của Irradiance và chất lượng quang phổ đối với sự phát triển của cây con ở hai loài Hopea Đông Nam Á” của David W Lee, Steven F
Trang 19Oberbauer, Baskaran Krishnapilay, Marzalina Mansor, Haris Mohamad và Kheong Yap, khoa học, Vol 110, số 1 (1997), trang 1 -2 đã nói lên: Các phản ứng phát triển của cây con đến lớp bóng che khuyết điểm kết hợp các hiệu ứng của sự giảm chiếu
xạ và sự thay đổi chất lượng quang phổ Chúng tôi đã nghiên cứu sự phát triển cây
con của cây dipterocarp ở Đông Nam Á để đáp ứng sự khác biệt về độ bức xạ (mật
độ thông lượng photon quang hợp, PPFD) và chất lượng quang phổ (tỷ lệ đỏ đến đỏ,
R: FR) Hai loài này, Hopea helferei và H odorata, có liên hệ chặt chẽ về phân loại nhưng khác nhau về các yêu cầu sinh thái của chúng; H helferei chịu được nhiều
hạn hán và thường phát triển trong môi trường sống mở Cây giống được trồng trong 6 phương pháp xử lý khác nhau với bóng mát khác nhau về tỷ lệ phần trăm năng lượng mặt trời PPFD và R: FR Hai loài khác nhau về ảnh hưởng của các biến đổi nhẹ đối với hầu hết các nhân vật cây con, đặc biệt đối với chiều cao cuối cùng, khoảng cách giữa thân cây, thân cây / thân cây, chiều dài thân / diện tích lá / chiều dài thân cây, chiều dài phôi, và tăng trưởng / mol của các photon nhận được Hầu hết các nhân vật trong cả hai taxa đều bị ảnh hưởng chủ yếu bởi PPFD, nhưng chất
lượng phổ cũng ảnh hưởng đến một số nhân vật - nhiều hơn đối với H odorata Các
loài sau phát triển nhanh hơn, đặc biệt trong điều trị PPFD thấp, và lá của nó có khả
năng tỷ lệ quang hợp cao hơn Tuy nhiên, sự tăng trưởng của H helferei không
giảm khi ánh nắng trực tiếp Sự tăng trưởng của taxon này có thể bị hạn chế bởi sự thích ứng, đặc biệt là ở lá, đối với khả năng chịu hạn và lá của nó có khả năng tỷ lệ
quang hợp cao hơn Tuy nhiên, sự tăng trưởng của H helferei không giảm khi ánh
nắng trực tiếp Sự tăng trưởng của taxon này có thể bị hạn chế bởi sự thích ứng, đặc biệt là ở lá, đối với khả năng chịu hạn và lá của nó có khả năng tỷ lệ quang hợp cao
hơn Tuy nhiên, sự tăng trưởng của H helferei không giảm khi ánh nắng trực tiếp
Sự tăng trưởng của taxon này có thể bị hạn chế bởi sự thích ứng, đặc biệt là ở lá, đối với khả năng chịu hạn(13)
Đối với từng loài cây nhu cầu về ánh sáng trong từng giai đoạn có khác nhau cần
có nghiên cứu cụ thể Theo George Baur: việc trù tính sao cho có bóng râm thích hợp thường là điều căn bản đến sản xuất cây con để trồng rừng cho thỏa đáng và có thể xác định độ che râm cần thiết bằng thí nghiệm hoặc bằng cách mò mẫm thăm dò(2)
Trang 201.3.2.Ở Việt Nam
Ánh sáng là một trong những nhân tố sinh tồn đối với sinh trưởng và phát triển của thực vật Ánh sáng không những có tác dụng trực tiếp đến quang hợp mà còn có tác dụng đến quá trình thoát hơi nước, quá trình hô hấp Vì thế, ánh sáng có ảnh hưởng nhiều mặt đến toàn bộ đời sống của thực vật từ khi hạt nảy mầm, cây ra hoa kết quả cho đến khi chết Tuy nhiên, các loài cây khác nhau có tính thích ứng sinh thái khác nhau đối với điều kiện chiếu sáng (Denslow 1980, Popma và Bongers 1988), ngoài ra nhu cầu ánh sáng cũng phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của thực vật (Lâm Xuân Sanh, 1965)
Nghiên cứu nhu cầu ánh sáng của cây rừng đã được nhiều nhà Lâm học chú
ý Trên cơ sở những nghiên cứu đó, ta có thể đoán trước được nhu cầu ánh sáng của cây rừng trong điều kiện tái sinh tự nhiên hoặc đưa ra những biện pháp lâm sinh thích hợp trong kinh doanh rừng Năm 1966 Nguyễn Hữu Thước và các cộng sự đã nghiên cứu nhu cầu ánh sáng của cây Lim, với mức che sáng 50% sinh trưởng về chiều cao, đường kính và tổng lượng hữu cơ cho kết quả tốt nhất Với những nghiên cứu tương tự, Lâm Công Định (1964)đã khuyến cáo ở mức độ 75% cường độ ánh sáng là điều kiện tốt nhất cho sinh trưởng của mỡ trong giai đoạn 100 – 110 ngày tuổi Đối với cây Hồi (Illicium verum Hook), cấu tạo giải phẫu của lá, hoạt động trao đổi nước và sự tích luỹ diệp lục cũng như N P K trong lá thay đổi dưới các điều kiện chiếu sáng khác nhau Tỷ lệ che sáng 60% là phù hợp nhất cho sinh trưởng của cây trong giai đoạn vườn ươm, (Nguyễn Ngọc Tân, 1989)(5)
Tùy từng loài cây, từng giai đoạn mà thực vật có những nhu cầu về ánh sáng khác nhau Theo Đình Xuân Lý (1993) tỷ lệ che bóng cho cây con vườn ươm đối với loài cây Cẩm lai phải được che 75% ánh sáng trực xạ Giai đoạn vườn ươm của cây họ đậu nói chung và cây Cẩm lai nói riêng cần được che bóng hợp lý sinh trưởng chiều cao, đường kính dưới tỷ lệ che bóng khác nhau của loài cây này đã có sự khác biệt rõ rệt(2)
Nghiên cứu về chế độ che bóng cho một số loài cây khác đã có nhiều tác giả
đề cập đen như : TS Nguyễn Hữu Thước (1962) nghiên cứu chế độ che bóng cho
hai loài Xà cừ (khaya senegalensis ) và cây Mỡ ( Manglietia glauca); ThS Nguyễn Đức Định (1997) nghiên cứu chế độ che bóng cho loài Xoan mộc (Toona sureni
(Bl.) Merr);ThS Nguyễn Thị Mừng (1997) nghiên cứu chế độ che bóng cho cây
Cẩm lai (Dalbegia bariaensis Diere); sinh viên Nguyễn Văn Thuấn (1999) nghiên
Trang 21cứu tỷ lệ che bóng cho cây Quế (Cinamomum cassia Blum); sinh viên Vũ Thị Minh
Điệp (2001)đã nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che bóng đến sinh trưởng của Re
hương (Cinamomum iners Rienw)… Các tác giả đều có kết luận chung :” Đối với
các loài cây trên nói chung giai đoạn còn non ở vườn ươm cần che bóng hợp lý Nhu cầu ánh sáng hay tỷ lệ che bóng các loài qua các giai doạn sinh trưởng khác nhau”
Hà Thị Hiền, 2008 “Ảnh hưởng của mức độ che sáng đến sinh trưởng của
Dẻ đỏ giai đoạn vườn ươm” Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp Hà Nội, số 4 kết luận
là: Che sáng có tác dụng làm giảm nhiệt độ, tăng ẩm độ không khí và đất, tùy theo mức độ che sáng khác nhau mà nhiệt độ không khí dưới giàn che giảm, ẩm độ không khí tăng, nhiệt độ đất giảm Mức độ che sáng khác nhau có ảnh hưởng đến tỷ
lệ sống của Máu chó lá to từ 0 – 4 tháng tuổi Che sáng để cây chỉ nhận được dưới 7,85% cường độ ánh sáng thì tỷ lệ sống đạt trên 82,2% Ánh sáng nhận được tăng lên 29,5% thì tỷ lệ sống giảm mạnh chỉ còn dưới 50% và không che sáng thì còn 5,6% Mức độ che sáng khác nhau cũng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng đường kính, chiều cao của cây Máu chó lá to từ 0 – 2 tháng tuổi cần được che bóng cao để cường độ ánh sáng cây nhận được 7,85% cho sinh trưởng đường kính gốc và chiều cao tốt nhất Đến giai đoạn tiếp theo từ 3 – 4 tháng tuổi thì cây cần lượng ánh sáng nhiều hơn, mức ánh sáng cây nhận được 23,96% cường độ ánh sáng thì cho sinh trưởng đường kính gốc, chiều cao tốt nhất và tổng trọng lượng khô trung bình/cây đạt mức cao nhất(4)
Nguyễn Thị Dương, Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp vùng Trung tâm Bắc Bộ; Đặng Thịnh Triều, Viện Nghiên cứu Lâm sinh; Nguyễn Anh Dũng, Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp vùng Trung tâm Bắc Bộ; Lương Thế Dũng, Trung tâm
Nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ “ Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến tỷ lệ sống
và sinh trưởng của cây Máu chó lá to (Knema pierrei Warb)” Tạp chí khoa học lâm
nghiệp – số 4(2014) đã kết luận là: Che sáng có tác dụng làm giảm nhiệt độ, tăng
ẩm độ không khí và đất Nhiệt độ, độ ẩm không khí, và nhiệt độ đất dưới dàn che phụ thuộc lớn vào dàn che Mức độ che sáng khác nhau có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của Máu chó lá to từ 0 – 4 tháng tuổi Che sáng để cây chỉ nhận được dưới 7,85% cường độ ánh sáng thì tỷ lệ sống đạt trên 82,2% Ánh sáng nhận được tăng lên 29,5% thì tỷ lệ sống giảm mạnh chỉ còn dưới 50% và không che sáng thì còn 5,6%
Trang 22Mức độ che sáng khác nhau cũng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng đường kính, chiều cao của cây Máu chó lá to từ 0 – 2 tháng tuổi cần được che bóng cao để cường độ ánh sáng cây nhận được 7,85% cho sinh trưởng đường kính gốc và chiều cao tốt nhất Đến giai đoạn tiếp theo từ 3 – 4 tháng tuổi thì cây cần lượng ánh sáng nhiều hơn, mức ánh sáng cây nhận được 23,96% cường độ ánh sáng thì cho sinh trưởng đường kính gốc, chiều cao tốt nhất và tổng trọng lượng khô trung bình/cây đạt mức cao nhất(3)
Đặng Thịnh Triều, 2003 “Ảnh hưởng của chế độ ánh sáng tới sinh trưởng của cây con Vạng trứng (Endospermum chinense Benth) trong giai đoạn vườn ươm”, Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, Hà Nội, số 4 đã đưa ra kết luận cây con Vạng
trứng cần được che sáng trong giai đoạn vườn ươm Trên cơ sở của thí nghiệm, lần nữa khẳng định che sáng ở mức độ thích hợp sẽ giúp sinh trưởng của Vạng trứng tốt hơn Chiều cao và tổng trọng lượng khô của cây con đạt cao nhất tại mức che 20% cường độ ánh sáng(7)
Nguyễn Huy Sơn (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), Nguyễn Văn Tiến
(Cục Kiểm Lâm),2013 nghiên cứu về” Ảnh hưởng cuả phân bón và ánh sáng đến sinh trưởng của cây Re gừng (Cinnamomum obtusifolium) trong giai đoạn vườn ươm” đã kết luận: Trong 2 tháng đầu cây con Re gừng thích hợp ở tỷ lệ che sáng
50%, nhưng sau đó thích hợp với tỷ lệ che sáng 25% Với chế độ bón thúc và che sáng như đã trình bày ở trên, sau từ 6-9 tháng kể từ khi gieo hạt, đường kính gốc cây con Re gừng có thể đạt từ 0,5-0,85cm và chiều cao có thể đạt từ 35-69cm, tuỳ theo thời
vụ ở từng địa phương cũng như phương thức trồng có thể nuôi cây trong vườn ươm từ
6-9 tháng(8)
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp của Phùng Thị Chung, 201, Bộ môn Lâm sinh,
khoa Lâm học, trường Đại học Lâm Nghiệp về :” Nghiên cứu ảnh hưởng của cường
độ ánh sáng và phân bón đến sinh trưởng của một số cây gỗ đô thị ở giai đoạn vươn ươm” đã đưa ra kết luận sau: cường độ ánh sáng khác nhau có ảnh hưởng rõ
rệt đến sinh trưởng của cây Sấu, cây Lát hoa giai đoạn vườn ươm, để cây con sinh trưởng cân đối về cả chiều cao và đường kính gốc thì mức độche bóng trung bình là tốt nhất; cường độ ánh sáng trung bình khoảng 2610 lux(2)
Trang 231.4 Giới thiệu loại phân bón nghiên cứu: phân chồng hoai mục và phân đầu trâu xanh
- Phân chuồng là loại phân do gia súc thải ra Chất lượng và giá trị của phân chuồng phụ thuộc rất nhiều vào cách chăm sóc, nuôi dưỡng, chất liệu độn chuồng
Sau 4 – 6 ngày, nhiệt độ trong đống phân có thể lên đến 60oC Các loài vi sinh vật phân giải chất hữu cơ phát triển nhanh và mạnh Các loài vi sinh vật háo khí chiếm ưu thế Do tập đoàn vi sinh vật hoạt động mạnh cho nên nhiệt độ trong đống phân tăng nhanh và đạt mức cao Để đảm bảo cho các loài vi sinh vật háo khí hoạt động tốt cần giữ cho đống phân tơi, xốp, thoáng
Phương pháp ủ nóng có tác dụng tốt trong việc tiêu diệt các hạt cỏ dại, loại trừ các mầm mống sâu bệnh Thời gian ủ tương đối ngắn Chỉ 30 – 40 ngày là ủ xong, phân ủ có thể đem sử dụng Tuy vậy, phương pháp này có nhược điểm là để mất nhiều đạm
Ủ nguội : Phân được lấy ra khỏi chuồng, xếp thành lớp và nén chặt Trên mỗi lớp phân chuống rắc 2% phân lân Sau đó ủ đất bột hoặc đất bùn khô đập nhỏ, rồi nén chặt Thường đống phân được xếp với chiều rộng 2 – 3 m, chiều dài tuỳ thuộc vào chiều dài nền đất Các lớp phân được xếp lần lượt cho đến độ cao 1,5 – 2 m Sau đó trát bùn phủ bên ngoài
Do bị nén chặt cho nên bên trong đống phân thiếu oxy, môi trưởng trở nên yếm khí, khí cacbonic trong đống phân tăng Vi sinh vật hoạt động chậm, bởi vậy nhiệt độ trong đống phân không tăng cao và chỉ ở mức 30 – 35oC Đạm trong đống phân chủ yếu ở dạng amôn cacbonat, là dạng khó phân huỷ thành amôniăc, nên
Trang 24lượng đạm bị mất giảm đi nhiều.Theo phương pháp này, thời gian ủ phân phải kéo dài 5 – 6 tháng phân ủ mới dùng được Nhưng phân có chất lượng tốt hơn ủ nóng
Ủ nóng trước, nguội sau : Phân chuồng lấy ra xếp thành lớp không nén chặt ngay Để như vậy cho vi sinh vật hoạt động mạnh trong 5 – 6 ngày Khi nhiệt độ đạt
50 – 60oC tiến hành nén chặt để chuyển đống phân sang trạng thái yếm khí.Sau khi nén chặt lại xếp lớp phân chuồng khác lên, không nén chặt Để 5 – 6 ngày cho vi sinh vật hoạt động Khi đạt đến nhiệt độ 50 – 60oC lại nén chặt.Cứ như vậy cho đến khi đạt được độ cao cần thiết thì trát bùn phủ chung quanh đống phân Quá trình chuyển hoá trong đống phân diễn ra như sau: ủ nóng cho phân bắt đầu ngấu, sau đó chuyển sang ủ nguội bằng cách nén chặt lớp phân để giữ cho đạm không bị mất
Giá phân chuồng hoai mục: Giá cho mỗi gói dao động từ 30.000 – 120.000 đồng -Phân bón đầu trâu NPK 13-13-13+TE:
Thành phần định lượng gồm: Đạm (N16)13%, lân (P2O5hh) 13%, kali (K2Ohh) 13%, lưu huỳnh(S) 6%, sắt(Fe) 30ppm, đồng (Cu) 45ppm, kẽm (Zn) 190ppm, mangan (Mn) 109ppm, Bo(B) 140ppm
Công dụng : Tăng khả năngsinh trưởng và phát triển của cây trồng; tăng hiệu quả kinh tế, duy trì độ màu mỡ; tăng năng suất và chất lượng nông sản
Phân được sản xuất tại nhà máy phân bón bình điền – long an
Giá phân: được bán trên thị trường 14.000 đồng /1 kg
Hình 1.3: Bao bì phân bón đầu trâu NPK 13-13-13+TE
Trang 25Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu ảnh hưởng ánh sáng và phân bón đến sinh trưởng của cây nhội
(Bischofia javanica Blume) 8 tháng tuổi giai đoạn vườn ươm
2.1.2 Mục tiêu cụ thể:
• Xác định được ánh sáng phù hợp đến sự sinh trưởng của cây Nhội giai đoạn
8 tháng tuổi trong vườn ươm
• Xác định được ảnh hưởng của phân bón đến cây Nhội giai đoạn 8 tháng tuổi trong vườn ươm
2.2 Đối tượng, phạm vi, địa điểm nghiên cứu
2.2.1Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là Cây Nhội _Bischofia javanica Blume
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng và phân bón đến sinh trưởng của cây Nhội
+ Giới hạn thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2018 đến tháng 5/2018
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu: tại vườn ươm Bộ môn Lâm nghiệp đô thị Trường Đại
học Lâm Nghiệp
2.3 Nội dung nghiên cứu:
• Nội dung 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến cây trong giai đoạn vườn ươm
• Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng đến tình hình sinh trưởng của cây
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu có chọn lọc
• Kế thừa và chọn lọc các tài liệu về cây gỗ nói chung cũng như cây Nhội nói riêng
Trang 262.4.2 Phương pháp chuyên gia
• Tham khảo ý kiến và định hướng của các thầy cô có kinh nghiệm trong lĩnh vực để lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp cũng như tham khảo ý kiến góp ý của các kỹ sư, công nhân vườn ươm trường đại học lâm nghiệp
2.4.3 Phương pháp ngoại nghiệp
Hình 2.1: Cây chia thành từng khu công thức
- Xử lí khu vực cây trồng: phá váng, xới đất bề mặt, tạo luống cho từng khu theo công thức (25 cây/ công thức)
- Chuẩn bị cột tre , lưới che theo độ che phủ 50%, 80%, bình tưới nước, phân chuồng hoai mục, phân đầu trâu xanh, thước đo,…
Hình 2.2: Hình bình tưới nước, tưới phân; lưới che sáng 50%, 80%
Trang 27+ Nội dung 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sinh trưởng của cây Nhội gồm 4 công thức sau:
- CTTN 1: Không tưới phân ( đối chứng)
- CTTN 2: Tưới nước phân chuồng hoại mục ngâm
- CTTN 3: Tưới phân đầu trâu NPK 13-13-13+TE
- CTTN 4: Tưới kết hợp cả phân chuồng ngâm và phân đầu trâu NPK 13+TE
Hình 2.3: Hình ảnh nước phân chuồng hoai mục và phân đầu
trâu xanh 13-13-13+TE, phân chuồng hoai mục
Mỗi tháng tưới phân 2 lần vào sáng sớm ( mỗi lần tưới phân cách nhau 15 ngày) Ngoài những ngày tưới phân ra, hàng ngày tưới nước đầy đủ ngày 1 lần vào mùa đông ( sáng sớm hoặc chiều muộn) và 2 lần vào mùa hè ( sáng sớm và chiều muộn) cho tất cả công thức thực nghiệm Chăm sóc, kiểm tra và lấy số liệu chỉ tiêu
về sinh trưởng của cây định kì 1 tháng 1 lần và ghi kết quả đo đếm được vào bảng biểu sau:
Trang 28Bảng 2.1: Bảng tổng hợp chiều cao vút ngọn của ảnh hưởng phân bón đến cây
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp số liệu phân cành ảnh hưởng phân bón đến cây Nhội
CTTN Số phân cành ban đầu( cành)
Số phân cành sau 5 tháng thí nghiệm
Số cành (cành) Chiều dài cành lớn
(cm) CTTN
1(ĐC)
CTTN 2
CTTN 3
CTTN 4
Trang 29Chú thích:
- Chiều cao vút ngọn cây TB=
(cm/ cây) ( Chiều cao vút ngọn cây được tính từ mặt đát đến đỉnh sinh trưởng của cây)
- Đường kính cổ rễ cây TB=
(mm/cây) ( Đường kính cổ rễ cây được tính ở phần cổ rễ sát mặt đất của cây)
+ Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ che sáng đến khả năng sinh trưởng của cây Nhội trong giai đoạn 8 tháng tuổi vườn ươm gồm 3 công thức:
- CTTN 1: không che chắn ( đối chứng)
- CTTN 2: Che 50% ánh sáng
- CTTN 3: Che 80% ánh sáng
Đối với che sáng : cây được che sáng bằng lưới chuyên dụng với độ che phủ theo % của nhà sản xuất và che kín toàn bộ các phía Tưới nước đầy đủ 1 lần 1 ngày
là sáng sớm hoặc chiều tối Kết hợp nhặt cỏ và phá váng 2 lần 1 tháng
Hình 2.4: Tiến hành che lưới ánh sáng 50%, 80% cho công thức thí nghiệm
Kết hợp chăm sóc và đo chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính cổ rễ(D) định
kì 1 tháng 1 lần
Trang 30Bảng 2.4: Bảng số liệu tình hình sinh trưởng của ảnh hưởng ánh sáng đến
chiều cao vút ngọn và đường kính cổ rễ đến cây Nhội
CTTN HvnbđTB
(cm)
DobđTB(mm)
Tháng 1 Tháng …
̅̅̅̅̅ S ̅̅̅̅ S ̅̅̅̅̅ S ̅̅̅̅ S CTTN 1
- Đường kính cổ rễ cây TB=
(mm/cây) ( Đường kính cổ rễ cây được tính ở phần cổ rễ sát mặt đất của cây)
- Tốc độ tăng trưởng( Hvn TB) = Chiều cao vút ngọn TB các tháng – Chiều cao vút ngọn ban đầu TB(cm)
- Tốc độ tăng trưởng( Do TB) = Đường kính cổ rễ TB các tháng – Đường kính cổ rễ ban đầu TB(mm)
2.4.4 Phương pháp nội nghiệp
- Kế thừa và chọn lọc các tài liệu về cây gỗ và cây Nhội
- Tổng hợp và phân tích các số liệu thu thập được trong quá trình làm thí nghiệm
- Xử lí số liệu thu được bằng các phương pháp toán học để tìm ra chế độ chăm sóc và bón phân phù hợp nhất cho cây Nhội 8 tháng tuổi trong vườn ươm
- Kết quả trong quá trình làm thí nghiệm được tổng hợp và đưa ra kết quả báo cáo ( thông qua việc sử dụng các phần mềm Worl, Excel thống kê và ghi chép, tính toán)
- Tính đặc trưng mẫu thể hiện qua: Các trị số trung bình mẫu ( chiều cao trung bình của cây, đường kính cổ rễ trung bình của cây, chiều dài rễ của cây, số phân cành của cây) mỗi công thức thí nghiệm được tính bằng công thức:
̅ ∑
+ Để kiểm tra sự tác động của các công thức đến cây Nhội ta tiến hành phân tích phương sai số:
Trang 31S là trị số quan sát của toàn bộ thí nghiệm
S =∑ ∑ ∑ (trong công thức này có 2 lần tổng có nghĩa là cả hàng và cột đều chạy)
̅ Là giá trị bình quân của mẫu thứ i, ̅
Trang 32∑ ̅ ̅ ∑ ̅ ∑ Nếu n1 = n2= … m thì ∑
+ Biến động ngẫu nhiên: Là biến động giữa các trị số quan sát trong cùng 1 cấp của nhân tố A:
Để kiểm tra giả thuyết dùng tiêu chuẩn F của Fisher:
F =
F ≤ F05 (k1, k2) thì H+0, nhân tố A tác động đồng đều đến kết quả thí nghiệm
F > F05 (k1, k2) thì H-0, nhân tố A tác động không đồng đều đến kết quả thí nghiệm